Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 6, 2009

PHAN DUY NHÂN

Tên thật Phan Chánh Dinh.

Sinh năm 1941 tại Quảng Trị.

Bút danh Phan Duy Nhân , Nguyễn Chính, Dương Phù Sao, Thiết Sử ( bút danh do Hội Sinh viên sáng tác, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966-1967 chọn khi đăng bài thơ Thư gởi các bạn sinh viên trong tuyển tập thơ Tiếng hát những người đi tới).

Thơ đăng trên các tạp chí Sài Gòn ( như Bách Khoa, Văn Học,…) từ những năm 1960.

Trước công tác ở Ban Tôn giáo Chính phủ, nay đã nghỉ hưu.

Hiện ở tại TP Hồ Chí Minh.



Ngưỡng vọng

Thơ Phan Duy Nhân



Em mến yêu anh là sự sống

Trong anh như nhựa tiếp cây đời

Vươn cành xanh lá qua giông bão

Anh uống tình Em mà thắm tươi!

Những nắng gió trên đường đi tới

Những khuya trăng chia sẻ vui buồn

Em trong anh tim hồng trong ngực

Vượt lên cùng trăm núi nghìn sông...

Anh viết những bài thơ bất tận:

Em cho anh thêm một tâm hồn

Anh làm nước sông dài chẳng cạn

Chảy từ nguồn sâu thẳm yêu thương

Mỗi người có riêng mình thần thánh

Quan-thế-âm hay Ma-ri-a...

Anh cầu nguyện cùng em buổi sáng

Cho mỗi ngày mỗi bước đi xa.

Là Em và thơ và triết học

Yêu Em vô hạn tới vô cùng...

Say đắm cho Em thành có thật

Đến trọn đời vằng vặc vầng trăng.



Đêm hạ huyền ở Cửa Việt


" Vùi trong ngực

nằm yên

ngoan thế nhé,

Ngoài kia trăng

Đêm đã sáng đâu mà..."

Anh nhớ quá gọi thầm em thảng thốt

Những nụ hồng hôn mãi chỉ là hoa!

(Khúc dạo)

Trời trở lạnh Em dụi Đầu vào ngực

Không ngủ được ư Em

Đêm hãy còn dài!

Chưa dành nổi cho Em những gì êm ấm nhất

Mỗi thu về quê biển vẫn heo may...!

Tin cẩn giữa vòng tay, dịu dàng bé nhỏ

Lắng tim Em thơ dại bồi hồi

Gốc bồ đề trầm tư mà giác ngộ

Vượt trăm lần phiền não tới an vui...

Bền bỉ lạc đà mịt mùng sa mạc

Cho anh uống qua Em từng giọt cam lồ

Tựa vào em băng ghềnh vượt thác

Vạm vỡ tâm hồn phơi phới cơn mưa...

Giá lạnh qua rồi

không còn cay đắng nữa

Ai thương yêu không mở rộng lòng mình?

Cháy rực lò cao xanh ngời ngọn lửa

Nồng nhiệt yêu đời từ tha thiết yêu Em!

Những gian khổ tháng ngày gió bụi

Tạ ơn đời còn lại ngọt ngào Em

Suốt đầu nguồn từ trăng rằm diệu vợi

Chảy suốt trăm năm qua giao hưởng êm đềm.

Sắp rạng đông rồi

vườn bên chim đã hót

Xin cúi hôn vầng trán thiên thần

Đâu chỉ giấc mơ

Em nồng nàn giữa ngực

Với thủy triều trên biển cũng trào dâng...!


Tháng chín

P.D.N

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)



Vĩ thanh


Mới gió Lào khô đã heo may Hà Nội

Chon von đỉnh núi giong buồm

Thuở trước thiền sư làm chính ủy

Câu thơ tới giờ còn mang gươm!

Thơm dấu hài thêu khuya chuyện cũ

Giữa Hàng Đào cô Tấm có là em?

Ôi em đẹp với vô cùng mà đời ta có hạn

Gió lộng vẫn ngang trời

trong đáy mắt hồ Gươm...


Hà Nội, những mùa sen 1990



Phan Duy Nhan

Quán tưởng



Nhắm mắt để nhìn em thật rõ

Thanh thoát trong tôi một đóa hồng

Đêm sáng lên từ tia lửa nhỏ

Hồn tôi nắng sưởi giá băng tan...


Mùa xuân TP Hồ Chí Minh 2007




Thư cho mẹ và chị

Phan Duy Nhân


Đầy nước mắt đi trong chiều biển động

Thân san hô sóng vỗ một đời tròn

Trông cây tùng gặp bão cũng cong lưng

Đời kiêu mạn chẳng còn tâm sự với

Con nhớ lại sắt se lời mẹ dạy

Những đêm qua ngõ hẹp phố phường sâu

Đầu gối trên tay nghe đường máu chạy

Trong tim con ngựa mỏi muốn quay đầu

Những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ

Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về

Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ

Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe

Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn

Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ

Xương từng ống hút dần theo lũ quạ

Ngó lui mình rỗng tuếch chúng bay xa

Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ

Có kiên gan Lã Vọng cũng buông cần

Khí phách văn chương công bằng cách mệnh

Xưng lỡ anh hùng không lẽ đến xin ăn?

Con đã ngấy những ngày thư viện đói

Nói khôi hài kinh kệ những ai xưa

Khi rách áo xem ra chiều thủ lợi

Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ…

Ngần ấy bụi con mang về với mẹ

Hận nghìn đời trong đáy mắt chưa nguôi

Thân đau yếu em quỳ bên gối chị

Lòng lênh đênh muốn lặng cứ trôi hoài

Con phiêu bạt ngỡ thân tàn ma dại

Chẳng còn gì nguyên vẹn để đem dâng

Xin mẹ rót cho con lời phủ dụ

Ngửa hai tay xin chị nhận em cùng

Cho ánh mắt đau buồn nay tỏ rạng

Soi xuống lòng ẩn hiện ánh trăng trong…


(Huế, tháng ba, 1962)

Phan Duy Nhân



Tự tình với Huế

Phan Duy Nhân


Huế duỗi tay mềm anh gối nhé

Sông Hương thơm trải lụa xanh chìm

Trăng rằm lộng lẫy phong lan nở

Mê mải vùi trong say đắm em…

Thức giấc mưa sương gợn nét mày

Não nùng em tựa ấm bên vai

Anh cùng cung điện xuôi theo nhạc

Mỗi giọt dư âm mỗi dấu giày…

Ngày cứ tròn căng nỗi khát khao

Đêm đêm ngây ngất nụ hôn đầu

Trăm năm sau nữa qua Thành Nội

Anh vẫn còn em, ta có nhau!

Đôi lá thuyền trôi giữa thực hư

Mênh mang sông bến lắng câu hò

Ôm trong Huế tình yêu dịu ngọt

Da diết Nam Bình điệu hát ru

Em vẫn trong anh giữa nắng ngày

Giữa trời xanh mát núi xanh mây

Cơm thường mỗi bữa em chăm chút

Giấc ngủ mơ màng thơm cánh tay

Mỗi lần về Huế rồi xa Huế

Anh cứ rưng rưng nỗi tạ từ

Đâu chỉ chia tay cùng kỷ niệm

Nồng nàn trong Huế vẫn em xưa…


Phan Duy Nhân



Hành thiền

Kính tặng Tôn sư tôi,

Hòa Thượng Thích Trí Quang



Tròn đầy mùa rỗng lặng

Biển vô lượng thủ triều

Ôi thương đời vạn dặm

Vân du vượt suối đèo

Đường về tâm hết động

Tuyệt chiêu mà vô chiêu!

Thôi hòa lòng với bụi

Thanh tịnh vầng trăng treo.

PDN



Trầm luân nào có chừa ai

Dương Đức Quảng


Nhiều người biết đến ông vì ông là người khá nổi tiếng trong phong trào đấu tranh ở đô thị miền Trung những năm kháng chiến chống Mỹ, từng bị bắt và bị tù Côn Đảo. Ông chính là Phan Duy Nhân từng đảm trách nhiều vị trí quan trọng của Đảng và Nhà nước...


Sau giải phóng 1975, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, trước khi nghỉ hưu từng giữ chức Quyền Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ. Ông là Phan Chánh Dinh, tức nhà thơ Phan Duy Nhân, tức Nguyễn Chính, một nhân vật mà “cuộc đời vinh quang chung không ít, trầm luân riêng cũng nhiều”.

Bị tù vì… một bài thơ

Tôi quen biết ông từ năm 1974 tại tỉnh Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ. Tết Đinh Hợi 2007, tôi gặp lại ông tại TP Hồ Chí Minh sau gần chục năm ông rời Hà Nội vào Nam công tác và về hưu trong đó. Gặp nhau sau nhiều năm xa cách, lại trong ngày đầu xuân, dẫu lúc đầu không muốn, nhưng rồi, như ông nói vui "nể lòng người cũ vâng lời một phen", ông đã bộc bạch với tôi về cuộc đời của mình...

Phan Duy Nhân sinh năm 1941, quê Quảng Trị, nhưng lại sống từ nhỏ ở Đà Nẵng. Tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, ông là thương binh, trải qua ba lần bị thương và ba lần bị địch bắt, tù đầy, trong đó có 6 năm bị giam ở nhà tù Côn Đảo.

Lần đầu tiên Phan Duy Nhân bị bắt là vào năm 1959, khi vừa 18 tuổi. Lần thứ hai anh bị bắt vào năm 1965. Năm đó, sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm 1/11/1963, phong trào đấu tranh đô thị tiếp tục diễn ra sôi nổi ở Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ…

Ở Huế, một số anh chị em học sinh, sinh viên ra tập san Nhận thức, đăng nhiều bài viết cổ vũ tinh thần đấu tranh của giới trẻ, kêu gọi đồng bào tham gia phong trào yêu nước.

Phan Duy Nhân vừa dạy học vừa theo học các chương trình chứng chỉ tại Viện Đại học Huế; cùng một số trí thức, sinh viên tham gia phong trào đấu tranh tại thành phố này. Một lần, từ Hội An, anh nhờ một người bạn đem bài thơ anh mới sáng tác ra Huế gửi cho các bạn cùng phong trào để đăng trên tờ Nhận thức.

Không biết vì lý do gì mà bài thơ ấy đã lọt vào tay An ninh Quân đội Sài Gòn. Lập tức Phan Duy Nhân bị bắt. Bài thơ ấy có đoạn: "Hãy đứng dậy tất cả/ Đấu tranh không mất gì/ Trừ cái gông trên cổ/ Trừ dây xiềng trên tay/ Hãy chiếm mỗi ngã tư/ Trái tim làm khí giới…/ Cùng anh em đồng đội tiến lên.../”.

Tôn Thất Xứng, Thiếu tướng Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật Quân đội Sài Gòn trực tiếp gặp anh. Xứng cầm bài thơ do chính tay Phan Duy Nhân viết đưa ra trước mặt anh, ngọt nhạt:

- Ai dạy cho anh Tuyên ngôn Cộng sản để anh biến thành thơ ca kêu gọi nổi loạn này?

Phan Duy Nhân đáp:

-Tôi làm bài thơ này là từ suy nghĩ và cảm xúc của tôi, nay mới nghe ông nói nó giống với Tuyên ngôn Cộng sản! Quả thật tôi có đọc Tuyên ngôn Cộng sản ở thư viện Đại học Huế từ bản in bằng tiếng Pháp.

Nó có một câu rất hay, đập vào tôi rất mạnh. Câu ấy kêu gọi người nô lệ đấu tranh không mất gì cả, có mất chăng chỉ là mất cái xiềng mà thôi. Còn trong bài thơ của tôi, cái gông là do tôi nghĩ ra!

Xứng sa sầm nét mặt, hỏi lại anh có đúng là tại thư viện Đại học Huế có bản Tuyên ngôn Cộng sản không, và vẫn cố giữ cái giọng ngọt nhạt như trước:

- Anh nói vậy thì tôi biết vậy. Thôi được, anh là người có học, lại dạy văn, hôm nay tôi tạo điều kiện cho anh ở lại đây, để anh có thời gian suy nghĩ viết cho tôi bài bình giảng về bài thơ của anh!

Thế là Phan Duy Nhân bị đưa về giam tại Trại giam số 11 của Quân đoàn 1, bị An ninh Quân đội Sài Gòn dùng cực hình tra tấn cốt tìm ra đầu mối tổ chức cách mạng hoạt động bí mật tại Hội An và Đà Nẵng. Sau nửa năm bị giam giữ, không khai thác được gì ở anh, lại thấy dư luận bên ngoài bất lợi, chúng phải thả anh ra.

Sau đó, có dịp trở lại thư viện Đại học Huế, Phan Duy Nhân thử tìm lại cuốn Tuyên ngôn Cộng sản mà anh đã đọc thì không còn. Chắc sau ngày bắt anh, viên Thiếu tướng Tôn Thất Xứng đã cho người vào lấy đi!


Bàn thờ người sống và ngày trở về

Năm 1966, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Thành ủy, Phan Duy Nhân được cử tham gia hoạt động công khai trong phong trào đấu tranh của Phật giáo, thanh niên, học sinh, sinh viên Đà Nẵng.

Anh là Ủy viên Thường vụ của Ban lãnh đạo “lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng”, phụ trách kế hoạch tranh đấu; Ủy viên liên lạc miền Vạn Hạnh của Phật giáo miền Trung, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, đồng thời là cán bộ đấu tranh chính trị của Thành ủy Đà Nẵng trong cuộc đấu tranh nổi dậy làmchủ thành phố Đà Nẵng 76 ngày đêm.


Sau khi cuộc nổi dậy bị đàn áp, bị lộ, Phan Duy Nhân phải thoát ly lên chiến khu. Tết Mậu Thân năm 1968, anh được giao làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời TP Đà Nẵng sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chiến thắng.

Sáng mùng 1 Tết, anh dẫn đầu cuộc biểu tình, thị uy của bà con phật tử và đồng bào TP Đà Nẵng từ trung tâm thành phố đi chiếm trụ sở chính quyền. Đoàn biểu tình kéo từ Chùa Tỉnh hội Phật giáo ra đường Ông Ích Khiêm thì bị địch đàn áp. Phan Duy Nhân bị bắn gãy chân và bị bắt đem về Ty Cảnh sát Gia Long, sau đó bị giải qua Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình và nhà lao Kho Đạn, Đà Nẵng.

Ngày 16/9/1968, Phan Duy Nhân bị đầy đi Côn Đảo. Năm 1970, do có một người bạn tù cùng bị giam với anh bị đánh đập đến chết, tin tức trong tù đưa ra làm nhiều người lầm tưởng anh đã hi sinh.

Bạn anh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, một sinh viên cùng hoạt động trong phong trào đấu tranh ở Huế, lúc đó đang công tác ở chiến khu Trung ương Cục, đã viết một bài báo để tưởng nhớ anh, nhan đề: "Phan Duy Nhân, một nhà thơ trẻ biết xung phong".

Bài báo ấy được in trên Báo Văn nghệ giải phóng và được Đài phát thanh giải phóng phát đi. Tờ Đất nước của một nhóm trí thức và sinh viên yêu nước xuất bản nửa công khai hợp pháp ở Sài Gòn cũng đăng bài tưởng niệm anh.

Tại một quán cà phê trên đường Lê Lợi, Sài Gòn, một số bạn bè của anh ngày trước, trong đó có cả P.N.N., một cây bút chống Cộng nhiều người biết, đã tổ chức một buổi gặp mặt để tưởng nhớ anh.

Tin anh bị chết trong tù đến tai cha mẹ anh, khi ấy ông bà đã về sinh sống tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, làm cả hai như rụng rời chân tay. Sau khi người em gái của anh bị chết đuối, rồi người em trai tật nguyền lại bị bom Mỹ giết, mẹ anh đã khóc hết nước mắt, nay lại nghe tin anh - người con duy nhất còn lại bị chết trong tù, bà cụ phát bệnh, bị tâm thần rất nặng.


Nguồn: http://antgct.cand.com.vn/


Hà Khánh Quân -

Phan Duy Nhân Trên Con Đường Từ Thức


Trong bài viết Gởi Những Người Bạn Trẻ, nhà biên khảo Hoàng Nguyễn, cũng là thầy hiệu trưởng trường trung học Phan Châu Trinh – Đà Nẵng Nguyễn Đăng Ngọc, đã “hướng nhìn theo chiều hoài niệm”, gởi về các học trò cũ của ông những tình cảm, những suy nghĩ rất chân tình. Những người học trò cũ đó, được ông cho biết: “... tất cả đều trên 40 tuổi, cái tuổi không còn ngập ngừng gì nữa ở cuộc đời (tứ thập bất hoặc!), đã biết gánh chịu trách nhiệm cho ngày nay và hôm mai”. Bài viết không trực tiếp so sánh, đánh giá sự khác biệt của lễ nghĩa sư đồ, giữa thời kỳ điện toán với những niên khóa vừa quay gót không lâu. Nhưng cái ngụ ý của người viết, bạn đọc ai cũng hiểu ra.

Cái tình bao la của người thầy không cho phép thiên vị trong đối xử. Xã hội Việt Nam chúng ta, con người vẫn thường trực bị đẩy vào hai thế đứng đối nghịch. Đám học trò của thầy Ngọc cũng không nằm ngoài sự chia phân ấy. Nhưng dù ở bên này hay bên kia lý tưởng, những người học trò vẫn được người giáo dục mình nhớ đến đồng đều và trìu mến. Học được tính bao dung chân tình của người thầy cũ. Tôi bớt hẳn nỗi ngại ngùng, bị người khác đội cho mình cái mũ không vừa đầu, để viết về một dòng thơ quí, mà tác giả đã ngã sang hướng nghịch chiều với quốc kỳ màu vàng của tôi.

Khởi từ đầu thập niên sáu mươi, tại thành phố Đà Nẵng, lớp sinh hoạt thơ văn trung niên và sắp về già như: Thái Can, Vũ Hân, Quốc Dân,Việt Trữ, Hồ Mộng Thiệp, Trần Gia Thoại, Tô Như, Thanh Phương, Anh Đô, Hoàng Trọng Thược... hình như chỉ thu hẹp sinh hoạt trong địa bàn thành phố. Cùng lúc đó, trong đám học sinh, nở rộ việc thành lập thi đàn, bút nhóm. Có vóc dáng và nghiêm chỉnh nhất trong những tập họp này là nhóm Cùng Đi Một Đường. Tôi không rõ ai khởi xướng, ai giữ chân nhóm trưởng. Nhưng thành viên của nhóm, hết thảy, với tôi, đều bạn thân tình : Phan Duy Nhân, Huy Giang, Lam Hồ, Tô Yên, Hồ Cư. Trong năm tay viết, có đến ba nhân vật tập tành... khuynh tả. Và cả năm đều có bài đăng khá đều đặn trên các tuần báo, nguyệt san, tạp chí tại Sài Gòn.

Huy Giang tên thật Nguyễn Đăng Trừng, hiện hành nghề luật tại Sài Gòn.

Lam Hồ tên thật Nguyễn Hữu Nuối, viết mạnh và đều nhất thời bấy giờ, nhưng đã sớm gác bút khi hành nghề dạy học, hiện vẫn ở Đà Nẵng.

Tô Yên tên thật Lê Văn Nghĩa, trở thành thiếu tá binh chủng Thiết giáp VNCH, đã hy sinh ở mặt trận Quế Sơn Quảng Nam năm 1972.

Hồ Cư dùng tên thật làm bút hiệu, đã biệt tích khá lâu trong những ngày anh lên rừng “làm cách mạng”.

Phan Duy Nhân là người tôi đang níu thơ anh để lang thang hôm nay.

Tôi đã được đọc ba, bốn bài viết có liên quan đến Phan Duy Nhân trong mấy năm vừa qua, không lâu lắm. Những bài viết được thực hiện bởi những người bạn anh, hoặc ít ra khá thân với anh. Trên tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ, anh trai của nhà văn Hồ Đình Nghiêm, anh Hồ Đình Nam, hiện định cư tại Anh Quốc, viết một bài. Những bài khác của các nhà văn Phan Nhật Nam (tác giả Dựa Lưng Nỗi Chết, Dọc Đường số 1...vv) và Nguyễn Chí Thiệp (tác giả Trại Kiên Giam và Việt Nam Khát Vọng Dân Chủ Tự Do). Cả hai nhà văn nổi tiếng chống cộng này, đều là bạn học cùng trường Phan Châu Trinh với Phan Duy Nhân. Phan Nhật Nam cùng nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng (hiện ở Toronto, Canada) học trên Phan Duy Nhân một lớp. Nguyễn Chí Thiệp ngồi cùng với Phan Duy Nhân một dãy bàn, trong suốt bốn năm đệ nhất cấp. Quan hệ thân mật trong tình bạn học, những bài viết của hai ông nhà văn rất chân tình dù đưa ra nhiều điều đáng suy ngẫm.

Thơ Phan Duy Nhân thường được “đi” trên tạp chí Bách Khoa, do ông Lê Ngộ Châu điều hành. Tòa soạn Bách Khoa nằm ở số 160 trên đường Phan Đình Phùng Sài Gòn. Dưới đây là Cuối Năm Rời Nhà Trọ, được tác giả xếp vào tập Ngậm Ngải Tìm Trầm. Nhưng tập này đến nay hình như vẫn chưa được xuất bản:

lòng trống không mà mưa cuối năm !

tre câm cam chịu nỗi cơ hàn

chăn đơn đời ngủ không đành dậy

tay vắt ngang mày đợi bóng trăng

này lối thầm xưa ngùi kỷ niệm

này vuông cửa sổ ngắm, chiều rơi

mai sương như khói lên đầu ngõ

giọt nến đêm dài thêm tủi thôi

cau vút thân vời cao chín bậc

thầm ru chim phượng ngủ trong lòng

bạn bè mộng thấy dăm ba bận

ai biết ta nằm đây nữa không ?

mơ ước xa như người đã khuất

cam thua cau mặt lật con bài

mưa chiều tượng mỏi im như Phật

từng giọt buồn rơi qua kẽ tay

trang sách, vuông khăn, vài vạt áo

vò lòng cúi mặt bước chân ra

chỉ cần mưa ngớt cho đôi chút

trời rộng xin đừng gió thổi qua !

Cả bài thơ toát ra một nỗi buồn lặng lẽ, đơn độc. Hơi thơ như những nhịp đập bồi hồi của trái tim. Những buổi chiều cuối năm, vốn mang sẵn một nỗi buồn rất thiêng liêng, rất vô cớ. Ở đây, cái ngậm ngùi bát ngát ấy, lại được lan tỏa bởi nhiều nguyên nhân. Người khách trọ hẳn là kẻ cô độc đã lâu, không rõ vì lý do gì phải rời nơi cư ngụ tạm bợ của mình. Tác giả không nói. Và chúng ta, tưởng chỉ nên chú tâm vào cái hoạt cảnh chia ly, giàu tâm trạng của người ra đi.

Với nỗi lòng trống không, chẳng chút tình nào đọng lại, người khách trọ buồn bã nhìn quanh. Ngoài trời dày kín những ngọn mưa sướt mướt. Cái lạnh của không gian thổi buốt cái lạnh trong lòng. Dù không đành rời bỏ nơi chốn hẩm hiu, nhưng biết không thể lưu lại, người khách trong những giây phút sau cùng, cố nằm nướng vắt tay ngang mày, nghĩ đến một ngày tươi sáng hơn. Và trong khoảnh khắc anh chợt nhận diện được những thân mật, những tình nghĩa, lâu nay đã sống bên cạnh mình. Đó chính là con đường, từng nâng đỡ những bước ngậm ngùi đi về. Đó chính là cánh cửa, từng thao thức chờ đợi để cùng chứng kiến, những buổi sớm mai sương đầy như khói, những đêm xuống chậm như từng vệt nhễu của ngọn đèn chong. Đời người rồi cũng mòn hao thầm lặng như sự đi đến vô tình của đêm, ngày. Để vượt qua những hoài nghi, hướng đến cái chí cao chín bậc của mình, không cách nào khác hơn là dựa vào cái mơ ước, vẫn nuôi trong lòng. Người khách trọ quyết thử thời vận thêm một lần nữa. Sá gì những giọt mưa, kể chi những nỗi buồn. Tất cả đang rụng xuống, lọt qua kẽ tay, khi con đường xanh mở ra trước mặt. Một chuyến khởi-hành-mới bắt đầu. Hành lý không khác những lần trước là bao. Vẫn một vuông khăn, một trang sách cùng vài vạt áo. Nhưng lần này có thêm được một tấm lòng, dù đã vò nhàu. Ý chí nuôi dưỡng một lý tưởng vẫn còn lóe lên niềm tin, chỉ cần mưa ngớt cho đôi chút...

Người lữ hành trong Cuối Năm Rời Nhà Trọ không xa lạ. Đó chính là Phan Chánh Dinh ngoài đời. Anh sinh năm 1941 tại Quảng Trị, nhưng trưởng thành tại Đà Nẵng. Gia đình anh nằm trong thành phần lao động, nhưng vật chất khả quan, chỉ khá nghèo niềm vui, bởi anh có vài người em không tốt số trong cuộc sống. Nhờ thân phụ là một viên chức nhỏ của ngành hỏa xa, cả gia đình được chung sống trong căn nhà nhỏ, tường xây mái ngói, ngay trạm đổi đường tàu, chạy ngang đường Ông Ích Khiêm. Tuổi niên thiếu của anh ở đó, cùng những đường ray (rail), những sỏi đá và những cánh cửa màu lá già, thường trực đựng đày những dòng thơ anh viết, xóa mỗi ngày. Phan Chánh Dinh theo học tại trường Phan Châu Trinh. Trường trung học công lập này cho anh nhiều bằng hữu thân thiết.

Cuộc đời thơ của Phan Chánh Dinh sinh động dưới hai bút hiệu Phan Duy Nhân và Dương Phù Sao. Mỗi bút hiệu không chỉ có ý nghĩa mà còn bao trùm cả hoài vọng của người mang nó. Ở bút hiệu thứ hai, thành hình theo lắp ghép: họ của người yêu, cộng một động từ, cộng một biểu tượng.

Phan Duy Nhân bắt đầu làm thơ năm 1957. Một năm sau bài được đăng trên các tạp chí văn học tại Sài Gòn, nhiều nhất trên tờ Bách Khoa. Nhịp viết của anh bất ngờ lơi dần trong năm 1966. Cũng từ dấu mốc này, cuộc đời chính trị của một Nguyễn Chính, một Thiết Sử được mở ra với nhiều thay đổi dập dồn, bất ngờ.




Con Đường Từ Thức của Phan Duy Nhân chọn cho mình, xem ra ngược chiều với vị quan đất Kinh Bắc ngày xưa. Một người lơ là danh phận, chỉ hết lòng với thơ phú. Một người tạm gác cái mơ mộng thi ca để đi tìm công danh, dưới hình thức thực thi lý tưởng.

Tuyệt đỉnh của chức vụ trên Con Đường Từ Thức của mình, Phan Chánh Dinh có trong tay Quyền Trưởng Ban Tôn Giáo của chính phủ (CHXHCNVN). Một chức sắc nghe còn khá lạ tai. Không rõ quyền hạn rộng đến đâu ? Sự thành công này, có thật sự giúp cho Phan Chánh Dinh sống một đời dễ chịu, từ vật chất đến tinh thần ? Ngày nay, câu trả lời, ít ra, đã rõ cho một trong hai lãnh vực thiết thực nêu trên.

Chưa vào động Phi Lai, chưa gặp Giáng Hương, nhưng với chặng đường thơ đã qua, với thực tài, Phan Chánh Dinh đã làm nên một Phan Duy Nhân, óng ánh trong vườn thơ Việt Nam, đó là điều không thể không nhìn nhận. Nhìn lại chặng đường anh đã đi, chúng ta thấy: từ 1961 đến 1964, nhất là trong năm 1962, Phan Duy Nhân viết được nhiều bài thật xuất sắc. Tiêu biểu như bài Thơ Cho Mẹ Và Chị, trích trọn vẹn dưới đây :

Đầy nước mắt đi trong chiều biển động

Thân san hô sóng vỗ một đời tròn

Trông cây tùng gặp bão cũng cong lưng

Đời kiêu mạn chẳng còn tâm sự với

Con nhớ lại sắt se lời mẹ dạy

Những đêm qua ngõ hẹp phố phường sâu

Đầu gối trên tay nghe đường máu chạy

Trong tim con ngựa mỏi muốn quay đầu

Những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ

Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về

Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ

Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe

Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn

Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ

Xương từng ống hút dần theo lũ quạ

Ngó lui mình rỗng tuếch chúng bay xa

Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ

Có kiên gan Lã Vọng cũng buông cần

Khí phách văn chương công bằng cách mệnh

Xưng lỡ anh hùng không lẽ đến xin ăn?

Con đã ngấy những ngày thư viện đói

Nói khôi hài kinh kệ những ai xưa

Khi rách áo xem ra chiều thủ lợi

Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ…

Ngần ấy bụi con mang về với mẹ

Hận nghìn đời trong đáy mắt chưa nguôi

Thân đau yếu em quỳ bên gối chị

Lòng lênh đênh muốn lặng cứ trôi hoài

Con phiêu bạt ngỡ thân tàn ma dại

Chẳng còn gì nguyên vẹn để đem dâng

Xin mẹ rót cho con lời phủ dụ

Ngửa hai tay xin chị nhận em cùng

Cho ánh mắt đau buồn nay tỏ rạng

Soi xuống lòng ẩn hiện ánh trăng trong…

Vịn những dòng thơ của thể tám chữ, không quá gò bó ở kỹ thuật vần điệu, một người con trai nhà nghèo theo học ở thành phố, đã quặn thắt gởi tâm sự của mình về cho mẹ và chị. Nguồn thơ bát ngát, không bày tỏ những nhớ thương thường thấy ở những người con xa nhà. Nhưng uất nghẹn những suy tư về thân phận, về cuộc sống.

Bằng kỹ thuật vẽ lại những hình ảnh thường mục kích trong đời sinh viên, (Những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ/ Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về... Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn/ Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ...), lồng vào đó những xúc cảm, những suy nghĩ bi quan (Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ/ Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe... Xương từng ống hút dần theo lũ quạ/ Ngó lui mình rỗng tuếch chúng bay xa) tuy có phần cường điệu, nhưng nhờ âm ngữ và hình ảnh, giúp những câu thơ trở nên linh động, có hồn. Phan Duy Nhân cũng dựng lại cái khí chất người xưa, để bày tỏ cái bản lĩnh, cốt cách của một nam nhi giàu ý chí, qua tám câu rất thu hút ( Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ... Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ…) Nhưng cái buồn thâm trầm, đọc được rõ những xót xa, nằm ở ba đoạn tuyệt vời nhất, đó là khổ bốn câu thứ hai, và hai khổ cuối cùng. Lời mẹ dạy (con nhớ lại sắt se lời mẹ dạy) chính là cái phao để tác giả có đủ can đảm dàn trải, phơi bày những tâm sự. Thơ Phan Duy Nhân, hình như bài nào cũng có một ưu điểm khác, đó là sự trong sáng, một niềm tin lấp lánh ở cuối bài:

Cho ánh mắt đau buồn nay tỏ rạng

Soi xuống lòng ẩn hiện ánh trăng trong

Những suy tư về một hiện thực xã hội không được hoàn hảo, đã thấy thấp thoáng trong bài vừa dẫn trên. Ở Đường Bay Của Thơ, dù vẫn còn rất nhẹ nhàng, Phan Duy Nhân cũng đã vẽ lên một tâm cảnh u buồn:

“... giây phút ấy, tới cầm tay nỗi chết

sau lưng anh phường phố vẫn điêu tàn

máu một giòng, rơi hờn như giọt đá

thơ một lời dội lại tiếng kêu van

thôi từ đó xa bay ngoài hiện tại

anh đưa tay bồng thân thể lên đường

tiễn chân người, xanh xao cành lá lay

em cúi đầu thân huệ vốn lưng ong”

(Bách Khoa 123-1962)

Không khó để hình dung hiện trạng xã hội trong thời chiến tranh. Vì thế, ở đây không phô bày, lặp lại nhiều tài liệu đã thành sách. Hậu quả của bom đạn không dành riêng ai. Vết thương nặng, nhẹ có thể khác nhau. Nỗi đau buồn tủi nhục của đất nước dù có chia đều, thế hệ trẻ hẳn phải gánh chịu trực tiếp và nặng nề hơn. Ý thức rõ được trách nhiệm này, những tay thơ như Phan Duy Nhân, Phan Trước Viên, Đynh Hoàng Sa, Phan Nhự Thức, Lữ Quỳnh, Thái Tú Hạp, Thành Tôn, Lê Vĩnh Thọ... , muốn dành cái quyền giới thiệu những thảm cảnh chiến tranh, đồng thời bày tỏ thái độ của mình trước cuộc chiến. Riêng Phan Duy Nhân căm phẫn đến mức nào ?

“... cho anh một chỗ đứng nào trên hành lang

để anh nhìn niềm bi thương đang diễn hành dưới đất

...

anh quẳng ra khỏi vuông cửa sổ toa tàu

trang nhật báo em cầm trên tay

in đầy tin thời sự

anh sinh ra bé nhỏ mọn hèn

muốn giấu em chuyện người da vàng trên Trung Hoa lục địa

buổi sớm lệnh còi đồng phục sắp hàng đôi

anh muốn giấu em những hội nghị tài binh

nâng cốc

chế bom

trên đầu dân thuộc địa

anh muốn giấu em chuyện người mẹ kê đầu trên đường sắt

ngăn con tàu chở lính sang Alger

anh muốn giấu em những tin tức quê hương gần gũi

những khuya xung phong những ngày nước độc

những hận thù trói buộc

những giới tuyến phân chia anh em bè bạn xứ sở gia đình

...

anh buổi sáng vẫn mang giày mặc áo

phố hôm nay - vẫn đó, phố bao giờ

bước có nghìn lần nhịp gõ cũng còn khô

sống vẫn đi vòng không ra ngoài cát bụi

tuổi thơ người ta không ra ngoài nước mắt

con tim người dây kẽm cũng còn chia...”

(Văn Học 19 – 5-1964)

Anh vẫn sử dụng ngôn ngữ giản dị. Điều nổi bật: những nét vẽ trầm uất mỗi ngày hình như được chăm chút rõ hơn. Khuôn mặt của thời cuộc được nhìn rộng từ thế giới, trước khi dừng lại với thực tại quê nhà. Những điều bi quan anh muốn giấu, chính là những điều anh khẩn thiết nói ra. Sự mâu thuẩn này không có gì lạ. Nó như một nghệ thuật buộc người nghe phải chú ý hơn. Nó cũng làm cho sự lặp lại được tự nhiên hơn, và chuyện đã xảy ra, được lặp lại cũng trở nên mới . Thật ra những hình ảnh bi thảm của cuộc chiến được dựng lên trong Con Đường Từ Thức (tên bài thơ), không có gì mới lạ. Thậm chí những hình ảnh bi thảm cũng chưa đủ mức bi thảm so với hiện thực ngoài đời. Giá trị của bài thơ, vẫn nằm trong thể cách bày tỏ tình cảm, bên cạnh những hình ảnh được dùng để đánh động sự chú ý của người đọc. Ngôn từ của Phan Duy Nhân không mới. Tùy theo ý tưởng, anh đặt bên cạnh những câu thật giản dị, một vài câu giàu chất thơ, từ đó cả chụm chữ đều ngát hương thi ca:

“... anh không muốn môi em hồng mắt sáng

mười lăm mười bảy ngây thơ

mỗi lời sầu làm mát một mùa thu...”

Trong bài tổng quan cho cuốn biên khảo Văn Học Việt Nam Hiện Đại – Thi Ca và Thi Nhân, tác giả Cao Thế Dung có đưa ra nhận xét:

“... Về ý và kể cả ngôn từ, nhiều nhà thơ đã cố vươn cao để cho khác cái cũ – nghĩa là cái đã được nói trong thơ tiền chiến. Và đã thành công qua ý hướng đó như Phan Duy Nhân, Hà Nguyên Thạch, và những bản sắc mới gần đây như Tần Hoài Dạ Vũ, Luân Hoán, Thành Tôn...”

(Thi Ca Và Thi Nhân trang 325)

“Ý hướng đó” của ông Cao Thế Dung là gì ? Phải chăng đó là những mô tả, phân tích cùng nhận định về chiến tranh. Nguồn thơ có nội dung như thế, về sau được gọi là thơ phản chiến. Tôi nghĩ, dù có phản chiến hay chỉ nêu ra một hiện thực đau buồn của đất nước, nguồn thơ này, đã manh nha từ những bài viết nặng lòng yêu quê hương. Căn cứ vào đời chính trị tiếp nối liền sau đời thơ, có thể nói thơ Phan Duy Nhân không nằm trong dòng thơ phản chiến. Những người làm văn học hiên nay đã xếp anh vào hàng ngũ những nhà thơ dấn thân, cùng Trần Quang Long, cùng Phan Trước Viên... Theo định nghĩa trong Từ và Ngữ Việt Nam của ông Nguyễn Lân, “dấn thân là hy sinh thân mình” dĩ nhiên sự hy sinh này thường dành cho tổ quốc.

Mùa hạ năm 1963, Phan Duy Nhân hành nghề gõ đầu trẻ, cho một vài trường trung học tư nhân tại Hội An, nơi cư ngụ của Ngân Hà, vợ anh sau này. Anh có viết một số bài ký tên Dương Phù Sao. Bài trích dưới đây, có lẽ đậm đà hình ảnh quê hương nhất trong thơ anh. Bài thơ khởi đầu bằng một cảnh sắc chợt đến trong tâm trí anh: Bến sông Hoài êm ả với dòng nước thì thầm đang nằm đợi những con thuyền ra khơi trở về. Bến sông đó cũng là cõi lòng của người anh yêu. Sự liên tưởng, thi vị hóa không khó lắm, bởi vì nỗi nhung nhớ của anh cộng thêm cái hiện thực, ngôi nhà người đẹp họ Dương nằm ngay bên bờ sông

“anh nhớ quê hương phố chợ âm thầm

tre cúi ngọn ưu phiền chiều xuống chậm

nước thì thầm trôi vòng ôm xóm vạn

bến ngậm buồn nghe ngóng mắt thuyền thon

Đi xa đã nhớ, về gần lại nỗi nhớ như nhiều hơn. Tác giả thấy mình đang cầm trong tay những chiếc lá, những cọng rêu, những mùi hương, những ngọn khói. Đọt nắng vàng hình như cũng đậu lại, chia xẻ cái hạnh phúc: anh được người mẹ gắp chia lời dịu ngọt . Đẹp biết bao nhiêu, khi anh trân trọng đặt môi mình lên bậc cửa, nơi người mẹ già từng đứng quyến luyến mỗi lần anh đi xa. Nỗi nhớ nhung như chất men, lặng lẽ ngấm vào tim anh. Không đặt tay lên ngực, anh cũng nhận ra, đó là những giọt lệ, anh đang ủ trong vuông khăn, lận theo bên mình.

khi anh về đôi chút lá phù dung

đôi chút rêu mềm nằm ve vuốt ngói

mượt đất thơm đường, bao dung lòng mẹ đợi

bữa cơm chiều anh chị nắng chắt chiu

ngày xuống bên thềm với gió dìu theo

bao nhiêu nhớ bao nhiêu buồn thuở trước

đôi đũa mẹ gắp chia lời dịu ngọt

mến thương đời xao xuyến ngực như tơ

anh muốn hôn lên bậc cửa mong chờ

nơi chân mẹ dẫn lên lời quyến luyến

xin một vuông khăn gói thầm nỗi hẹn

ủ trong lòng từng giọt nước mắt khô

chuyến xe qua chiều bữa đó mơ hồ

Không những chỉ với: đôi chút rêu mềm nằm ve vuốt ngói , và đôi đũa mẹ gắp chia lời dịu ngọt , mà cả đoạn thơ cho thấy cái tài dùng chữ, trang điểm cho hình ảnh trong thơ Phan Duy Nhân. Bài thơ còn tám câu nữa. Và cũng như thói quen, cuối bài, là những nụ thơ trong sáng:

“trời gió lộng, chim bay thèm trở lại

nhớ mẹ cười mát lụa xuống vai con”

Phan Duy Nhân nói năng trôi chảy, lưu loát. Anh rất có tài hùng biện. Nhờ có trí nhớ tuyệt vời, anh thuộc nhiều điển tích, nhiều mẩu chuyện trong cổ sử Trung Hoa, nên thường đưa vào câu chuyện mình kể, dẫn chứng điều mình đang nói. Nhờ đó, anh thuyết phục nhanh chóng những người đang lắng nghe. Trong lớp, vào giờ thực tập thuyết trình, anh gần như không bao giờ thua cuộc. Nhưng anh rất nhát gái. Trước năm 1975, trái tim của nhà thơ, hình như chỉ có một bóng dáng duy nhất: Dương Thị Ngân Hà. Người con gái này trở thành người bạn đời, và tạo nguồn cảm hứng cho Phan Duy Nhân, viết một chùm thơ tình mang tên Thơ Của Hà.

Vẫn sử dụng thể thơ nhuần tay, những khúc tình ca cho Hà không thiếu những câu đẹp:

“... đã mấy mươi năm anh chờ, em đợi ?

hồn em trong thơm ngát một vuông khăn

anh yêu thương thơ cũng mọc như rừng

dẫu tới trăm năm em vẫn còn mười sáu

để mắt vẫn rụt rè, chim nhìn chưa dám đậu

hờn sâu xa anh thức dậy chập chờn

em thơ ngây phải động chút u buồn

...

anh sẽ cười buồn làm em rơi nước mắt

thế giới chúng mình lênh đênh mùa mưa

anh biến thành thuyền, em biến thành thơ

ta sẽ dong chơi cùng vầng trăng mời mọc”

(Thần Thoại, tạp chí Bách Khoa số 121, 15-01-1962)

“... tay em dài mỗi ngón lá phong lan

hãy góp cho nhau mươi cánh phương thảo trắng

nước mắt làm mưa thu, môi hồng làm nắng sáng

để anh dựng lâu đài trên ngực cao nguyên

để anh ngó xuống đời bằng cặp mắt vành khuyên

bằng đôi cánh bồ câu vỗ lên vầng trán biếc

với buổi sớm tình ca, buổi chiều nhã nhạc

với trái tim em, anh tiếp tục lên đường”

(Bày tỏ Bách Khoa 126, 01-4-1962)

Thơ tình Phan Duy Nhân có nhiều ý mới, nhưng hình như những dòng thơ hiện diện, bằng đường trí óc hơn là từ trái tim. Cái chân tình cũng thiếu vắng khá nhiều. Ở nhiều đoạn có nét óng mượt rất gần hơi thơ Nguyên Sa:

“... anh chỉ còn đây lời rượu ngọt

cùng thơ tâm sự, mắt du thuyền

tương lai thôi hãy mềm như lụa

mà gói đời anh trong áo em...”

(Thơ Cầu Nguyện Bách Khoa 124, 01-3-1962)

Có cả cái diễm tình của Đinh Hùng:

“... vầng trăng dại rơi gầy trong giếng mắt

thoáng mây bay trông rất đỗi ngập ngừng

cây rũ lá vàng thơ buồn rụng cánh

chân nai đi khe khẽ động chim rừng...”

(Rừng Vàng, Bách Khoa, 125 – 15-3-1962)

Nhìn tổng thể thơ Phan Duy Nhân, thật ra rất khó phân biệt rõ ràng từng chủ đề khác nhau. Tình yêu lứa đôi, tình quê hương, bàng bạc trong khắp niềm thao thức về thân phận con người. Những hoài nghi, những băn khoăn luôn luôn thắp sáng, từng dòng suy tư trong thơ anh. Nhưng cái xuất sắc nhất, chính là nguồn thơ khơi dậy tình yêu nước, đả phá những bất công xã hội. Tính chất mạnh mẽ trong từng dòng thơ có giá trị như những lời thúc giục, nếu không muốn nói là xách động.

“... Độc lập, hòa bình, công bằng, nhân đạo

Mắt em thơ hớn hở nụ cười tròn

…

Nòi giống Việt thương yêu đời sống Việt

Triệu con người vươn lên từ cõi chết

Yêu anh em, yêu xã hội công bằng

Người yêu người xây dựng đến muôn năm

(Tiếng Hát của Người Đi Tới)

Vẫn còn đó anh em hàng triệu đứa

Yêu thương nhau cùng mở rộng vòng tay

Khi chết đi tim người xin để lại

Anh mang theo khoảng trống lấp không đầy

Thân băng hoại nhưng niềm tin hiện hữu

Cùng tui em đi đốt lửa mặt trời

Chúng ta sống bằng máu người đã chết

Người nối người dĩ vãng nối tương lai

Vì trên mặt đất nầy cây đã mọc

Vì hoa đời anh hái cả hai tay

Nên cuộc sống khác ngày giờ hý viện

Vô duyên như giấc mộng chẳng tròn đầy

...

Thân xác ấy thôi rồi tan rã hết

Vào hư vô không giọt máu hồng tươi

Tôi đã dặn khi giã từ cuộc sống

Nhớ cho tôi xin lại trái tim người

(Trái Tim Còn Lại)

Nguồn cảm hứng này chắc chắn xuất phát từ trái tim. Sự uất ức thường dẫn đến những ngôn từ, hành động phản kháng mạnh mẽ. Nhưng đó chưa hẳn là lòng yêu nước. Ở tuổi mười tám, hai mươi, quả khó dằn lòng trước cảnh bị áp bức đồng bào ruột thịt. Nhưng Phan Duy Nhân đã mục kích những thảm cảnh gì ? từ đâu ? trong những năm đầu của thập niên 60, tại một thành phố yên bình như Đà Nẵng ? Lòng căm phẫn vì ngoại cảnh, vì yêu nước trong trường hợp Phan Duy Nhân thật đáng ngờ. Và nguyên nhân cụ thể, đủ để cho Phan Duy Nhân hãnh diện xác nhận, thể hiện qua bài viết của ông Dương Đức Quang, phổ biến trên trang tramhuong.com:

“... Năm 14 tuổi Dinh đã biết cha mình là cơ sở hoạt động bí mật của cách mạng tại nội thành Đà Nẵng, thường xuyên đón cán bộ về họp tại nhà. Trong số cán bộ đó có ông Hồ Vinh, một thày giáo dạy Dinh, trong kháng chiến chống Pháp từng là phóng viên của báo Nhân Dân tại Khu V. Cũng chính qua cha và người thày giáo này mà Dinh sớm giác ngộ cách mạng, trở thành người liên lạc cho tổ chức cách mạng hoạt động bí mật tại Đà Nẵng. Tháng 2-1957, vì một kẻ phản bội tố giác, thày giáo Hồ Vinh bị địch bắt, bị tra tấn đến chết, nhiều cán bộ khác cũng bị bắt, tổ chức cách mạng bí mật bị phá vỡ, cha con Dinh phải tạm ngừng hoạt động. Những năm tháng học trung học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng sau đó, tuy bị mất liên lạc với tổ chức nhưng sẵn lòng yêu nước, Dinh vẫn nung nấu một ý chí cách mạng, sẵn sàng “nổi loạn”, chống đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của Mỹ. Năm 15 tuổi, Dinh viết bài thơ yêu nước đầu tiên gửi đăng trên một tờ báo ở Sài Gòn, lấy tên là Phan Duy Nhân, nguyện là “một người con họ Phan vì nhân dân...”

Phan Duy Nhân đã dùng cái tài thơ của mình để mở đường phục vụ cho lý tưởng của mình, điều này không có gì sai trái nhưng đã hao hụt tình bằng hữu, một điều anh đã từng lo lắng:

mở mắt cột đèn nhìn ca rô giữa phố

bỗng ngại suốt đời xa lạ hết anh em

(Bày Tỏ)



Theo tôi, Phan Duy Nhân đúng là một người làm thơ, hơn thế nữa, anh là một nhà thơ rất vững tay trong làng thơ Việt Nam. Thật tình tôi đã rất mừng khi Phan Chánh Dinh vớt lại lưng lưng ly hạnh phúc lứa đôi, sau đứt đoạn vì hoàn cảnh. Tiếp đến anh vượt qua luôn chiều dài mười mấy năm im lặng (tính từ sau 1975) để trở lại với thi ca. Và điều quan trọng hơn, thơ anh vẫn còn nhiều người yêu thích:

Mới gió Lào khô đã heo may Hà Nội

Chon von đỉnh núi giong buồm

Thuở trước thiền sư làm chính ủy

Câu thơ tới giờ còn mang gươm!

Thơm dấu hài thêu khuya chuyện cũ

Giữa Hàng Đào cô Tấm có là em?

Ôi em đẹp với vô cùng mà đời ta có hạn

Gió lộng vẫn ngang trời

Trong đáy mắt hồ Gươm...

(Vĩ Thanh - Hà Nội, những mùa sen 1990)

Nhắm mắt để nhìn em thật rõ

Thanh thoát trong tôi một đóa hồng

Đêm sáng lên từ tia lửa nhỏ

Hồn tôi nắng sưởi giá băng tan...

(Quán Tưởng, 2007)

Em mến yêu anh là sự sống

Trong anh như nhựa tiếp cây đời

Vươn cành xanh lá qua giông bão

Anh uống tình Em mà thắm tươi!

Những nắng gió trên đường đi tới

Những khuya trăng chia sẻ vui buồn

Em trong anh tim hồng trong ngực

Vượt lên cùng trăm núi nghìn sông...

Anh viết những bài thơ bất tận:

Em cho anh thêm một tâm hồn

Anh làm nước sông dài chẳng cạn

Chảy từ nguồn sâu thẳm yêu thương

Mỗi người có riêng mình thần thánh

Quan-thế-âm hay Ma-ri-a...

Anh cầu nguyện cùng em buổi sáng

Cho mỗi ngày mỗi bước đi xa.

Là Em và thơ và triết học

Yêu Em vô hạn tới vô cùng...

Say đắm cho Em thành có thật

Đến trọn đời vằng vặc vầng trăng.

(Ngưỡng Vọng)

Dưới trang phục mới của đời thường phảng phất mùi kinh kệ, thơ Phan Duy Nhân vẫn còn mang gươm. Hy vọng mũi gươm này đã biết xoay chiều hướng đến một kẻ thù đích thực của dân tộc. Để nhà văn Phan Nhật Nam thở phào xóa đi những nghi vấn về bạn mình. Và hai chữ hào kiệt được tác giả Dựa Lưng Nỗi Chết, có cơ hội dùng lại. Mong thay (1) .

Hà Khánh Quân

(1) PNN từng gọi PDN là kẻ hào kiệt


Nguồn : luanhoan.net

READ MORE - PHAN DUY NHÂN

Monday, June 15, 2009

Quảng Trị, cuộc đất nghĩa tình, ký của Mang Viên Long

Chiều trên sông Thạch Hãn, ảnh của Nguyễn Khắc Phước



Quảng Trị , cuộc đất nghĩa tình


Bút ký


Mang Viên Long



Chiếc xe Asia bảy chỗ ngồi của Hà Nguyên khởi hành tại Bình Định lúc 9 giờ 30 tối, đưa chúng tôi đến Huế đúng 4 giờ sáng hôm sau.. Tấp vào một quán –café-không-tên bên bờ sông Hương vừa dọn hàng-gọi mỗi người một ly café-vừa nhâm nhi thư giản-vừa ngám sông Hương buổi sớm!.Lúc này, sông Hương vẫn còn đang mơ ngủ-mềm mại và mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Huế-sông Hương,có lẽ thơ mộng, quyến rủ nhất-chính là lúc này.Lúc Đất Trời yên tịnh vắng lặng thoát ra khỏi mọi cái ồn ào vội vã đua chen…


Tạm biệt Huế khi ly café vừa cạn/điếu thuốc vừa tàn-chúng tôi chỉ ngồi lại được với Huế có thế, nhưng khoảnh khắt ngắn ngủi bồi hồi tinh sương ấy-đã in đậm trong tôi bao niềm nhớ thương của một thời tuổi trẻ rong chơi bè bạn vô tư hồn nhiên như dòng sông lặng lẽ thuở nào!…Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình hướng về Quảng Trị/Đông Hà đang mời gọi đợi chờ phía trước!


Cách thị xã Đông Hà khoảng 40 cây số-lúc này đã hơn 6 giờ sáng-tôi gọi cho Phan văn Quang,-người bạn văn lưu lạc đã ngót 40 năm chưa gặp lại. . Hà Nguyên phone cho Anh Đức Tiên-người anh cả của Bloggers Quảng Tri-để xin địa điểm gặp nhau. Bảy giờ, xe của chúng tôi đã vào phố Đông Hà-thị xã của miền địa đầu giới tuyến thưở nào! Đây là lần đầu tiên tôi được dừng chân đến Quảng Trị/Đông Hà-nên Đất Trời QT/ĐH hiện ra trong ánh mắt lạ lẫm tôi luôn mới lạ, réo gọi-thân thương! Cái thị xã của 21 năm gánh chịu bao nỗi chia xa, thù hận, bom đạn,đau thương/chết chóc- nơi miền địa đầu một thời quê hương khói lửa binh đao-nay đang trổi dậy, nẩy mầm, vươn lên-thật tươi trẻ,hiền hòa,chung thủy! Nhìn phố xá người xe Đông Hà-tôi vừa ngậm ngùi thương cảm/vùa trân trọng thán phục! Miền đát chết ấy đã sống lại-đã hồi sinh đầy sinh lực và kiêu hảnh!


Được các anh Đức Tiên, PV Quang, Thanh Tịnh đón ngay góc phố Lê Quí Đôn-chúng tôi lần đầu bắt tay nhau mà như tình thân đã muôn thuở! Sau điểm tâm-uống ly café đầu tiên Đông Hà-theo sự “sắp xếp “ của Anh Đức Tiên-chúng tôi được tham quan 2 di tích đáng nhớ của Quảng Trị là Nghĩa Trang Trường Sơn/ Cầu Hiền Lương-ngay trong buổi sáng..


Con đường rộng, thoáng mát, rợp bóng cây dẫn đến NTTS thật thơ mộng. Có ai ngờ rằng-hơn 37 năm trước-cũng ở nơi đây-khói và lửa/đau thương và chết chóc/hận thù và chia xa-đã cày xới mảnh đất cằn khô này thành từng ngàn mảnh tang thương? Hơm 10.000 ngôi mộ liệt sĩ đã được quy tập về nơi đây-từng khu dành riêng cho mỗi tỉnh thành-hàng hàng lớp lớp người tuổi trẻ đã yên nghỉ lặng lẽ cùng cỏ cây-núi đồi Trường Sơn u tịch –khiến tôi nghe xót xa rưng tức trong lòng! 10.000 ngàn ngôi mộ-không phải vậy-nhiều ngàn lần hơn thế nũa của hai niên Nam Bắc tuổi trẻ đã phải nằm xuống im lìm khi mọi ước vọng tương lai đang xanh-Tình Yêu đang chớm nở! Có một nhà văn nào đó đã nói;”… Vâng, Chiến tranh là một bi kịch to lớn nhất của nhân loại-bởi vì nó tàn phá con người-mà mỗi con Người là môt bảo vật không thể thay thế!”. Tôi dóng một hồi chuông dài chiêm niệm vong linh các anh-sau khi thắp hương đặt hoa lên đài tưởng niêm!Tôi thắp hương/dâng hoa không chỉ cho 10.000 liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây-mà cho tất cả những người đã nằm xuống trên mọi miền Tổ Quốc trong cuộc chiến tương tàn dai dẳng khốc liệt này!


Xe chạy qua Quán Ngang, Dốc Miễu - tiến về chiếc cầu chia cắt 21 năm –Ôi, chiếc cầu hiền hòa bình dị nhỏ bé là thế mà sao gieo bao nỗi kinh hoàng tang thương cho Dân Tộc? Được vịn tay lên thành cầu Hiền Lương thân yêu-như được sờ mó lên từng đoạn đời chìm nỗi bất hạnh –tôi không kiềm được nỗi bàng hoàng đang dâng tràn …Đây là nhà Liên Hiệp, đây là cột cờ, đây là dãy loa phóng thanh,đây là đồn bót,đây là nhà lưu niệm(…)-mọi chứng tích hãy còn đó-mọi khổ đau đang còn kia-Cầu mong lịch sử không bao giờ tái hiện thêm nữa những vết tích đau buồn-mà hãy dựng lên nhiều tượng đài của Hy Vọng,của Tình Yêu-của Niềm Kiêu hãnh…


Buổi chiều, theo sự hướng dẫn của Thanh Tịnh-chúng tôi được thăm Thành Cổ Quảng Trị-nơi 81 ngày đêm chìm trong máu lửa! Nơi cổ thành uy nghiêm này-là nấm mồ chung của tuổi trẻ! Bước từng bậc cấp lên tượng đài-nơi dâng hương-hoa-tôi đăm đăm nhìn rộng khắp chung quanh-nhớ lại những ngày vang dội tiếng đạn bom/tiếng kêu than/ gào thét/ và máu và những giọt nước mắt cuối cùng! Thành Cổ ơi, xin thắp nén hương tâm dâng Người…Cầu mong Người được an lành nơi cõi Vĩnh Hằng!


Trời đổ mưa-Thanh Tịnh vẫn nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi với niềm- tự -hào- Quảng -Trị; đua chúng tôi đến thăm nhà lưu niêm cố Tổng Bí Thư Lê Duẫn. Giong thanh ấm của người nữ thuyết trình viên trước mỗi bức ảnh, hiện vật, tượng khắc-làm cho gian phòng thêm ấm áp, gần gũi! Tôi cảm thấy,hình như đôi mắt cô ta long lanh chực khóc-khi nói về những ngày gian khổ của Quảng Trị! Thời gian còn lại ít ỏi quá-chúng tôi “ tranh thủ “ ghé qua Thánh Địa La Vang-thăm miền đất Thánh một thời còn lưu dấu!


Theo “ qui định” của Anh Đức Tiên-chúng tôi phải quay về Quán Soi lúc 16 giờ30-để tham gia giao lưu với anh chị em bloggers Đông Hà/Quảng Trị. Buổi tiệc nhỏ thân mật với những đăc sản QT mà Anh Đức Tiên dành cho chúng tôi thật…”hoành tráng” ! Quanh bàn, đã hiện diện tương đối đầy đủ bloggers QT/ĐH: Đức Tiên., PV Quang, Thanh Tịnh, Xuân Lợi, Văn Luyến,Cô Giáo MN Moon., Hoài Nhạn… Anh Đức Tiên nói lời chào mừng-hy vọng tình-bloggers sẽ nhân lên mãi. Hà Nguyên thay mặt chúng tôi bày tỏ cảm tưởng,lời cảm ơn đối với anh chị em bloggers QT-Và cùng nâng ly trâm phần trăm chúc mứng cuộc Hội Ngộ khó quên!…Khoảng 1 giò sau-Anh Nguyễn Quang Vinh từ Quảng Bình đã lái xe đến đúng hẹn-lại thêm một bạn văn mới tháp tùng-bạn Trần Phương đang công tác ở báo Nông Nghiệp. Bốn anh em chúng tôi( H Nguyên/NM Quang/PV Phương và tôi) -phải cụng ly …tới bến với nhiều bloggers QT hào hoa uống bia như …nước suối! Chuyện trò, tâm tình-cụng ly-và vui cười thoải mái cho đến gần 11 giờ- Hà Nguyên lại thay anh em BĐ gởi “ chút quà đặc sản” ( Nem chợ Huyên bà Bảy/Bánh ít đen Bà Dư/Rượu Bầu Đá)-để anh em cùng thưởng thức “ hương vị BĐ” trong lúc chưa có “ đủ duyên “ ghé lại-Anh Đức Tiên tăng chúng tôi mỗi người một tập” Thơ Webs-Bloggers Quảng Trị-Vuontruc online”- Thanh Tịnh tặng tập thơ mới của Anh( Tập” Cầu Vòng Cõng Những Cơn Mưa”) Cuộc vui kỳ ngộ tạm kết thúc - Chúng tôi trở về Ngân Hà Hotel “ ngủ với Đông Hà” một đêm!


Hẹn nhau ở Quán Café Giang Châu ( của blogger –nhà thơ Xuân Lợi) để cùng uống ly -café –tạm-biệt! Lại một cuộc gặp gỡ thật đầm ấm . Lại một tên quán Giang Châu nhiều ấn tượng. Đông Hà ơi,Quảng Trị ơi- cuộc sum hợp nào rồi cũng có lúc phải chia xa-mỗi người một cảnh đời bận rộn-nhưng trong khoảng im lặng tưởng nhớ của đời sống-Quảng Trị, Cuộc Đất Nghĩa Tình luôn sáng mãi nồng ấm trong tôi! ./.


Quê Nhà, Ngày 30 th 3-2009

Mang Viên Long

Nguôn: www.vanchuongviet.org





Các sáng tác của Mang Viên Long
Thơ, truyện ngắn của Mang Viên Long, vanchuongviet.org

READ MORE - Quảng Trị, cuộc đất nghĩa tình, ký của Mang Viên Long

Wednesday, May 27, 2009

QUA TRUÔNG NHÀ HỒ - Hoàng Đình Hiếu

Cổ thành Quảng Trị





Để đưọc gọi là người Quảng Trị, xét ra tôi không thuộc diện nào cả. Đang tính quẩy gánh qua Truông nhà Hồ để vào Quảng Trị tá túc lâu dài, bỗng dưng nửa đàng rớt thúng. Bạn thử nghĩ có ai quẩy gánh mà chỉ có một đầu ? Thành ra nói về Quảng Trị, tôi là kẻ đứng bên lề. Nghe nhiều hơn biết. Nếu người Quảng Trị có những điểm nổi bật, theo tôi nghe, thì khẩu lệnh sau đây trở thành như bất biến. Ấy là: ‘’Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe’’.

Đặc tính nầy xét ra rất chí lý đối với một tập thể vốn không phải là cư dân cố cựu trên vùng đất phiá Nam dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang). Cũng như Quảng Bình, người Quảng Trị có nguồn gốc lâu đời ở miền Bắc Việt Nam, nghĩa là từ phía Bắc đèo Ngang trở ra tới biên giới Trung Hoa. Có lẽ đã có nhiều cuộc di dân về miền Nam. Nhưng khi hai châu Ô, Lý (cũng gọi là Rí) của Chiêm Thành chính thức trở thành hai châu Hóa, Thuận của Đại Việt sau cuộc tình đổi chác giữa công chúa Huyền Trân với Chiêm Vương Chế Mân vào năm 1306, thì đã có nhiều tộc hệ đến lập cư trên vùng đất mới. Họ khác nhau về tộc hệ, nhưng có chung một mẫu số là Đại Việt. Hơn thế nữa, họ có chung một lý tưởng là tạo cơ nghiệp trên vùng đất mới, đảm nhận vai trò xung yếu: Tiến Công, Phát Triển và Ổn Định trong sứ mệnh lịch sử Nam Tiến của dân tộc. Mỗi tộc hệ là những đơn vị cư dân. Chính họ phải chứng tỏ khả năng tiêu biểu của mình trong cộng đồng xã hội mới. Tính tự trọng được coi như mẫu mực, làm nền tảng cho nấc thang gía trị. Phân biệt chân giả cũng do đó mà phát sinh. Không cá nhân nào có thể nói thay cho tộc hệ của mình nếu không phải là vị tộc trưởng được cả tộc tôn kính và tín nhiệm. Câu nói ‘’Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe’’, tôi nghĩ có lẽ đã ra đời trong một hoàn cảnh như vậy.

Bạn có thể nhận ra trong việc bố trí cư dân dựa trên tộc hệ ở Quảng Trị. Có lẽ không có nơi nào khác, tên mỗi tộc hệ đã dược dùng nhiều để đặt thành địa danh như ở Quảng Trị. Là người địa phương, chắc chắn bạn sẽ kể ra hàng chục địa danh bắt đầu bằng tên họ (last name) cọng thêm chữ Xá. Xá là Nhà. Chẳng hạn như: Mai Xá, Ngô Xá, Hoàng Xá, Dương Xá, Võ Xá...Điều đáng nói là mỗi Xá như vậy phải có cái gì để tự hào. Tất nhiên phải là cái Biết có giá trị. Nếu chưa Biết thì phải dựa cột Xá mà nghe vị tộc trưởng dạy dỗ, bảo ban. Xét ra không đơn giản. Cái khó của người Quảng Trị nằm ở chỗ đó. Nhưng là một cái khó làm nên nét tự hào đặc biệt.

Hạ Cờ và Chấp Lễ, mỗi làng nằm hai bên lằn ranh Quảng Bình và Quảng Trị. Hai địa danh nầy hình như có chung một câu chuyện truyền khẩu lịch sử liên quan đến một vị vua triều Nguyễn ngự giá đi thăm dân cho biết sự tìn. Chỗ dân mang đặc sản tiến lên vua và đuợc nhà vua chấp nhận, sau được gọi tên là Chấp Lễ. Chỗ nhà vua và đoàn xa giá dừng chân nghỉ lại, sau gọi là Hạ Kỳ. Dân dã kêu là Hạ Cờ.

Nếu bạn không phải là người Chấp Lễ thì đừng nên giả giọng Quảng Trị. Tiếng nói Quảng Trị coi vậy mà rất khó bắt chước. Người Phủ Cam giả giọng Quảng Trị sẽ lòi ra cái đuôi Huế, trong khi họ có thể nói tiếng Quảng Nôm như người Quảng Nam. Nói tiếng Sàigòn như người Bến Nghé. Câu‘’chửi cha không bằng pha giọng’’cũng được nguời Quảng Trị sửa lưng thiên hạ nhiều lần. Lý do là bạn gỉa giọng không đúng. Ra chợ Gio Linh, bạn hỏi mua trái khổ qua, thấy trong rỗ của một bà ngồi cạnh hàng rau giữa chợ, nhưng không ai biết bạn nói cái gì. Mướp đắng là tên gọi bình dân ai cũng biết.

Bạn phải tinh tế để thấy cái triết lý bình dân nơi những câu nói vè ở Quảng Trị.

Khoai to vôồng thì tốt cộ,
Đậu ba lá thì bưa un,
Gà mất mạ thì lâu khun
Trai muốn gái thì thậm khổ
Gái muốn trai thì thậm khổ
Trời sinh voi thì sinh cỏ
Trời sinh sông thì sinh đò
Trời sinh giếng thì sinh mo
Trời sinh o thì sinh tui
Tui một mình không đặng
O một mình không đặng
Gíó ngoài biển hắn cuốn vô
Mây trên trời hắn cuốn lại
O với tui cùng cuốn lại
Tui với o cùng cuốn lại
Hai đứa mình cùng cuốn lại.

Người ta nói giọng Quảng Trị nặng. Tôi nghĩ cái nặng ấy có lý do chính đáng của nó. Điểm nặng bao giờ cũng ở trung tâm (Center of Gravity). Và hình như cái gì càng xuôi về phía Nam (Đèo Ngang) thì rất khác với cái gì đang có ở phiá Bắc. Đó là sức ép. Nếu không có sức ép ấy thì châu Ô, Châu Lý vẫn mãi mãi là của Chiêm Thành. Thiếu một sức ép bền bỉ thì vùng đất từ Hoành Sơn vào tới mũi Cà Mâu ngày nay vẫn mãi mãi là của Lâm Ấp, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp.

Nói như vậy, không có nghĩa là tổ tiên chúng ta qúa hiếu chiến. Đã có lúc, tổ tiên chúng ta chọn Ái Tử là chỗ dừng chân để an cư lập nghiệp trên vùng đất vốn là qùa cưới của vua Chiêm dâng lên nhà Trần. Những địa danh bắt đầu bằng chữ An có rất nhiều ở Quảng Trị, bên cạnh những địa danh sót lại của người bản xứ Chiêm Thành như Cùa, Trấm, Sòng, Sãi nói lên một ý nghĩa lịch sử khá lý thú trong chủ trương cùng sinh tồn của tiền nhân chúng ta. Khi nói về An Cư, An Lộng, An Thái, An Lợi, An Toàn...tự nhiên bạn có một ý niệm hòa bình nơi người dân Quảng Trị. Đáng ra, phía nam Quảng Bình, phải là Quảng An. Nhưng Trị cũng có nghĩa là giữ gìn sự yên ổn. Chưa ai nói lên cái ý nghĩa tiềm tàng nơi những địa danh như vậy, kể cả soạn gỉa Nguyễn Văn Tân, với cuốn Từ Điển Địa Danh Lịch sử và Văn Hóa Việt Nam (Nhà Xb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1998). Điều lấy làm lạ là Nguyễn Văn Tân, không hề đả động đến một địa danh nào bắt đầu bằng chữ An ở Quảng Trị. Soạn gỉa nầy có ghi hai địa danh: An Cựu ở Thừa Thiên, quê của Hảỉ Triều (1908-1954), đảng viên Đảng CS; An Xá ở Quảng Bình, quê của Võ Nguyên Giáp. Tôi không có ý giới thiệu cuốn Từ Điển nầy, nhưng với một ý đồ và sự thiển cận lộ liễu như vậy, chứng tỏ người làm công tác văn hóa lịch sử ở Hà Nội chẳng có cái gì đáng gọi là văn hóa cả.

Mỗi địa danh tự nó thật vô tội. Hãy đọc mấy hàng sau địa danh Cam Lộ ở Quảng Trị do Nguyễn Văn Tân viết: Phủ ở tỉnh Quảng Trị, đời Trần là nguồn Cam Lộ, gồm hai châu; Gia Long đặt châu Cam Lộ. Cam Lộ xưa sản xuất dầu rái đỏ để thắp đèn và chế ra sơn. Thời Ngô Đình Diệm, Quận gồm 13 xã. Nay là huyện của tỉnh Quảng Trị, gồm 9 xã với diện tích 35,199 ha, 34,955 nhân khẩu. Năm 1977 hợp nhất với huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thành huyện Bến Hãi, sau thành 3 huyện riêng.

Hãy trở lại với từng mãnh đất thân yêu của Quảng Trị chúng ta. Tôi có nhắc bạn về mấy địa danh độc chiếc ở Quảng Trị đó là Trấm, Cùa, Sòng, Sãi...Cũng vậy, ở Thừa Thiên, bạn thấy có Sịa, Sình, Sam, Truồi, Trẹm, Huế...Chắc bạn đã thấy hai tác gỉa Nguyễn Châu và Đoàn Văn Thông, khi thực hiện cuốn Ngàn Năm Xứ Huế (Thương Huế xuất bản, năm 1993) trong Chương Điạ Danh Huế, từ trang 139 đến 156, đã dùng các tài liệu của các giáo sĩ truyền giáo (1653), các nhà thương buôn Tây phương (1823) và cả tài liệu của Phan Khoang trong Việt Sử Xứ Đàng Trong (1967) để đi đến một khẳng định rằng Huế do Hóa (trong Thuận Hóa) mà viết trại ra. Rõ ràng hơn, hai tác gỉa nói ở trang 156 : Huế xuất xứ từ chữ Hóa.
Đây là một vấn đề địa lý văn hóa có liên quan đến Quảng Trị, đặc biệt là chợ Sãi ở gần làng Cổ Thành, Quảng Trị.

Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có lẽ là người đầu tiên nhắc đến địa danh Huế. Trong bài văn nôm có nhan đề là Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, nhà vua đã viết: ‘Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bị hồ tiêu. Thao Lào, thóc Huế, Thuyền tám tầm chở đã vạy then’’. (Thơ văn Lê Thánh Tông, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1981, tr 134). [Thao là một sản phẩm dệt từ tơ tằm; Tầm là đơn vị do chiều dài khoảng 3 mét; vạy then là làm cong cái chốt của khoang thuyền do chở qúa nặng. CT của người viết ].

Với 38 năm làm vua, Lê Thánh Tông (trị vì từ 1460-1497) đã có lần đến Hóa châu, Thuận Châu, Quảng Nam và một lần vào tận Phú Yên.

Cũng nên biết rằng, trước khi Nguyễn Hoàng vào giữ chức trấn thủ Thuận Hóa năm Mậu Ngọ, 1558, thì vùng đất nầy đã được tổ chức cai trị theo chế độ chính trị của nhà Trần từ năm 1307. Quan ngự sử Đoàn Nhữ Hài đã thừa lệnh vua Trần Anh Tông (1293-1314) đặt các quan lại để củng cố an ninh vùng Ô châu ác địa, không phải ác vì đất hiểm cho bằng vì phải đối phó thường xuyên với người Chiêm lúc nào cũng tìm cách giành lại vùng đất đã mất. Châu Hóa, châu Thuận xưa, nay là đất Triệu Phong, Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị, đất các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Cũng vậy, vào năm 1554, đang khi phân tranh với Lê-Trịnh và nội bộ nhà Mạc còn xâu xé, vì Phạm Tử Nghi muốn tôn Mạc Chính Trung lên ngôi, vua Mạc là Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) vẫn cử Phạm Khắc Khoan vào làm Tham tướng dinh Thuận Hóa. Theo Ô Châu Cận Lục của quan Thượng thư Dương Văn An (nhuận sắc và xuất bản năm Ất mão,1555) thì Triệu Phong non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, dân cư đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phương. Cảnh tượng tươi vui, phong vật qúi giá không còn đâu hơn nữa.
Đàng khác, một bản văn nôm vừa mới được phát hiện trong năm 1999 tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên cách đây 546 năm (tức năm 1453 dưới triều vua Lê Nhân Tông,1443-1450)nói về một cuộc chia đất cho dân canh tác, có nguyên văn như sau: Huyện quan chấp nhận cho họ đến canh khẩn ruộng tại xứ Đông. Mà nê Đông Tây tứ phía tổng cọng hơn một trăm mẫu. Phê duyệt cho Lê Cạnh, Đoàn Túy, Lê Văn Quế được khai khẩn thành thục, nộp thuế theo như lệ định (Theo Nguyễn Thế, Phát hiện văn bản Hán Nôm cổ cách đây 546 năm tại Phong Điền (Thừa Thiên-Huế). Nghiên Cứu Lịch sử số 3 (304),1999, tr 79-86 ). Một vùng đất trù phú như vậy hẳn là nơi đã sản xuất lúa gạo (thóc) nổi tiếng vào thời nhà Lê. Một vùng đất tốt tươi như vậy mà chịu mất đi, người Chiêm làm sao không đau xót và cố gắng tìm mọi cách để giành lại. Chính vì vậy mà năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã mở cuộc chinh phạt, đuổi người Chiêm về phía nam núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) tỉnh Phú Yên ngày nay.

Nhân cuộc viễn chinh nầy, nhà vua đã dừng chân ở cửa biển Tư Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, viết bài thơ Tư Dung Hải Môn Lữ Thứ, có bản dịch như sau :

Thuyền lầu khua trống đến Ô long
Bách nhị quan hà đây yếu xung
Giáp bãi núi cao xanh ngăn ngắt
Tiếp trời sóng vổ biển trùng trùng
Triều xưa sự nghiệp còn di tích
Nước Việt dư đồ nhân cựu phong
Lương bể chẳng từ gì cáu bẩn
Sông ngòi đâu cũng hướng về đông

Bài thơ nầy đuợc trích ra từ tập Minh Lương Cẩm Tú, gồm các sáng tác của nhà vua trong các năm 1470, 1471 . Rõ ràng, thuyền tám tầm và thuyền lầu là những phương tiện hải hành thông dụng trong thời đó. Chắc chắn loại thuyền nầy đã nối Chợ Sãi với Huế, khi biết rằng sau năm 1307, vua Trần là Trần Anh Tông chính thức thâu nhận hai châu Ô, Lý và cải danh là châu Hóa và châu Thuận, và sai tướng Đoàn Nhữ Hài thiết lập guồng máy cai trị ở đó. Trong mô hình giao thương và kinh tế thời bấy giờ, hàng từ Lào sang Đại Việt không có con đường nào khác là qua Khe Sanh, Hướng Hóa, xuống Cam Lộ, qui tụ tại chợ Sòng ở làng Kim Đâu rồi theo sông Hiếu vào Thạch Hãn để lên bến chợ Sãi. Nguồn hàng từ Bắc vào Cửa Việt; nguồn hàng từ Ba Lòng qua Trấm đổ xuống đều do đường sông mà đến Chợ Sãi. Có lẽ Huế thời Đoàn Nhữ Hài chưa mấy ai biết đến, nhưng đến thời Lê Thánh Tông đã có Huế của Bao Vinh. Đến lúc thủy lộ chợ Sãi - Phá Tam Giang vào Thuận An thì Huế của Bao Vinh đã trở thành một chợ Sãi ở châu Thuận. Thao Lào, thóc Huế đã có mặt trên châu Hóa, châu Thuận, Thừa Tuyên Quảng Nam và khắp mọi miền đất nước của Đại Việt.

Phải chăng câu văn của vua Lê Thánh Tông đã có một căn bản địa lý lịch sử. Vậy thì tại sao cứ phải gọi Huế là do Hóa trong Thuận Hóa nói trại ra. Chẳng lẽ một nhà văn, một nhà thơ nổi tiếng như vua Lê Thánh Tông không đủ cho chúng ta tin, để cứ phải tin vào văn liệu các nhà ký sự Tây phương viết ra sau đó 156 năm ? Vua Lê Thánh Tông đã viết thao Lào (thao xứ Lào), thóc Huế (thóc xứ Huế) y như ngày nay chúng ta nói Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận vậy. Chắc chắn nhà vua đã không lầm khi đặt địa danh Huế và Lào bên cạnh nhau để làm tỉ đối các sản phẩm tiêu biểu của của hai xứ Đại Việt và Ai Lao.

Một địa danh bao giờ cũng có mốc thời gian tương đối của nó. Thành Quảng Trị, cũng gọi là thành Đinh Công Tráng, không nằm trên địa thế làng Cổ Thành. Thế nhưng trong cuộc chiến năm 1972, nhiều người cứ lầm tưởng Cổ Thành chính là thành Quảng Trị trong đó có Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị trấn đóng. Làng Cổ Thành có tuổi thọ cao hơn, nằm xa thành Quảng Trị hơn một cây số về hướng đông, trên một vùng đất gần chợ Sãi, nơi đây có dấu tích một thành trì được thiết lập từ xa xưa, ít ra trước thời Nguyễn Hoàng đến đóng quân ở Aí Tử năm Mậu Ngọ, 1558. Riêng các làng có tên như Trung Kiên, Hữu Kiên, Tả Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên chắc chắn phải khai sinh sau năm 1558, vì những địa danh nầy chính là tên các đơn vị quân sự của chúa Nguyễn, sau đó đổi thành tên làng xã của cư dân, mà đa phần là gia đình của quân binh từ Thanh Hóa, Nghệ An đã theo Nguyễn Hoàng vào Nam.

Cũng vậy, phải nói địa danh Huế có trước khi Vua Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là trước năm 1497. Xóa khai sinh của một địa danh khi chưa cố gắng tìm ra chứng liệu khả tin trong kho tàng lịch sử dân tộc; nhận những dòng ký sự Tây phương như chứng liệu duy nhất, đó là một việc làm thiếu thận trọng. Dầu sao, về điểm nầy rất cần ý kiến của các bậc thức gỉa quan tâm đến văn hóa và lịch sử của một địa phương.

Tôi có một người bạn quê ở Quảng Trị, tên là Ngô Ngọc Ch. Anh nói anh là con cháu họ Mạc. Lúc đầu tôi không tin. Nhưng đọc lại lịch sử thấy có mấy lần, họ của một dòng tộc phải thay đổi. Chẳng hạn, năm 1232, Trần Thủ Độ đã buộc họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn. Năm 1435, vua Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442) vì có mẹ mang tên Phạm Thị Ngọc Trần, nên nhà vua ra lệnh ai mang họ Trần phải cải thành họ Trình. Họ Mạc, năm 1594, theo lời trăn trối của tướng Mạc Ngọc Liễn nói với vua Mạc Kính Cung: ‘’Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lầm than khốn khổ...’’ Họ Mạc từ đó không đánh nhau với họ Lê nữa mà cải danh thành nhiều họ khác. Một số người còn muốn giữ lại chút liên hệ với tổ tiên nên đã giữ lại chữ lót như trong dòng họ Nguyễn Đăng. Trường hợp bạn tôi Ngô Ngọc, có phải đã giữ lại chữ Ngọc để nhớ Mạc Ngọc không ? Có người họ Mạc đổi cả họ lẫn chữ lót đó là con trai Mạc Cảnh Huống (em vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải) vào Nam theo giúp Nguyễn Hoàng, tên là Mạc Cảnh Vinh, cải theo họ Nguyễn trở thành Nguyễn Hữu Vinh. Tất nhiên Nguyễn Hữu chỉ là một chi của họ Mạc (Theo Trần Gia Phụng, Những Câu Chuyện Việt Sử, Tập 2, Toronto, Canada, 1999, tr 121).

Theo một truyền thuyết, họ Đỗ, họ Thái cũng là con cháu họ Mạc, do muốn giấu kín tông tích mà cải ra như vậy. Có trường hợp họ Trần không đổi thành họ Trình mà đổi thành họ Bùi, vì chữ Bùi do chữ PHI và chữ Y ghép lại, nghĩa là KHÔNG ÁO. Không áo tức Ở TRẦN. Không hiểu họ Bùi ở làng An Lộng có nằm trong trường hợp nầy không? Hình như ở An Lộng họ Bùi và họ Trần chiếm đa số dân cư trong làng ?
Chuyện họ Cao do vụ án Cao Bá Quát mà cải họ là Kiều...và hẳn còn nhiều trường hợp đổi họ khác kỳ bí hơn nữa, mà sử sách chưa thấy nói tới.

Tướng nhà Mạc là Lập Bạo tính chuyện lập công, nên đầu mùa thu năm Nhâm Thân, 1572, đã kéo binh thuyền hơn 60 chiếc theo đường Hồ Xá đến đóng quân ở chùa Thanh Tương, xã Lãng Uyển, phủ Triệu Phong, toan mở cuộc tấn công đè bẹp đạo quân chúa Nguyễn ở Aí Tử. Đang phân vân chưa biết phải đương cự ra sao thì trong hàng tì thiếp có một mỹ nữ nhan sắc tên là Ngô Thị Ngọc Lâm, tình nguyện thực hiện kế mỹ nhân giúp chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Lập Bạo và cả đoàn tùy tùng lọt ổ phục kích do Ngô Thị Ngọc Lâm dàn cảnh trên bờ sông Aí Tử. Lập Bạo bị bắn chết khi cố bơi theo chiếc thuyền đã ra giữa dòng. Hàng ngũ rối loạn, thuyền đắm, người chết kín một khúc sông. Số còn lại đầu hàng. Nguyễn Hoàng cấp đất ở Cồn Tiên, lập thành 36 phường, cho sinh sống ở đó. Con cháu họ Mạc kể ra không ít trong số dân cư về sống ở đây.

Từ truông nhà Hồ, tôi tản mạn đi về Quảng Trị.

Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

Kể ra quan Nội Tán kiêm Án Sát Sứ Nguyễn Khoa Đăng, đã thành công trong việc trị được bọn thảo khấu hoành hành ở truông Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, để hậu thế thấy rõ sự uy dũng của một võ quan, vang lừng thanh thế khắp vùng trấn nhậm chốn sơn phòng heo hút.

Ngày nay truông nhà Hồ [Cái truông ở làng Hồ Xá ] không còn nữa ! Từng doi đất của Phá Tam Giang đã bị xé ra từng mảnh. Nhà cửa, đất thâm canh bị trục ra biển Đông sau trận lũ lụt cuối năm 1999. Chiến tranh, thiên tai dồn dập và sự qui hoạch bừa bãi đã làm mất đi rất nhiều vẻ đẹp thiên nhiên của Quảng Trị ngày xưa.

Grand Prairie, Tháng 10 năm 2000
Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
www.dunglac.org
READ MORE - QUA TRUÔNG NHÀ HỒ - Hoàng Đình Hiếu

Monday, May 25, 2009

RỪNG NGUYÊN SINH RÚ LỊNH




Rừng nguyên sinh Rú Lịnh có diện tích 170 ha (trong đó khoảng 100 ha còn rừng), là một khu rừng tự nhiên còn sót lại giữa đồng bằng; nằm cách bờ biển 3 km, cách cầu Hiền Lương 6 km về phía Bắc và cách Cửa Tùng 6 km về phía Tây Bắc.
Nằm tại toạ độ địa lý 1703’ vĩ độ Bắc, 107013’ kinh độ Đông. Thảm thực vật thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm với số loài phong phú có nguồn gốc chủ yếu từ khu hệ thực vật cổ Á nhiệt đới. Hiện Rú Lịnh có trên 200 loài thuộc 72 họ, nhiều nhất là Euphorbiaceae (23 loài); Rubiaeae (10 loài); Lauraceae (8 loài). Trong đó có nhiều loài thân gỗ hiếm sống lâu năm như Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Huyệnh (Tarrietia cochinchinesis), Thị rừng (Diospiros sp), Dẻ rừng (Lithocarpus silvicolarum); nhiều cây làm thuốc như Trầm hương (Aquilaria Crassna), Ngũ gia bì (Schefflera Octophylla),... Động vật trong Rú Lịnh tuy không nhiều về số lượng và thành phần loài do rừng nằm gần khu dân cư đông đúc nhưng cũng có đến 73 loài; Chim có 60 loài như: cò, cu, cú, chào mào, sáo, bách thanh,...; Lớp thú có 12 loài như nhím, tê tê, cu li, cầy hương, sóc bụng đỏ,...
Rú Lịnh là một hệ rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở vùng Đông huyện Vĩnh Linh. Diện tích tự nhiên của Rú Lịnh rộng chừng 100 ha, nằm giữa hai xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Hiền, áp sát tuyến đường Cáp Lài từ Hồ Xá đi Vịnh Mốc. Là rừng nguyên sinh, nên thảm thực vật của Rú Lịnh rất phong phú. Ngoài thảm thực vật tầm thấp, Rú Lịnh còn có nhiều loài cây họ gỗ trong đó có nhiều loại lâm sản quý hiếm như lim, gõ, huyệnh, sến, vàng trâm, tàu tàu và cây trầm gió. Đặc biệt Rú Lịnh có loại cây lịnh nước, một loại cây sinh thủy khá dồi dào. Bên cạnh thảm thực vật đa dạng và phong phú về chủng loại. Rú Lịnh còn có một hệ động vật hoang dã quý hiếm như lợn rừng, hoẵng, mang, trăn, trút, rắn, gà ri, chim trọc, quạ mỏ vàng. Trước những năm 1945, Rú Lịnh là một vùng rừng thâm u, là nơi cư trú của những loài động vật hoang dã, kể cả có hổ, báo. Rú Lịnh cũng là nơi cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp của các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thành, Vĩnh Tân, Vĩnh Giang. Rú Lịnh được xem là lá phổi xanh của vùng Đông Vĩnh Linh.
READ MORE - RỪNG NGUYÊN SINH RÚ LỊNH

TRẦN XUÂN AN



Trần Xuân An

Nhà thơ, nhà văn


Tên thật Trần Xuân An, bút hiệu Trần Ngôn Sử, Huyên Đình. Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế; Chánh quán Quảng Trị.Thời tiểu học và trung học đệ nhất, đệ nhị cấp, học tại Huệ Đức, Long Xuyên (An Giang), Quốc Anh (Sài Gòn), Mai Khôi, Hải Lăng (Quảng Trị), Hàm Nghi (Huế), Trần Cao Vân (Tam Kỳ, Quảng Nam), Phan Châu Trinh (Đà Nẵng).Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978); Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983 (các trường: PTCS. Lộc Ngãi, Bảo Lộc; Phân hiệu PTTH. Bảo Lộc tại Đa Huoai; PTTH Đức Trọng); Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu. Ở tại TP. HCM. Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.

Năm 1971, cùng bạn bè chủ trương tập san “Đất Vàng”, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), Có bài đăng đầu tiên trên báo Tuổi Ngọc năm 1973. Năm 1991, được giải “Sáng tạo trẻ”, Hội VHNT. Quảng Trị.

Đã cộng tác với:

* Văn nghệ giải phóng

* Văn nghệ Bình Trị Thiên

* Văn nghệ TP.HCM

* Cửa Việt

* Thanh Niên

* Tcđt

* Giao Điểm

…

Tác phẩm đã xuất bản:

* Nắng và mưa, thơ, (Hội VHNT. Quảng Trị, 1991)

* Hát chiêu hồn mình, (thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992)

* Tôi vẫn ở trên đường (thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993)

* Lặng lẽ ở phố, (thơ, Nxb. Trẻ, 1995)

* Kẻ bị ném vào bão (thơ, Nxb. Trẻ, 1995)

* Hát với đời ơi thương mến (thơ, Nxb. Trẻ, 1996)

* Quê nhà yêu dấu (trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998)

* Có một nơi lá mãi xanh (tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999)

* Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003)

* Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003)

* Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường 1824 – 1886, (truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM)

* Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003(NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005)

Có thơ trong các tuyển thơ:

* Thơ Miền Trung thế kỉ XX (Ban tuyển chọn, Nxb. Đà Nẵng, 1995)

* Hai thập kỉ thơ Huế, 1975 – 1995 (Ban tuyển chọn, Nxb. Văn Học, 1995)

* Thơ tình bốn phương (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. Trẻ, 1995 )

* Thơ tình Việt Nam và thế giới (Lê Hùng Trương [Khai Trí] tuyển, Nxb. Thanh Niên,1998)

* Thơ tứ tuyệt [nghìn năm tứ tuyệt] (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. VHDT., 1997)

* Non Mai sông Hãn [thơ văn Quảng Trị thế kỉ XX] (Hội VHNT. tuyển chọn, Sở VHTT. QT. xb.,1999)

* và nhiều tuyển thơ khác, xuất bản tại TP. HCM., Hà Nội, Đồng Nai, Lâm Đồng, Huế (1977 – 2005)…v.

Mời các bạn bấm chuột vào link TRẦN XUÂN AN bên trái màn hình để đọc toàn bộ tác phẩm của anh ấy.



READ MORE - TRẦN XUÂN AN

Saturday, May 23, 2009

Thơ Võ Văn Hoa

Sông Dakrong

KHE TRÁI



Bãi sắn, biền ngô đồi bát úp


Làng quê xanh ngát những đồi nương

Du thuyền Thạch Hãn lên mạn ngược

Khe Trái* hoa rì ** chót lá hương.

*

Cá bống thượng nguồn sao lắm thế!

Nước trong như lọc cứ vây chân

Trưa nắng anh săn từng viên cuội

Bàn mài Như Lệ có đầy sân?

*

Ngoài vùng phủ sóng. Em hướng đạo

Bia bọt lời ca động núi rừng

Bây giờ anh thấy ngày rất ngắn !

Se sắt chiều lên..bóng nguyệt rưng.


Ngày rằm tháng tư Kỷ sửu (2009)


VÕ VĂN HOA tốc ký thơ


* Khe Trái: Một chi nhánh của dòng sông Thạch Hãn phía tượng nguồn, phong cảnh đẹp

** Hoa rì: Loài hoa mọc trên đá, hoa trắng


Mời các bạn đọc trang Yahoo Blog của Võ Văn Hoa:Nhấp chuột vào đây

READ MORE - Thơ Võ Văn Hoa