Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, May 19, 2009

Thơ Phạm Hòa Việt

PHẠM HÒA VIỆT


Về lại Đông Hà


Ba mươi năm tuổi đời hóa đá

Cánh phượng đỏ lập lòe xuân hạ

Tóc vắn dài mấy nổi ưu tư

Bên kia bờ hờ hững anh thư

Bến đò đưa sáng chiều nối tiếp

Lá vàng bay giữa mùa hoa điệp

Áo thiên thanh một sắc cầu vồng

Như thưở nào bên nhớ bên không

Ba mươi năm chưa hề gặp mặt...

Về lại Đông Hà

Nửa đời lưu lạc

Dáng anh thư phiêu bạt phương nào

Âm sắc chen vai mây nước xôn xao

Đồi Dốc Sỏi hóa thành phố thị

Cầu sông Hiếu dặm đường thiên lý

Gió chen vai áo trắng nhàu bay

Thuở làm thầy in nhẹ dấu tay

Như loài hoa nở trang sổ điểm

Như dấu tích trên môi tìm kiếm

Sóng giữa dòng sông Hiếu Cù Lao

Thưở làm thầy mưa nắng lao đao..

PHV

***

Em theo đoàn lưu dân

I.

Ta theo đoàn lưu dân

Khi mùa xuân vừa ngủ

Khi mùa mưa lại về

Trên môi người góa phụ

Ta ngóng đợi tiều phu

Như niềm khao khát nhỏ

Chân em vẫn ngập ngừng

Trên miền hoang đá cỏ

Trên miền hoang Động Đền

Trên miền hoang biển cả

Ngả bóng chiều không quên

Giữa hai bờ sông Thạch

Ta còn lại sau lưng

Mùi hương quen của đất...

Em theo đoàn lưu dân

Vai son sờn cẩm tú

Ôi tiếng hát xa xưa

Môi thơm bông bí nụ

Ta bên trờ tuổi nhỏ

Lá đông vàng biệt ly...

Em theo đoàn lưu dân

Tóc nghiêng nghiêng sợi đổ

Bàn tay gầy ngón khổ

Ngập ngừng chân bước chân

Em theo đoàn lưu dân

Ta bên trời sóng dạt

Đường chông gai cách mặt

Rừng mưa lạnh đá ghềnh

Em theo đoàn lưu dân

Bỏ ruộng nương hương lúa

Sắn khoai ngày nghèo khó

Cà xanh rau lá đỏ

Miếng ngọt chiều phai hương

Miếng chua chiều lá cọ...

II.

Lưu dân! Đoàn lưu dân!

Mưa vẫn nằm đất lạ

Hai bàn tay trống không

Bới gì trong sỏi đá

Cho ngày tháng đom bông

Cho môi em thêm hồng...

Em theo đoàn lưu dân

Cũng nhọc nhằn tuổi mộng

Bới gì trong đất xanh

Uống gì trong thác xanh

Tay em còn mềm mại

Làm sao ươm trái xanh...

Ta cầu xin, cầu xin

Buổi mai và Đá Dựng

Chuông giáo đường vẫn rung

Có em tìm đất đứng!

Tiếng hát vẫn nhọc nhằn

Đôi làn môi bé nhỏ

Trái rừng là lương khô

Cho những ngày khai phá

Hoa rừng là tinh hương

Cho tuổi hoang Động Đền

Cây rừng là sườn chái

Ta kết lá kè tươi

Trong ngôi vườn trú ngụ

Còn em và biển khơi

Tụ về cơn bão tố...

Mưa rừng là mắt em

Khi đàn chim xa mẹ

Cỏ rừng là tên cha

Khi bỏ quên đồi lá

Giữa bầu trời bao la...

III.

Bàn tay em đã lì

Củi tươi từng đống một

Đốt gì cho chuyến đi!

Bàn tay em đã gầy

Đoàn lưu dân còn đó

Ta cũng nghe sầu cay...

Nhớ quê hương tuổi nhỏ

Nhớ Huế và mưa râm

Ta nhớ cả hoa tràm

Thương con đường nắng mới

Nhớ cát mùa Gio Linh

Sim phơi rừng Cam Lộ

Bàu Đá và Đông Xuân

Giếng trong mùa lá đổ...

Xin góp cả hai tay

Tóc úp đều cổ áo

Đốt lửa cho vườn cây...

Xin hôn em một lần

Để ngày mai còn thấy

Nụ cười em rất xinh

Nụ cười em rất tình...

PHẠM HÒA VIỆT



Đọc thêm

các sáng tác khác của Phạm Hòa Việt

Blog Yahoo của Phạm Hòa Việt


THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT
READ MORE - Thơ Phạm Hòa Việt

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - QUÊ NHÀ



Sông Vĩnh Định

QUÊ NHÀ


Hoàng Phủ Ngọc Tường



Làng tôi là một thung đất bằng phẳng nằm kẹp giữa sông Thạch Hãn và một con đường quan nối từ thị xã về đến Cửa Việt (Quảng Trị). Trước sau tôi chỉ sống ở làng một năm rưỡi của thời thơ ấu, vừa đủ thời gian để học hết lớp nhì và học kỳ I của lớp nhất, tại ngôi trường đặt ở đình làng bên sông Vĩnh Định.
Trong quãng thời gian dài dằng dặc của một đời người, mà người ta vẫn gọi là hoa niên, trong tôi chỉ còn đọng lại kỷ niệm về những ngày tháng ở làng. Có vẻ như ngoài làng tôi ra tôi không còn sinh trưởng ở một nơi nào khác; và bao nhiêu nguồn cội văn hóa, bao nhiêu vốn kiến thức dân gian về văn chương, mỹ thuật... tôi thu lượm được trong cuộc sống đều đã được ươm mầm từ ngôi làng nhỏ bé ấy.

Sau này lớn lên, tôi đã đặt chân đến nhiều nơi trên Trái đất, thế nhưng nhờ có làng tôi không trở thành một vật vô định trong không gian, hay là đám rong rêu bồng bềnh trên mặt đại dương. Tôi đã thuộc về một “tọa độ” nào đó cụ thể trên mặt hành tinh. Do đó, tôi vẫn nghĩ rằng một con người dù tiếng tăm lừng lẫy đến đâu, cũng không thể tự cho mình là lớn lao hơn quê hương của mình được. Ngày xưa và bây giờ.

Có một nghịch lý ma quái khiến tôi mắc kẹt hoài trong đó, không làm sao thoát ra được. Sao cái ngày xưa ấy, hồi tôi còn là một chú bé nhà quê chạy đuổi theo con chuồn chuồn óng ả bay dọc theo những đường làng. Trước cái cổng gạch của nhà thờ chi này là một con đường dài dẫn đến bờ sông; rẽ trái, đi theo bờ sông thì gặp đường cái quan dẫn đến chợ Sải. Đó là con đường tôi đi học ngày xưa.

Hằng ngày tôi thường xuống tắm ở dòng sông, bơi ra nhặt ốc gạo trên một tòa miếu cổ đã chìm xuống đáy sông không biết từ đời nào. Rồi trèo lên lưng trâu đứng cao lên, thổi tù và với chiếc kèn thật to quấn bằng lá dứa dại, vừa theo trâu lội vào bờ.

Thời kỳ ấu thơ này tôi được che chở bởi làng quê kỳ diệu giống như một tổ chim bình yên. Nhưng rồi một hôm cái tổ bình yên đó đã chao đảo... Điều đó bắt đầu bằng sự kiện chú Thu con mệ Giỏ ở cạnh nhà tôi bỗng nhiên mang vẻ mặt lạnh lùng đứng gác ở ngã ba đường làng, lưng mang một quả lựu đạn bằng gỗ và một chiếc mã tấu to bản.

Mọi con đường rẽ vào làng tôi đều bị rào kín lại bằng củi nè, với những thanh niên dân làng đứng gác dọc đường: thế là tôi đã nhập vào phong trào rào làng chiến đấu, đã mặc nhiên đứng vào một phe trong cuộc chiến chống Pháp. Một buổi chiều, đi mua sách trên tỉnh, ngang qua bãi cát làng An Tiêm, tôi bỗng gặp một thanh niên tay bị trói quặt ra sau lưng, đi giữa hai gã tây đen mang súng đi kèm.

Người thanh niên có một dòng máu chảy ứa ra ở khóe miệng, nhìn tôi mỉm cười âu yếm. Té ra đó là anh Nguyễn Văn Cửu, bạn cùng học lớp nhất với tôi, ngồi ở bàn cuối nơi ngôi trường Triệu Phong ở chợ Sải. Từ đó, tôi mơ hồ cảm thấy chiến tranh đang vây bọc lấy tuổi thơ của tôi, và làng tôi không còn là nơi trú ẩn an toàn đối với một chú bé thích mơ mộng như tôi. Tôi từ giã chốn quê nhà yêu dấu, từ giã chiếc cổng ngói của ngôi nhà thờ chi rêu phong để trở lại Huế sống nhờ căn nhà bên ngoại của tôi. Và đi vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Ngày ký kết Hiệp định Paris, từ địa điểm đóng cơ quan ở Gio Linh, tôi đã chạy băng đồng nóng lòng về thăm lại làng tôi. Dọc đường, vài nhóm thanh niên dân quân đã tới trước, đang cố gắng dựng lại những căn nhà đàng hoàng, hình như để ăn ở lâu dài với làng xóm, dù cột kèo phải buộc bằng dây thép gai.

Khắp mặt đất không còn một thanh tre nào đủ dài bằng một sợi lạt, do bom đạn bấy lâu đã vằm nát tất cả. Không có bóng cây nào để phải che khuất tầm mắt. Nhìn khắp đồng bằng Triệu Phong tới sát biển, chỉ thấy hình dáng những con người lỏng khỏng đi trên mặt đất. Cứ nói sòng phẳng từng lời, theo nghĩa đen, là quê hương của tôi đã bị chiến tranh “lột da”.

Tôi vẫn nhớ da diết tiếng hát đuổi chim muông của lũ trẻ con cất lên từ những nương rẫy khắp nơi trong làng. Trên con đường cái quan dẫn đến thị xã kia là con đường đi học của những người lừng danh đã sống ở làng mạc dưới kia. Ví dụ họa sĩ Lê Bá Đảng hiện sống ở Pháp, trong “không gian Lê Bá Đảng” thường xuất hiện những dấu chân đi khai phá một con đường.




Như giáo sư tiến sĩ Hồ Ngọc Đại với lý tưởng học đậu tiến sĩ để đi dạy tiểu học đem lại cho tuổi thơ niềm tâm phục khẩu phục rằng đi học là một niềm hạnh phúc thật sự... Những người ấy chắc đã bỏ lại cánh diều tuổi thơ của họ trên những cánh đồng quanh đây; và chắc là hồi nhỏ tôi đã từng ngồi chơi nơi chiếc cổng nhà thờ chi bắt mặt nhìn ra đường quan và đã thấy cái bóng họ bước đi trên con đường nhân loại.
Tôi về làng dự lễ lạc thành ngôi nhà thờ họ vừa được con cháu trùng tu lại. Đất xây dựng đã được hợp tác xã giao trả lại cho họ Hoàng, và các con cháu thành đạt trong và ngoài nước đã bỏ tiền ra lấy lại đất, xây lên một nhà thờ khang trang, hợp nhất các chi nhánh xưa nay vẫn tồn tại riêng lẻ của họ Hoàng. Buổi chiều, tôi ra trước ngõ, nhìn bâng quơ ra cánh đồng. Trước kia, nơi đây có một cái hồ, nước xanh biếc quanh năm.

Bây giờ hồ đã biến mất, thành ruộng của hợp tác xã, nghe nói họ sẽ cho họ Hoàng chuộc lại để đào hồ. Cái cổng theo bản vẽ mới này lớn hơn cái cổng hồi tôi còn nhỏ. Bây giờ thì cổng rộng để ôtô có thể ra vào được nhưng nó không có vẻ thân mật. Hình như lũ chim sẻ của ngày xưa đã trở về từ những cánh đồng thời gian nào không biết, kêu lách chách trên đầu chúng tôi và bay vút vào bên trong ngực tôi. Vui một nửa, tự dưng nước mắt tôi rưng rưng.

Huyền thoại kể rằng sau khi chết, xương thịt con chim phượng hóa thành tro than, để 500 năm sau nó sống lại trên đống tro xương của nó. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, thời gian không đến nỗi dài như thế. Chẳng cần đến 500 năm, con chim phượng huyền thoại của làng tôi đã tái sinh trên tro xương của mình.

Buổi trưa tôi nằm nghỉ ở một phòng khách của nhà mới làm. Ngọn gió nào phía sau đồng thổi đến mát rượi trong trẻo lạ thường, như một trời sương tỏa khắp không gian. Tôi nghĩ thầm lan man: chiến tranh đã hủy diệt tất cả; nhưng chiến tranh cũng hàn gắn lại tất cả. Giống như một câu thơ của Nguyên Sa: Và tất cả những gì nguyên lành / Đều xây cất trên một chút gì đổ vỡ.

Cả tâm hồn con người cũng vậy.

Lập đông 2005

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Theo Việt Báo

Mời các bạn đọc thêm

Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nỗi niềm của lửa


Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường


Gặp Hoàng phủ Ngọc Tường, Hoàng Hữu Quyết


CHUYỆN CƠM HẾN


MÙA XUÂN THAY ÁO TRÊN CÂY


ẨM THỰC QUẢNG TRI

READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - QUÊ NHÀ

Monday, May 18, 2009

NGUYÊN NGUYÊN - THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

Phụ nữ Vân Kiều


THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

NGUYÊN NGUYÊN


Mô hình được dùng để giải mã truyền thuyết Hùng Vương [2] đã dựa vào một quan sát rất thông thường và thực tiễn: “Hai cây đứng cạnh bên nhau trong một khu vườn có thể do những chất bổ dưỡng giống nhau, nhưng phân lượng tức số phần trăm của từng chất một do rễ cây thu hút từ lòng đất hoàn toàn và luôn luôn khác nhau”. Giống như tiếng nói của hai hoặc nhiều dân tộc láng giềng, theo sắp xếp địa lý, có một số từ vựng và cấu trúc giống nhau, và một phần lớn hơn lại khác nhau. Nhưng rất có thể không có vấn đề vay mượn, nhất là trong một quá khứ xa xưa. Chỉ có đóng góp khác nhau của mỗi thành phần sắc tộc đóng góp, tại mỗi quốc gia láng giềng với nhau. Mô hình này được gọi mô hình theo kiểu ‘Cây-và-Đất’, để phân biệt với thứ mô-hình tạm gọi ‘Cây-và-Cành’ thường xuyên được xử dụng từ trước đến nay, nhất là trong nghiên cứu ngữ học.

Hệ luận chính của lý thuyết dựa trên mô hình ‘Cây-và-Đất’ cho rằng tiếng Việt là một hỗn hợp lâu dài của các thứ tiếng thuộc nhiều tộc người khác nhau, với hạ tầng cơ bản là Môn-Khmer phối hợp với Thái-cổ (thành phần chủ lực của tiếng Mường) cộng với khối Đa-Đảo. Chồng chất và đan xen với lớp hạ tầng cơ bản đó là các thứ tiếng xuất phát từ khối Bách Việt xưa ở miền Hoa Nam, từ Vân Nam (Điền Việt) trải qua Quảng Tây, Quảng Đông (Tây và Đông Việt) cho đến tận Chiết Giang (Ngô-Việt), Phúc Kiến - Triều Châu (Mân Việt), và Hải Nam, v.v. Và hỗ trợ bằng hai nhóm từ miền cực Bắc nước Tàu, thời Xuân Thu thường gọi khối Đông Di tập trung ở khu vực tỉnh Sơn Đông ngày nay. Đó là hai nhóm khi xưa ưa sống gần gũi nhau: Hẹ (Hakka, tức Hạc Việt) và Miêu-Dao (Miao-Yao hay Hmong-Mien).

Hệ luận quan trọng khác chính là thứ tiếng mà người Việt thường gọi ‘tiếng Hán Việt’, không phải do tiền nhân vay mượn từ những quan quân đô hộ, mà do chính những người Việt cổ thuộc khối Bách Việt xa xưa (kể luôn cả Hạc Việt và những nhóm tương cận), đem sang xứ An-Nam hoà trộn với các thứ tiếng Việt bản địa. Gần như tất cả những âm Hán Việt quen thuộc, kể cả vô số các âm ‘thuần Nôm’, như ‘chúng ta’, ‘tớ’ {xem [4]}, đều có thể truy về các âm thuộc khối Bách Việt xa xưa, mà hậu duệ của họ hãy còn xử dụng ở bên Tàu cho đến ngày nay.

Bài viết này, do đó, sẽ dùng một số từ được xem đặc thù Quảng Trị, gần đây xuất hiện trong một bài báo của Trần Hữu Thuần [18], theo thông tin từ những email của Trần Vĩnh Tường và Nguyễn Quốc Lập, đăng trên báo mạng Talawas, để tiếp tục đưa ra các dẫn chứng hỗ trợ cho lí thuyết về nguồn gốc tiếng Việt ở trên.

Xin được trình bày ‘tầm nguyên’ của từng từ một theo thứ tự bài viết của Trần Hữu Thuần [18].

Áo lá: ‘áo’ là một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav], trong đó [?] {hay [’]} thường gọi ‘tắc âm màng họng’, phát lên giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh [uh-oh]. Tiếng Đa Đảo ở Tahiti gọi ‘áo’ là [?ahu’o’omo] và Samoa: [?ofutino], mang âm đầu rất giống ‘áo’. ‘Lá’ là một từ mang gốc Thái [laa] mang nghĩa ‘nhỏ’. Ngày trước, thứ áo lót ‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.

Bạo: ‘Bão’ biến chuyển qua lại với ‘Bạo’, cho thấy sự ma-xát giữa các phần-ngữ khác nhau trên vùng đất Việt. Tiếng Việt ở hạ tầng cơ bản, theo lý thuyết ‘Cây-và-Đất’ [1] [2], chính là tiếng Môn-Khmer pha lẫn với tiếng Thái-cổ và Đa Đảo. Một số các ngôn-ngữ liên-quan đến tiếng Môn, như tiếng Chàm ‘chính thức’, tiếng Myanmar, mang 4 thanh điệu (thinh). Tiếng Mon-Khmer cũng như Munda, đặc biệt nhất là Khmer, không có thinh (nhưng có nhấn mạnh như tiếng Anh), hiện còn phản ánh qua tiếng Hải Nam, tiếng Mã Lai, các tiếng Đa Đảo, v.v. Trong khi các thứ tiếng Thái, Tày-Nùng, Mường, Nam bộ, chỉ mang 5 thinh. Biến chuyển qua lại giữa thinh-ngã (Bão) và thinh-nặng (Bạo), cả hai đều thuộc thinh-trầm, cũng là tiêu biểu của tiếng Mường, bởi tiếng Mường (Hoà Bình) không có thinh-dấu-nặng: mũ khà => mụ già (V). ngẽn ngùi => nghẹn ngùi (ngào) (V). pũi => bụi (V).

B’lăng = cùng gốc với tiếng Mã Lai (phần đóng góp: hệ Môn-Khmer): ‘Bulan’. Tiếng Giarai: ‘Blăng’. Tiếng Mường ngày nay: ‘Tlăng’. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] ghi hai âm ‘Trăng’ và ‘Trời’, tuần tự, là [Blăng] và [Blời], trong khi ‘Tròn’ (round) lại giống Mường: [Tlòn]. Khác với các lý giải có sẵn từ trước đến nay, chúng tôi không cho rằng tiếng Việt biến chuyển từ ‘Blăng’ qua ‘Tlăng’ rồi đến ‘Trăng’, mà thật ra đó là ba kiểu phát âm có sẵn thuộc ít nhất ba phương ngữ khác nhau trong lòng tiếng Việt cổ. Phát triển quốc-ngữ chính là tác động thống nhất chọn lọc ra ‘Trăng’, khởi sự khoảng đầu thế kỷ 19.

B’lời = Cũng như ‘Blăng’, ký âm theo Nôm của chữ ‘Trời’ thường bao gồm âm [B] qua chữ ‘Ba’
, cho thấy âm ‘nôm-na’ của người khu vực Kẻ Chợ (Kinh) [5] dành cho chữ ‘Trời’ chính là [Blời]. Một trong những lối viết ‘ráp vần’ Nôm của ‘Trời’ là chồng chữ ‘Ba’ trên chữ ‘Lợi’ [6] => Blợi => Blời.

Bọ = Cha, hay Tía, đều có những từ phát âm tương tự trong các phương ngữ tiếng Hoa, hoặc tiếng Thái: [Po], [Cha] và [Tía]. [Bọ] cũng liên hệ đến [Bố] và [Bu]. Riêng [Bu] cũng chuyển qua lại để chỉ người ‘Mẹ’, hoặc người Vợ. Đặc biệt âm [P] (trong [Po] hay ‘Bọ’) trong nhiều thứ tiếng ở Hoa Nam và Đông Nam Á, thật ra là một thứ âm nằm giữa âm [P] và [B] theo mẫu tự La-tinh. Ký âm quốc-ngữ đã chọn ‘B’ cho một số từ, thí dụ: Po (M) => Bọ (V); Pà đỡ té (M) => Bà đỡ đẻ (V), Pẻnh mỳ (M) => Bánh mì (V). Và âm ‘P’ không được theo sau ngay một nguyên âm (‘pên Tàu’ => ‘pên’ Tàu => bên Tàu), mà phải kèm theo âm hơi thở ‘h’: Phấy (M) => Phẩy (dấu [,]); Phế thái => phế thải (V). Tức các tôn sư quốc ngữ đã đặt ra quy lệ, không dùng âm ‘P’ với một nguyên âm theo sau: Pung => Pung => Bụng.

Ca = Gà, một thứ từ có nhiều phát âm rất giống với từ tương đương ở các phương ngữ Hoa Nam, nhất là Hakka và Hải Nam [Gai]. Thái cũng phát âm tương tự: [Gai] hay [Gaa]. Quảng Đông phát âm như [Cáy], rất giống tiếng Mường: [Ca].

Cẳng = Chân. Thêm một từ nữa: ‘Giò’. ‘Chân’ mang cùng gốc với [jəəng] hay [dzâng], [ajưng] hoặc [chơn] của các phương ngữ thuộc Mon-Khmer, Munda [8] hay Mường. [Cẳng] bà con với [Ka] tiếng Hakka (Hẹ), [Ka-tui] Phúc Kiến, [taKay] tiếng Chăm, hoặc [Kaki] tiếng Mã Lay, và giống nhất với [Kahng] tiếng Tây Tạng. Trong khi ‘Giò’ có thể cùng gốc gác với [zeoi] tiếng Quảng Đông, [giok] Hẹ (Hakka), hay [chiok] Phúc Kiến (Minnan) [9].

Cấu = Gạo: Gần như tất cả các từ liên hệ đến ‘lúa gạo’ đều mang gốc chủng Việt (chi Thái tức Âu), nếu viết tiếng Tàu, viết theo bộ Mễ (xem [2]). ‘Cấu’ (cũng có thể: ‘Cẩu’) có bà con gần với [Cảo] tiếng Mường, [Khẩu] tiếng Tày-Nùng, và [Khao] hay [Gaow] tiếng Thái. Để ý biến chuyển ‘song hành’ giữa tiếng Thái và Việt: ‘Cơm’ [Gaow] mang một lượt hai nghĩa: Cơm (gạo) {cảo chăm: gạo tẻ}, và Bữa ăn {Anh ăn cơm chưa?}.

Cẩy = Vợ. Chữ ‘Vợ’ có thể mang hai gốc khác nhau tùy theo địa phương. Phát âm theo phía Nam [Byợ] rất gần với các âm bắt đầu bằng [B] như [Bu] hay [Bọ]. Phát âm theo kiểu ‘V’ của phía Bắc thì gần sát với [vo] tiếng Hakka mang nghĩa ‘người hầu thiếp’, hay [vuk] (cũng Hakka), tương đương với [wu] quan-thoại mang nghĩa ‘nhà’ (ốc) hay ‘thất’ {thành gia thất, chánh thất (vợ cả)}. ‘Cẩy’ [11] trong khi đó có âm tương ứng trong tiếng Mường là [Cải] hay [Cảy], mang nghĩa ‘Mẹ’ hay ‘Vợ’: Cải con= vợ con, cảy quả= mẹ goá, cảy té= mẹ đẻ.

Cẩy = Cái // con Gái. Âm cuối [y] trong [Cẩy] mang ảnh hưởng khối Mon-Khmer. Tiếng Việt trong trường hợp này đã chọn [i], thành ra [Cái]. Trong tiếng Mường, [Cẩy] {cải / cảy} có thể mang nghĩa ‘cái / con’ (cải pẻnh, cái đốc => cái bánh, cái đò; cảy cả => con cá; cảy ca => con gà), và cũng đồng thời có thể dùng để chỉ: mẹ, vợ, con gái, chị, người đàn bà. Thí dụ: cảy ho = mẹ tôi; con cải = con gái; cải cá = chị cả; cái khà = gái già; cải khon = gái tân; cải roch = chị ruột).

Chạc giợ = dây chỉ / dây nhợ. Âm đầu [Ch] tiếng Mường thường khi tương đương với âm [gi] hay [d] {[y]} phát âm theo phía Bắc hay Hakka là {[dz]}. Thí dụ: chiểng (M) => giếng (V); chiềng (M) => giường (V). Trong khi đó, âm [y] của chủng Thái-cổ hay đa số các phương ngữ tiếng Tàu kể cả Quan-thoại, rất thường tương đương với âm Việt [Nh]. Thí dụ: [ya] => ‘Nha’ (răng –> nha sĩ) [10]. Ở thế kỷ 17, những khu vực Alexandre de Rhodes đi qua và tiếp cận trước khi soạn quyển từ điển tiếng An-nam đầu tiên [3] là những vùng không mang ảnh hưởng Hakka, tức dùng âm [D] như [Y] kiểu Nam bộ, qua dấu ấn [d] => [nh] {xem [3]}: dè dẹ=> nhè nhẹ, dán => nhắn, dả ra => nhả ra; dắc cha mẹ => nhắc cha mẹ; dịn => nhịn (dung thứ [3]). Khi quốc ngữ được xử dụng mãnh liệt vào giữa thế kỷ 19 ở Nam bộ, âm [D] đứng ra thay thế cho cả hai thứ [Y] quan-thoại và [Z] Hakka. Từ đó âm [Nh] xuất thân từ [D] trở lại biến chuyển với [Z] tức [Dz] hay [Gi]. Từ điển Mường [7] có ghi: Chac nhỡ =>dây chỉ {chạc nhợ}=>giây nhợ=> chạc giợ. Để ý, trong tiếng Mường (Hoà Bình), không có dấu nặng [7]: Chac => chạc (V).

Chắc = nhau. Không chắc chắn như vậy. Bởi ‘chắc’ là một từ mang gốc Mon-Khmer và Mường mang nghĩa: thân mình, con người, thân thể, v.v. Trong lối dùng ‘đập chắc’, ta có thể thay thế nó bằng ‘đánh nhau’, nhưng [chắc] chắc không nhất thiết mang nghĩa gốc là ‘nhau’. ‘Đập chắc’ là một lối nói của một số phương ngữ Trung bộ, tương đương với ‘đánh nhau’ phía Bắc, hoặc ‘quýnh lộn’ phía Nam [12]. Tiếng Mường: chắc = người (V), chắc cá = người lớn, chắc khà = người già. Tiếng Mon-Khmer: [tsa?ak] hay [sa?ak] = thân mình.

Chi = gì / sao. Rất phổ quát tại nhiều nơi. Tiếng Mường: cải chi => cái gì.
Chiếng = giếng. Âm [ch] tiếng Mường, nhiều khi tương đương với [g] tiếng Việt. Khảng

Chiêng => tháng Giêng. Chiềng bễnh => giường bệnh. Chiểng = giếng. Chú ý: hai âm bổng [ẻ] (dấu hỏi) và [é] (dấu sắc), ưa biến chuyển qua lại trong tiếng Mường, một thứ tiếng không có kí âm theo a-b-c cho mãi đến sau này.

Choọc = Thọc. Tiếng Việt trước khi quốc ngữ ra đời đại khái có những ‘pha ngữ’ lộn xộn như kiểu ‘Choọc <=> Thọc’. ‘Choọc’ là âm đứng giữa ‘chọc’ và ‘chọt’, tức nhấn mạnh việc không phân biệt âm cuối [c] hay [t], như kiểu Nam bộ. ‘Thọc’ và ‘chọc’ lúc đầu có thể chia sẻ một số ý nghĩa chung, nhưng dần dà tách ra hai cách dùng khác nhau. Điển hình: chọc = tease (trêu chọc / chọc ghẹo); thọc = poke (thọc gậy). Tiếng Mường cũng có ‘chọc’, nhưng không có dấu nặng: [choc]. Việc nhầm lẫn ‘chọc’ với ‘thọc’ có lẽ bắt nguồn từ hai cách phát âm khác nhau của cùng 1 từ Bách Việt:
[tsok] (~ choc) theo kiểu Hẹ / Quảng Đông, và [tshokk] (~ thoc) theo Ngô Việt (Chiết Giang) [9].

Chộ = thấy. Rất có khả năng mang cùng gốc với các từ Thái: [chohm], [jaawng]. Hay [sioki] tiếng Tonga, hoặc [ýô?k] tiếng Chăm. Đặc biệt ‘Chộ’ mang phát âm rất gần với Hạc Việt (tức Hẹ hay Hakka) [chuk] hay [chon], Mân Việt (Phúc Kiến) [chhu], Ngô Việt [tshO], và Hán-Hàn [chok] - viết theo Hán tự:
穿.

Chồông = chồng (chất). Cũng có bà con với tiếng Tàu. Hakka đọc [zong] viết khác với quanthoại [chong]-2. Việc thiếu phân biệt âm cuối [an] và [ang] cũng được phản ánh qua khá nhiều phương ngữ Trung Hoa. Thí dụ: Lý An (đạo diễn) => Ang Lee. Lý QuanG Diệu => Lee Kwan Yew. Tinh (sao) => sing (Q. Đ) => chheN (Mân Việt – Phúc Kiến). Thí dụ thêm về thiếu phân biệt âm cuối [c] và [t] ở tiếng Mường: Roch (M) => ruột. Wớch (M) => vớt. Có vẻ việc du nhập phân biệt các âm cuối [t] và [c], [n] và [ng] trong tiếng Việt, khởi xuất từ phương ngữ Mân Việt của khối người hậu thuẫn, hay thuộc thị tộc, nhà Trần.

Chờng = giường. ‘Chờng’ ó ‘chiềng’. ‘Ờ’ hay ‘Iề’ đều là những kí âm ‘gần đúng’ của quốc ngữ, đối với hằng trăm phát âm khác nhau tùy từng làng hay mường bản của thời ‘tiền-quốc-ngữ’. Chiềng bễnh => giường bệnh.

Chu = châu. Đây là một trong những phát hiện đặc biệt của loạt bài Hùng Vương [2]. Ngày trước chúng ta thường nhầm rằng ‘Chu => Châu’ do ở việc kị húy Chúa Nguyễn Phúc Chu. Sự thật không phải vậy. Nó nằm trong định luật về âm tương đương giữa các phương ngữ Bách Việt (xưa) ở Hoa Nam, [Iu] ó [Âu]: ‘Nếu một phương ngữ có phát âm [au] hay [ou] cho một từ, thế nào cũng có một phương ngữ khác phát âm cho cùng từ đó theo âm [iu]’. Thí dụ: tài tử Andy Lau (‘Lau’ đọc theo Hongkong) theo tiếng quan thoại sẽ là Andy Liu {Lau Tak Wa = Liu De Hua = Lưu Đức Hoa}. Âm [ưu] quốc ngữ chính là một thứ âm ‘du di’ nằm giữa [au] và [iu] {[Lưu] giữa [Lau] và [Liu]}. Người Hẹ thiên về [iu]: Đông Châu [dong zhou] họ sẽ đọc như [Dong Chiu]. Lâu ngày sẽ ra khuynh hướng dẹp bớt âm [i] ở giữa, thành ra [Dong Zhu] => Đông Chu. Muà Thu tiếng Tàu đọc [qiu]. Nhưng Quảng Đông đọc [tsau]. Hakka sẽ thu gọn [qiu] thành ra [qu] => Thu. Tuy nhiên hai họ [Zhou] (Châu)
và [Zhu] (Chu) là hai họ hoàn toàn khác nhau trong tiếng Tàu: Chu Nguyên Chương / Chu Dung Cơ – mang họ khác với - Châu Ân Lai / Châu Nhuận Phát / Châu Chỉ Nhược. Tiếng Việt không phân biệt khác nhau giữa hai họ, và thường lầm tưởng khác nhau giữa phát âm Bắc và Nam. Người Rapanui và Maori gọi gió hiu-hiu (breeze) là [hauhau]. ‘Hiu-hiu’ ó ‘hauhau’ cho thấy tổ tiên của họ, rất có khả năng, đã từng có mặt ở Việt Nam và Nam Trung Hoa.

Cộ = củ (khoai). Lại một hoán chuyển giữa các thinh (dấu). Từ điển Mường [7] ghi: cố = củ: Nhúc ca mà kho pỡi cố cỏng điênh ăn lắm / Thịt gà mà kho với củ gừng thì ngon lắm. Cổ = cố, cụ: Pà cổ tôi ta hảo ản môch tlăm thuối / Bà cố tôi gần được một trăm tuổi rồi.

Côi = trên. Tiếng Mường: cổi = trên. Cổi tlời = trên trời, cõi trời; cổi nủi = trên núi. Có thể cùng gốc với Phúc Kiến [kaoiN] nghĩa ‘cao / phía trên’.

Cơn = con + cái. Trước hết, ‘cơn’ => [con] chỉ là một lối kí âm thống nhất của quốc ngữ: [con]. Nhưng theo định luật thông thường của ‘mạo từ’ [12], ‘con’ thường dính với các từ mang tính ‘động-đậy’: con sông, con chó, con gà, con gái, con chim, … và ‘cái’ thường đi với những từ mang tính ‘bất động’: cái bàn, cái ghế, cái hồ, cái đồn, …. ‘Cái’ cũng thường dùng cho những gì trừu tượng: cái lời khuyên, cái tinh thần chậm tiến. Thế nhưng, có một số ngoại lệ có thể giải thích được, một số khác lại không. Thí dụ: mặt trời thường mang ‘giống bất động’: cái mặt trời hôm nay sao nóng thế, cái ông trời thật bất công (giống như: cái thằng cha đó dê thật); nhưng mặt trăng lại dùng với ‘con’ (động đậy): Đầu con trăng = đầu tháng {xem [14]}; Con trăng nay đã tròn (giống như: con mẹ đó lém lắm, con {cơn} nước ròng). Mặt trăng mang giống ‘động đậy’ {‘Con’} [14], có thể giải thích bằng: (a) trăng có dấu chuyển động, khi khuyết khi tròn; (b) trăng liên hệ đến chuyển động thủy triều lên xuống; (c) có thể những nhà thiên văn cổ thời đã biết mặt trăng vận chuyển quanh trái đất trong một tháng. Phân loại ‘cái’ cho ‘trời’ và ‘con’ cho ‘trăng’ hoàn toàn phù hợp với phân loại của tộc Mon-Khmer, chứ không như kiểu người dân tộc Anishinaabemowin (da đỏ) ở Canada [15]. Thế tại sao tiếng Việt lại dùng ‘con dao’ và ‘cái rựa’? Muốn tìm lí giải hợp lý cho câu hỏi này có lẽ ta phải dựa vào ‘luật trung bình’ của toán học. Theo đó những bộ phận cơ thể có phát ra chất lỏng, chất khí (hơi thở) {như lỗ mũi} [15] - hay theo bình quân tương đối có ‘động đậy’ (như bộ phận sinh dục đàn ông) – sẽ mang giống ‘động đậy’ (tạm gọi: giống ‘chổng’), những bộ phận khác sẽ theo giống ‘bất động’. Ngoài ra ‘con dao’ phần lớn cấu tạo do kim loại, lấy từ các quặng mỏ, một thứ ‘đá’ mang cùng giống ‘chổng’ như ‘trăng’ {theo hệ Mon-Khmer} => Con => Con dao. Trái lại, mặc dù ưa đứng chung với ‘Đực’ {đực rựa – xem [16]}, ‘rựa’ phải dùng ‘mạo từ bất động’ là ‘Cái’, bởi chứa phần lớn là gỗ, ở cái cán dài, ít ra trong kiểu dáng ban đầu xa xưa. ‘Gỗ’ (giống như ‘cây’) mang giống ‘cái’, bất động. Giống như ta nói ‘cái cuốc’ bởi cuốc cũng có cái cán bằng gỗ thật dài. Thật ra điểm cần nhấn mạnh ở đây không phải ở chuyện ‘cái / con’ nhưng ở chỗ trong tiếng Mường phân biệt mạo từ ‘cái’ và ‘con’ thường bị nhầm lẫn (lộn xộn) hơn tiếng Việt rất nhiều. Thí dụ: cảy = cái => cảy tlời (trời), cảy tlăng (trăng), cảy khảng (tháng), cảy khảng (trăng), cảy ca (gà),…. Con = con => con ca (gà), con ngươi (ngươi), con thay (ngón tay), con ma Chỡ (ma người Kinh), con ta (cây đa),… Theo thiển ý, điểm lộn xộn này trong tiếng Mường đã cho thấy phân loại giống trong mạo từ ‘con / cái’ không xuất phát từ tộc Thái cổ (tộc Âu-Việt ảnh hưởng chủ lực đến người Mường), mà chính ra khởi nguồn từ tộc Việt-cổ khác cũng thuộc bản địa: Môn-Khmer. Người (Kinh) Việt xử dụng ‘cái / con’ nhuần nhuyễn hơn, và theo sát tộc Việt bản địa: Mon-Khmer.
Cụ = Cậu. Tiếng Mường: Cũ = Cậu. Củ = (con) Gấu. Âm [u] => [âu] (V).

Cươi = Sân. Trước hết ‘sân’ là một từ mang gốc Mân Việt (Phúc Kiến): [tsing]. ‘Cươi’ là một thứ từ hiếm có trong những từ điển phương ngữ xa xưa, bởi thời đó, nhà cửa cố định còn không có (đối với đa số), thì nói gì đến sân. Chúng ta chỉ có thể tìm ra những từ có phát âm gần đúng – và loại bớt ảnh hưởng của kí âm quốc ngữ. [Cươi] có thể mang nghĩa ‘cái nền đất’ => ‘cơ’ (xem từ điển Huình Tịnh Của [14]). [Cươi] cũng mang âm gần với ‘Cơi’ mang nghĩa ‘đất cao’ [14]. Hoặc khoảng đất gần ‘Cửa’ hàng rào trước ‘nhà’. ‘Cươi’ do đó có thể mang liên hệ ‘ví phỏng’ với ‘Cửa’ (xem [1] [4]). Gần âm với [ngoue] tiếng Tonga (Đa đảo) mang nghĩa ‘vườn’, hay [kelekele] Tonga, và [qele] Fiji, nghĩa ‘đất’, ‘khoảng đất’. Gần với từ đầu [qab] (đọc [cá]) trong [qab tsib taug] tiếng Hmong chỉ ‘sân’. Cũng gần với [kArug] tiếng Sora (Munda) chỉ ‘sân sau’.

Du = Dâu (vợ con trai). Tiếng Mường, Du = Dâu. Du mỏi = dâu mới cưới. Cho thấy biến chuyển kiểu ‘Chu / Châu’, ‘Tlu / Tlâu (Trâu)’.

Dzầu = *[THầu] = dầu (oil). *[THầu] với [Th] mang âm giống IPA [ð] cho mạo từ ‘The’ {[ðə]} tiếng Anh. Đây có lẽ là vấn đề gút mắt nhất cho âm chữ [D]. Âm chữ [D] cũng như rất nhiều âm khác, như chữ [V], được quốc ngữ đưa ra để thay thế một số các âm gần giống thay đổi theo từng ‘phần-ngữ’ đóng góp tạo nên tiếng Việt và cũng để nhất thống chuyện có nhiều âm vận địa phương khác nhau. Âm quốc ngữ chữ [D], theo thiển ý đã được đề ra thay thế một loạt các thứ âm sau đây:

Âm [Y] theo kiểu quan-thoại và rất nhiều phương ngữ Hoa Nam: Yang Gui Fei => Dương Quý Phi (phát âm theo kiểu Nam). Trong trường hợp này, khi chuyển sang kí âm quốc ngữ, [Y] thỉnh thoảng cũng được viết theo âm [Nh]: [Ya] => Nha (răng). Dức đầu => Nhức đầu. Thời từ điển Alexandre de Rhodes [3] có vẻ quốc-ngữ chưa phân biệt âm [Y] với [Nh]: dè dẹ= nhè nhẹ; dịn = nhịn (dung thứ [3]); yà = nhà; dả ra= nhả ra; dắc cha mẹ= nhắc cha mẹ; dán= nhắn, dúc= túc, ...

Âm [Z] của một số ‘chi-phương-ngữ’ tiếng Hẹ (Hakka, xin tạm gọi nhóm Hạc Việt): Zang Kwui Fi => Dzương Quí Phi (rất giống phát âm Hạc Việt). Trong trường hợp này, [D] cũng đôi khi biến chuyển qua lại với [Gi]: dòng sông => giòng sông. Tiếng Mường: dói => giỏi. Cô dảo => cô giáo.

Âm [Đ] như còn dấu vết trong các thứ tiếng Mường, Tày Nùng, và thường hoán chuyển qua lại với [D]: Đĩa = dĩa (V). Đây = dây (M), giây. Dặng = đứng (T-N). Đảng mõl = dáng người (M). Đãy páo = dạy bảo (M). Từ điển Alexandre de Rhodes cũng cho thấy dấu vết trong tiếng Việt: kín dáo = kín đáo; dắp = đắp (chăn); dạp = đạp (voi đạp); voi đú = voi dữ - tức [Đ ó D].

Âm [T] như trong tiếng Mường: Ta non = da non (M). Con Tê = con dê (M). Tĩa = dĩa = đĩa (M). Tiếng Tày-Nùng: tạy = dạy (học). Rất thường, [T] biến chuyển qua lại với [Đ], bởi cả hai đều thuộc loại ‘tắc âm nứu’ theo kiểu: Teng Hsiao Ping => Deng Xiao Ping: Đặng Tiểu Bình. Mao Tse Tung => Mao Ze Dong: Mao Trạch Đông. Lối dùng [T] là theo phiên âm Wade-Giles, kiểu [Đ] theo pin-yin. Thí dụ khác: Hu Jin Tao => Hồ Cẩm Đào (chủ tịch) => {[T] => [Đ]}.

Thật ra loại bỏ ảnh hưởng kí âm a-b-c, âm đó nằm đâu đó ở giữa [T] và [D]-Tây {tức [Đ]}, theo kí âm cho tiếng Mường: nồi tất = nồi đất; Bừa tẩm bừa tả = vừa đấm vừa đá; tâm rồ = đâm khùng; tầl = đuổi; tèn tó = đèn đỏ. Âm [T] hay [D]-Tây cũng có thể kèm theo [j] như tiếng Miến Điện: [Tj] hay [Dj], cả hai đều có thể tiệm cận với âm quen thuộc [Dz]: con Tjê => con Dê. Miến Điện: [Tje] = tinh-tú (sao). Mường: [tyểnh ni]= đến đây. Myanmar: [Tja] => giá (cả) => Dả (Mường).

Một khi chữ ‘D’ được dùng để kí âm bao-thầu cho một loạt các âm liệt kê ở trên, [D]
trong ‘Dầu’ (oil) có thể tiến sát với âm [đhờ] {tức [ðə]} như trong từ Anh ngữ: ‘the’ hay ‘then’, giống như âm [dh] trong tiếng Myanmar [17] [22]: [dhadì-nè] = carefully, cẩn thận. Dầu = *[THầu]= [ðầu]. Bởi âm [Dh] {tức IPA [ð]} (trong ‘The’) là thứ ‘sát âm răng’ khá gần với ‘tắc âm nướu’, như [Đ] và [T].

Ghi chú thêm: Ngay trong đánh vần chữ Nôm, ta cũng thấy biến chuyển qua lại giữa các âm [T], [D] và [Đ]. Thí dụ: Da = Bì+Đa (D => Đ); Dãi = Tâm+Trãi {D => T} (dãi nắng dầm mưa) [21].

Đao = dao. Xin xem ‘Dầu’ phía trên, và để ý âm tiếng Quan Thoại: [dao] (đao), tương ứng với Hạc Việt (Hẹ / Hakka): [tau], [D] <=> [T].

Đàng = đường. Không hẳn là một thứ âm đặc thù Quảng Trị. Mường gọi [tàng] (tàng tất = đường đất). ‘Đàng’ hay ‘đường’ có cùng gốc với từ Quảng Đông [dung]衕, mang nghĩa ‘ngõ đi’. ‘Đường sá’ đàng hoàng người Hoa gọi ‘đạo’ 道, người Thái và một lô các tiếng gốc Mon-Khmer (kể cả Chăm) và Đa đảo thường thiên về các âm vị mang âm [sá] (trong ‘đường sá’): [saawk] (Thái), [zalan], [kh(r)a] (Mon-Khmer) [8] [19], [salan] (Chăm, Đa đảo) [8] [20]. ‘Đàng’ và ‘đường’ biến chuyển qua lại với nhau, nằm trong một quy luật giữa các phương ngữ Hoa-Nam: [a] <=> [eu] hay [ươ] Việt. Thí dụ: [Yang] quanthoại => [Yeung] QuảngĐông => [Dương] Việt. [Liang] => [leung] => [lượng] / [lạng].

Đặng = được. Xuất phát từ tiếng Tàu. ‘Đặng’ và ‘được’ là lối đọc tiếng Việt (Bách Việt) của hai từ Hoa khác nhau: 打 [deng] Quanthoại {đặng}, và 得 [tiet] Hẹ, [dak] QĐ {đạt}, và [tâ?] Ngô-Việt (tức Chiết-Giang/Thượng Hải).

Đụa = đũa. Biến chuyển dấu ngã sang nặng rất thường xảy ra giữa tiếng Mường và Việt, một phần tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng. Phần khác, trước thời quốc-ngữ phát triển, các thinh thường biến chuyển theo làng xóm, và địa phương. Thí dụ thêm: Lộ = Lỗ (mũi). Thường thường, xin nhấn mạnh ‘thường thường’, thinh trầm theo trầm (ngã ~ biến qua lại với ‘nặng’ hay ‘huyền’), bổng theo bổng. Từ điển Alexandre de Rhodes như trích dẫn nhiều nơi ở trên cho thấy biến chuyển có vẻ lộn xộn hơn.

Eng = Anh. Tiếng Mường: Enh = anh. Tiếng Hàn (Korean) tương đương với ‘huynh’ chính là [hyEng], đọc nhanh có thể rất giống [Eng].
An = Ăn. Giống tiếng Thavung thuộc khối Mon-Khmer: [?an]. Tiếng Nam-Mân-Việt (Minnan – Phúc Kiến) phát âm cho từ ‘dùng’ (ăn) là [Eng].

Giôông = chồng. ‘Chồng’ mang phát âm giống tiếng Hạc-Việt [chong] tương đương với [trượng] trong ‘trượng phu’. Âm [Gi] trong [Giồông] tương đương ‘qua lại’ với [Ch] là một đặc điểm tiếng Mường {xem ‘Giường / chờng’ phía trên}.

Giôông = giông. Không ngoài việc cho biết lối phát âm phân biệt âm cuối [n] và [ng] chỉ là đặc điểm một phương ngữ chủ lực vùng kẻ Chợ của tiếng Việt. Rất có thể mang ảnh hưởng tiếng Mân Việt (nhà Trần). Tương tự: Hoọc = Học // Khôông = Không.

Hè = nhỉ. Không là một ngoại lệ đặc biệt. Từ đệm cuối câu thường thay đổi giữa các phương ngữ với nhau. Hè = hỉ = nhé = nhỉ = hả = chớ = chi = à = v.v. Tiếng Hoa có thể có trên 30 từ đệm khác nhau.

Lả = Lửa. Tiếng Mường (Hoà Bình) cho ‘lửa’ là ‘cúi’. ‘Ví phỏng trường’ [1] của ‘cúi’ (lửa) hoán chuyển sinh ra ‘cúi’ mang nghĩa ‘củi’ (cây dùng để đốt lửa) [30]. Một ‘chi phương ngữ’ Mường khác có thể phát âm ‘lửa’ như ‘lá’ hay ‘lả’, bởi các dấu ấn của âm tương đương [a] <=> [ưa] như sau: [Khã] (M) => ‘Sữa’ (milk) (V). Tha thỉa (M) => Rưa rứa. Rạ = Rựa {xem [18]}. Do đó, âm [A] (M) => [Ưa] (V) ==> Lả = lửa. {‘Lả’ => Lửa, mang ảnh hưởng tiếng Mường}.

Lịp = nón lá. Có ghi đầy đủ trong tự điển Huình Tịnh Của [14]: nón. Tiếng Hạc Việt (Hẹ) phát âm y hệt [lip] cho chữ 笠, tượng hình chữ ‘Trúc / tre’ (chỉ lá tre) viết chồng lên âm ‘lập’. Phát âm theo kiểu Quảng Đông của ‘lịp’ là [lap].

Ló = lúa. Tiếng Mường: Lõ = lúa. Lõ cảo = lúa gạo; lõ đếp = lúa nếp. Giữa Mường và Kinh, âm dấu sắc ưa biến chuyển qua lại với dấu hỏi. Nhưng trường hợp này cho thấy phân loại ‘hỏi / ngã’ trong tiếng Việt có vẻ rất nhân tạo. Thí dụ khác: chũng thôi (M) = chúng tôi; so với: chủng enh (M) = các anh.

Lọi = gãy (chân). Cũng là kiểu nói nhiều nơi khác. Tiếng Mường: lé= gẫy; lé chân= gẫy chân. Đây là một thứ âm sinh ra theo kiểu ‘cận vị’ – ‘lẻ (lé)’ và ‘loi’ ưa đứng gần - bởi tiếng Mường cũng như Việt đều có: lé loi (M) = lẻ loi (đơn chiếc) (V). Như vậy sẽ không có gì vượt đến ngoại lệ, khi ‘lé loi’ mang nghĩa ‘cô đơn’, ‘đơn chiếc’, trong tiếng Mường cũng sẽ mang nghĩa ‘gẫy’ (tay / chân) {lé // lọi}. Bởi tiếng Mường Hoà Bình không có dấu nặng cho nên tiếng (Kinh) Việt có thể sẽ biến ‘loi’ thành ‘lọi’ để phân biệt với ‘lẻ loi’, mặc dù cả hai trong tiếng Mường đều là [lé loi]. Âm giống nhất trực tiếp là [Lov] trong tiếng Hmong, với [v] chỉ thinh vừa vừa rồi cất lên, giống kiểu thinh ‘hỏi’ hay ‘ngã’, mang nghĩa ‘bẻ / gẫy’. Một từ ‘Nôm’ khác khá gần ‘Lọi’ chính là ‘lìa’ 裂 có phát âm quan-thoại [lie] và Nam Mân-Việt là [liat]. ‘Lìa’ ưa ‘cận vị’ với ‘gãy’: ‘gãy lìa’.

Mệ = bà. Ảnh hưởng ‘Thái-Việt’ (Mường): Mễ = mẹ, bà. Mễ dã= bà nội, mẹ chồng. Mễ mỗng= mẹ vợ. Mễ khà= mẹ già, u già, bà, cụ.

Mẹng = miệng. Tiếng Mường => ‘Mẽnh’, cho thấy ‘Mẹng / miệng / mẽnh / mồm’ là những lối phát âm khác nhau theo từng vùng, trước thời quấc-ngữ. ‘Mồm’ => mõm, với Mõm thường dùng cho súc vật: ‘mõm chó’.

Mi = mày. Cũng được dùng tại nhiều nơi ở Việt Nam, và cũng có ghi trong từ điển xưa [14]. (Xem thêm chi tiết ở [4]).

Mo nang = tàu cau. Có ghi trong từ điển Huình Tịnh Của [14]: Mo = cái cốt tàu cau // Mo nang= cái bao trắng gói lấy buồng cau, buồng cau nở ra thì nó phải rụng. Từ dùng để chỉ ‘Cau’ ở tiếng ChRu là [Pơ-Nang], tiếng Mã-Lay là [pin-nang]. Để ý [Pơ-nang] có âm đầu /P/ rất giống /M/ trong ‘Mo-nang’ bởi cả hai (/P/ và /M/) đều là âm môi-môi.

Mô = đâu. Cũng có ghi trong từ điển Paulus Của [14].

Mụ = bà. Có ghi trong từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 [3]. Tiếng Chăm: [Mu?] nghĩa ‘bà cụ’; [mu?]-[bôy] = bà mụ.

Mui = môi. Hoán chuyển bình thường giữa âm [u] và [ô], trước và sau thời quốc ngữ: [tui] = [tôi]; [thúi] = [thối]; [gong] Hoa => [cung] Việt; [kung fu] => [công phu]; [tùng] = [tòng], v.v.

Mụi = mũi. Hoán chuyển bình thường giữa hai thinh trầm. Thông thường qua lại giữa Mường và Việt. Thỉ ngiễm (M)=> thí nghiệm (V). Pò mũng (M)=> bò mộng.

Nác = nước. [Nác] hay [đác] là những phát âm chỉ ‘nước’ rất phổ biến trong các thứ phương ngữ xưa ở vùng Đông Dương, kể cả tiếng Mường. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] ghi ‘Nác’ = ‘nước’. ‘Nác’ mang cùng gốc với [Naahm] tiếng Thái-Lào, và cũng rất có thể ‘Nác’ là kết quả hợp âm: [naahm] T + [dak] M-K. ‘Nác’, ở dạng ‘Đác’ trong các phương ngữ của Môn-Khmer, cũng có liện hệ ‘ví phỏng’ (xem [1]) với ‘đạc’ mang nghĩa ‘chất lỏng đã đặc lại’ => ‘đặc’ [3].

Ngái = xa. Một từ rất phổ biến khắp Trung-Hoa và các vùng đất Mon-Khmer: [xngai], [jngai], [yngai], [xă-ngai], v.v. thuộc Mon-Khmer và Munda. Tiếng Thái là [za] gần với ‘xa’ hơn. Âm [ngái] rất gần với âm [gai] quanthoại và [kai] tiếng Mân Việt (PK) và Hạc Việt (Hẹ), 垓, có mang một nghĩa: ‘Xa’. ‘Ngái’ cũng được ghi trong cả hai quyển từ điển của Alexandre De Rhodes [3] và Huình Tịnh Của [14].

Ni = này // Nớ = Kia. Các thứ tiếng đệm, thường có âm tương đương trong các phương ngữ Hoa. Tiếng Mường: ni = nì = nầy. Tiếng Việt: Nớ ~ Nọ.

Nôỗng = nương. Nổng = chỗ đất cao (Từ điển Lê Ngọc Trụ [23]).

Nương = vườn quanh nhà. Theo [23]: nương = ruộng cao ở núi. Dùng sát với ‘ruộng’, hay thay thế ‘ruộng’: ruộng nương, nương chè, nương dâu. ‘Nôỗng’ và ‘Nương’ rất gần âm với ‘nông’, và ý nghĩa, cách phát âm có thể hoán chuyển với nhau, trước thời quốc-ngữ. Cũng có khi đi đôi với ‘náu’ mang nghĩa: nương tựa, nhờ cậy. Trường hợp này, ‘nương’ gần âm tiếng Hạc (Hẹ): [niong] = nương tựa, và ‘náu’ gần âm tiếng Ngô-Việt: [Nyaz], hay Hạc: [liau].

O = cô. Có trong từ điển của Huình Tịnh Của [14]: Ông chú mụ o = ông chú bà cô. Ngoài ra ‘O’ => o bế = lấy lòng.

O mi; cụ mi; chú mi: Trong trường hợp này, ‘O’ được dùng như một từ đệm cho ‘đại từ’. Xem [4], ta thấy ‘O’ có thể dùng như một đại từ, mang nghĩa ‘tôi / tớ’ - xuất phát từ phương ngữ Quảng Đông. ‘O mi’ rất có khả năng dùng ‘o’ chêm vào ‘mi’ để thêm phần thân mật: ‘Mi của O’ - giống như kiểu ‘chú mầy’, ‘chú mi’.

Ót = gáy (sau cổ). Tiếng Chăm: [takôy] = cổ. Mon-Khmer: [ko] hay [ka] = cổ. Trong nhóm ngữ Mon-Khmer, cũng có rất nhiều thứ tiếng dùng từ mang âm và nghĩa lẫn lộn cho: đầu, óc, và cổ. Kata, Sedang: *[nqo], [ko], [nkoq]; Munda: [oq]; Bahnar, Pacoh: [kơl]; Mường (Khen): [kel]; Sengoi: [kelkeil]; Stieng: [ngun] [8], mang nghĩa: đầu, óc, sọ, cổ, và ‘gáy’ (Sengoi) lẫn lộn nhau. Tiếng Thái cho ‘cổ’ và ‘cổ họng’ là [khaaw], rất gần ‘cổ’. Tiếng Tàu cho ‘cổ’ hay ‘gáy’ là 項 phát âm [hong] theo Hạc và Quảng Đông, khá giống ‘họng’ tiếng Việt. Phát âm Ngô-Việt cho từ này là [hAz] khá gần với ‘ót’. Trong khi phát âm Hán-Nhật là [kou] => cổ. Tự vị Huình Tịnh Của [14] cũng có ghi: Ót= phía sau cổ, ở tại chớn tóc. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] lại có ghi: Gấy, sau gấy: Tăóc gấy = Tóc gáy. Bối tăóc sau gấy => búi tóc (cho gọn) ở sau gáy.

Ôông = Ông. Cũng không đặc biệt phương ngữ Quảng Trị. Tiếng Việt thời quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, vẫn có lộn xộn ở âm cuối [ôn] và [ông]. Thí dụ: ‘tôn giáo’ trước giữa thế kỷ 20, vẫn còn phát âm tại rất nhiều nơi: ‘tông giáo’ (xin xem quyển ‘Nho Giáo’ của Trần Trọng Kim – đã dùng ‘tông giáo’ từ đầu đến cuối). Rất có thể những nhà cải biến quốc ngữ đã đổi ‘tông’ thành ‘tôn’ bởi âm ‘tôn’ gần với ‘tin’ trong ‘tín ngưỡng’, và ‘cận vị’ với ‘tôn kính’, ‘tôn thờ’ hơn.
Phản ngựa = bộ ghế ngựa. Cũng không phải đặc thù Quảng Trị, và đều có ghi trong từ điển Huình Tịnh Của [14] và Lê Ngọc Trụ [23]. Thật ra ‘phản’ có thể là một trong nhiều cách phát âm thời tiền quốc ngữ cho chữ ‘ván’, ‘tấm ván’. Có thể là một âm nằm giữa [pán] và [bán] hay [byán]. Quốc ngữ đã kí âm lệch sang [V] => ‘ván’, có lẽ để tránh cảnh đồng âm dị nghĩa với một từ thường dùng hơn: ‘bán’, trong ‘mua bán’. Tiếng Mường: [bản] = [ván]. Cũng giống như ‘Vàm’ (Cỏ Đông) là kí âm quốc ngữ của [Piam]; (khu) ‘Lâm Viên’ quốc-ngữ-hoá từ ‘Lang Bian’, ‘Vốn’ là kí âm của ‘byốn’ hay ‘Bổn’ /‘Bản’: tư bản. ‘Vỡ’ xuất phát từ ‘bể’.

Rạ = rựa. Xin xem phía trên: Lả = lửa. Âm [a] (M) <=> âm [ưa] (V).

Răng = sao. Có thể bà con với [zam] QĐ, [zen] QT. Không có ghi trong hai từ điển xưa [3] [14]. Mang gốc Tày-Nùng [26].

Roọng = ruộng. Tiếng Mường: ‘Rõng’, cho thấy ảnh hưởng phát âm Mường trên cách phát âm [roọng]. Ngoài ra, phát âm [roọng] cho thấy âm vị tại những vùng quê, và mường bản không nhấn mạnh phân biệt âm cuối [n] và [ng] do quốc ngữ đề ra.

Rớ = lưới. Có trong từ điển Huình Tịnh Của [14]. ‘Rớ’ mang âm gần với [Rõ] tức ‘rọ’, thường dùng để bắt cọp, bắt thú vật, hơn là ‘lưới’ để lưới cá, lưới tôm. ‘Rớ’ rất khả năng cùng gốc với
[ze] tiếng Quảng Đông, chỉ cái rọ để bắt các loại thú nhỏ như thỏ, chồn.

Rú = rừng. Rừng và Rú đều là hai từ mang gốc Quảng Đông, viết khác nhau: Rừng = [zeon]
, và Rú = [zau] .

Rứa = thế. Có trong tự-vị của Huình Tịnh Của [14]. Có thể mang gốc Quảng Đông:
[ze], pha với phát âm Hẹ [za].

Su = sâu. Theo sát biến chuyển [Du] => [Dâu], [Cụ] => [Cậu] ở trên, cũng như biến chuyển giữa [Chu] và [Châu]. ‘Su’ => ‘Sâu’ tương ứng với [siu] Quảng Đông => [siau] Hakka,
.

Tam = em. Theo sát từ Hakka (nhóm Siyan, Hailu):
[tiam], mang nghĩa ‘người thuộc đàn em’ [29].

Tê = kia. Rất có khả năng cùng gốc với từ Tày-Nùng [tỉ] mang nghĩa ‘đó, kia’. [Tỉ] Tày-Nùng, là âm tương đương với [bi]-3 quan thoại
, mang cùng nghĩa. Để ý, âm thường gọi ‘Hán-Việt’ [tỷ] (= so sánh), tiếng Quan-thoại vẫn là [bi]-3, viết , cho thấy biến chuyển từ âm [B] Hoa {bi-3} sang [T] Việt {tỷ} mang ảnh hưởng tiếng Tày-Nùng [26], có bà con gần là tiếng người Choang ở Quảng Tây. Từ thường lầm là Nôm khi dùng để chỉ so-sánh là ‘Bì’ (bì với, phân bì) thật ra chỉ là âm tiếng Hoa [Bi]-3, mà người Choang & Tày-Nùng dùng [Tó] cho tương đương. [Tó] sinh ra âm ‘Hán-Việt’ bắt đầu bằng âm [T]: ‘tỷ’; và nguyên âm [ó] cho ra chữ ‘Nôm’: ‘So’. Để ý: ‘tê’ Việt tương đương với ‘tỉ’ Tày Nùng. Tiếng Việt lại có hai từ đó cặp bồ với nhau: ‘tỉ tê’ => kể lể, tâm sự, mang nghĩa ban đầu: ‘nói chuyện nọ kia’.

T’lâu, T’le, T’lời = trâu, tre, trời. Biến đổi [Tr]-Việt sang [Tl] là biến chuyển sang âm tương đương ở phần-ngữ Mường trong tiếng Việt cổ nói chung. Mường đọc: Tlu, Tle, và Tlời. Đặc biệt ký âm theo chữ Nôm cũng dùng âm [l] cho [r], bởi dựa theo cách viết Hán tự [21] [24]. Tuy nhiên, từ điển Alexandre de Rhodes [3] cho biết ‘trời’ tiếng Việt thế kỷ 17 đọc [Blời] chứ không phải [Tlời]. Truy tầm của chúng tôi cho biết âm quốc-ngữ, trên bước đường nhất thống các âm khác nhau - nhất là [Bl] và [Tl] – đã dựa vào âm vận mang âm [R] (thành ra [TR]) của hai nhóm ngôn-ngữ Mon-Khmer & Munda. Từ đó, quốc-ngữ dựa vào vần [TR] của người Việt bản địa tối cổ (Mon-Khmer và Munda) để viết thành: Trâu, Tre, và Trời [25]. Âm [TR] rất hữu hiệu trong việc ký âm luôn cho những từ tiếng ‘Hán’: Trung => [Zhong], Trân => [Zhen], Tri => [Zhi], Trú => [Zhu], v.v.

Thoọc = thọc. ‘Thọc’ đôi khi cũng tương đương với ‘Thọt’ (mặc dù ‘thọt’ ưa dùng với nghĩa khác: ‘thọt chân’), cho thấy thời chưa có quốc ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần lớn nước Việt.

Trẽn = thẹn. Tiếng Mường: thẽn => thẹn. Theo sát biến chuyển tương đương kiểu: ‘ngẽn ngùi’ (M) => nghẹn ngùi. ‘Trẽn’ cũng có ghi trong tự vị của Lê Ngọc Trụ [23], mang nghĩa ‘ngượng ngịu’, và thường đứng chung với ‘trơ’: ‘trơ trẽn’.

Trốc = đầu. ‘Trốc’ là một từ chia sẻ gốc với các thứ tiếng Thái [ga-lohk] và Mường [Tlốc]. ‘Nhâc tlốc’ = nhức đầu. ‘Tlốc củi’ = đầu con cúi = thủ lợn. ‘Tau tlốc’ = đau đầu. Tiếng Huế phát âm như ‘Trốt’, với âm cuối là [t], thay vì [c]. ‘Trốc’ có vẻ liên hệ ‘ví phỏng’ [1] với ‘trọc’ trong ‘đầu trọc’ mang nghĩa ‘đầu cạo hết tóc’, hay ‘không còn tóc’.

Trốc cúi = đầu gối. ‘Gối’ (chân) tiếng Mường gọi: ‘cổl lãi’. Trước khi có kí âm theo a-b-c của quốc ngữ, âm [cổl] có thể phát âm gần giống với [gối], và [gối] có thể dễ tiến đến [cúi], bởi cả hai âm đầu [c] và [g] đều thuộc loại tắc âm vòm mềm. Trong khi đó, ‘Đầu’ = ‘Trốc’. Do đó, ‘Trốc cúi’ => đầu gối.

Trớng = trứng. Tiếng Mường: ‘Tlởng’ = trứng. Hakka: [lon], [zen], [zan]. Quảng Đông: [leon], [jyun].

Trự = đồng tiền. Từ tiếng Hoa mang nghĩa ‘đồng tiền’ rất giống ‘Trự’ phát âm theo kiểu Quảng Đông: [zyu]
. Theo tự vị của Huình Tịnh Của [14]: Trự= đồng tiền. ‘Không có một trự’ (trong túi) = nghèo lắm, túng lắm.

Hung = rất. Lối dùng ‘hung’ cho phó từ ‘rất’ thật ra mang xuất xứ từ bên Tàu, và được xử dụng tại nhiều nơi ở Việt Nam. Chữ [hung]
ngoài nghĩa ‘dữ tợn’, ‘xấu’ còn mang nghĩa ‘rất’, ‘cực kì’ [9]. Phát âm Hạc Việt (Hẹ) và Quảng Đông y hệt: [hung]. Thí dụ tiếng Việt: ‘Hôm nay, anh có rảnh hung không?’.

Qua những lí giải tầm nguyên cho những từ Quảng Trị ở trên, chúng ta thấy:

Giống như phân tích về đại từ trong tiếng Việt (tôi, ta, mày, chú, bác, chúng tôi, các anh, v.v.) [4], không có một từ nào ở trên hoàn toàn thuần Việt, tức độc nhất chỉ có tiếng Việt mới có. Hầu hết đều có những từ mang âm tương tự thuộc các phương ngữ khác hoặc ngôn ngữ láng giềng.

Ảnh hưởng âm vận và từ vựng của tiếng Mường trên ‘tiếng Quảng Trị’ rất mạnh. Cho thấy đó là ảnh hưởng xuất phát từ vùng biên giới Lào-Việt, bởi người Lào cũng thường được sắp xếp có chủng chủ lực thuộc Thái-cổ. Trong khi đó, dải đất chạy dài từ nam Thanh Hoá, xuống khu vực Quảng Bình - Quảng Trị, từ lâu đã được xem như bản địa xưa của khối Mon-Khmer [27].

Đặc điểm nổi bật nhất giữa tiếng ‘Việt’ của người Mường, người Tày-Nùng, và các ‘phương ngữ’, đối với tiếng Việt ‘chuẩn’ ở khu vực ‘Kẻ Chợ’ (Kinh) là khác nhau giữa các thinh (dấu). Trong đó thường xuyên nhất thinh sắc miền Kinh ưa chuyển sang thinh hỏi miền ngoài. Khá phù hợp với nhận xét riêng của một thân hữu [28].

Rất nhiều từ, tác giả Trần Hữu Thuần cho là đặc thù Quảng Trị, thật ra cũng là thứ từ được xử dụng thường xuyên ở những vùng khác tại Việt Nam. Bằng chứng là một số lớn những từ này thường có ghi đầy đủ trong các tự điển xưa, như của Alexandre de Rhodes hay Huình Tịnh Của. Cũng giống như một số từ tìm thấy trong một số các tự điển về phương ngữ xuất bản gần đây tại Việt Nam – như bộ tự điển ngót 1000 trang về tiếng Huế của Bs Bùi Minh Đức.

Một vài thí dụ ‘sơ sơ’ ở phía trên cho thấy, tiếng Hán Việt trong cách phát âm của chúng cũng là một thứ tổng hợp các phương ngữ Việt cổ. Xin phép viện dẫn một vài suy luận dùng để hỗ trợ cho kết luận này:

Tiếng Hán-Việt chiếm đến khoảng 60% số từ vựng tiếng Việt, và bất cứ người Việt nào cũng đều xử dụng chúng hết sức nhuần nhuyễn. Những từ điển Mường hay Tày-Nùng cũng tràn đầy một số lớn những từ tương đương với loại từ thường gọi Hán-Việt. Thí dụ: Wa (M)=> Va (T-N)=> Hoa (V).

Nếu muốn cả một dân tộc ‘vay mượn’ mớ từ Hán-Việt đó, bắt buộc trong ngót thiên niên kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, xứ An-Nam phải có đầy đủ phương tiện truyền thông, nếu không có internet thì phải có cell-phone, hay Tivi. Hoặc ít lắm phải có nhật báo, hay máy truyền thanh, hay những lớp học bình dân 24/24 dạy tiếng Hán chữ Nho, khắp mọi xóm làng.

Đi ngược lại thời gian, chúng ta thấy phân biệt những thứ từ gọi Hán-Việt với từ thuần Nôm hoàn toàn vắng bóng trong những công trình viết bằng chữ quốc-ngữ đầu tiên, như từ điển Alexandre de Rhodes, những bài viết hoặc sách báo của Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Taberd, Philiphê Bỉnh, Ben-tô Thiện, v.v. Nói một cách khác, những tác giả quấc-ngữ đầu tiên chắc hẳn phải biết độc giả không có phân biệt thứ nào là tiếng Hán Việt và thứ nào là nôm-na ‘lô-can’. Sự phân biệt đó đối với đại đa số quần chúng, dễ rơi vào một cái hố mâu thuẫn. Đó là, một mặt chúng ta thường cho rằng tiếng Hán Việt nói ra nghe uyên bác hơn, và là chữ nghĩa của chốn khoa bảng, quan trường, nhưng một mặt khác chúng ta lại cho rằng nó đến thẳng với những người ít học, đúng hơn không biết chữ, sau nhiều thế kỷ chung sống với những người có tiếng Hán là tiếng mẹ đẻ. Hai chuyện đó rất khó đi đôi với nhau.

Những học-giả đã ‘lăng-xê’ phân biệt giữa Hán-Việt và Nôm trong lòng từ-vựng tiếng Việt, có vẻ thiếu thốn một vài thứ kiểm chứng khoa học. Quan trọng nhất là một thứ định lý khá bất biến như sau: “Khi A vay mượn B một món gì, thì A rất khó xử dụng món đó thông thạo như B”. Ở trên, chúng ta thấy khi người Việt-Mường không phải là tác giả của lối gọi ‘Con / Cái’, họ sẽ xử dụng nó không có được bài bản, và thuần nhất, như người Việt (Kinh), và sẽ khá lộn xộn. Nhưng người Kinh lại xử dụng nó rất thành thạo, bởi họ thừa kế được di-sản của người Việt-Mon-Khmer. Tương tự, bởi tiếng Hán-Việt chính là thứ tiếng (tổng hợp) của người Việt di dân, họ đem toàn bộ, nhất là biến ý, và nhiều nghĩa của từng từ. Thí dụ: ‘hung’ mang nghĩa: hung dữ, hung ác, hung thần, hung tin (tin không lành), và ‘rất’ hay ‘cực kì’ ở tiếng “Tàu” (?). Chuyển sang tiếng Việt, [hung] đem sang toàn bộ ý nghĩa và cách dùng. Nhưng bởi ‘hung’ mang nghĩa ‘rất’ / ‘cực kì’ ưa dùng trong câu nói toàn từ “Nôm” (?) hay ít đi kèm với từ Việt-di-dân, nên xưa nay, ta ưa nhầm ‘hung’ trong nghĩa ‘rất’ là một từ Nôm. Chúng ta cũng lầm tưởng, như vậy, ‘rất’ mới là thuần Nôm. Thật ra, ‘rất’ cũng không phải Nôm! ‘Rất’ là âm quốc ngữ của [zat]
phát âm theo Quảng Đông [9], mang nghĩa ‘very’, ‘extremely’, tức ‘rất’ là Nôm theo kiểu ‘Đông Việt’. Thí dụ khác về việc ‘phản ánh’ toàn bộ, trong chuyện ‘phần-ngữ’: Từ ‘xài’ là một từ cùng gốc với từ Thái [chai], mang hai nghĩa y như tiếng Việt, ‘xài tiền’ (spend money), và ‘xử dụng món đồ’ (use) / ‘Anh có xài điện thoại di động hiệu Nokia bao giờ chưa?’. Nếu đó là vay mượn, rất khó xác định ai vay ai cho mượn, và khi vay thường thường người ta chỉ vay một phần nào của cách dùng mà thôi, chứ ít khi vay hết toàn bộ, và lại xử dụng nhuần nhuyễn như vậy. Thí dụ: Karaoke = Kara (trống) + oke (dàn nhạc); Karate = Kara (trống / không) + Te (tay). Trên thế giới ngày nay ưa vay luôn hai thứ từ này từ tiếng Nhật. Nhưng không tiếng nước nào, như tiếng Việt chẳng hạn, lại vay luôn chữ ‘kara’ để hàm ý ‘Không’.

Sai lầm trong việc nhận diện các từ Hán-Việt và Nôm cũng bắt nguồn từ kiểu học-thuật ngày trước, rất ít khi kiểm chứng với một ngôn ngữ nào khác với tiếng Tàu xử dụng ở Bắc Kinh. Cũng rất hiếm khi đối chiếu với các phương ngữ của Bách Việt xa xưa. Phần lớn là do ở thiếu thốn phương tiện. Thí dụ, tra từ thường lầm tưởng ‘Nôm’ là ‘Đúng’ ở bất cứ quyển từ điển tiếng Hoa nào ta sẽ thấy ít nhất 3 từ Hán quen thuộc là [dui]
(đối), [zheng] (chính), và [zhen] (chân). Chúng ta sẽ không ngờ 2 chuyện: (a) ‘Đối’ chính là phát âm Quảng Đông [deoi], ‘chính’ giống như Hakka [zhin], và Mân-Việt [cheng] (chánh), còn ‘chân’ y hệt quan-thoại [zhen]. Và (b) ‘Đúng’ cũng không phải là một từ Việt ‘thuần Nôm’, mà lại là một phát âm y hệt [dung] của Hạc Việt và Đông Việt, cho động từ [dung] tiếng Tàu (?) mang nghĩa ‘sửa cho đúng’.

Sydney, ngày 4 tháng Bảy 2007
Nguyên Nguyên

GHI CHÚ[1] V.U. Nguyen (2007) Loan Words and Metaphorical Field. (submitted for publication).
[2] Nguyen Nguyen (2007) Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương. [In search of the origin of the Vietnamese]. (in publication).
[3] Alexandre de Rhodes (1651) Dictionarium Annamiticum – Lusitanum – Latinum. Translated by: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính. Pub. By Vien Khoa Hoc Xa Hoi – HCM 1991.
[4] V.U. Nguyen (2007) Vietnamese Personal Pronouns. (submitted for publication).
[5] Từ điển tiếng Mường (Hoà Bình) [7] cho biết người Mường gọi người Kinh là người ‘Chợ’ (Kẻ Chợ = Thăng Long): (a) Măng khể rằng nả cỏ vỡ Chỡ = Nghe kể rằng nó có vợ người Kinh. (b) Dich tha thiểng Chỡ = Dịch ra tiếng Việt.
[6] Hội Bảo Tồn Di Sản Nôm (2002) http://nomfoundation.org/
[7] Nguyễn Văn Khang (editor), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành (2002) Từ Điển Mường-Việt {Mường-Vietnamese Dictionary}. Published by Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.
[8] L. V. Hayes (2001) Austric Glossary - http://home.att.net/~lvhayes/Langling/Glossary/Glospag1/glosf019.htm
[9] Chinese Character Dictionary - CCDICT v5.1.1 Chineselanguage.org (1995-2006): http://www.chineselanguage.org/cgi-bin/dict.php
[10] Vấn đề các âm chữ cái quốc-ngữ là một chuyện hết sức phức tạp hóc buá. Ngay ở âm [y] cũng vậy. Đa số các âm [y] bên Tàu và Mon-Khmer đều giống kiểu tiếng Anh: Yul Brynner, Yell, v.v. Nhưng một hai nhóm Hakka lại thích kiểu [Z] hơn: Zang Kui Fi (Yang Gui Fei) => Dương (Dzương) Quý Phi. Phúc Kiến lại lột [yờ] biến thành [I] => tiếng Việt [y]: yêu => [iêu]; âu yếm => [âu iếm].
[11] Để ý sự phân biệt dấu hỏi và sắc (đôi khi ngã) rất lộn xộn khi so sánh tiếng Việt miền Kinh (Kẻ Chợ) với tiếng Việt tại các mường bản hay khu vực thôn quê. Thí dụ: ỏng (M) => uống (V); dan tổi (M) => gian dối; dam cẩm (M) => giam cầm; dáng đãy (M) => giảng dạy (V).
[12] Lối nói khác nhau tùy theo phương ngữ. Thí dụ, từ kép tiếng Việt ‘nở phồng’ – tương ứng tiếng Thái [noh] và [pheerng] {Phúc kiến: [pheng]}. Nhưng ‘Hoa đào nở’ tiếng Việt, lại tương đương với: ‘Va (hay [byooc]) tào phồng’ {Hoa đào phồng} trong tiếng Tày-Nùng. Để ý: Va (T-N) => Wa (Mường) => Hoa. Byooc => Pông (M) => Bông (V), trong đó [By] chính là âm ‘V’ phát âm kiểu Nam bộ. Thí dụ khác: Trong tiếng Việt ‘kể’ và ‘nói’ có cách dùng khác nhau. Nhưng trong tiếng Mường, ‘kể’ được dùng như ‘nói’: khể lải = nói lái; khể bẫy = nói bậy; khể nhó = nói nhỏ. ‘Nỏi’ tiếng Mường cũng mang nghĩa như ‘nói’ (Việt) nhưng ưa thiên về ... ‘kể’: nỏi đẳng = nói tích. Nỏi lãi = nói lại. Và ‘kể’ Việt, Mường phát âm là ‘kế’: kế cuông = kể chuyện.
[13] Nguyễn Phục Hưng (2007) Trao đổi tư liệu trên Forum M-C.
[14] Huình Tịnh Paulus Của (1895) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Imprimerie Rey, Curiol & Cie. Re-published by Nhà Xuất Bản Trẻ, 1998.
[15] Trang mạng về tiếng Anishinaabemowin:
http://imp.lss.wisc.edu/~jrvalent/ais301/Grammar/InflMorphology/nouns001.htm
[16] Truyện cổ tích về ‘đực rựa’: http://www.quangduc.com/TruyenNgan/020thamthitham.html
[17] Charles Hamblin (1988) Languages of Asia & the Pacific. Angus & Robertson.
[18] Trần Hữu Thuần (2007) Tiếng Quảng Trị. Xem talawas.org ngày 13/6/07:
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06
[19] Tiếng Mường mang âm tương đương [kh] đối với Việt [s]: khong => sông (Mekong => sông Mẹ, sông lớn), khư nữ = sư nữ, khổng lãi = sống lại.
[20] Gerard Moussay, Nại Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đàng Năng Phương, Lưu Quang Sanh, Lâm Gia Tịnh, Trương Văn Tốn (1971). Tự Điển Chàm-Việt-Pháp (Champa-Vietnamese-French Dictionary). Trung tâm Văn-hóa Chàm - Phan-Rang.
[21] James Campbell (2007) Chữ Nôm Characters: http://www.glossika.com/en/dict/viet/nom-d.php
[22] Tiếng Myanmar (Miến/Diến - Điện) thường được xem bà con hậu duệ tiếng Môn. Thế nhưng cho đến vài năm gần đây người Môn tại Miến Điện vẫn thường bị ‘kì thị’. Truy cứu của chúng tôi cho biết cấu trúc văn phạm tiếng Myanmar lại mang ảnh hưởng khác với tiếng Môn. Đó là tiếng Munda ở Ấn Độ.
[23] Lê Ngọc Trụ (1959) Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị. Thanh Tân.
[24] Thí dụ: Trai (male / boy) viết bằng cách ghép chữ [Nam]
với [Lai] . Âm [L] trong [Lại] dùng cho [R]: TRAI =男來.
[25] Thí dụ: Trâu <= [trăk] Theng (Munda) & [krâu] Wa (Munda). Trời <= [trôk] Mnong (Mon-Khmer) & [trôôc] Xtieng (M-Kh). {trích từ: Hồ Lê (1992) Từ Nam Á trong tiếng Việt. TRONG: Viện Khoa Học Xã Hội (Th.P. HCM) - Tiếng Việt và các ngôn ngữ Dân tộc phía Nam. Nxb Khoa Học Xã Hội - Hà Nội} [26] Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo – Hoàng Chí (1974) Từ Điển Tày – Nùng - Việt (Tay-Nung-Viet Dictionary). Published by Viện Ngôn Ngữ Học (The Linguistics Institute) [27] Võ Mai Phương (Chu Thái Sơn chủ biên) (2005) Người Dao. Nxb Trẻ [28] Phạm Quang Tuấn [2007] Hai tuần ở Việt Nam (không có xuất bản). [29] Trong những áng văn Nôm của Ức Trai Tiên Sinh (Nguyễn Trãi), người ta thấy Ức Trai vẫn thường dùng ‘anh tam’ thay cho ‘anh em’: "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam" {xem: http://www.vietmedia.com/literature/vanthisi/?ID=5 - Hoặc: trong Quốc Âm Thi Tập: "Tuy rằng bốn biển cũng là anh tam". [30] Trong truyện “Cánh Đồng Bất Tận’, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã dùng động từ: ‘nhóm củi’ ngay ở trang đầu. ‘Củi’ ở đây hoàn toàn mang nghĩa ‘lửa’ theo kiểu tiếng Mường (Hoà Bình), ví-phỏng qua lại với ‘củi’ mang nghĩa ‘cây/cành dùng để nhóm lửa hay đốt’.

Nguồn: www.dunglac.org
Nguyên Nguyên - biên khảo

READ MORE - NGUYÊN NGUYÊN - THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

Sunday, May 17, 2009

Thành cổ Quảng Trị



Thành cổ Quảng Trị - miền đất tâm linh

XUÂN VIÊN

Thành cổ Quảng Trị là điểm dừng chân thu hút nhiều du khách trên hành trình xuyên Việt vì những câu chuyện huyền thoại và chứng tích bi tráng của nơi từng diễn ra trận đánh đẫm máu 81 ngày đêm năm 1972 giữa quân dân ta với Mỹ-ngụy.

Di tích nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị đón du khách bằng một không gian rất đặc biệt: vừa u buồn trầm mặc, vừa hào hùng, lãng mạn và bi tráng. Không gian của thị xã Quảng Trị – đặc biệt là ở Thành cổ - khiến người ta có cảm giác luôn phảng phất khói hương tưởng nhớ những người đã khuất. Được biết, trong trận đánh 81 ngày đêm năm xưa tại Thành cổ, 14.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh với vô vàn câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của rất nhiều chiến sĩ tuổi đôi mươi. Đến thăm Thành cổ, du khách sẽ được nghe kể lại những câu chuyện huyền thoại bởi các hướng dẫn viên của Di tích Thành cổ. Đặc biệt trong ngày lễ, kỷ niệm, ngày rằm, mùng một... sông Thạch Hãn chảy quanh Thành cổ trở thành dòng sông hoa tươi và hoa đăng do những cựu chiến binh và nhiều người dân của thị xã thả xuống. Từ rất lâu rồi, việc thả hoa xuống sông Thạch Hãn đã trở thành một tập quán đẹp của chính quyền và nhân dân địa phương. Đến Thành cổ trong những dịp này, trong lòng du khách sẽ lưu lại dấu ấn rất sâu đậm. Du khách sẽ cảm thấy như đang có một sợi dây vô hình kết nối hiện tại với quá khứ, hiểu thêm những nét đẹp trong tình cảm và đời sống tâm linh của người dân sống quanh Thành cổ.

Tại Thành cổ Quảng Trị, không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Tượng đài có hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Phía dưới của tượng đài là hành trang người lính gồm nón, ba lô và một cây thiên mệnh hướng lên trời xuyên qua ba áng mây. Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến và ánh hào quang, dưới tầng mây cuối cùng có gắn hình tượng chung là ba bát cơm tiễn người đã khuất. Ngoài vòng tròn gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ giải phóng quân. Trong khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát. Góc phía Tây Nam của Thành cổ là Bảo tàng với rất nhiều chứng tích chiến tranh được lưu giữ và thuyết minh đầy cảm xúc, khiến bất cứ ai thăm nơi này đều xúc động, bồi hồi.

Thành cổ được vua Gia Long ra lệnh xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam. Từ Thành cổ có thể ra Bắc, vào Nam bằng đường bộ lẫn thủy thuận tiện. Theo sử liệu, ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, sau được vua Minh Mạng cho xây lại với chức năng quân sự với 4 pháo đài, có 4 cửa ra vào, bao quanh là hệ thống hào thành sâu hơn 3 mét, rộng hơn 18 mét. Các cửa thành đều được xây vòm cuốn với vọng lâu, mái cong lợp ngói âm dương. Bên ngoài mỗi cửa đều có một chiếc cầu uốn cong bắc qua hào thành. Bên trong thành có hành cung được bảo vệ bởi hệ thống tường cao, dày, có nhà ở của các vị Vua khi đi kinh lý qua hay dự lễ thăng chức của các quan. Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn. Hiện nay, chỉ có vài đoạn tường thành và bốn cổng chính của Thành được phục chế. Dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là “Đất tâm linh” của nhiều người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung, vì nơi đây mỗi tấc đất đều thấm máu của các chiến sĩ ta.

Cùng với những địa danh như địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, sân bay Tà Cơn, Đường 9, cầu Hiền Lương... Thành cổ Quảng Trị là điểm đến thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế của tỉnh Quảng Trị.

Xuân Viên

http://www.baocantho.com.vn/


READ MORE - Thành cổ Quảng Trị

Cao dao Quảng Trị

Hoàng hôn ở Quảng Trị

Những khúc ca về tâm lực người

nông dân trong giêng hai nghiệt ngã

NGUYỄN HOÀN


Hồi thơ ấu, đứa con trai nào chẳng có lúc “nghịch tử” để đến nỗi bị cha mẹ mắng như tôi: “Con cái chi mà Ô châu ác địa”. Lúc những người nông dân giận nhau, tôi cũng nghe họ mắng nhau: “Đồ Ô châu ác địa”. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì cả. Kỳ thực về sau lớn lên, tôi mới hiểu ra rằng “gửi gắm” vào lời mắng đó có cả lời chửi thề của người Quảng Trị quyết không cam chịu bị trói buộc bởi hoàn cảnh nghiệt ngã ở đất dữ châu Ô. Người Quảng Trị đã đột phá được những ba-ri-e thách đố của tạo vật bằng tâm và lực dồi dào của chính mình, để khai thông hành trình vươn tới tương lai ấm no, hạnh phúc, đồng thời trên hành trình ấy khai mở luôn dòng ca dao dân ca mang âm hưởng tươi tắn, lạc quan.

*Từ cái quán “bạn nghèo gặp nhau”

Ngày trước, giữa buổi giáp hạt giêng hai, lúc rơi đúng vào ranh giới mất, còn nghiệt ngã của sinh nhai, khó tránh xảy ra chuyện “bần cùng sinh đạo tặc”, thế nhưng tình nghĩa giữa những người nông dân qua nhiều phen thử thách càng trở nên đậm đà, sâu nặng bội phần. Tình nghĩa ấy được gửi gắm trọn vẹn qua bài ca dao sau đây của miền “kẻ chợ” Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua một vác tre

Về che cái quán

Ai thù ai oán

Đốt quán tôi đi

Tôi thương cái cột

Tôi nhớ cái kèo

Tôi thương cái đòn tay

Tôi nhớ cái cửa

Bạn nghèo gặp nhau

Các thủ pháp nghệ thuật ở đây được sử dụng đa dạng, linh diệu như ngắt nhịp 2-2, vần lưng, vần chân...đã tạo nên giọng điệu vừa gắt, vừa khoẻ trong câu ca dao của mạch tự sự diễn tả nỗi bi phẫn của người làm quán trước kẻ càn bậy. Mạch trữ tình thay thế mạch tự sự ở năm câu thơ cuối khiến cho dòng cảm xúc bài ca dao vận động sang ngã rẽ hoài niệm, tiếc nuối. Có hai cái quán được nhắc đến ở đây. Cái quán thứ nhất là cái quán hiện hữu cụ thể mà ta nắm bắt được bằng trực quan những bộ phận hợp thành nó như: cột, kèo, đòn tay, cửa...Cái quán thứ hai là cái quán biểu tượng của tâm hồn, tình nghĩa người Quảng Trị. Không biết có ước hẹn gì không chứ có khi người nông dân lam lũ với người trí thức uyên bác cũng đã tri ngộ nhau qua việc lập quán. Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cáo quan về làng, ra chơi bến Trung Tân, một thắng cảnh đẹp, bèn bàn với các kỳ lão về chuyện dựng ở đây một cái quán “để cho người đi đường nghỉ ngơi”. Dùng lời Chế Lan Viên luận về ý nghĩa việc lập quán Trung Tân của Nguyễn Bỉnh Khiêm ứng vào bài ca dao trên nhằm lý giải ý nghĩa biểu tượng cái quán của nông dân Quảng Trị sao mà ăn nhập đến thế: “Cái đẹp của cha ông là như vậy. Ở nơi thắng cảnh, đầu tiên không phải nghĩ đến Văn, mà phải nghĩ đến Người. Cái quán bé thôi mà lớn lao thay ý nghĩa. Cái quán chưa hẳn đẹp như một bài thơ, nhưng chúng ta có thể làm trăm bài thơ về cái quán này. Nó phục vụ sự sống-con người-người dân. Và vì thế, dẫu chưa là chữ nghĩa, nó đã là văn hoá”(1).

*Đến việc đánh thức tiềm lực: Còn da lông mọc còn chồi nảy cây

Có tâm hồn, tâm huyết rồi còn phải có lực nữa mới tạo nên thế tấn hai chân chững chạc. Không phải ngẫu nhiên mà cũng ở vùng Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị có thêm bài ca dao thứ hai về tiềm lực người nông dân xuất hiện:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái

Về nuôi ba tháng, hắn đẻ ra mười trứng

Một trứng: Ung

Hai trứng: Ung

Ba trứng: Ung

Bốn trứng: Ung

Năm trứng: Ung

Sáu trứng: Ung

Bảy trứng: Cũng ung .

Còn ba trứng nở ra ba con

Con diều tha

Con quạ cắp

Con mặt cắt lôi

Đừng than phận khó ai ơi!

Còn da lông mọc còn chồi nảy cây!

Người làm quán bị đốt quán nhưng vẫn còn cái quán của ký ức rủ bóng xuống tâm tưởng. Người mua gà mái mới thực trắng tay, lại mắc nợ. Điệp khúc bi ca “trứng ung” bảy lần vang lên lạnh lùng và lê thê xoáy vào tim nhức nhối. Tưởng như đấy là đoạn “thắt nút” duy nhất của bi kịch mà tiếp nối sau đó ắt là đoạn “mở nút”: “Còn ba trứng nở ra ba con”. Nhưng không, đoạn thắt nút thứ hai, tức “thắt nút của thắt nút” xuất hiện, khi tia hy vọng mong manh loé lên từ ba quả trứng nở bị dập tắt. Phản ánh sự thực ở tận cùng giới hạn của nó như thế thường là khó có thể đưa ra cách kết thúc thoả đáng, thường là một thách thức không nhỏ cho việc “mở nút”, nói theo cách của nhà viết kịch. Bài ca dao này kết thúc có hậu mà tránh được giả tạo là vì tác giả dân gian không áp đặt ý định chủ quan cực đoan buộc hiện thực phải khuôn vào mà biết dự cảm sự vận động nội tại của hiện thực, ở đây là sự vận động của tiềm lực nội tại trong nhân tố con người xuất hiện rõ nét nhất ở hoàn cảnh nghiệt ngã: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”. Tư duy phương Đông, tư duy Kinh Dịch đã từng phát hiện ra quy luật vận động theo chiều hướng lạc quan của sự vật: “Cùng tắc biến, biến tắc thông”, trong suy có thịnh, lúc cùng kiệt của sự suy sẽ có mầm thịnh trỗi dậy. Người nông dân không phát hiện ra quy luật biện chứng đó nhưng bằng trải nghiệm thực tiễn, bằng trực cảm, họ đã nắm bắt được sự vận động có tính quy luật nêu trên. Vì thế mà họ không thở than lúc suy biến khi biết rằng trong suy biến, sẽ có một nguồn lực mới "hoài thai". Vì thế mà niềm tin của nông dân Quảng Trị: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”, niềm tin của nông dân Việt Nam: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời” là một niềm tin hoàn toàn có căn cứ từ trong chính minh triết Việt Nam, minh triết phương Đông. Hai bài ca dao không chọn những khoảnh khắc êm ái của đời thường mà chọn những tình huống ranh giới giữa sinh-tử-mất-còn đầy nghiệt ngã mà người Quảng Trị lâm vào để diễn tả, nên đã nêu bật được những nét đặc trưng của tâm và lực người nông dân “phát sáng” trong gian khó.

N.H

-----------------------

(1) Chế Lan Viên, Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, 1981, tr. 250.

READ MORE - Cao dao Quảng Trị

Phan Quang

Sông Thạch Hãn vào lúc sáng sớm


Cội Nguồn là Quê Hương

PHAN QUANG

Quê hương chưa hẳn là nơi ta sinh sống dài lâu nhất. Đối với những nông dân sớm rời xa đồng ruộng mong tìm cuộc sống ấm êm hơn nơi đất khách quê người, hoặc những chàng trai ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc từ thuở vị thành niên, thời gian sống ở quê hương đối với họ đôi khi gói gọn trong những tháng ngày náo nức tuổi ấu thơ. Nhưng bất luận với ai, quê hương luôn luôn hiện hữu, và càng đau đáu hơn trong lòng người xa xứ.

Cũng tương tự mối tình đầu, nào ai đã ăn ở với ai, sớm cách ly biền biệt, vậy mà làn hương toả ra từ mái tóc người thương một thời xa vắng vẫn đeo đẳng người thương mãi tới lúc đầu bạc răng long.

Mỗi người giữ hình ảnh quê hương trong lòng theo mỗi cách. Đối với người nghệ sĩ, đó là chùm khế ngọt trong vườn, là vành nón nghiêng che của mẹ, đối với nhà thơ, là ấn tượng về "những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ những đồi sim không đủ quả nuôi người"... (Thơ Chế Lan Viên).

Đối với tôi, quê hương là tiếng hò, khi nồng thắm thiết tha, khi dập dồn tiết tấu cần lao. Làng tôi không có đầm rộng sông dài, vắng tiếng hò mượt mà sóng nước như ở phá Tam Giang, song vẫn có những câu hò đối đáp giữa những người đêm thanh dắt trâu đạp lúa ngày mùa. Không có nữ, toàn những lực điền làm việc tới khuya, mỗi người lụi cụi một sân lúa không ai nhìn thấy mặt ai ngoài con trâu làm bạn. Vậy mà khi ai đó cất lên câu hò ân tình, hơi xô tưởng biệt tăm trong cô đơn thanh vắng, vẫn có một bạn nào đó trên một sân lúa hoặc gần hoặc xa lắng tai. Và khi người xướng dứt lời, người kia sẽ cất lời đối lại. Nếu người khởi cất giọng hò theo ý của bên trai, thì người đáp sẽ đóng vai bên gái, và ngược lại. Cũng có thể, từ một sân đâu đó ở xóm xa, sẽ cất lên một lời phụ hoạ. Và con trâu, người bạn thuỷ chung trong khi vẫn kiên nhẫn đếm từng bước chậm rãi trên dàn gồm những bó lúa tươi tựa vào nhau như mâm xôi khổng lồ, hình như nó cũng đang vểnh đôi tai. Tiếng hò ân tình kéo dài từ đầu hôm cho đến lúc tàn canh, khi sân lúa đã "chín", lúc này người và trâu đều đã mệt nhoài. Hò từ đầu hôm, hò mãi đến khuya. Để chống chọi cái ngủ chực ập đến sau ngày dài làm việc dưới nắng chang chang. Để quên đi nhịp lao động đơn điệu, dễ nản lòng trên mảnh sân ngai ngái mùi rơm rạ tươi và mùi lúa vừa chín tới...

Đối với tôi, quê hương còn là tiếng hò đập bắp những đêm Hè. Làng tôi có bãi trồng ngô ở Ba Lòng, thượng lưu sông Thạch Hãn. Trong kháng chiến chống Pháp bãi bắp làng Thượng là một nguồn lương thực của chiến khu. Thuở thanh bình, hàng năm cứ đến mùa gió Lão nổi, dân làng đưa thuyền ngược sông bẻ bắp; những chiếc "nôốc" rõ to chở ngập mạn những bông bắp rực màu da cam thuận gió thuận nước xuôi về ngã ba Ngô Xá rồi từ đó theo dòng sông Vĩnh Định ngược lên bến xóm. Sân nhà nào nhà nấy đỏ rực bắp tươi. Bắp phơi qua mấy nắng, chờ đêm trăng người ta đổ lên một cái giàn có chân đỡ đặt chính giữa sân. Rồi bên nam bên nữ ngồi trên hai hàng ghế đối diện, mỗi người cầm một chiếc gậy ngắn cùng đập bắp theo nhịp rập ràng. Hò khoan dô khoan... nhịp hò cần lao ngắn gọn, dập dồn, những hạt ngô theo nhịp đập mà rụng xuống rào rào, và cùng tiếng hò lan theo ánh trăng. Trai gái các làng lân cận nghe câu hò mời gọi, tìm đến đập giúp, không ai đòi công xá, chỉ cốt chia vui. Chủ chào đón thân tình, khích lệ khách chớ có ngại ngùng mình là người nơi xa vừa đến:

Đến đây đầu lạ sau quen,

Bóng trăng lạ mặt, bóng đèn lạ duyên...

Mọi người dịch lại, nhường khách một chỗ ngồi, và ai đó trao cho khách chiếc gậy. Khách khẽ nhịp vào thành giàn bắp và cất giọng lịch sự đón rào:

... Chào bên nam mất lòng bên nữ,

Chào người quân tử, bẽ dạ thuyền quyên

Cho tôi được chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào...

Quê hương thường xuyên níu kéo người tha hương. Dường như có ai đó từng ví tình cảm quê hương từa tựa sợi dây thun vô cùng bền vững. Khi bạn ở gần, sợi thun chùng lại, bạn không thường xuyên cảm thấy ràng buộc mà sợi dây vô hình vẫn giữ chặt bạn. Bạn càng đi xa, bạn mỗi năm thêm một tuổi, sợi dây vô hình thuận với không gian và thời gian, lại càng níu kéo. Bạn càng đi xa, càng lớn tuổi càng cảm thấy sức mạnh của sợi-dây-quê-nhà xiết chặt con tim.

Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi

Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về.

(Thơ Nguyễn Đức Mậu)

Có thể chiếc lá rơi về cội. Cũng có thể nó cuốn theo chiều gió phương xa, để rồi sẽ nhẹ nhàng đáp xuống nơi chân trời xa xăm. Có thể rồi bạn sẽ yên nghỉ một góc nào đó trên đất nước hoặc trên hành tinh này. Nhưng chiếc lá vẫn về cội. Dù đi đâu về đâu, quê hương vẫn còn đó câu hò...

Phan Quang

http://diendan.bacgiangview.com/



ĐỌC THÊM
MỘT MÌNH GIỮA ĐẠI DƯƠNG, bút ký
READ MORE - Phan Quang