Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 27, 2023

RÚ CÁT HẢI LĂNG - Thơ Nguyễn Văn Trình

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

Rú cát Hải Lăng (*)

Nguyễn Văn Trình


Chiều về rú cát Hải Lăng

chập chùng đồi cát rú cây um tùm

cuối trời tít tắp chân mây

cát như bất tận, dịu dàng bước chân

bần thần rú cát ven đường

thoảng hương hoa dại trên đồi cát bay

dấu chân bước vội cuối ngày

gió về lấp cả núi đồi hoang vu

khúc ru miền cát một thời

nơi vùng ẩn nấp, cho người đấu tranh

để dành độc lập nên ngày hôm nay

cát bay dấu tích còn lưu

ưu tư đứng lặng, giữa cơn gió chiều…


Chiều về rú cát Hải Lăng

gió như thịnh nộ cát xây nên đồi

bồi hồi đứng ngắm xương rồng

trông hoa khoe sắc lung linh đất trời

điểm tô vùng cát, một thời cằn khô

nhấp nhô hạt cát nhỏ nhoi

nhưng mà cứng rắn, dễ đâu coi thường

chẳng vương bụi bẩn trắng tinh

chẳng bao giờ chịu lẫn mình vào ai…


Chiều về rú cát Hải Lăng

mịn màng đồi cát, dáng cây ngập ngừng

lưng chừng bóng ngã chân đồi

xa xôi thấp thoáng, một vùng cỏ may

hoa may níu bước chân trần

vấn vương chút cát, đi về nhớ thương

câu thơ viết vội, lời thề uyên ương

người đi lưu luyến xương rồng

dấu chân trên cát, mong đừng vội tan

lòng ai trang trải cát vàng

trái tim lỗi nhịp, bàng hoàng cát bay…


NVT

(*) Rú: Tiếng Hải Lăng Quảng Trị là rừng. Rú cát là rừng cây trên cát.


READ MORE - RÚ CÁT HẢI LĂNG - Thơ Nguyễn Văn Trình

Saturday, August 26, 2023

MẮT THIÊN DI – Thơ Tịnh Bình


  
                 Nhà thơ Tịnh Bình


MẮT THIÊN DI
 
Những buổi sáng tôi ngồi đợi
Quen thuộc hạt sương vương
Trên thảm cỏ cũ
Dấu tích một bước chân
 
Phía hoàng hôn chói đỏ
Tôi vẫn thường mường tượng
Những đôi cánh thiên di bay mê mải
Có thể nào chúng đang thực hiện cuộc di cư khỏi hệ mặt trời?
 
Trong âm vang sâu kín
Đám ngôn ngữ réo gọi nhau loạn xạ
Mở ra tầng tầng tiềm thức
Những liên kết không theo thứ lớp
Trò chơi của huyễn ảnh
Dựng lên vở kịch cuộc người
 
Đôi khi thèm một sự ra đi
Kết thúc một vở tuồng bỏ lửng
Ngày mai và ngày kia
Nhòa dấu vết những mặt người vô tích
 
Cần một điểm dừng ngưng cuộc tái sinh
Ta hèn nhát trước một thế giới đầy bất an nghi ngại
Những bình minh và hoàng hôn ở lại
Mắt thiên di rơi ngấn lệ buồn...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - MẮT THIÊN DI – Thơ Tịnh Bình

ĐẤT CÁT MIỀN TÂY, "CẠN TÀU RÁO MÁNG" – Thơ Lê Phước Sinh


   

        Lực lượng chức năng cùng người dân Cà Mau tham gia cứu hộ 
        đê biển Tây trong một lần có nguy cơ vỡ đê - Ảnh: T.HUYỀN


ĐẤT CÁT MIỀN TÂY, 
"CẠN TÀU RÁO MÁNG" ?!
 
Đào sâu Nạo đáy
đến mức cạn trơ
Sông, Kênh nham nhở,
chẳng phân bụi bờ.(*)
 
Một vùng Châu thổ
nước ngọt, phù sa
bây chừ con cá
vùng vẫy phá ra.
 
Vắt Đất thành Cát,
nát phá vùng quê
như con gái lở
thượng tới hạ nguồn.
 
Một bàn chân đẹp
lún dưới sình bùn,
làm sao kéo được,
Triêng Lúa chổng nghiêng.
 
Miền Tây miền Tây,
giọng hò vọng lại...
 
Lê Phước Sinh
 
***
(*) Đầu tháng 08, Thủ Tướng Phạm Minh Chính vừa đi cùng đoàn khảo sát Đồng bằng Miền Tây về vấn đề đất cát xói lở.

READ MORE - ĐẤT CÁT MIỀN TÂY, "CẠN TÀU RÁO MÁNG" – Thơ Lê Phước Sinh

Friday, August 25, 2023

PHỤC VIÊN (VỀ VƯỜN) – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” – Chu Vương Miện



Trong lán trại cuả Minh Giáo an toạ trong khu rừng phía sau của Thiếu Lâm Tự  giáo chủ Trương Vô Kỵ ngồi chủ trì đại cuộc, bên cạnh là Triệu Mẫn quận chúa có hai vị Tiêu Dao nhị tiên [tức hai vị sứ giả Dương Tiêu và Phạm Dao], Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu, cùng nhị sư bá Dư Liên Châu phái Võ Đang, cuộc họp nội bộ này dùng tiếng Mông Cổ là chính, để khỏi lọt bí mật ra ngoài tiếng Háng chỉ là phụ. Nói là cuộc họp, nhưng thực ra là một cuộc phân công phân nhiệm cắt đặt hậu sự của giáo chủ Minh Giáo mà thôi, và người [nhân tuyển] được chỉ định chức phận cũng chỉ chấp hành nghiêm chỉnh phục mệnh. Giáo chủ Trương Vô Kỵ phân bổ nói:
- Sự đời đến và đi là một con đường thẳng, cục phân bò hay Kim Mao Sư Vương Ta Tốn thì cũng không khác chi nhau! Bát cơm hay bát cứt giá trị tương đương, bát cơm dùng cho con người, bát cứt dùng cho con chó, đếu là chất bồ dưỡng tương đương, chẳng qua thời gian chuyển hoá trước và sau mà thôi, thì cái chuyện đến và đi nó cũng vậy. Cuộc đơì vốn bất thường vô thường, nay vầy mai khác. Vậy trong lúc còn bình thường thư giãn, bổn giáo chủ xin được phân công phân nhiệm những nhiệm vụ trong bổn giáo vào những ngày sắp tới, kính mong những vị đại hiệp cao cấp hộ giáo một lòng đáp ứng nhiệt tình ủng hộ cho. Nay đề cử tả sứ Dương Tiêu là giáo chủ Minh Giáo đời thứ ba mươi lăm, hưũ sứ Phạm Dao là phó giáo chủ, có nhiệm vụ phụ tá cho giáo chủ xử lý công việc hoàng dương bổn giáo. Các vị còn lại mỗi vị thăng lên một cấp. Riêng bổn tọa thì xin được cáo lão hồi hưu, nhiệm vụ đến đây cũng tạm như “đại công cáo thành”. Nhị sư bá Dư Liên Châu phái Võ Đang lên tiếng:
- Quý thay, sự đời muôn sự cuả chung, chả có cái gì trường cửu, mà chả có cái gì vĩnh viễn, và cũng chả có gì văn thành võ đức, trung hưng thánh giáo nhất thống cùng muôn năm trừng trị giang hồ, có đó mà không đó, ôm rơm lắm thì rát bụng, vác ngà voi thì nặng vai! Khi nào giữ được thì tạm giữ khi nào cần buông ra được thì buông ngay!
Hữu sứ Phạm Dao tiếp lời bằng tiếng Mông Cổ:
- Thuộc hạ có thời kỳ làm đệ nhất dũng sĩ xứ “Hoa Thích Tử Mô” là một phiên thuộc cuả Mông Cổ, phần dã sát biên giới nước La Sát, thì có một nhận xét chủ quan về sự cai trị cuả nhà đại Nguyên như sau “ Mông Cổ không có một chính sách cai trị hoàn thiện gì cả , chỉ có tính cách đi ăn cướp, nên sau bốn mươi năm làm chủ cả một dải đât rộng lớn từ Âu sang Á từ đời Mông Kha đã dần dần bị những thuộc quốc đồng hoá, phiá Đông Âu do Hãn Truật Xích cai quản đã từ từ biến chất cùng dân địa phương biến thành nước Hungary, phiá Bắc vùng Nga La Tư là đất phong cuả Hãn Cáp Nhĩ Đài thì bị đồng hoá thành bốn nước Uzberkistan, Turkistan, và Tazhikistan, cùng Hoa Thích Tử Mô. Phần còn lại là nhà Đại Tống thì do một phần Mông Cổ gọi là Nguyên cai trị, hầu như đa số người Mông Cổ đã bị Háng đồng hóa hết trọi. Hiện giờ trong tình cảnh này, không cần dân Háng vùng dậy đòi tự trị thì quân Mông Cổ từ từ cũng sẽ tan!”
Tả sứ Dương Tiêu kính cẩn tiếp lời:
- Theo ngu ý cuả tại hạ thì các quốc gia có khả năng đi xâm lăng [thực dân] những nước khác, hoặc chiếm đóng hoặc đô hộ, hoặc mang chiêu bài mị dân là đi cai trị khai hoá v..v.. thường họ có một quân đội hùng mạnh, một hạm đội hiện đại hơn, một nền văn minh và văn hoá cao hơn dân bị chiếm, chả hạn như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập... họ chiếm đóng mục đích là chiếm nguyên vật liệu [tức tài nguyên] như than đá, dầu hoả, quặng kim loại, uranium, họ cũng làm những con đường quốc lộ rộng rãi, những hải cảng sầm uất, những thành phố kinh tế phồn vinh, những cơ sở sản xuất khang trang, nhà thương trường học bưu điện, mặc dù chỉ là những phương tiện để di chuyển [mang nguyên liệu] ra đi, tuy nhiên dân bản xứ ngươì thì đi lính đánh thuê, người làm phu làm phen làm thợ, ngươì làm công nhân, đàn bà con gái thì lấy họ, không thì cũng làm chị em ta... nói chung thì hai bên cũng đều lưỡng lơị, hai bên đều có lơị, nhất là họ có một nền văn hoá cao, truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ, mặc dù họ đến để xâm lăng bóc lột nhưng bản chất họ là ngươì có văn hoá , nên dù dã man, khốn nạn đến đâu đi nưã cũng chỉ có chừng có mực có giớí hạn. Ngược lại dân Mông Cổ là dân du mục không có văn hoá, không có chữ viết, đi đến đâu là tàn hại tới đó. Sự xâm lăng cuả Mông Cổ với các nước láng giềng là một sự đại tai họa cho nhân loại con người. Không biết đối với đại Ngalatư, Đông Bắc Âu ra sao thì không được rõ, chứ riêng với Trung Thổ thì đúng là tầng chót điạ ngục trần gian, có một mà không bao giờ có hai. Dân số từ đầu nhà Tống dân hai miền Nam Bắc tính chung là 100 triệu dân, qua 300 năm đô hộ của Đại Liêu, Đại Kim, dân số chỉ có chết mà chỉ giữ ở khoảng khiêm nhượng này. Đến 90 năm đô hộ của Mông Cổ, thì tàn sát giết chết hơn nửa, bây giờ dân Háng chỉ còn có 46 triệu dân mà thôi ! Quân lính Mông Cổ tuỳ tiện muốn giết dân Háng lúc nào cũng được, kể như cơm bữa, nếu là họ Triệu, họ Trương, họ Lý... thì muốn giết cứ giết không cần tra vấn tội vạ gì cả, nhà quan binh rất rộng rãi, tuy nhiên muốn chiếm nhà đất của dân Háng thì cũng rất là giản đơn giản kép, bằng cách chỉ cần bắn một mũi tên lửa sang nhà láng giềng, nhà láng giềng bốc cháy, bà con dân chúng phải hiểu là di tản chiến thuật ngay tức thời thì sống, nấn ná ở lại bám trụ là kể như toi đời, chiếm cứ nhà dân, gỡ gỗ ra làm củi chụm thui dê thui cưù, các cây nhãn, cây lê, cây bưởi, cây hồng có tuổi sống hàng 10 năm trở lên, không biết hái trái để ăn, chờ sang năm thu hoạch mùa khác, người Mông Cổ cho cưa hẳn các loại cây ăn trái tận gốc kéo thân cây vào để trong nhà, ăn dần ăn hết thì mang thân cây ra sân cưa bổ thành củi nhóm lửa nấu cơm. 90 năm cai trị Trung Nguyên không mở mang khuyếch trương gì cả, đường xá chỉ là những lối mòn xưa cũ dùng cho lừa ngựa và xe ngưạ chạy, lòng cũng không tham, cũng chả biết giá trị cuả vàng bạc đá quí, cũng không tham vải vóc gấm lụạ, cũng không tham gái có nghiã là hoàn toàn không tham nhũng, đời sống thường nhật cứ quàng đại một tấm da dê da cừu lên thân người là kể như xong. Tuy nhiên nghe nói thời nhà Tây Hán có cho ngườì sang Đại Việt cai trị, nơi này chuyên sản xuất Sừng Tê [Giác], Ngà Voi, thu gom đặc sản này về kinh đô nhiều lắm. Thời đó không biết dùng Sừng Tê Ngà Voi để tế ông tế cha gì không rõ, còn thời Hốt Tất Liệt cho quân xâm lăng Đại Việt, mục đích phụ là càn quét lấy cho bằng hết Sừng Tê Ngà Voi về Đại Đô, để cúng hương hồn Thành Cát Tư Hãn, sau nữa chia cho các Bạt Đô [Dũng Sĩ] gắn Sừng Tê vào mũ đội trên đầu để thỉnh thoảng vào ngày lễ đấu bò thì đội vào để mà húc nhau ? Còn Ngà Voi thì để dành ai ở không thì vác tới vác lui cho nó vui ?
*    
Để tiếp lời tân giáo chủ Minh Giáo Dương Tiêu đời thứ ba mươi lăm, Du Liên Châu nhị hiệp phái Võ Đang khẩn trương nói:
- Để tỏ ra quân Mông Cổ là thứ quân thiện chiến, có một không hai đánh đâu thắng đó, Hốt Tất Liệt lấy oai với người Mông Cổ, với ngươì Háng cũng có, ra lệnh một lúc cho mấy đạo quân tinh nhuệ, đạo thì xâm lăng Đài Loan, đạo thì uýnh Nhật bản, đạo thì đánh Cao Ly [Triều Tiên], đạo thì qua dậy cho An Nam một hai bài học, đạo thì đánh Chiêm Thành, cũng may là đạo quân nào cũng thua cả! Có một vấn đề thắc mắc nêu ra ở đây, các nước nhỏ này, đều đánh bại toàn quân Thát Đát Hồ Lỗ mà sao quan binh Trung Nguyên cuả người Háng Tộc lại thua dài dài ? Đó chẳng qua chỉ là chiến thuật chiến lược “biển người” thực hành câu chân ngôn “quân tử mười năm trả thù chưa muộn” ? Phải biết trường kỳ mai phục nhắm chờ thời cơ chín muồi để đồng hoá thằng du mục Di Địch Mông Cổ, Mông Đít phương bắc này từ A tới Z, có nghĩa là dứt đẹp con “Vịt Đẹt” từ bây giờ trở đi, bố bảo cho ăn kẹo cũng không dám xâm lăng Trung Quốc nữa.
 
chuvươngmiện

READ MORE - PHỤC VIÊN (VỀ VƯỜN) – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” – Chu Vương Miện

Thursday, August 24, 2023

MẤT – Thơ Trần Mai Ngân




 
MẤT
 
Tạ ơn đời khốn khó
Đưa ta lại gần nhau
Tạ ơn đời chiêm bao
Một cuộc tình xanh xao
 
Tháng Tám có qua mau
Rủ đi mùa đã cũ
Dắt tay nhau đọa đày
Qua vũng lầy cơn say
 
Tạ ơn đời chẳng hay
Người rời như giấc mộng
Tôi học bài sắc không
Nhưng đau nhói trong lòng...
 
Không quen được mất người
Tôi học cười, học khóc
Tạ ơn đời mưa móc
Ta chẳng còn của nhau!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - MẤT – Thơ Trần Mai Ngân

Tuesday, August 22, 2023

ĐỌC LẠI Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC CỦA PHẠM CÔNG THIỆN (4) - Nguyên Lạc


Phạm Công Thiện

Những điều Phạm Công Thiện đã viết:

– Mặc dù trần gian này đầy đau khổ, nhưng trần gian này vẫn luôn luôn là một trần gian tươi đẹp. Nếu sự đau khổ không còn ở trần gian này thì trần gian không còn tươi đẹp nữa. Thế giới này phải được thoát thai trong sự đau khổ để làm trần gian này trở thành một toàn thể (une totalité). Trần gian này, cuộc đời này, sự sống này là một cái gì trọn vẹn mà chúng ta không bao giờ nhìn thấy đủ hết tầm vóc. Bất cứ một hệ thống triết lý nào, bất cứ một ý thức hệ nào, bất cứ một chính trị nào cũng thất bại…
– Con người ấy phải là một đám mây trắng lênh đênh trên trời, bềnh bồng trong sự sống không vô hạn, bay trên những ti tiện và cao siêu của nhân thế. Bay trên tất cả những chiều hướng xung khắc đối chọi nhau của cuộc đời. Đám mây trắng phiêu bạt ấy không thuộc về một bầu trời nào, không thuộc về một lũng đồi nào, không thuộc một giải đất nào, không thuộc về một đại dương nào; đám mây trắng ấy không thuộc về riêng một cái gì và đám mây trắng ấy thuộc về tất cả. Con người hãy ngước nhìn mây trắng, con người không cần phải thuộc về đâu cả, không cần phải thuộc một nhóm nào, một đảng phái nào, một tôn giáo nào hoặc một chủ nghĩa nào…
(Ý thức mới trong văn nghệ và triết học – Ý thức sinh tồn – Phạm Công Thiện)
 
Thời gian
 
Hôm qua vẫn trở lại
Dĩ vãng là hôm nay
Ngày mai là hiện tại
Hiện tại chết mỗi giây
 
Mỗi giây mất một đời
Cái gì vừa vụt tới
Liệng bay đi tức thời
Em đâu rồi em ơi
(Trên tất cả đỉnh cao là lặng im -Phạm Công Thiện)
 
ĐỌC LẠI PHẠM CÔNG THIỆN
 
Nửa thế kỷ, thử đọc lại Phạm Công Thiện xem sao? Có “hực lửa” như thời “xuân mộng” không? Hay chỉ lạnh lùng “tro bụi” của hờ hững thời gian.
Sau đây là những ghi chép các trích đoạn “đáng chú ý” từ sách Ý Thức Mới Về Văn Nghệ Và Triết Học.
 
Chương: Ý thức bất diệt – Biểu tượng cuộc đời trong tiểu thuyết Ivo Andric

(Hình sách Chiếc cầu trên sông Drina)

[Trích đoạn]
1.
Năm 1961, nhà văn Nam Tư Ivo Andric được giải thưởng Nobel về quyển Cầu trên sông Drina. Ông gọi tiểu thuyết của ông là “Chronique” (biên niên sử), bởi vì Cầu trên sông Drina bao gồm trên ba trăm năm lịch sử Nam Tư.
Tôi không nghĩ rằng tôi đang đọc lịch sử. Tôi lại có cảm tưởng man mác rằng mình là một hồn ma; vì quá lưu luyến với cõi trần, nên trên ba trăm năm vẫn hiện về lảng vảng trên cầu Drina để theo dõi những đau thương của cuộc đời.
Thế hệ này rồi đến thế hệ khác, lớp lớp người, lớp lớp sóng, bao nhiêu sương gió, mưa to bão loạn, khói lửa ngút trời: dòng sông Drina cuồng loạn, dòng sông Drina thanh bình. Cát bụi. Hương thời gian thổi qua heo hắt. Cầu Drina vẫn lạnh lùng bắc ngang dòng đời vô tận.
Thành phố Visegrad ở ngay bên cầu Drina. Từ mấy thế kỷ, cuộc đời lặng lẽ của dân cư thành phố đã bắt rễ ngay giữa cầu. Vận mạng dân cư thành phố và vận mạng chiếc cầu dính liền chặt chẽ với nhau đến nỗi người ta không thể nào nghĩ rời ra được [1]. Phần quan trọng nhất trên cầu Drina là kapia, sân thượng ở giữa cầu. Tất cả những biến cố lớn nhỏ đều xảy ra tại kapia. Nơi đây, những đêm trăng thanh gió mát, ta thấy bao nhiêu người lô nhô, lố nhố, trò chuyện, nô đùa sung sướng; hết thế hệ này rồi tới thế hệ khác, bao nhiêu lớp người kế tiếp nhau đều lần lượt trải qua chặng đời của họ nơi giữa cầu. Cũng có lúc cầu Drina hoàn toàn vắng lạnh hoang vu; thỉnh thoảng một vài cơn gió vèo qua trên mặt đất khô khan và ánh trăng ma quái chiếu rọi vào những đầu người ứ máu treo lắc lư giữa sân cầu. Đó là những thời tao loạn biến động ở biên thùy. Một vài người lính đi qua lại trên cầu; không khí nặng nề vây trùm cả thành phố. Rồi mọi sự đen tối cũng đều qua hết.
Cầu Drina lại sống bình thản như xưa; cũng từng ấy người nhỏ lớn, từng ấy câu chuyện vui buồn, từng ấy bi kịch và hài kịch của đời tiếp diễn không ngừng từ mấy trăm năm. Cuộc đời dân cư thành phố đã trôi chảy phát triển trên cầu và tại kapia. Người ta luôn luôn nghe những tiếng “trên cầu” trong tất cả những câu chuyện về biến cố gia đình, công cộng hay riêng tư. Những bước chân chập chững đầu tiên của tuổi thơ và những trò chơi ban đầu của tuổi trẻ đều xảy ra trên cầu Drina (trang 15). Tất cả mọi sự, như đám ma, đám cưới, tình yêu, sự thương lượng, buôn bán, giải hoà, gây cãi, tranh luận, họp mặt, hẹn hò và chờ đợi đều xảy ra nơi sân thượng giữa cầu.
Dân cư ở Visegrad mang nặng dòng máu nghệ sĩ, họ là những người thích trầm tư mặc tưởng, mơ mộng xa vời, phóng túng chơi vơi, triền miên, thanh thản với đời sống bên trong, tận hưởng thú đời, dễ dãi và xem thường tiền bạc. Người ta kể chuyện một tên cướp nọ, trước khi bỏ nghề vì quá già yếu, đã dặn một môn đệ như vầy: “Lúc nào anh định ẩn núp để đánh cướp và anh thấy thằng nào khùng khùng đi ngựa, chân thòng vắt ngang đằng trước yên, tay đánh trống, miệng hát ầm lên, anh đừng đánh cướp nó, mất công vô ích. Hãy để cho nó đi. Nó là dân ở thành Visegrad. Nó chẳng có tiền bạc gì cả, bởi vì tiền bạc chẳng bao giờ bám hạng người ấy” (trang 21).
Dân Visegrad thích ngồi giữa cầu vào lúc bình minh, hoàng hôn hoặc chiều tối để ngắm muôn triệu ngàn sao trên vòm trời hay ngồi dựa tay vào thành cầu, ngắm nhìn những luồng ánh sáng lung linh trên những triền núi và trông những đám mây chơi vơi. Họ là những thi sĩ không làm thơ, những con người nghệ sĩ sống mông lung trong mộng tưởng triền miên. Người ta nói rằng chính sân thượng kapia ấy đã ảnh hưởng đến vận mạng thành phố và đến cả tính tình bâng quơ của dân cư thành phố.
Lịch sử của cầu Drina cũng là lịch sử đời sống thành phố và đời sống dân cư ở đó.
Mehmed Pasna, đại nhân của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, đã có công xây cất cầu Drina. Ngày trước, những vùng lệ thuộc đế quốc Thổ đều phải chịu lệ hiến máu. Quân lính Thổ đi lùng kiếm khắp nơi để bắt những trẻ con đẹp trai khoẻ mạnh – từ mười tuổi đến mười lăm tuổi. Những đứa trẻ này được nuôi nấng đàng hoàng ở Thổ Nhĩ Kỳ để trở thành dân Thổ và sống phụng sự đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Một buổi sáng lờ mờ vào năm 1516, một đứa trẻ thông minh khoảng mười tuổi bị quân lính Thổ bắt đem về Stamboul, lúc đến dòng Drina, đứa bé ấy bỗng nhiên rưng rưng cảm thấy nhói đau trong lòng, nơi đây đã cô đọng tất cả nỗi tuyệt vọng và bất lực khôn cùng của con người, từ đây, đứa bé ấy phải lìa bỏ quê hương vĩnh viễn, theo một lối sống mới, mang tên mới và quên luôn gốc rễ của mình.
Về sau, đứa bé ấy trở thành một vị anh hùng tài ba thống đốc và thượng thư trứ danh, tên là Mehmed Pasha Sokolli, người đã mở mang bờ cõi Thổ Nhĩ Kỳ và tạo nhiều huân công oanh liệt; Mehmed Pasha đã quên nguồn gốc ông, nhưng một hôm, bỗng nhiên những vết tích chua xót của tuổi thơ trở về ám ảnh ông một cách đau đớn mãnh liệt và ông cho xây chiếc cầu to lớn ngang qua dòng sông Drina để nối liền miền Bosnie và phương Đông, nối liền nơi ông chào đời và nơi ông thành người.
Sau bao lần trở ngại khó khăn, cầu Drina được cất xong vào năm 1571 và ít lâu sau, Mehmed Pasha chết; nhưng từ đó cầu Drina vẫn sống vĩnh cửu với thời gian, Qua những biến thiên phát triển nhanh chóng của thế hệ loài người, cầu Drina vẫn không ngừng thay đổi như dòng nước chảy dưới cầu (trang 71).
Trên ba trăm năm trời, bao nhiêu thiên tai, bao nhiêu hiểm hoạ xảy ra… Bao lần chiến tranh, tàn sát, biến động, nổi loạn, dịch, lụt… chẳng hạn trận đại thủy tai vào hạ bán thế kỷ mười chín (chương V), trận nổi loạn ở Serbie vào đầu thế kỷ mười chín (chương VI), bệnh dịch vào giữa thế kỷ mười chín (chương VII), cuộc nổi dậy ở Serbie vào cuối thế kỷ mười chín (chương IX), quân đội Áo chiếm Bosnie vào năm 1878 (chương IX, X, XI, XIII, XIV, XVI, XVII, và XVIII), những chiến thắng của dân Serbes (chương XVIII), đại công Franz Ferdinand bị ám sát (chương XXII)…
Tất cả những biến cố trên đã lay chuyển tơi bời đời sống thành phố; vai trò cầu Drina nhiều lúc phải thay đổi hoàn toàn; sinh hoạt trên cầu cũng thế và cầu cũng bị chiến tranh tàn phá nhiều; thế mà sau bao lần dâu biển, cầu Drina vẫn không thay đổi qua những năm, qua những thế kỷ hoặc qua những khúc quanh đau đớn nhất trong những biến cố loài người… (trang 101).
 
2.
Bên dòng sông Drina và nhất là nơi sân thượng giữa cầu, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, từng lớp người lặng lẽ đi vào cuộc đời rồi lại chết đi, để từng lớp người khác tiếp tục bước tới và chẳng bao lâu lại biến mất đi, để từng lớp người khác nữa… Cứ thế, cuộc đời vẫn miên man trôi chảy không ngừng như dòng suối ngầu bọt giữa ven rừng: suối vẫn chảy, luôn luôn mới nhưng luôn luôn vẫn là một dòng suối cũ. Những người ấy xuất hiện trên cõi đời như những bóng nắng mùa thu. Họ sống một thời gian ở cõi trần, mang nhiều hy sinh tha thiết với đời, chịu đựng nhiều đau khổ, rồi chết đi nhẹ nhàng như làn khói mỏng bâng quơ… Họ chết nhưng họ bất diệt.
Họ là Ilinka (người thiếu phụ điên và đau khổ), Radisav (vị anh hùng lẫm liệt bỏ mình vì lý tưởng), Arif Beg (người quản đốc việc xây cất cầu). Dauthodja Mutavelic (người quản thủ nhà trọ bên cầu), Jelisije (cụ già ái quốc), Mile (người nhà quê ngây ngô), Salko Corkan (con người cầu bơ cầu bất, lãng tử), Fata (giai nhân mệnh bạc), Alihodja Mutevelic (con nhà danh gia vọng tộc), Pop Nicola (giáo trưởng), Mula Ibrahim (quí tộc), Shemsibeg Brankovic (con người cứng đầu bướng bỉnh), Milan Glasicanin (người đánh bạc), Gregor Fedun (anh lính trẻ tuổi si tình), Lotte (cô quản lý lữ quán), Nikola Glasicanin (chàng thanh niên ái quốc nghèo khổ), Vlado Maric (người thợ trẻ nghèo), Fehim Bahtijarevic (người sinh viên trầm lặng), Pavle Ranpovic (bác thương gia lạc lõng), Corka (cô giáo non trẻ) và Jamak (lão đưa đò quái dị).
Họ sống không lâu ở cõi đời nhưng họ đã để lại trong tâm tưởng tôi những hình ảnh rực ngời nhất của con người, nhất là Ilinka và Jamak, hai kiếp sống tầm thường nhất trong những kiếp sống trên, thế mà không hiểu vì sao tôi cứ bị hai hình bóng tầm thường ấy ám ảnh theo đuổi tôi một cách lạ lùng nhất; tôi thấy rõ nét mặt kỳ dị của Jamak và nghe tiếng than khóc ảo não của Ilinka trong tiềm thức, nhất là vào những đêm tối có trăng. Phải chăng Jamak và Ilinka là những hình ảnh trung thực nhất của con người. Con người sinh để khổ rồi chết. Phải chăng chính sự đau khổ đó làm con người trở nên một con vật cao quý nhất, tốt đẹp nhất? Con người bất diệt bởi vì con người đau khổ. Những lời nói của Faulkner (trong lúc nhận giải thưởng Nobel vào khoảng mười năm trước Ivo Andric) mà đến hôm nay vẫn còn văng vẳng bên tai tôi: “Con người bất diệt bởi vì con người có một linh hồn, một tâm hồn dễ trắc ẩn động lòng, biết hy sinh và chịu đựng đau khổ” [2].
Trên đường đời luân lạc, tôi đã từng gặp biết bao nhiêu cụ già lái đò, tóc bạc trắng phơ, cô đơn chiếc bóng, không gia đình, không con không cái, ngày ngày hiu quạnh đưa khách sang sông. Tôi đã nghĩ gì? Trên những vỉa hè đầu phố, tôi đã từng gặp biết bao nhiêu người đàn bà điên khùng ngơ ngác, bơ vơ, lạc lõng lang thang giữa người đời như con chó ghẻ? Tôi đã nghĩ gì?
Jamak sống vào thời cầu Drina chưa được xây cất. Thuở ấy, chỉ có Jamak chèo đò đưa khách sang sông. Jamak là một cụ già lầm lì trông rất dễ sợ. Chiến tranh đã tàn phá tâm hồn cụ và cụ trở nên bơ phờ lạnh lùng trước cuộc sống. Con người lầm lì ấy đã tung hoành ngang dọc trong mấy trận địa, mang nhiều thương tích và nhiều tiếng tăm, để rồi vào buổi hoàng hôn của đời mình trở về lặng lẽ âm thầm trên dòng Drina. Cụ không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói chuyện với khách sang sông; mỗi lần trả tiền đò người ta cứ ném tiền xuống khoang thuyền và cụ vẫn lạnh lùng chẳng bao giờ quan tâm đến. Nét mặt trông hung dữ, nhưng tính tình cương trực ngay thẳng. Những lúc mực nước sông lên cao hay trời kéo mây, cụ kéo đò vào nghỉ và lúc bấy giờ, dòng sông Drina trở thành đại dương bao la vì không ai có thể qua sông được nữa; có kêu gọi cách gì đi nữa; Jamak cũng không bao giờ trả lời. Tiếng người gọi đò ơi ới chan hoà với tiếng mưa rơi phũ phàng, rồi biến mất giữa dòng sông. Cuộc sống lặng lẽ của cụ lái đò cô đơn và kỳ quặc ấy khiến ta bàng hoàng nghĩ ngợi. Những gì đau thương chua xót của đời đã hằn vết ray rứt trong lòng cụ để rồi lúc tóc bạc trắng phơ cụ trở về sống âm thầm bên dòng Drina:
 
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân [*]
 
Hình ảnh Jamak nhắc lại hình ảnh của một người lái đò khác tên là Vasudeva, trong truyện Siddharta của Hermann Hesse (Nobel 1946).
Jamak và Vasudeva là hai người lái đò lạ thường kỳ bí nhứt trong văn chương nhân loại, mà có lẽ suốt đời tôi không bao giờ quên được.
Trong truyện Cầu trên sông Drina, ngoài Jamak, ta cũng không thể quên Ilinka xuất hiện vào lúc cầu Drina bắt đầu được xây cất. Nàng là một người đầy tớ nghèo khổ, khùng khùng điên điên, thế rồi bỗng nhiên nàng có thai và nàng cũng không hề nói đến tên người đã gây đau khổ cho nàng (hay là nàng cũng không biết ai). Nàng sinh đôi trong một chuồng ngựa nào đó; hai đứa hài nhi đều chết; người ta chôn hai đứa con nàng trong một vườn mận. Vài ngày sau, Ilinka ngồi dậy và đi tìm kiếm hai đứa con nàng; nàng bơ phờ đi tìm khắp nơi trong làng hoặc lai vãng bên bờ sông. Người ta cố giải thích rằng con nàng đã chết, nhưng Ilinka nhứt định không tin. Từ đó, ngày nào người ta cũng gặp nàng đi thất tha thất thểu khắp nơi. Một thời gian sau, vào mùa đông lạnh buốt, nàng biệt tăm mất dạng luôn. Người thiếu phụ điên khùng đau khổ ấy là hình ảnh trọn vẹn đẹp đẽ nhất của người đàn bà.
Ngoài Jamak và Ilinka, đáng nhớ nhất là Fata, Gregor Fedun, Radisav, Jelisije, Dauthodja Mutavelic, Alihodja Mutavelic, Nikola Glasicanin, Salko Clirkan, Lotte…
Họ đều là những tâm hồn cao quí, sống trung thành với quả tim của họ, họ thà chết chứ không bao giờ tự đánh lừa hay là để kẻ khác đánh lừa mình, chẳng hạn Gregor Fedun, một anh lính trẻ tuổi gác trên kapia của cầu Drina, đã tha thiết yêu đắm một cô gái đi đường; đang lúc chàng ngây thơ dâng trọn tâm hồn mình, chàng có ngờ đâu chàng đã bị cô gái kia đánh lừa để âm mưu tìm đường tẩu thoát cho một tên cướp ghê gớm; chàng đã lỡ yêu say đắm, đến khi mọi sự đổ vỡ, chàng không thể nào sống được vì chàng đã lỡ yêu say đắm, đến khi mọi sự đổ vỡ, chàng không thể nào sống được, vì chàng đã để kẻ khác đánh lừa chàng một cách thảm thương và chàng đã tự kết thúc đời chàng. Đó là sự kết liễu của một kẻ đã tự đánh lừa và để kẻ khác đánh lừa mình (trang 167).
Hình ảnh Fata cũng đẹp đẽ vô cùng. Cha nàng bắt nàng lấy một người chồng mà nàng không yêu. Nàng vâng lời cha để giữ trọn đạo con, nhưng đồng thời nàng cũng vâng lời quả tim nàng để giữ trọn đạo sống khi đám rước dâu đi đến giữa sân cầu, Fata đã nhảy xuống dòng sông Drina để tìm nơi chốn nào mà tất cả mọi sự đều tự do, vô tận, vô danh và im lặng (trang 109).
Chúng ta không thể nào quên được Radisav, vị anh hùng bất khuất, người đã hy sinh hơi thở của mình để tranh đấu chống lại tàn bạo. Radisav đã bị hành hình ngay trên cầu; chàng chết, nhưng bất diệt như một tượng đá ngàn năm vẫn còn đó (trang 55).
Radisav, Fanta, Gregor Rebun đều ở trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả ba giống nhau là đều tìm sự sống trong cõi chết; khi cuộc đời không còn đáp trả lại những tiếng gọi đau thương của lòng họ; họ đã bỏ đi để tìm miền hoa thơm cỏ biếc của một chân trời khác.
Jelisije thoáng hiện trên cầu Drina như một du khách ở trần gian, một bóng phù du trong một thế giới phù du (trang 85) Jelisije là một cụ già có hình dáng của một tiên ông, suốt ngày bềnh bồng lang thang trên những nẻo đường, hết đi hành hương nơi này rồi đến nơi nọ, cuộc đời cụ như một bóng mây phiêu diêu. Vì lòng khí khái và ái quốc, cụ đã bị hành hình trên cầu cùng với người nhà quê ngây thơ vô tội, tên là Mile.
Dauthodja Mutavelic, Alihodja Mutavelic, Nikola Glasicanin, Lotte, Salko Corkan đều là những con người biết sống trọn vẹn với đời họ, cứng đầu cứng cổ, trầm lặng, chịu đựng đau khổ, đầy lòng hy sinh nhân ái, tha thiết vời người, thành thật với lòng họ.
Dauthodja Mutavelic đã nói lên ý nghĩa chung của họ: “Vận mạng chúng tôi trên mặt đất này là đấu tranh chống lại sự suy đồi, sự chết và sự phân tán; dù sự chiến đấu có hoàn toàn hoài công đi nữa, con người cũng phải chịu đựng kiên nhẫn trong sự chiến đấu này” (trang 73).
 
3.
Ivo Andric đã dựng lại hình ảnh của cầu Drina trên ba trăm trang giấy. Ông muốn nói gì? Phải chăng cầu Drina là biểu tượng của cuộc đời? Trải qua bao nhiêu tang thương biến đổi, trải qua bao nhiêu bi hài kịch của con người, dòng đời cứ trôi chảy mênh mang và bất diệt.
Phải chăng ý nghĩa của tác phẩm Cầu trên sông Drina nằm gọn trong câu văn sau đây: “Cuộc đời là một sự huyền diệu khó hiểu, mặc dù bị phá huỷ tàn hại không ngừng, cuộc đời vẫn trường tồn như chiếc Cầu trên sông Drina” (trang 81).
 
Quyển truyện chấm dứt lúc Alihodja từ giã cuộc đời và lúc cầu Drina bị chiến tranh phá huỷ, thế mà người đọc không cảm thấy thất vọng và lại mang đầy hy vọng triền miên như Alihodja (lúc thở hơi cuối cùng, Alihodja vẫn còn tin tưởng mãnh liệt vào cuộc đời).
 
[Hết trích]

                                                     Nguyên Lạc
................................................
 
Chú thích:
[*] Sầu kiến chu hành phong hựu khởi,
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân.
(Lâm giang tống Hạ Chiêm – Bạch Cư Dị)
 
Dịch nghĩa
 
Buồn trông lúc thuyền đi, gió lại nổi lên,
Ông lão bạc đầu ở giữa lớp sóng bạc đầu.
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­
Phụ đính:
 
Tôi biết đến tác giả Hermann Hesse – Nobel 1946 – với sách “Siddharta” (Câu chuyện dòng sông), và Ivo Andritch – Nobel 1961 – với sách “The Bridge on The Drina” (Chiếc cầu trên sông Drina), và rồi tìm đọc chúng thông qua “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” lúc 18 tuổi, trước 1975, khi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa đại học. Xin trích đoạn ra đây bài viết rất… buồn, của Vũ Thế Thành có liên quan đến quyển sách “Chiếc cầu trên sông Drina” :
 
[ Trích đoạn]
Những năm cuối thập niên 70, đầu 80 chẳng ai sống bằng lương nhà nước nổi. Lương kỹ sư khoảng 73 đồng. Nhu yếu phẩm gạo (13kg), đường (0,5kg), thịt mỡ (0,6kg)… được mua theo giá chính thức. Cũng phải kể, đàn ông được mua thêm 3 gói thuốc đen, phụ nữ vài thước vải mùng. Mấy thứ này ngốn hơn nửa tiền lương rồi. Còn giá thị trường đại khái thế này: 3 đồng/tô phở bình dân, 3 đồng/xị rượu hạng bét, 0,5 đồng/ly cà phê bắp… Mức sống tiêu chuẩn cán bộ (kỹ thuật) là thế. Còn dân thường hầu như phải vật lộn theo giá thị trường. Sổ gạo khi có khi không, chen lấn, khoai mì, bo bo, hàng độn đủ thứ… Vậy mà thiên hạ vẫn sống, vẫn loay hoay kiếm cái gì đó để ăn, để tồn tại. Sức đề kháng của con người để sinh tồn trong nhiều trường hợp thật không tưởng tượng nổi. Sau này tôi mới hiểu vì sao mấy ông tù cải tạo, phải chờ thả về nhà mới chịu… đổ bệnh.
La cà trong giới xích lô tôi mới biết ra rằng, không ít người là trí thức (cũ) đã chọn con đường mưu sinh này. Khá bộn cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” cũng tham gia vào nghề này. Họ khó có chọn lựa nào khác. Ai cũng tìm cách che giấu thân phận, nhưng “phát hiện” ra nhau không phải là điều khó. Lúc ế độ, không có khách, tấp vào bóng mát nào đó, nằm khểnh trên xe đọc sách. Tri thức vẫn là một nhu cầu, ngoài chuyện ăn uống.

Một buổi sáng chủ nhật, tôi chở bà khách từ chợ An Đông. Bà bao xe nguyên ngày, đi nhiều nơi trong Sài Gòn, mỗi nơi bà đi vào khoảng nửa tiếng, rồi trở ra đi tiếp. Đi kiểu này thì khỏe, tôi khỏi tốn công cảo xe lòng vòng kiếm khách. Tới nơi, khách đi công chuyện của khách, tôi ngả người lên xe nằm chờ, và lấy sách ra đọc. Chặng cuối cùng, bà yêu cầu đi ra Bến xe Miền Tây để đón xe đò về Rạch Giá. Có vẻ như đã xong công việc, bà khách ngồi trên xe vui vẻ bắt chuyện:
– Anh đạp xích lô lâu chưa?
– Chừng vài tháng.
– Tôi thấy anh đâu có dáng đạp xích lô, mặt mũi như thế phải là người có ăn học.
– Tôi đang kiếm sống bằng nghề đạp xích lô mà.
– Ban nãy tôi thoáng thấy anh đọc truyện tiếng Anh, quyển gì, à… 16 skeletons from my closet
Bà khách này đáo để quá… Tôi im lặng hồi lâu.
– Sao anh không đi?
– Đi đâu? -Tôi vờ ngớ ngẩn
– Ở đây khó sống. Bên kia còn thấy tương lai…
Tới bến xe, bà trả tôi gấp đôi số tiền thỏa thuận. Anh không muốn đi thật sao? Tôi lờ mờ hiểu ra công việc của bà sáng nay. Tôi có hoàn cảnh riêng. Chúc chị đi bằng an.
Đi vài bước, bà khách chợt quay lại, rút ra trong túi xách quyển sách: Anh cầm cuốn này mà đọc. Tôi chưa kịp cám ơn bà đã quầy quả đi ngay vào bến. Đó là tiểu thuyết Nhịp cầu trên sông Drina của Ivo Andritch.

Quyển tiểu thuyết để lại, chiếc cầu trên sông Drina được xây từ thế kỷ XVI, nối liền Bosnie và Serbie, khi đó Nam Tư còn là thuộc địa của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Viên tể tướng của đế quốc lại mang dòng máu Nam Tư, đã cho xây chiếc cầu bắc ngang dòng sông ngăn cách đó. Máu và nước mắt, thù hận và nhẫn tâm. Biết bao biến cố xảy ra chung quanh cây cầu trải dài suốt bốn trăm năm, từ chiến tranh, bệnh dịch cho đến cái chết của một thiếu nữ lao mình xuống sông Drina vào ngày hôn lễ, hay tâm tư của cô chủ quán già Lotika ê chề vì tình đời bạc bẽo. Rồi chiếc cầu cũng đến ngày kết thúc số phận của nó khi Thế chiến thứ Nhất bùng nổ. Số phận của chiếc cầu và thân phận của con người. Bốn trăm năm có là giấc mộng?

Tôi nhìn ra sân vườn, mưa vẫn rơi rả rích. Mưa rơi trên khóm trúc sát bên cửa sổ, rơi từng giọt một, chẳng vội vàng gì. Vậy là 38 năm đã trôi qua, rồi câu chuyện bốn trăm năm chiếc cầu trên sông Drina, và còn biết bao chuyện của một thời chưa nói hết. Buồn!
Vũ Thế Thành, Đà Lạt 28-04-2013
 
[Hết trích]
 
Nguồn: Chuyện của một thời (https://vuthethanh.com/2017/08/19/chuyen-cua-mot-thoi/)

– Mời đọc
Chiếc cầu trên sông Drina – Ivo Andritch
https://acrobat.adobe.com/id/urn:aaid:sc:VA6C2:4f75de59-ea2f-4c72-b587-33e190325c23

READ MORE - ĐỌC LẠI Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC CỦA PHẠM CÔNG THIỆN (4) - Nguyên Lạc

Monday, August 21, 2023

Chùm ảnh HOA BẤT TỬ - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào hình để phóng to.








READ MORE - Chùm ảnh HOA BẤT TỬ - Chu Vương Miện

CHIỀU TRÊN SÔNG QUÊ - Thơ Nguyễn Văn Trinh

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

 

Chiều trên sông quê (*)

Nguyễn Văn Trình


Vãn chiều ghé bến sông quê

ngắm con đò nhỏ xuôi về cuối sông

mênh mông năm tháng ngái trông

nô đùa lũ trẻ dưới sông trưa hè


Vẳng nghe sông hát lời quê

về đây tìm lại đam mê một thời

cánh diều đón gió lả lơi

cùng con chuồn ớt, nhớ thời tuổi thơ


Bãi dâu, nương đậu, tơ tằm

dệt nên nỗi nhớ đằm sâu cõi lòng

nắng vàng tỏa rạng mặt sông

tiếng ai đồng vọng nỗi niềm xa xăm


Ra sông lại nhớ đến đò

nhớ cô thôn nữ điệu hò trên sông

nghiêng nghiêng vành nón đợi trông

giấu trong thổn thức, nỗi lòng người thương …


NVT

(*) Sông quê: Con sông Hiếu chảy phía sau làng.



READ MORE - CHIỀU TRÊN SÔNG QUÊ - Thơ Nguyễn Văn Trinh

Sunday, August 20, 2023

SÓNG ƠI - Thơ Đàm Ngọc Năm

 


SÓNG  ƠI 


Cát đâu đùa với sóng
Mà sao cứ giỡn hoài 
Chẳng khi nào ngơi nghỉ 
Không mệt hả sóng ơi.

Muôn đời rồi vẫn vậy 
Cứ vờn đưa cát xa
Sóng đâu hiểu hết được, 
Với cát - bờ là nhà.

Xin sóng đừng đùa nữa 
Đừng gắng kéo cát đi 
Ngàn năm nay cứ thế,
Hỏi sóng có được gì?

Bình yên và lặng lẽ 
Mặc nắng gió, mưa rơi 
Ngàn năm sau vẫn thế,
Bờ là nhà - sóng ơi!

Đàm Ngọc Năm
READ MORE - SÓNG ƠI - Thơ Đàm Ngọc Năm

NƯỚC ĐỔ ĐẦU VỊT, THƠ “NỤC BÁT” – Thơ Chu Vương Miện


  

 
NƯỚC ĐỔ ĐẦU VỊT
 
Nước chẩy lá môn
Cơm đường cháo chợ
Nước chẩy đá mòn
Một khối tình lớn
Dăm khối tình con
Hết vuông lại tròn
Hết tròn lại méo
Tinh như kẹo kéo
Càng kéo càng dài
Càng nhai càng ngọt
Con chim đang hót
Con bướm đang bay
Ta lạc chốn này
100 hoa đua nở
Muôn hồng ngàn tía
 
 
THƠ NỤC BÁT

1.
Ngày xưa ngời ngó em cười
Bây chừ lại ngó con ruồi chết toi ?
sinh ra khóc thác nằm cười
Ôi thôi cái chuyện con dòi đóng phân ?
Giầu sang khăn áo chơi quần
Miền cao đóng khố cởi trần chả sao ?
 
2.
Người dưới thấp kẻ trèo cao
Cách nhau tới 1 con sào đẩy ghe
Đĩa xôi nằm cạnh tô chè
Trên cây phượng 1 lũ ve thét gào
Hè, hè bườn biết là bao ?
Không trường không bạn lòng nao nao lòng
Nhìn về cố quận mù tăm
 
Chu Vương Miện
 
READ MORE - NƯỚC ĐỔ ĐẦU VỊT, THƠ “NỤC BÁT” – Thơ Chu Vương Miện