Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 17, 2024

Trang thơ Lê Thanh Hùng: MỘT CHIỀU NGHE ĐÀN CA TÀI TỬ | ĐÊM HOÀNG THÀNH | MƯA MUỘN | ANH ĐÃ TỪNG KHAO KHÁT NHỮNG ĐIỀU PHI THƯỜNG | BÓNG NẴNG CHẠY ĐỔ DÀI TRÊN BÃI CÁT|

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Một chiều nghe đàn ca tài tử


Giọt đàn kìm, loang trong không gian

Tiếng xề rơi vạt nắng hoe vàng

Em vén tóc, giọng ngân đằm thắm

Đâu hay là mùa xuân đã sang

                    *

Điệu Khốc hoàng thiên như ai oán

Ngoài kia đường nắng chảy lung linh

Xa lắm rồi một thời tao loạn

Ngọn gió reo trên những công trình

                    *

Hát lại đi em, khúc Nam xuân

Có gì đâu mà lại tần ngần

Hay hát khúc Xuân tình cũng được

Để anh còn nhớ tuổi trầm luân

                   *

Sao lại hát Phi vân điệp khúc

Tiếng đàn kia muốn nói điều gì?

Mà buông thả tiếng trầm, tiếng đục

Để có người rót rượu tràn ly

                    *

Dây hò rung, bóng nắng đổ dài

Điệu xàng xê, biết tỏ cùng ai

Anh hát Lý kéo chài, tiễn bạn

Rượu cạn rồi, ngày cũng đã phai ...

 


Đêm hoàng thành


Cỏ vẫn mọc dưới chân tường rêu phủ

Huyễn hoặc đêm, đèn mờ tỏ cố cung

Ngồi dưới tán cây ngô đồng chớm nụ

Nghe tiếng mùa đi, trong suốt vô cùng

                     *

Trời dịu mát, loang tan tà áo tím

Dòng người trôi, trong vắt tiếng ai cười

Nghe óng mượt, đêm hoàng thành huyền nhiệm

Dập dờn buông trên lớp lớp sóng đời

                      *

Đêm dĩ vãng rơi bên thềm đồng vọng

Nét kiêu sa vun vỡ nét rêu phong

Một mình đứng bên đường, đèn hắt bóng

Chợt tiếng chuông chùa ngân đọng thinh không

                      *

Trầm lắng không gian, đượm mầu cổ tích

Hàng giá tỵ nghiêng, bóng đổ bên đường

Còn nguyên đó một góc mờ tĩnh mịch

Cây nhãn oằn mình nồng nã đưa hương

                      *

Bất chợt đêm hoàng thành, một quầng sáng

Hội hoa đăng, cơn gió mới tràn về

Như thức dậy, những nỗi niềm kiêu mạn

Phố cổ hồi sinh, rực rỡ sắc cờ ...

 


Mưa muộn


Choàng tay, rối giọt mưa rơi 

Tháng mười, gõ guốc rã rời theo mưa

Thao lao gió, giật hiên thưa

Còn nguyên dấu đợi, đổ thừa đường trơn

Mới hay tiếng lá dỗi hờn

Lao xao đứt quãng từng cơn vô chừng

Cầm tay biết chẳng đặng đừng

Nghe buôn buốt lạnh, bờ lưng lửng đời

Lời trách giận, cũng hoài hơi

Bao năm tình đã hao vơi chút nào?

Nếu còn giả dụ tin nhau

Này em ráng đợi mùa sau cùng về

 


Anh đã từng khao khát những điều phi thường


Rồi năm tháng cứ lần lựa mãi

Nhịp sống cuốn trôi, chỉ còn lại bình thường


Thôi cũng ráng quẩn quanh, đừng để chuyện tầm thường

Ở lại 

Cố gắng vượt qua, dù cho có khác thường



Bóng nắng chạy đổ dài trên bãi cát


Nồm rộ tháng ba, xô ngày đi lạc

Em đi ngược chiều, xanh mát đến mênh mông


Thuyền về bãi ngang đường con sóng chạy

Nôn nao gặp, nên cố tình sóng nhảy

Chợt giận dỗi quay nghiêng, con thuyền như day trở lòng vòng…


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - Trang thơ Lê Thanh Hùng: MỘT CHIỀU NGHE ĐÀN CA TÀI TỬ | ĐÊM HOÀNG THÀNH | MƯA MUỘN | ANH ĐÃ TỪNG KHAO KHÁT NHỮNG ĐIỀU PHI THƯỜNG | BÓNG NẴNG CHẠY ĐỔ DÀI TRÊN BÃI CÁT|

GIA ĐÌNH VỊT TRỜI - Truyện ngắn - Trần Đức Phổ

 

Tác giả Trần Đức Phổ

GIA ĐÌNH VỊT TRỜI

Tuyết đã ngừng rơi. Nhưng từng luồng gió lạnh vẫn thổi thông thốc. Mặt đầm nhăn nheo, cau có vì những lớp tuyết chất chồng lên và những cơn gió rét cứ từng đợt từng đợt hết quét ngang lại quét dọc. Cái lạnh tan xương cháy thịt của ngày chí đông làm cho cây cối khô cứng lại. Mấy lùm lau sậy ven bờ đầm gãy gục ngang thân, rũ rượi và lặng lẽ cam chịu. Nơi gốc cây sồi bên cạnh đầm nước đã đóng băng từ lâu có một cái hốc nhỏ. Phía ngoài hốc cây ấy được che chắn bằng những chùm rễ tua tủa của cây sồi gìa và đám lau sậy. Đó là ngôi nhà của một gia đình vịt trời ở xứ sở được mệnh danh là ‘cái tủ đông lạnh.’  Lúc này, trong nhà có một con vịt mẹ đang nằm cùng với ba chú vịt con trên lớp lá phong khô giòn nhưng dày như tấm nệm. Chúng co ro nép sát bên nhau để chống cái rét từ bên ngoài lùa vào. Chốc chốc con vịt mẹ ngẩng đầu, mở to đôi mắt đen đầy lo lắng nhìn ra phía bờ đầm. Đàn con thấy thế cũng vươn những cái đầu tí hon ngước nhìn theo về hướng ấy. Bụng chúng đang đói cồn cào, cái cổ rát buốt, toàn thân đuối sức, nên chẳng buồn kêu. Chúng đã kêu suốt một ngày nay để đòi ăn, nhưng tuyệt nhiên chưa có thứ gì vào bụng. Thức ăn đã hết nhẵn từ hôm qua nên mẹ chúng đành bó tay cho dù rất đỗi thương con. Bố chúng thì đã ra đi từ lúc sáng sớm để tìm cái ăn cho chúng. Nhưng quái lạ sao mãi đến giờ này vẫn chưa thấy về? 

    Hoàng hôn đang cố níu kéo buổi chiều ngắn ngủi bằng những tia sáng màu cam yếu ớt tận nơi chân trời xa tít. Nó nhanh chóng chuyển sang màu tím sẫm và bóng đêm từ từ lan ra mỗi lúc một nhanh. Để rồi sau cùng một màu đen kịlt chiếm lĩnh toàn bộ không gian. 

    Con vịt mẹ thở dài như muốn than thở điều gì mà không thể thốt nên lời. Nó cạ cạ cái mỏ vào ba đứa con chưa đầy sáu tháng tuổi uể oải nằm bên cạnh. Nó đưa mắt ngắm nhìn lũ con một cách âu yếm và trần trề yêu thương. Cả nhà đang chờ đợi mỏi mòn ông bố đi tìm thức ăn mang về. Thế nhưng không biết vì lẽ gì mãi đến lúc này vẫn chẳng thấy tăm hơi. Có mấy lần nghe tiếng sột soạt từ đám lau sậy, vịt mái tưởng chồng về mừng rỡ thò đầu ra ngoài hốc cây nhìn xem, để rồi thất vọng thụt ngay cổ vào. Tiếng động chỉ là do lũ chồn hoặc sóc chạy tìm mồi vô tình ngang qua.

    Mấy tháng trước khi khu rừng phong bắt đầu vàng lá, những gia đình hàng xóm sửa soạn di cư về phương nam thì vợ chồng chị vịt trời đã lo tính việc tích trữ lương thực cho mùa đông. Bởi lẽ năm nay cả hai không thể bay về phương nam như mọi năm được. Lý do đơn giản là chị vừa hạ sinh ba chú vịt con kháu khỉnh. Chúng chưa đủ lông cánh và sức lực để bay một chặng đường quá dài. Cho dù mỗi vợ hoặc chồng có thể cắp theo một đứa con nhỏ để di tản, nhưng vẫn phải bỏ lại một đứa. Không ai đành lòng làm vậy nên họ quyết định cả nhà cùng sống cùng chết qua mùa đông khắt nghiệt nơi quê hương. Nhìn thấy xung quanh mình càng ngày càng thiếu vắng hàng xóm họ buồn lắm. Đến khi những cây cành đã rụng hết lá thì xóm làng cũng vắng tanh vắng ngắt, không còn ai. Nhưng đôi vợ chồng vịt trời cũng không có thời gian để mà buồn phiền vì phải lo cho cái mùa đông dài và lạnh lẽo sắp đến. Hằng ngày vừa hướng dẫn lũ vịt con kiếm ăn họ vừa lo tích trữ lương thực nên cả hai không còn thời giờ đâu để tư lự vu vơ. Khi rảnh rỗi họ tìm cách gia cố lại chỗ ở cho vững chãi, kín đáo. Họ gom góp cành khô, gỗ mục về làm vách, mang những chiếc lá phong rơi đầy trên mặt đất xung quanh nhà về lót thành một tấm nệm dày ấm áp. Họ cứ tưởng số lương thực dự trữ sẽ đủ ăn cho đến tháng ba. Lúc đó tiết trời đã khá hơn, sông suối đã tan băng, có thể tìm được con tôm con tép trong ao đầm dễ dàng. Không ngờ bầy con của họ ăn khỏe quá. Mỗi ngày hai vợ chồng cho chúng ăn ba bữa, mà vẫn luôn luôn nghe chúng kêu đói inh ỏi. Đang tuổi lớn chúng ngốn nghiến như tằm ăn rỗi. Mới trung tuần tháng hai thức ăn để dành đã cạn kiệt. Hai vợ chồng bàn nhau sẽ thay phiên mỗi ngày người này đi kiếm mồi thì người kia ở nhà chăm sóc lũ con thơ. Hôm nay là ngày đầu tiên của chiến dịch săn lùng lương thảo. Anh chồng xung phong, giành phần ra đi từ lúc sáng sớm. Chị vợ tiễn chồng ra trước cửa, dặn dò anh phải cẩn thận, mùa này lũ chồn cáo và chó sói đang lùng tìm thức ăn rất gay gắt. Tuy rất tin tưởng ở sự khôn khéo của chồng nhưng chị vẫn cảm thấy lo lắng, không yên. Anh chồng trấn an vợ, hôn tạm biệt mấy đứa con rồi xuất phát. 

    Vỗ cánh bay lên cao, chàng vịt trời nhìn ra tứ phía. Cả một vùng tuyết trắng phủ mênh mông. Những cánh rừng trơ trụi, cây cành tua tủa như gươm giáo của một bãi chiến trường sau nhiều trận ác chiến. Sông hồ đóng băng lạnh lẽo. Cả một khu vực rộng lớn chẳng thấy gì có thể cho vào bụng được. Thế là chàng cứ nhắm hướng nam mà bay, bay theo bản năng thiên di của loài vịt trời từ xưa đến nay. Chàng bay mãi, bay mãi không biết đã qua bao nhiêu là dặm đường. Đến khi nhìn xuống phía dưới thấy có một dòng sông loang loáng nước dưới ánh nắng yếu ớt của ban trưa. Tuy ở đây cỏ cũng đã khô, cây cũng đã rụng lá nhưng sông suối thì chưa đông cứng như ở quê hương chàng. Chàng chợt nhận ra con sông này năm trước, lúc di tản tránh cái rét mùa đông phương bắc, chàng đã gặp nàng, và hai người đã se mối lương duyên.

    Hôm ấy là một buổi chiều cuối thu. Sau hành trình dài mấy trăm dặm từ vùng hạ lưu sông Saint Lawrence bay về phương nam, chàng đã dừng chân nơi đây để nghỉ ngơi lấy sức trước khi tiếp tục con đường thiên lý. Nghỉ ngơi độ chừng ba mươi phút, khi sức lực đã hồi phục chàng liền lội xuống dòng nước giá lạnh để tìm mồi. Chỉ bơi một quãng ngắn, chàng đã phát hiện một chú cá sặc đang nhơn nhơn nhấm nháp mấy lá cỏ còn sót lại cạnh bờ. Thế là chàng rẽ nước mò đến. Thấy làn nước xao động, con cá sặc liền quẫy đuôi bơi ngược ra giữa dòng. Không bỏ lỡ thời cơ chàng quạt đôi bàn chân to bè như hai cái bơi dầm đuổi theo. Con cá sặc biết có kẻ săn mồi liền lặn một hơi dài xuống thật sâu trong làn nước lạnh ngắt. Chẳng để con mồi thoát thân chàng vịt trời vội vã nín thở lặn theo. Biết không thể lủi vào trong bùn cát để nấp nên con cá liền phóng vọt lên như phi tiễn. Vịt trời cũng ngoi khỏi mặt nước lao theo liền. Lũ tôm, cua trong đoạn sông này thấy màn rượt đuổi ngoạn mục như trận chiến giữa Tề Thiên Đại Thánh và Nhị Lang Thần Dương Tiễn trong truyện Tây Du Ký nên trố mắt ra nhìn, nhưng không dám mở miệng hoan hô.

    Con cá sặc chạy đến một khúc sông có nhiều rễ cây mọc lòa xòa trên mặt nước thì chàng vịt ta cũng vừa đuổi đến nơi. Bí quá con sặc liền núp vào một cái rễ ven bờ. Chàng vịt chưa kịp vươn cổ phóng tới thì “phập” một tiếng, con cá sặc đã bị một cái mỏ màu vàng như nghệ quắp mất. Chưng hửng, chưa kịp nhìn rõ mặt kẻ ngang nhiên cướp miếng mồi ngon trên tay mình là ai thì đối phương vỗ cánh vù bay mất. Không chịu thua một cách phi lý như vậy, chàng vịt liền lội lên bờ và vỗ cánh bay theo. Bay chừng một quãng không xa, con vịt phía trước hạ cánh xuống một đám lau sậy rậm rạp. Chàng vịt ta cũng đáp xuống và lò dò đi theo. Trước mắt chàng hiện ra một con vịt già đói lả đang nằm bẹp gí sát vũng sình. Cạnh đó ả vịt xám độ tuổi như chàng đang rỉa từng miếng thịt con cá sặc để mớm cho con vịt già. Nhìn thấy tình cảnh cảm động như thế nên bao nỗi giận dữ vì bị cướp miếng ăn trong lòng chàng bỗng nhiên tiêu tan hết. Chàng bước đến thăm hỏi hai con vịt kia. Bây giờ chàng mới rõ, họ cũng di cư từ phương bắc xuống. Nhưng bà mẹ cô vịt trẻ đang bị ốm nên lưu lại đây. Nghe qua sự tình, sẵn có máu hào hiệp nên chàng ngỏ lời muốn giúp đỡ hai người. Thế là từ đó họ thành đôi bạn tâm giao với nhau. Ít hôm sau bà mẹ vì bệnh tật hiểm nghèo, vì vất vả mệt nhọc đã qua đời. Cả hai chôn cất bà rất chu đáo, rồi sánh vai tiếp tục bay về phương nam. Từ đó họ kết nghĩa tơ hồng cùng nhau.

    Nhận biết được con sông rồi chàng liền hạ cánh xuống hết sức nhẹ nhàng nơi chỗ mấy cái cây mọc thò ra trên mặt nước. Chẳng bao lâu một con cá chép to bằng ba ngón tay người lớn đang đuổi theo đàn cá rô con lội ngang qua dưới mắt chàng. Chờ cho con chép lọt vào tầm mổ, vịt trời liền vươn cái cổ dài, há cái mỏ cứng như kìm sắt đớp ngang lưng con cá. Con chép vùng vẫy mãnh liệt để thoát thân nhưng bị kẹp chặt quá đành vô vọng chịu thua. Trong lòng tràn ngập nỗi hân hoan, chàng vịt vỗ cánh bay tít lên trời cao và nhắm hướng bắc trực chỉ. Lúc này đã xế chiều. Nghĩ đến vợ và con đang đói nheo nhóc chờ mình đem thức ăn về, chàng ra sức vỗ cánh, miệng vẫn ngậm chặt con cá chép.

    Lúc tuyết bắt đầu rơi thì chàng cũng đã bay vào vùng trời quê hương. Những cánh hoa trắng muốt nhẹ nhàng phủ vây chàng giống như người ta tung những cánh hoa giấy chào đón người nổi tiếng. Rồi từng cơn gió mạnh ập đến, tuyết quất vào mặt vào đôi cánh, và vào thân thể chàng rát buốt. Để cho an toàn chàng hạ thấp dần độ cao, chỉ bay là là trên các ngọn cây độ chừng một trượng. Lúc bay ngang khu rừng nọ một đàn quạ đen trong hang hốc bỗng vụt bay lên, kêu the thé ghê rợn, bủa vây lấy chàng. Bọn chúng thì đông mà chàng chỉ có một mình, lại vừa mệt vừa đói, miệng còn ngậm con cá lớn nên không thể chiến đấu. Ba mươi sáu kế, tẩu vi thượng sách. Nghĩ vậy chàng liền vươn cổ, dũi dài đôi chân, đập cánh thật mạnh vọt người lên cao như hỏa tiễn rời bệ phóng. Bầy quạ đen giận dữ kêu toáng lên, đuổi theo. Nhưng sức chim quạ nào có thể sánh với vịt trời, chẳng mấy chốc chàng đã bỏ xa bọn chúng. Đàn quạ bay lên cao bị gió tuyết quật cho tơi tả, chịu không thấu, nên phải quay trở lại.

    Trời chuyển dần về khuya. Bầu trời không có lấy một vì sao, những đám mây sà xuống thấp đen thẫm. Nhưng trên mặt đất trái lại ánh sáng nhờ nhờ do lớp băng tuyết dày hắc lên. Mấy chú vịt con đói bụng nên đã ngủ vùi. Thấy bầy con đã nằm yên, vịt mẹ vươn đầu ra khỏi cửa hang nhìn ngang ngó dọc. Lát sau, nó lật đật đứng dậy lắc lắc cái thân mình trông có vẻ còn rất thon thả mấy cái, rồi bước ra khỏi hốc cây. Nó nghiêng đầu lắng nghe. Trời đã im gió, tuyết đã ngừng rơi từ lâu. Bốn bề vắng lặng. Nhưng dường như nó nghe có tiếng đập cánh xa xa. Nhìn về hướng đó, bất chợt nó trông thấy một cái bóng trắng to bằng quả bóng bầu dục đang hướng về phía nó hạ thấp dần độ cao. Nền trời đen kịt nên cái bóng trắng kia thật là nổi bật. Lòng nó phập phồng mừng vui. Chỉ ít phút sau đã hiện ra rõ ràng là một con vịt trời. Chàng ta hạ cánh cách xa nơi nàng vịt độ chừng mười mét, rồi chậm chạp tiến về phía nàng. Con vịt mái reo lên vui mừng chạy nhanh về phía chàng. Cả hai gặp nhau mừng vui khôn xiết tả. Đột nhiên ngay lúc ấy con vịt mái chợt nhìn thấy bóng dáng của một con cáo vừa ẩn vào gốc cây cách đó không xa. Vịt mái trong lòng lo sợ nhưng cố trấn tĩnh tinh thần. Nhận thấy chồng đã quá mệt mỏi khó mà thoát được nanh vuốt của con thú dữ nên nàng không để chàng biết. Lúc này không thể làm cho chàng hoang mang. Nàng bỗng nghĩ ra một kế liền nói nhỏ vào tai chàng, rồi hối hả giục mau mau chạy vào hang, còn mình thì đứng lại để đương đầu với thú dữ. 

    Con cáo xám không ở vùng này, nó lang thang kiếm mồi từ sáng đến giờ nên lạc bước đến đây. Khi hai vợ chồng vịt trời vừa gặp nhau thì cũng là lúc nó tình cờ phát hiện ra chúng. Nó định bụng lừa bắt cả hai nên vội vàng ẩn mình chờ cơ hội ra tay. Bây giờ chỉ còn thấy mỗi mình con vịt mái nó chậc lưỡi tiếc rẻ. Nhưng vốn là kẻ lạc quan nên tự an ủi thầm: “Ta sẽ xơi con này trước cho no, rồi hãy tính sau!” Nghĩ vậy cáo liền chạy len lỏi qua các cây phong tiến sát về phía vịt. Thân thể con cáo gầy nhom, cái bụng lép kẹp như dính sát vào xương sống. Nhưng hai hàm răng dài và nhọn hoắc nhe ra đầy vẻ dữ tợn, hung hăng. Con vịt mái đã thủ thế nên liền chấp chới vừa chạy vừa bay nhưng đôi chân vẫn lướt là là trên mặt tuyết. Con cáo đuổi theo, mấy lần nhảy vồ tới chụp, nhưng phần vì mệt mỏi, phần vì con vịt nhanh nhẹn né tránh, lúc sang phải lúc sang trái nên cáo luôn luôn vồ hụt. Đã có kế hoạch dụ địch từ trước, vịt cứ chạy thẳng một mạch ra giữa cái đầm nước đã đóng băng. Nhìn thấy con vịt béo tốt, nhưng hình như ngờ nghệch chẳng bay lên cao mà lại chạy ra chỗ trống trải, cáo ta khấp khởi mừng thầm trong bụng. Hắn hí hửng cho rằng phen này vịt trời khó mà thoát khỏi tay hắn. Cư ngụ ở vùng này đã lâu, đi lại trên mặt đầm rất nhiều lần nên vịt mái biết rõ dù mặt đầm đã đóng băng, nhưng ở giữa đầm lớp băng trên bề mặt rất mỏng. Thế là nàng chạy thẳng đến nơi ấy, vận sức lực vào đôi chân đạp mạnh lên lớp băng chỗ đó. Nàng cố lấy hết sức nặng nhảy lên nhảy xuống vài lần đã thấy mặt băng rạn như kính vỡ. Xong yên nàng giả đò như kiệt lực đứng thở dốc, nhưng đôi cánh thì thu vào sát thân mình, rùn hai vai thủ thế. Nhận thấy con mồi bất động cáo ta không cần suy nghĩ gì nhảy xổ đến vồ ngay. Con vịt trời lẹ làng nhún đôi chân khỏe khoắn, đập mạnh hai cánh lao vút lên không trung. Cùng lúc ấy nàng ta nghe một tiếng “ùm” vang lên trong màn đêm thanh vắng. Quay nhìn lại vịt trời chẳng còn thấy bóng dáng cáo xám đâu nữa. Nàng xoải nhanh đôi cánh bay về phía cây sồi, nơi chồng con đang nóng lòng chờ đợi. 


31/3/2024

Trần Đức Phổ 



READ MORE - GIA ĐÌNH VỊT TRỜI - Truyện ngắn - Trần Đức Phổ

Friday, November 15, 2024

NHỚ MÃI THẦY ƠI - Lưu Lãng Khách

 

Tac giả Lưu Lãng Khách

NHỚ MÃI THẦY ƠI


Tôi được sinh ra trong một gia đình mấy đời thanh bần, chẳng có gì đáng nói, ngoài cụ cố Nguyễn Phú nhà tôi văn võ song toàn, được tuyển chọn phục vụ trong cẩm thị vệ hoàng cung, suốt từ thời vua Tự Đức, cho tới khi vua Thành Thái gần thoái vị ( 1865- 1906). Đến đời cụ nội nhà tôi, là lý trưởng Nguyễn Vinh, gia sản đã đến hồi khánh kiệt. Khá khen thay, nội vẫn gắng nuôi chú bác tôi ăn học, trở thành những ông giáo. Bác Tám nhà tôi tên Nguyễn Đức Hòa (ông giáo Hòa), là một nhà giáo yêu nước, đã vào Nam tham gia kháng chiến từ thời 9 năm. Ông đã hoạt động bí mật, khắp các tỉnh quanh Sài Gòn, đã từng bị đày ra côn đảo, và đã hy sinh dưới hầm bí mật, cùng hai đồng chí của ông, nơi miền đất thép Củ Chi, vào cuối năm 1969. Thủ tướng Phan Văn Khải, từng là cấp dưới của ông. Nên sinh thời, thủ tướng nhớ ngày kỵ cơm bác tôi, thường về Củ Chi, thắp cây hương cho người thầy yêu kính của mình. Con trai của bác Tám, là anh Nguyễn Đức Thuận ( Trần Văn Thuận, Bảy Thuận), nguyên là Chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty thương mại TPHCM. Dù không nối gót cha giảng dạy, nhưng anh luôn tôn trọng, và biết ơn, những người làm nghề cao quý như cha mình. Thứ đến, là bác Chín của tôi tên Nguyễn Tuất, nguyên là hiệu trưởng trường tiểu học Hổ Thanh, suốt 20 năm, gần đến ngày giải phóng mới nghỉ hưu. Chú Út tôi là ông giáo Út, trước khi vào Nam lập nghiệp, cũng đã nhiều năm dạy học ở quê. Duy chỉ có ba tôi mạnh khỏe, năng nổ nhiệt tình, tự nguyện ở nhà, đứng ra gánh vác gia đình, khi nội mỗi ngày một yếu đi. Dân địa phương, mỗi khi nhắc đến những người con của nội tôi, đều tỏ lòng tôn kính và quý mến, dù ba tôi chẳng giống anh em mình. Bấy nhiêu ấy, về những chú bác trong gia đình, kể cũng đủ cho một đứa trẻ, từ độ tuổi mới lên mười, đã ấp ủ ước mơ, trở thành một nhà giáo tương lai. 

Thuở ấy, bác Chín tôi làm hiệu trưởng, và chỉ dạy học trò lớp nhứt (lớp 5 bây giờ). Chẳng biết do thiếu giáo viên hay sao, mà năm lên lớp ba, bác dạy lớp tôi mấy tháng. Bác tôi viết vẽ rất đẹp, giảng dạy rất hay, đã trở thành thần tượng số một của tôi lúc ấy. Bác có hay chăng ngày ngày, thằng cháu ruột luôn bắt chước, từ cách cầm viên phấn, rồi viết theo từng nét, trên cái bảng con, hay luôn học đưa từng nét bút vào trang vở, sau khi đứng nhìn bác viết, còn luôn học nói, theo giọng giảng bài của bác, mới ghê chứ. Thật không ngờ, chỉ mấy tháng trôi qua, tôi đã tiến bộ vượt bậc, khiến người nhà và bè bạn, phải hết sức ngạc nhiên, khi thằng nhóc lớp ba, viết vẽ như bản sao của bác nó, dù non kém hơn nhiều. Bác Chín tôi là người thầy, luôn nhắc nhở câu khẩu hiệu TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN, cho lũ học trò, chỉ đứng sau nhất quỷ nhì ma.  Cuối năm 1974, thầy trẻ Nguyễn Kỳ về làm hiệu trưởng, thay bác tôi đã già sắp nghỉ hưu. Thầy Kỳ là họa sĩ, chơi đàn guitar rất cừ, hát rất hay. Hình như thầy giỏi cả cầm kỳ thi họa. Thấy tôi có năng khiếu viết vẽ, thầy đã dạy cho tôi làm báo tường, và cho tôi xem, hầu như toàn bộ tranh ảnh thầy đã họa. Thầy bảo tôi hãy chăm đọc sách, để bồi bổ kiến thức. Và kỳ thi vào đệ thất (lên cấp 2, lớp 6 bây giờ), thầy báo tôi đã đậu nhì trường Hổ Thanh, chỉ sau bạn Phạm Văn Cổ. Rất tiếc, duyên thầy trò chỉ đến đó rồi thôi. Và từ khi lên lớp 6, thầy Đương chủ nhiệm, tôi đã được bầu làm trưởng ban bách báo. Cái chức vụ cỏn con bé tí dễ thương ấy, đã đi theo tôi đến hết lớp 12. 

Tôi ở một thôn, có thể gọi là nghèo nhất xã, một xã có lẽ nghèo nhất huyện. Trường cấp hai tôi học thuở ấy vừa giải phóng, có tên gọi là trường Xuân Quang Nam. Trường chỉ có 5 phòng học, cùng văn phòng trường, dành cho ban giám hiệu, và một phòng cho thầy cô giáo thôi. Mà sáng chiều trường phải chứa, học sinh cả bốn xã trong khu vực. Đất thì thừa, mà kinh phí không có, nên nhà trường đã huy động, tất cả phụ huynh học sinh chung tay góp sức, dựng lên gần đó, một trường tranh vách đất 5 phòng, vào những năm khốn khó thiếu đủ thứ. Lũ chúng tôi học cấp 2, mà thậm chí có đứa, đi chân đất suốt mùa mưa, khi đường bùn lầy lội. Phần lớn học sinh không đồng phục, thiếu bảng tên, vì mẹ cha quá khổ quá nghèo.

Năm lên lớp 7, vào một sáng thứ 2, trước lúc chào cờ, học sinh tập trung dường đông đủ trên sân. Bỗng tất cả trố mắt nhìn, một người cao lớn có vầng trán thông minh, vận bộ đồng phục màu xanh của trường kỹ thuật, ngồi trên chiếc sprint, đang êm ái nhả làn khói trắng, từ ngoài cổng đến trước văn phòng. Học trò chúng tôi mấy trăm đứa, phần lớn thuộc con nhà bần nông, đi chiếc xe đạp cũng chẳng ra hồn, nói chi là đến xe máy. Tất cả đều trố mắt nhìn không chớp, cùng chờ đón nghe để biết, về nhân vật chính sáng hôm ấy, và thấy mình thật nhỏ bé thấp hèn, trong ý nghĩ trẻ thơ. Khi ngọn cờ được kéo lên tới đỉnh, bài quốc ca vừa kết thúc, thầy hiệu trưởng liền long trọng giới thiệu, trước toàn trường. Rằng, đó là thầy giáo mới Lê Trọng Dũng, sẽ dạy hai môn toán lý. Hơn nữa, thầy sẽ là giáo viên chủ nhiệm mới của lớp tôi, thay cho thầy Đương trước đó. Ban đầu tôi cứ nghĩ, thầy thuộc tầng lớp tiểu tư sản thành thị, chẳng muốn gần chi. Nhưng không, thầy đã đổ mồ hôi cùng học sinh, trong nhiều ngày lao động, không ngại góp của góp công, vào những việc có ích cho lớp cho trường. Thầy giảng bài rất cuốn hút. Là người bên Tự nhiên, thầy lại rất am hiểu về xã hội, và có năng khiếu văn thể mỹ. Cùng với Vũ sư Sơn cọ, thầy đã dạy cho học sinh múa hát. Thầy là người đệm đàn guitar, suốt những đêm văn nghệ của trường. Thầy cảm nhận thơ văn rất tốt, đã hướng dẫn và cung cấp chọn lọc bài ảnh, cho tôi làm báo lớp. Bấy nhiêu điều đã khiến tôi, dần rất mực quý yêu thầy. (Một sáng mùa thu, trong những ngày đầu niên học mới, khi chúng tôi đang đùa nghịch trên sân, thì thầy Trọng Dũng chở cô Thuận, lượn một vòng ngoạn mục quanh sân, trong tiếng reo hò của lũ học trò. Hình ảnh ấy ấn tượng đến nỗi, giờ đây đã quá lục tuần, chú nhóc trong tôi vẫn còn nhớ như in, cái hình ảnh sống động, của thời xa ngái ấy). Thầy Văn Dũng dạy văn người Bình Định, thầy Trương dạy sử, thầy Thảo thể dục rất dễ gần. Thầy Hiệp, thầy Mãn, thầy Ký, thầy Trân, thầy Nuôi, thầy Giao, thầy Hùng, thầy Cầu, cô Thuận, cô Nguyệt, cô Trâm, cô Kiều, cô Mai, cô Cúc, đều đáng kính đáng yêu. Nhưng có lẽ, lũ chúng tôi yêu quý nhất, là thầy Trọng Dũng của tôi thôi. Hình như năm ấy, tôi đã sáng tác bài thất ngôn tứ tuyệt Kẻo Thầy Chê, đăng lên tờ báo TIẾN THỦ do thầy chọn đề thì phải. Bốn câu thơ, của cậu học trò 13 tuổi ấy, chẳng những được thầy khen trước lớp trước trường, mà còn đọc cho các khóa đàn em nghe, được chúng kể lại với tôi. Sau bác của tôi, đến thầy Kỳ, và nhất là thầy Trọng Dũng, là người đã mớm nuôi ước mơ tôi ấp ủ, thành nhà giáo ngày một lớn dần theo năm tháng. Nhưng, tôi đã phụ lòng mình, phụ lòng thầy, khi học hành ngày một sa sút. Từ một học sinh giỏi từ cấp 1, tôi dần trụt xuống hạng trung bình. Chỉ vì, mới mười ba tuổi đầu, tôi phải trở thành lao động chính, khi chị tôi sang chiến trường K, ba tôi thì đau bịnh quanh năm. 

Lên cấp 3, vào học trường trung học Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi, tôi may mắn được thầy Phúc chủ nhiệm dạy văn, để ý đến thơ tôi. Thầy rất thích chuyện trò, cùng đàm luận văn chương, và cho tôi mượn sách đọc. Lên lớp 11 và 12, tôi lại được thầy Quang dạy văn chủ nhiệm, dạy cho tôi thuyết trình, và tổ chức những ngày lao động gây quỹ lớp rất vui. Và thơ tôi ít nhiều, đã có tiếng trong trường. Có lẽ, thầy Phúc, thầy Quang, thầy Mỹ, thầy Một, thầy Sử, thầy Dũng Tiến, thầy Châu, thầy Hồng Anh, thầy Hội, cô hiệp..., đều nghĩ, tôi sẽ trở thành một nhà giáo tương lai. Nhưng không! Ước mơ xưa tôi từng ấp ủ, đã vỡ vụn dưới chân tôi, từ trước tuổi trưởng thành, vì nhiều lẽ. Tôi đành ngậm ngùi chọn cho mình, một hướng đi, khó mà mong chí toại danh thành, hầu trả nợ áo cơm. 

Với tôi, câu : “ NGHỀ GIÁO LÀ NGHỀ CAO QUÝ NHẤT TRONG NHỮNG NGHỀ CAO QUÝ”, với hàng chữ in hoa thật lớn, mãi chẳng phai mờ trong ký ức, mỗi khi nhớ về tuổi học. Vậy mà ước mơ trở thành nhà giáo, đành vỗ cánh bay đi! Nhưng, những hình dáng đứng đi, những nụ cười ánh mắt, của quý thầy cô giáo qua từng niên học, luôn sống mãi trong tôi, ấm áp tự thuở ấy đến giờ. Còn gì vui hơn, khi mấy năm trước, sau bao năm tôi trở về quê, đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày ra trường TRẦN QUỐC TUẤN. Niềm vui xen lẫn nỗi buồn, khi nhận tin, quá nhiều thầy cô đã cưỡi hạc quy tiên. Mấy trăm cựu học sinh chúng tôi, chỉ còn được cung kính, vui cùng một số thầy cô ít ỏi. May thay trong số đó, vẫn còn thầy Dũng Tiến dạy văn, tôi đã dành nhiều thiện cảm và tôn kính, từ thuở ấy xa xưa. Vui thay, bấy giờ thầy trò chụp ảnh chung, hai mái đầu đều bạc trắng như nhau, và thật giống hai anh em. Niềm vui được nhân đôi, khi chiều ấy bất ngờ, cháu và em tôi đi họp lớp họp trường, nhân kỷ niệm 35 năm gọi về. Thật không ngờ, ở đầu bên kia là giọng thầy Lê Trọng Dũng. Thầy liền đọc một hơi, bài thơ tôi viết ngày nào : 

Sáng đông gió bức lạnh lùng ghê

Trống giục trường xa vọng lướt về

Sách vở tay cầm chân rảo bước

Kịp giờ đến lớp kẻo thầy chê.

Mừng quá! Tôi liền mời thầy quá bước đến tệ xá, và hai thầy trò đã hạnh phúc bên nhau, ngồi cạn chén tương phùng, sau bốn mấy năm trời. 

Phần lớn các thầy cô, giờ tuổi hạc đã cao như núi. Cầu ơn trên cho quý thầy cô, đã dạy dỗ hay chưa từng dạy dỗ tôi, được bình an mạnh giỏi, sống vui sống khỏe bên con cháu, trong những tháng năm còn lại của đời mình. 

Nếu có thể ngược thời gian, quay về khoác áo thư sinh, được chọn hướng cho tương lai đời mình lần nữa, tôi sẽ xin chọn nghề giáo, để được làm người lái đò đưa lớp lớp qua sông, như những thầy cô quý kính của tôi. Thời gian không trở lại! Trong bóng xế đời mình, tôi vẫn luôn nhớ đến quý thầy cô giáo, nhất là những thầy cô, đã từng đứng trên bục giảng lớp mình. Tôi mong rằng, mình sẽ làm được điều gì đó khi có thể, để ít nhiều thể hiện lòng tôn sư trọng đạo, thương kính quý yêu, những con người phải vượt qua bao lao khổ nhọc nhằn, tận tụy hy sinh, khi đã chọn cái nghề cao quý nhất.

Sài gòn cuối thu 2024

Lưu Lãng Khách


READ MORE - NHỚ MÃI THẦY ƠI - Lưu Lãng Khách

Thơ Khaly Chàm - CHỢT TỈNH TRỞ VỀ THỰC TẠI

 


khaly chàm

chợt tỉnh trở về thực tại


chẳng để ý nhận ra mùa đông trắng và gió lạnh

em nói, tôi ỡm ờ cợt nhã với hoài nghi

lũ sẻ nâu sà xuống mái phố thinh lặng

có thể, chúng nghĩ về giấc ngủ hồn vía mộng du đêm qua

những cánh bướm lảng vảng đánh hơi mùi nắng ấm


người trên đường lướt nhanh cùng gió thổi

trong mỗi suy nghĩ đều có ngôn ngữ không lời

từng cá thể hoài thai sự mưu sinh tất bật đời thường

tôi đang lắng nghe tiếng gọi tên mình nhắc nhớ


những câu thơ của mùa xanh trở về gõ cửa

chúng phóng túng cùng thời gian sáng ngày lên chiều xuống

ai đó nói, nếu ta chỉ biết bước đi loanh quanh

làm sao thấy được bầu trời biếc xanh trong veo mới mẻ


thỉnh thoảng biết rằng tôi đang sống

nhưng chưa bao giờ thấu hiểu chuyện thống hối là bí tích

ban cho người đã vô thức với tình cảm thiêng liêng

sáng nay tâm tưởng kéo tôi về thực tại

chợt tỉnh, hình như thấp thoáng bóng ngày xuân ẩn hiện 


muadong 2024

khalycham1954@gmail.com

 





READ MORE - Thơ Khaly Chàm - CHỢT TỈNH TRỞ VỀ THỰC TẠI

QUA MÙA HƯ ẢO – Thơ Lê Minh Hiền

 

 

QUA MÙA HƯ ẢO


Hồn ta, chú cá vàng tội nghiệp 

em là chim bói cá vô tâm 

em gắp hồn tôi mùa lá rụng 

mặt hồ xao động vòng tâm loang 

về nghe trong gió lời chánh niệm 

lần bước đi về cõi thiên thu

về nghe tinh thể chiều vô lượng 

nhớ tiếng chuông chùa cố quận xưa 

một mai ai đó còn chút nghĩa 

tình đã lìa cành còn vương thương 

sương đọng lá xanh đêm mấy khúc 

bước nhẹ ra vườn rũ bụi mê 

ngỡ lạc thiên thai thương Lưu Nguyễn 

ta về quán trọ chờ lai sinh 

nắng xuống chiều lên đêm tuyệt tận 

cuộn mình hư ảo thực hay mơ 

Trang Chu thuở ấy phân thân lạ 

đêm giữa đời thường mộng cố nhân 

ngày xưa tình đầu lưu luyến mãi 

tình cuối sao đành vội chóng quên 

lối xưa thu thảo hồn thơ dại* 

nghìn trùng khơi lạnh hồn ngu ngơ 

em gắp hồn tôi mùa lá rụng

ta về toan tính bước vô ưu 

thời gian không tím... màu xanh ngắt 

chiếc lá cuối cùng rơi nhẹ tênh 

buốt lạnh đông ngâu mùa trở giấc 

mặt hồ đời trở lại ngày xưa 

cá vàng một thuở hồn phiêu dạt

chim lộng trời xanh đã sang sông  

 

(2:29 khuya lạnh)  

Stanton Nov. 15th, 2024

*Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (trong bài thơ Thăng Long hoài cổ, Bà huyện Thanh Quan.) 

Lê Minh Hiền

 hienlehuong@gmail.com



READ MORE - QUA MÙA HƯ ẢO – Thơ Lê Minh Hiền