Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 3, 2019

TA CÒN NỢ EM - Thơ Lương Mùi





TA CÒN NỢ EM

Một buồng cau vàng
Một nhánh trầu cay
Một gói vôi trắng
Một mâm rượu nồng

Nợ em cặp nhẩn, đôi bông
Dây chuyền đeo cổ vàng vòng đeo tay
Ngày xưa còn khổ ai hay???
Gạo thì chưa đủ, qua ngày lất lây

Lấy mô mà sắm sửa đây?
Đồng lòng hai đứa chung tay thành nhà
Vui buồn sướng khổ mặn mà
Quanh đi ngoảnh lại: con ta một bầy

Nuôi con khôn lớn đêm ngày
Vừa bồng vừa bế, quá tày vú em
Nhờ ơn, con đã lớn thêm
Đứa vừa dựng vợ, đứa bèn đẻ con

Đến nay cháu chắt vuông tròn
Thời gian rắc muối, trắng sương tóc huyền
Sáu lăm, anh vẫn nợ em
Xin cho kiếp nữa mình đền nợ nhau

                                 Lương Mùi
                          20h ngày 2/6/2019

READ MORE - TA CÒN NỢ EM - Thơ Lương Mùi

LỜI MẸ DẠY - Thơ Nhật Quang



          Nhà thơ Nhật Quang


LỜI MẸ DẠY
(Nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi)

Con yêu thương! Hãy nghe lời mẹ dạy
Muốn nên người, con phải gắng học chăm
Biết kính trên và yêu thầy, mến bạn
Biết thương người lúc hoạn nạn gian nan

Con yêu thương! Hãy nghe mẹ bảo ban
Phải sống thật thà, không nên dối trá
Nhặt của rơi, con đem trả cho người
Khi vấp ngã, hãy bình tâm đứng dậy

Con yêu thương! Hãy nghe lời mẹ dạy
Trên đường đời, bao cạm bẫy xa hoa
Con hãy tránh, đừng lạc bước sa đà
Không đam mê trò đỏ đen, chích hút

Con yêu thương!  Hãy nghe mẹ khuyên nhủ
Giấy có rách, con phải giữ lấy lề
Sống nghĩa nhân, cho đời khỏi trách chê
Đừng vì tiền mà làm hoen nhân cách

Con yêu thương! Dù đời bao thử thách
Luôn vững tin vào cuộc sống ngày mai
Hãy trau thân thành kẻ đức, người tài
Ra giúp đời, công danh ngời tươi sáng.

                                         Nhật Quang

READ MORE - LỜI MẸ DẠY - Thơ Nhật Quang

ĐỌC “NGŨ NGÔN TÌNH” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch


  
     Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “NGŨ NGÔN TÌNH” THƠ TRẦN MAI NGÂN
                                                                       Châu Thạch

Trước hết, đọc cài đầu đề của bài thơ là “Ngũ Ngôn Tình” cho ta hiểu đây là thứ ngôn ngữ của tình yêu. “Ngũ Ngôn Tình” hiểu theo nghĩa hẹp là bài thơ sáng tác theo thể ngũ ngôn (năm chữ) nói về tình yêu. “Ngũ Ngôn Tình” hiểu theo nghĩa rộng là 5 thứ ngôn ngữ có trong kho báu của tâm hồn để hai người yêu nhau đem tặng nhau và làm giàu lâu đài tình ái của mình. Lời nói yêu thương, quà tặng ý nghĩa, thời gian cho nhau, hành động cao thượng và cử chỉ trao nhau là 5 ngôn ngữ tình yêu cần và đủ để cuộc tình thăng hoa mà các nhà nghiên cứu đã rút ra từ kinh nghiệm tình trường, qua bao nhiêu thế hệ con người.
Nhà thơ Trần Mai Ngân trong ẩn ý, muốn đề cập đến ngôn ngữ đó trong quá khứ cuộc tình, thứ ngôn ngữ mà không thể lấy “tam đoạn luận” để hiểu nó được. Cho nên khi đọc thơ “Ngũ Ngôn Tình Yêu” ta cũng không thể đi vào thơ bằng cái suy luận “Tam Đoạn”, thứ cơ bản mà thầy đã khai trí khi ta còn ấu trỉ mới tập tò học triết.

Thật vậy, đọc khổ đầu bài thơ, dễ có kẻ đã ném đá vì chưa cảm thụ được cái hay của “Ngũ Ngôn Tình”:

Ngày không mưa không nắng
Tôi chẳng vui chẳng buồn
Thời gian không gian...lặng
Một nhịp sầu đang tuôn!

Có người sẽ ném đá ngay vào câu thơ “Một nhịp sầu đang tuôn!”. Họ sẽ hỏi rằng: Tâm trạng người thơ lúc ấy “chẳng vui, chẳng buồn” sao lại cảm nhận được “Có một nhịp sầu đang tuôn!”. Họ sẽ lý luận rắng: “Tôi đã vô cảm, không buồn không vui, thế thì theo ‘tam đoạn luận’ mọi vật quanh tôi sẽ cũng không buồn, không vui như tôi.”
Để phản biện lại những lời chỉ trích hàm hồ ấy, trước hết ta phải hiểu với nhau rằng, “chẳng vui, chẳng buồn” không phải là vô cảm. “chẳng vui chẳng buồn” là tâm trạng xảy ra giữa sự buồn và sự vui mà thôi. Khi Kiều ngồi trước Lầu Ngưng Bích, nàng nhớ cha mẹ, nhớ người tình, buồn cho tấm thân của mình đến độ ngồi trên cao mà nàng nghe “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Lúc đó mới chính là lúc Kiều như ngất đi và trở thành vô cảm. Ngược lại khi Kiều chẳng vui chẳng buồn, đàn cho khách chơi hoa nghe thì nàng không thấy hứng thú gì, nhưng sự cảm nhận thế giới chung quanh thì không mất được.
Ta hãy nghe một lần Bùi Giáng trong tâm trạng chẳng vui chẳng buồn:

Mùa xuân lại với chim về đã mỏi
Với cá về mây nước cũng lang thang
Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng
Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá.
                           (Không đủ gọi)

Có phải chăng nhắm con mắt hay mở con mắt nhà thơ đều mơ màng, có nghĩa là nhà thơ đang chìm trong tâm trạng “chẳng vui chẳng buồn”. Thế nhưng Bùi Giáng vẫn nghe được “Mùa xuân lại với chim về đã mỏi” và “Với cá về mây nước cũng lang thang”. Phải chăng những điều đó là “một nhịp sầu đang tuôn” mà Trần Mai Ngân cũng như Bùi Giáng, đã nghe ở trong không gian và trong cả thời gian, nhưng Trần Mai Ngân đã diễn đạt trong thơ mình một cách khác mà thôi.
“Chẳng vui chẳng buồn” có khi là lúc tâm hồn trống rổng nhưng cũng có khi là lúc tâm hồn bình an nhất. Các nhà sư thiền định, khi họ “chẳng vui chẳng buồn” là đã đạt được sự bình an, tâm tư lắng đọng, không bị cảnh bên ngoài chi phối, vượt lên sự buồn vui thường tình, thực sự vững chắc an trú trong trong hạnh phúc tỉnh lạc của mình. Lúc đó nếu ta nói các thiền sư “chẳng vui chẳng buồn” là vô cảm thì xin lỗi, phải nói nặng một câu là “tư duy rất thấp kém”. Ai cũng biết rằng Phật và các vị Bồ Tát vui chơi trong cõi Thường Hằng, họ “chẳng vui chẳng buồn” nhưng họ vẫn nghe “một nhịp sầu đang tuôn” trong cõi ta bà của nhân loại trong từng phút từng giây.
Tất nhiên người viết bài nầy không bao giờ dám dùng cái tâm trạng “chẳng vui chẳng buồn” của Trần Mai Ngân để so với các bậc tu hành. Thế nhưng chủ ý của người viết là đem các vị ấy ra để minh chứng cho khổ thơ “Ngày không đông không hạ/ Tôi chẳng vui chẳng buồn/Thời gian không gian … lặng/Một nhịp sầu đang tuôn” là một khổ thơ hay, đặt cảm xúc ngưng tụ giữa vui buồn của nội tâm mình một cách hợp lý trong cuộc tình sầu dài năm tháng, dài như dòng sông tuôn chảy lặng lờ qua bao thế kỷ mà người thơ luôn nghe trong tận cùng tâm cảm của mình dầu đã đóng cả cửa tâm hồn mình lại.
Qua hai khổ thơ sau, nhà thơ Trần Mai Ngân thổ lộ rõ hơn nữa, cái “chẳng vui chẳng buồn” chính là sự hờn giận, trách móc chất chứa trong tim yêu nhiều, yêu lắm. Ta hiểu thêm, “chẳng vui chẳng buồn” là một cách nói ý nhị của nguời con gái đã yêu và yêu sâu đậm:

Mây không trôi dừng lại
Im ắng trắng tinh khôi
Lời xa xôi không nói
Có nói cũng vậy thôi!

Ngày không Đông không Hạ
Sao sốt lạnh trong ta
Mấy cánh hoa giã biệt
Bỗng thành người lạ xa...

Có người lấy câu thơ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du để trách Trần Mai Ngân đã nghịch lý khi thổ lộ mình chẳng buồn chẳng vui mà lại đế cảm xúc tràn lên trong mỗi câu thơ.
Người hiểu như thế thì thà đừng đọc thơ. Bởi vì khi viết như thế Nguyễn Du chỉ đề cập đến tâm trạng của người tác động vào mắt mình khi nhìn ngoại cảnh. Thế nhưng có khi nhờ cảnh làm cho người buồn hóa vui mà cũng có khi tại cảnh làm cho người vui hóa buồn. Đó là Nguyễn Du chỉ nói ở vế cảnh bị thụ động bởi tâm trạng người. Ngược lại tâm trạng người bị thụ động bởi cảnh thuộc về một vế khác mà Nguyễn Du không đề cập đến. Ở bài thơ nầy Trần Mai Ngân viết “Ngày không mưa không nắng”, “Mây không trôi dừng lại”, “Ngày không đông không hạ” làm cho nhà thơ nghe “Có một nhịp sầu đang tuôn” và thấy “Hai bàn tay rỗng tuếch” là đem cảnh tác động vào tâm hồn người, nghĩa là tâm trạng người bị thụ động bởi cảnh, khác hoàn toàn với việc người buồn làm cảnh buồn theo.
Nhà thơ La Thụy đã nói: “Thơ có những cái nghịch lý mà. Hàn Mạc Tử khi viết bài Tình Quê ‘Gió chiều quên ngừng lại/ Dòng nước luôn trôi đi/ Ngàn lau không tiếng nói/ Lòng anh dường đê mê’.” Khi ‘gió chiều quên ngừng lại’ thì làm sao ‘ngàn lau không tiếng nói được’.
Nếu đem “Tam đoạn luận” vào đây để bình, có lẽ Hàn Mạc Tử bi ném đá là nhà thơ ngớ ngẩn chăng? Hay là người dùng thứ tam đoạn luận dốt nát?
Nhà thơ La Thụy viết thêm: “Thơ viết bằng tâm cảm, thể hiện tâm cảnh”.
Hiểu như thế ta sẽ thấy rằng Trần Mai Ngân đã hòa nhập tâm cảm của mình trong tâm cảnh của vạn vật, cho tất cả đều ngưng tụ lại bên tình yêu, nhưng tình yêu ấy không ngưng tụ, nó như dòng sông buồn vẫn tuôn chảy tháng năm.
Khi ta đứng bên dòng sông nào đó, để tâm hồn lắng đọng cùng với vạn vật yên bình, ta sẽ hiểu câu thơ của Trần Mai Ngân bằng tâm cảm của ta, thì sẽ thấy rằng câu thơ vô cùng tuyệt mỹ.

Ở khổ thơ chót, vẫn trong tâm trạng không vui không buồn, Trần Mai Ngân đã sống lại với quá khứ bằng một mơ ước rất hảo huyền:

Thoáng mây mưa đã qua
Hai bàn tay rỗng tuếch
Bám tìm vào không trung
Tưởng mộng cũ trùng phùng...

Chỉ “Mộng cũ trùng phùng thôi” còn tình cũ chắc không bao giờ quay lại!
Nhà thơ đã tìm trong cái mông lung vô định của không trung và bám vào đó bằng đôi bàn tay rỗng tuếch của mình.
Đọc như thế mỗi chúng ta đều hiểu được ý thật của câu nói “Tôi chẳng vui chẳng buồn”.
Trần Mai Ngân nói “Tôi chẳng vui chẳng buồn” bởi vì người ấy đã “Lời xa xôi không nói”, “Mấy cánh hoa giã biệt/Bỗng thành người xa lạ”. Đây là lời của một kẻ muốn đóng con tim nhưng con tim lại cứ nghịch với mình. Con tim ấy cứ mở ra cho dỗi hờn thổn thức, cho nỗi đau làm vạn vật ngưng lại trong tâm cảm mình, nhưng thực ra mọi vật vẫn vận hành và con tim thì tê tái, vì thế nó mới thành thơ “Ngũ Ngôn Tình” được.

Bài thơ ngũ ngôn của Trần Mai Ngân tất nhiên không để ca tụng thứ ngũ ngôn tình theo nghĩa làm thăng hoa cho những mối tình trai gái, Thế nhưng nếu cuộc tình không được thụ hưởng thứ ngôn tình thăng hoa đó, thì không khi nào nó biến thành một bài thơ được. Trần Mai Ngân đã dùng bài thơ ngũ ngôn (5 chữ) để nói về cuộc tình có đầy đủ năm ngôn ngữ của tình ở một thuở nào đó mà nay đã mất đi.
Bài thơ được viết sâu nhiệm trong những ẩn dụ, bằng những ngôn từ tiềm tàng tri thức, tưởng như người thơ đóng hết ngũ quan lại nhưng thật sự mở ra bằng ngôn ngữ tình thơ vô vàn cảm xúc.

                                                                      Châu Thạch


         


NGŨ NGÔN TÌNH

Ngày không mưa không nắng
Tôi chẳng vui chẳng buồn
Thời gian không gian...lặng
Một nhịp sầu đang tuôn!

Mây không trôi dừng lại
Im ắng trắng tinh khôi
Lời xa xôi không nói
Có nói cũng vậy thôi!

Ngày không Đông không Hạ
Sao sốt lạnh trong ta
Mấy cánh hoa giã biệt
Bỗng thành người lạ xa...

Thoáng mây mưa đã qua
Hai bàn tay rỗng tuếch
Bám tìm vào không trung
Tưởng mộng cũ trùng phùng...

                   Trần Mai Ngân
                      27-11-2017

READ MORE - ĐỌC “NGŨ NGÔN TÌNH” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch

Sunday, June 2, 2019

HẠ VÀNG - Thơ Nhật Quang

Tác giả Nhật Quang

HẠ VÀNG

Giọt Hạ vàng
rớt mênh mang
vương bờ vai lụa
mượt làn tóc mây

Sân trường
trống giục chia tay
phượng rơi lác đác
gió bay hương nồng

Bằng lăng
tím lối mênh mông
bồi hồi…lưu luyến
tuổi hồng
sách thơm

Nhặt vần thơ mộng
ủ ươm…
ép trang lưu bút
nhẹ vương vấn lòng.

            Nhật Quang



READ MORE - HẠ VÀNG - Thơ Nhật Quang

ĐÀ NẴNG - MÙA LỄ HỘI - Chùm thơ Tăng Tấn Tài




ĐÀ NẴNG - MÙA LỄ HỘI 

Vắt nỗi nhớ
tay ôm ngày nắng chật
Cứ vác cuốc đi chân nhớ những luống cày
Như tìm lại nụ cười nguyệt - nhật
Áo lấm mồ hôi muối mặn gừng cay.

Lắm nỗi buồn riêng cất dấu ai hay !
Mưa đá ngày hè rơi trên nón lá
Giọt mưa trái mùa nghe đâu rất lạ
Thoả cơn khát lòng
nón cũ chẳng cần khâu ...

Mưa bão ngày hè ở tận đâu đâu !
Chẳng buồn hỏi, lửa mùa khô cứ cháy
Hoa pháo Sông Hàn tầm cao vẫy gọi
Soi bóng lưng linh xanh - tím
những nhịp cầu ...

Tháng sáu về, Đà Nẵng ngậm mưa ngâu
Giọt mồ hôi khô
đổi thay
"Mùa Lễ Hội ..."

Tăng Tấn Tài .
03.6.2019

CÕI THỨC!

Tháng năm mở nắng phơi mùa
Mướp vàng cánh mỏng gió lùa heo may
Đêm dài trăn trở đốt tay
Nỗi đau da thịt giải bày áo cơm!

Lợt phai vạt áo rạ rơm
Mưa chưa chịu nắng, vắt thơm môi cười
Mồ hôi thấm giọt nụ tươi
Lập loè đom đóm lắm người tìm vui.

Tro còn hơi nóng lửa vùi
Bình tâm ngửa mặt nước xuôi mấy dòng ?
Đời trôi gõ nhịp long đong
Tiếng khuya "cú"* gọi
thức trong cõi về ! ...

( * ) Chim cú mèo.

Tăng Tấn Tài 
01.6.2019

READ MORE - ĐÀ NẴNG - MÙA LỄ HỘI - Chùm thơ Tăng Tấn Tài

LÁ RƠI XUỐNG ĐẤT - Thơ Chu Vương Miện


LÁ RƠI XUỐNG ĐẤT
chu vương miện
-
con cá bơi dưới nước
con chim lưng từng trời
con người bám mặt đất
dòng sông cứ vậy mà trôi
đàn trâu trên đồng cỏ
sáo diều bay từng không
vi vu từng điệu nhạc
đồng lúa trổ đòng đòng
-
xưa sau vẫn như thế
cuộc sống cứ xoay tròn
hết chuyện sông cùng núi
rồi chuyện nước và non?
cái gì mất đã mất?
cái gì? còn lại vẫn còn?
biết bao mối tình lớn?
biết bao mối tình con?
đẻ sót lại 1 mối tình còm?
-
lá rơi xuống đất gió thốc lá bay
con ruồi con chim có 4 cánh 2 cánh muốn đậu
muốn bay tùy thích?
mây trời bay ngang bay dọc
ngừng không đặng
muốn bay không xong
tùy duyên gió thổi
-
đường trải toàn viên đá cuội trắng
dây hồng leo hoa vàng
ngôi mộ hoang nằm đó
ta ngồi ngóng chiều nghiêng
cùng 1 vòng nhật nguyệt
sinh diệt và sinh tồn
cỏ vẫn xanh mầu cỏ
bình minh và hoàng hôn
mộ bia phai mầu đá
hoa nở trọn thời gian?
mới thốt lời ca đó
giờ đã xa muôn trùng
-
hiện tượng là vô ngã
sự vật là vô thường
buổi sáng hoa bụp nở
buổi chiều hoa bụp tàn
ngàn xưa là vậy vậy
khởi thủy là chữ duyên
nơi Hà Nhai vãn độ
neo đó 1 con thuyền
nhổ neo về bến giác
nước do dự ưu phiền?
bao si mê sân hận
theo gió lộng từng cơn
vũ trụ là vô ngã?
thân ta là vô thường
-
đế vương khanh tướng [công hầu bá tử nam]
tổng thống tổng bộ trưởng thứ trưởng
chủ tịch ủy viên chết xuôi tay?
trên bệ thờ leo lét
nén nhang bát nước 2 dẫy đèn cầy
thế ra lại thua con cà cuống?
chết đến đít còn cay?

cvm
READ MORE - LÁ RƠI XUỐNG ĐẤT - Thơ Chu Vương Miện

Chùm ảnh bia thơ tại Phạm gia trang - Phạm Bá Nhơn






READ MORE - Chùm ảnh bia thơ tại Phạm gia trang - Phạm Bá Nhơn

GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH (1940 – 2018) - Hoàng Đằng


Nhà thơ Phạm Văn Bình


       GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ
NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH
(1940 – 2018)

Hoàng Đằng

Bạn Lê Đình Bì vừa viết thư cho tôi, nhân đọc bài dưới đây của tôi, cho biết thêm những kỷ niệm giữa LĐB và PVB. Cảm ơn LĐB! Ngày giỗ đầu của PVB gần tới, tôi muốn mời những ai quan tâm đọc lại bài của tôi.

GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH (1940 – 2018)

Nhà thơ Phạm Văn Bình - người quê tôi – đã qua đời ngày 22/7/2018.
Đông Hà – quê tôi – có nhiều người làm thơ. Không riêng gì quê tôi, trên cả nước Việt Nam, nơi nào cũng vậy; Việt Nam là “cường quốc thơ” mà!
Tôi không có may mắn và điều kiện đọc nhiều, nên không biết, trong số người làm thơ ở quê tôi, những ai có tác phẩm hay, chỉ biết anh Phạm Văn Bình từng nổi tiếng về thơ trong thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, đặc biệt, anh có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: Đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”; và có lẽ với hai bài thơ này, anh sẽ lưu danh thiên cổ.
Sau này, sự nghiệp của anh đã có tác phẩm của anh làm chứng; còn cuộc đời của anh chắc sẽ ít người biết rõ. Vì vậy, là người đồng hương với anh, tôi muốn góp phần dựng lại tiểu sử của anh qua tìm hiểu những mảnh đời, những chặng đời của anh mà người Đông Hà và một số thân nhân của anh biết, kẻo rồi thời gian có thể xoá mất.

* Về năm sinh của Phạm Văn Bình
Võ Văn Cẩm – bạn đồng khoá 24/SQTB Thủ Đức với Phạm Văn Bình – cho biết là năm 1942; tờ Cáo Phó khi anh mất của gia đình bên Mỹ ghi 1939; một thân nhân của anh ở Việt Nam cho biết anh tuổi Canh Thìn (1940).
Tôi nghĩ năm 1942 là năm khai lại để học hành; anh học ở nhiều nơi, nhiều trường cả bậc Tiểu Học lẫn bậc Trung Học: ở Huế, ở Đông Hà, ở Đà Nẵng, ở tỉnh lỵ Quảng Trị.
Còn Cáo Phó ghi năm 1939 là do cách tính; anh mất năm nay (2018), thọ 79 tuổi; theo cách tính của phương Tây, anh phải sinh năm 1939, còn theo cách tính của người Việt Nam là năm 1940. Thế nên, theo tôi, Phạm Văn Bình sinh năm 1940 – tuổi Canh Thìn.

* Về quê quán và dòng dõi,
Phạm Văn Bình sinh ra ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
Vào thập kỷ 1920, thuở thanh niên, thân phụ anh, cụ Phạm Tề, ra làm công nhân xây dựng cầu Quảng Trị, kết duyên với một thôn nữ làng Như Lệ (nay là thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị). Rồi ông bà ra lập nghiệp ở thị trấn Đông Hà, mở một quán cơm ở ga Đông Hà vào lúc mà tại Đông Hà, việc giao thương Bắc - Nam, việc giao thương miền Trung Việt Nam - Lào nhộn nhịp.
Trong thập kỷ 1930, cụ Phạm Tề kết hôn thêm với bà Hoàng thị Căn (1909 – 1984), còn có tên thường gọi là Hoàng thị Cháu, một thôn nữ làng Điếu Ngao (nay là phường 2 – TP. Đông Hà). Phạm Văn Bình là con bà Hoàng thị Căn.
Phạm Văn Bình có người anh đầu cùng cha khác mẹ – con của mẹ làng Như Lệ - tên Phạm Ga hoạt động cho Việt Minh, từng giữ chức chủ tịch Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến khu vực Đông Hà, rồi Chánh Văn Phòng Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Quảng Trị. Khi kháng chiến chống Pháp bùng lên, Phạm Ga được điều động ra Việt Bắc và, sau đó, đã mất trên đường công tác ở tỉnh Cao Bằng.
Phạm Văn Bình còn có người anh cùng mẹ cùng cha tên Phạm Vinh tập kết ra Bắc; Phạm Vinh học âm nhạc, chuyên ngành về đàn violon, trong chiến tranh, trở lại miền Nam, công tác ở đoàn Văn Công Quân Khu 5, hiện đã nghỉ hưu.
Ở chế độ miền Nam thời đó, ngoài bản thân là sĩ quan, Phạm Văn Bình còn có em trai cùng cha cùng mẹ tên Phạm Như Trị cũng là sĩ quan quân đội Cộng Hoà, nay định cư ở Mỹ theo diện HO.
Về bên ngoại – phía mẹ của Phạm Văn Bình - ở làng Điếu Ngao, các cậu các dì đều theo Việt Minh.
Dòng dõi của Phạm Văn Bình như thế đã góp phần tạo tứ thơ của anh.

* Về con đường đến với thơ của Phạm Văn Bình,
Phạm Văn Bình có năng khiếu và đam mê văn nghệ từ nhỏ. Tuy nhiên, điều đó chỉ bạn bè biết chứ “người ngoài” chưa biết.
Sau khi hoàn tất bậc Trung Học – có bằng Tú Tài II, Phạm Văn Bình về quê, dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963; anh đứng trên bục giảng từ 1963; đến 1966, anh phải nghỉ dạy để thi hành lệnh động viên của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Trong thời gian dạy ở quê nhà, anh có cộng tác với Đài Truyền Thanh Quân Đội ở Đông Hà và gởi thơ đăng ở báo Lập Trường.
Xin mở ngoặc để giới thiệu đôi nét về báo Lập Trường:
Phong trào Phật Giáo chống chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm bị cáo buộc phân biệt đối xử tôn giáo bùng lên ở Huế từ tháng 5 năm 1963; phong trào được nhiều giới trong xã hội ủng hộ, trong đó có một số không nhỏ các giáo sư Đại Học Huế. Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11 năm 1963, cả miền Nam lâm vào cảnh xáo trộn nhiều mặt, đặc biệt là về chính trị. Năm 1964, báo Lập Trường do một nhóm giáo sư Đại Học Huế chủ trương ra đời; ban điều hành báo gồm GS Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Đại Học Khoa Học, làm chủ nhiệm, GS Lê Tuyên giảng dạy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa làm chủ bút và GS Cao Huy Thuần giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa làm thư ký toà soạn. Lập Trường là tuần báo Chính Trị - Văn Hoá – Xã Hội; báo bày tỏ thái độ chống đối chiến tranh, chống đối cách điều hành đất nước của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chống đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam; Phạm Văn Bình gởi thơ vào và được đăng với tần suất khá dày; điều đó chứng tỏ tứ thơ của Phạm Văn Bình được đánh giá phù hợp với lập trường của báo; chủ bút chọn bài là GS Lê Tuyên - người có cách nhìn, cách lý giải mới các tác phẩm văn học cổ Việt Nam bằng cách đem triết học hiện sinh rọi vào. Nhờ báo Lập Trường, Phạm Văn Bình được giới thơ văn biết đến càng ngày càng nhiều. Thành thử, có thể trước đó Phạm Văn Bình đã có làm thơ, nhưng chính báo Lập Trường đã nâng cánh cho thơ của anh.
Nhờ vai trò cộng tác viên đài Truyền Thanh Quân Đội Đông Hà và tiếng tăm về thơ qua báo Lập Trường, Phạm Văn Bình thi hành lệnh động viên, thụ huấn xong ở quân trường, được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi đã làm việc ở Sài Gòn, Phạm Văn Bình có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ anh xuất hiện trên các tạp chí, được đánh giá cao, được Phạm Duy chọn phổ nhạc; nhờ thế, anh có chân trên thi đàn.

* Người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” là ai?
Trong văn học, tác giả ký tên T.T.KH của bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” nổi tiếng hơn 80 năm qua vẫn còn là nghi án – giới nghiên cứu văn học đã đoán nhiều tên, nhưng chưa chắc chắn một tên nào. Từ đó, tôi lo tương lai có người muốn biết thật sự tên người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” sẽ gặp khó khăn, trong khi hiện giờ bà con và người thân quen quê gốc Đông Hà của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này thì biết rõ, nhưng không ai chịu lên tiếng hoặc không có điều kiện lên tiếng. Tôi xin phép lên tiếng thay.
Không biết mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này chớm nở từ lúc nào, nhưng mối tình này vỡ lỡ giữa thập kỷ 1960:
Năm năm rồi không gặp,
Từ khi em lấy chồng,
Anh dặm trường mê mải,
Đời chia hai nhánh sông …
Phạm Văn Bình “dặm trường mê mải” từ năm 1966 – năm thi hành lệnh động viên vào lính.
Nhà Phạm Văn Bình và nhà người phụ nữ cùng ở trong con hẻm đường Phan Bội Châu thị trấn Đông Hà. Người phụ nữ này có một người anh – bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô này không học ở Đông Hà mà học ở Trung Học Bán Công Huế), lại biết trang điểm, ăn diện bắt mắt, Phạm Văn Bình vừa ý, đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau; người Đông Hà thấy mối tình của họ “da diết” lắm, ngay cả Phạm Văn Bình cũng thổ lộ:
Những thư tình vụng dại,
Những vai mềm, môi ngoan,
Những hẹn hò cuống quýt …
Không ai ngờ mối tình ấy tan vỡ. Người trong cuộc bảo rằng do hai người khác biệt về tôn giáo: gia đình Phạm Văn Bình theo Phật Giáo, gia đình người phụ nữ này theo Thiên Chúa Giáo. Thôi, chúng ta cứ tin như vậy, chứ trên đời, không thiếu gì người khác tôn giáo kết hôn với nhau; về sống với nhau, hoặc vợ theo tôn giáo của chồng, hoặc chồng theo tôn giáo của vợ, hoặc, cùng lắm, mỗi người cứ giữ tôn giáo của mình.
Người phụ nữ này “sang ngang”, lấy một người chồng đồng đạo; ông chồng là sĩ quan quân y, trước đó, tốt nghiệp cán sự y tế, bị động viên vào quân đội; hai vợ chồng có 4 người con (?). Rủi! Ông chồng tử trận, Phạm Văn Bình viết trong thơ: “Anh một đời giong ruỗi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Việc bất thành trong mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này không biết do gia đình bên nào gây ra; nhưng trong thơ và trong đời thực, Phạm Văn Bình ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:
Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn.
Ngày nhà em pháo nổ,
Tâm hồn anh nhuốm máu,
Ôi nhát chém hư vô,
Ôi nhát chém hư vô.
……………………
Năm năm rồi trở lại,
Một màu tang ngút trời,
THƯƠNG người em năm cũ,
THƯƠNG goá phụ bên song.
Và về sau, mỗi lần có dịp, Phạm Văn Bình vẫn ghé thăm gia đình người phụ nữ này. Ngay trong lễ tang Phạm Văn Bình vừa rồi, người bà con của Phạm Văn Bình cho tôi xem một bức ảnh chụp chung 3 người con của Phạm Văn Bình với một người con gái của người phụ nữ này. Tình của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này đã vượt lên sự nhỏ nhen của hờn ghen để thăng hoa. Đẹp quá! Đúng là “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”.
Xin tiết lộ: Người phụ nữ này có tên là Nguyễn thị Tuý sinh năm 1945, nguyên là một cư dân Đông Hà, hiện giờ còn sống và định cư bên Mỹ.

* Về tạng người và lối sống,
Phạm Văn Bình có gien văn nghệ từ gia đình; như trên đã nói Phạm Văn Bình có ông anh ruột hoạt động trong lãnh vực âm nhạc.
Phạm Văn Bình không đua đòi theo thiên hạ về bề ngoài, anh thích ca hát vui chơi, không quan tâm đến của cải vật chất.
Từ khi ra trại cải tạo cho đến khi đi Mỹ theo diện HO, thời gian dài cả 10 năm, thế mà không thấy anh làm gì để mưu sinh, trong khi những người gặp hoàn cảnh như anh phải làm bất cứ gì để giúp nuôi sống gia đình, thậm chí đi xe thồ, xe kéo, bán nước chè, làm thuê … Thời gian này, anh rong chơi không phải với bạn bè cùng lứa - vì không có - mà với bạn bè ít tuổi hơn anh nhiều; anh gặp họ trong các quán cà phê, trong những tiệc cưới, ca hát vui nhộn cùng họ, nhiều khi quá chén, cũng say sưa.
Nghe nói anh uống cà phê không phải trả tiền theo lần mà có bao nhiêu trong túi anh giao cho chủ quán, hàng ngày anh tới uống khi nào chủ quán tính là số tiền hết thì báo cho anh biết.
Thời gian anh chuẩn bị đi Mỹ, nhiều phụ nữ muốn đem tình và tiền ra để “quá giang”, anh từ chối, chắc anh quá ngán ngẩm rồi!
Khi qua Mỹ, với tuổi đời ngấp nghé 55, anh cũng không chạy vạy kiếm công ăn việc làm như thiên hạ, anh sống với người con trai trưởng của anh trong sự bảo bọc của cả 3 đứa con và tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ.
Xin mở ngoặc để nói đôi điều về chuyện vợ con của anh.
Sau khi mối tình với Nguyễn thị Tuý không thành, anh lập gia đình với một cô học trò trẻ, đẹp của anh tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà. Vợ chồng sinh được 3 con. Do hoàn cảnh nghiệt ngã sau năm 1975, vợ chồng cũng không sống với nhau trọn đời. Người vợ đem ba con qua Mỹ trước, anh qua sau, và được sự quan tâm chu đáo của cả ba con.
Phạm Văn Bình có lối sống và tạng người khác đời như thế, cộng thêm, với tâm hồn nhạy cảm của nghệ sĩ, sống trong bầu không khí gia đình và đất nước mà thân thích kẻ Bắc người Nam, anh luôn mang tâm trạng buồn đau – buồn đau cho đất nước tang thương, cho tình người tan vỡ vì chiến tranh. Thế nên dù là một sĩ quan (cấp bậc cuối cùng đại uý) tâm lý chiến, thay vì kích động hận thù để tuyên truyền cho phe ta, chống phe địch, anh không làm thế; bằng chứng là bài thơ “Hành Trình Thuỷ Quân Lục Chiến” (tên khác: “Mười Hai Tháng Anh Đi”) - dài 58 câu - chỉ nói lên nỗi đau, niềm khắc khoải, tình yêu lỡ làng do chiến tranh mà người lính cảm nhận khi đi qua đất nước điêu tàn.

Sau thời gian dài khổ cực trong trại cải tạo, được trở về sống trong cộng đồng, nhà không, vợ nỏ có, anh cũng không một lời oán thán ai:
Trở về nhà cũ, nhà thay chủ.
Em đâu? – Đã bỏ chốn thiên đường.
Sang sông, em nỡ lên thuyền khác.
Thôi nhớ làm gì? “Chinh phụ ngâm” …
(Trích từ bài thơ “Đầu Xuân Khai Kiếm”)
Tóm lại, Phạm Văn Bình là nhà thơ nhân văn, ưu thời mẫn thế.

*
* *
Tôi viết bài này với ý nghĩa tích cực; tôi đã hỏi thông tin từ nhiều người: bà con của Phạm Văn Bình có, những người Đông Hà thân quen với Phạm Văn Bình có.
Tôi đã đối chiếu, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn, cố gắng để có những thông tin chân thật.
Hy vọng bài viết này sẽ làm cho Phạm Văn Bình vui nơi chín suối và góp phần hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về nhà thơ Phạm Văn Bình sau này.

                                   30/7/2018 (18/6/Mậu Tuất)
                                               Hoàng Đằng

READ MORE - GÓP PHẦN DỰNG TIỂU SỬ NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH (1940 – 2018) - Hoàng Đằng