Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, January 10, 2019

HÃY TƯỞNG TƯỢNG - Thơ Quách Như Nguyệt, nhạc Nguyễn Dũng.B



                            Nhà thơ Quách Như Nguyệt



HÃY TƯỞNG TƯỢNG

Hãy tưởng tượng anh không đang hiện hữu
Em bước vào vùng trống rổng mông mênh
Em dám chứ vì không thêm chẳng bớt
Sẽ yêu anh dù tim có bồng bềnh

Hãy tưởng tượng thời gian quay ngược lại
Em gặp anh ở một cõi mơ hồ
Em dám chứ cùng ngửa tay hứng mộng
Mộng, thật - thơ, người; người mộng trong thơ

Hãy tưởng tượng anh chẳng là thi sĩ
Nhưng ôm thơ chạy khắp quả địa cầu
Thử tưởng tượng em làm sao đuổi kịp
Sao níu cùng run rẫy một chiêm bao?

Hãy tưởng tượng anh là một vì sao
Em là trăng, trăng sao là một cặp  
Trăng và sao…tưởng gần, nhưng xa lắm!
Giữa chúng ta là vũ trụ tinh cầu

Hãy cứ nghĩ đời sống này nhiệm mầu
Và tình yêu của chúng mình bất diệt
Mình tin tưởng sẽ không còn ly biệt
Sẽ không còn sầu não với tối tăm!

Tưởng tượng nhé –anh- dòng sông xa xăm
Trăng nhấp nhô ẩn hiện ánh trăng rằm
Sông và trăng tưởng có nhau, nào phải…
Trăng âm thầm đi vắng chỉ còn sông!

Hãy tưởng tượng em là mây, anh gió
Gió đưa mây đi mất hút phương nào?
Hãy tưởng tượng, nhắm mắt, ta tưởng tượng
Người thương ơi, mong tình không gió bão

Hãy tưởng tượng mình sống ngoài hải đảo
Chỉ hai người, có hai chúng ta thôi
Mình yêu nhau… ta có cặp có đôi 
Ở bên nhau, sống tròn đầy hạnh phúc!

Hãy tưởng tượng nếu anh sa địa ngục
Sao biết em đang ở chốn thiên đường?
Em tội lỗi tầng sâu hơn một bực
Vĩnh viễn mình chẳng thể gặp nhau đâu!

                                Quách Như Nguyệt
                                           2011



Thơ: Quách Như Nguyệt
Tiếng hát: Kim Ngân
Nhạc: Nguyễn Dũng.B  
Hòa âm: Quang Đạt

READ MORE - HÃY TƯỞNG TƯỢNG - Thơ Quách Như Nguyệt, nhạc Nguyễn Dũng.B

SANG ĐÒ - Thơ Lê Kim Thượng

  
           Nhà thơ Lê Kim Thượng


SANG ĐÒ

“Buồn trông con nhện giăng tơ…”
Một mình quán vắng, bên bờ sông xưa
Ngồi chờ một chuyến đò đưa
Cho tôi gặp lại… tình vừa xa bay…

 ***
Em về quê cũ chiều nay
Đồng xanh nhẹ gió, cò bay trắng đồng
Môi em thắm, má em hồng
Mắt em đen biếc, mênh mông xa vời
Chiều nghiêng nắng đổ rơi rơi
Rơi trên tà áo giọt vơi giọt đầy
Gió đùa qua ngọn cỏ may
Áo em bay với hoa bay trang đài
Tóc thề buông xõa chia hai
Nửa ôm ngực nhỏ, nửa cài vai suôn…
Chiều xưa… nắng nhạt qua hồn
Hàng mi khép kín, nụ hôn nồng nàn
Chợt nghe có giọt nắng tan
Trên môi thơm ngát Hoàng Lan hương nồng…

***
Từ người áo cưới qua sông
Hai bờ ngăn cách… buồn cong nhịp cầu
Tàn mơ… ly rượu, miếng trầu
Mỗi người, riêng một khối sầu chứa chan
Thôi đành, dang dở cung đàn
Tình đầu nay đã lỡ làng, truân chuyên
Tội người bạc phận vô duyên
“Bây giờ ván đã đóng thuyền…” còn đâu ?
Thôi thì như nước qua cầu
Năm năm còn một bóng sầu hôm mai
“Một mai ai chớ bỏ ai... ”
Lá trôi dòng nước… tình phai nào ngờ
Tình xưa nghĩa cũ... ơ hờ
Tôi – Em… là chút tình cờ thế thôi !
Nỗi buồn em… nỗi buồn tôi…
Trách chi Trời lại nhân đôi nỗi buồn…

***           
Chiều nay chớp biển mưa nguồn
Một mình ngồi với rượu suông, hương thừa
Bao năm… luyến tiếc người xưa
Thương em vẫn đợi… tình chưa sang đò…

                    Nha Trang, tháng 01. 2019
                         LÊ KIM THƯỢNG
“...” Ca dao

READ MORE - SANG ĐÒ - Thơ Lê Kim Thượng

NHỚ THÁNG CHẠP XƯA - Thơ Nguyễn Khôi



                 Nhà thơ Nguyễn Khôi


NHỚ THÁNG CHẠP XƯA

"Tháng chạp màn sương trùm Đất nước
   Gió mùa chết héo mạ xanh non..."
                             (Thơ Quang Dũng)
                     
Tháng chạp, cấy chiêm về tối mịt
Nhóm bếp hơ cái cóng ngoài đồng
Nghe tiếng lợn kêu mà ấm bụng
con Vện hứ mừng nép bên hông.
                     
Gió bấc rít rung ngoài khe cửa
Chị buộc chặt khăn nén nhớ chồng
- Anh ấy Biên phòng cùng Đồng đội
tiếng Vạc trời khuya buốt thinh không...
                     
Xóm lá đêm đông thầm sắp tết
Ổ rơm rúc rích giấc mơ xuân
Mẹ bảo năm nay nhà mổ lợn
Mừng em  thi đỗ... tiễn ông Công...

                     Nguyễn Khôi
             Quê 23 tháng chạp 2017

READ MORE - NHỚ THÁNG CHẠP XƯA - Thơ Nguyễn Khôi

CHIẾC ÁO VÀNG TRONG KÝ ỨC LỆCH PHƯƠNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng


Chiếc áo vàng trong ký ức lệch phương


Có một hôm, em mặc áo bà ba vàng
Giữa áo pull quần jean, bạn bè trang lứa
Ngọn gió bung biêng, bật khoảng trắng mờ lần lựa
Gợi mở cho gã trai khờ, mùa đã sang
                           *
Theo nắng, chiều đi, lối mộng đầy hoa
Vô tư tiếng cười, giăng giăng khuất lấp
Như đưa đẩy một niềm vui giả lập
Góc nắng, chiều nghiêng, xa vắng nhạt nhòa
                           *
Em ngập ngừng, từng bước dung dăng
Sân phố nhỏ, chợt chùm phượng hồng thắm đỏ
Ngập ngời nắng, chói chang điều để ngỏ
Rớt xuống trăm năm, mờ tỏ nhùng nhằng
                           *
Chiếc áo bà ba vàng, đang chấp chới tươi xinh
Bùng vỡ chiều êm, ngượng ngùng xao xuyến
Dáng nhỏ lưng ong, ngược chiều phô diễn
Đằm thắm trôi, trong nắng gió trở mình
                           *
Chiếc áo bé xinh sáng cả quảng trường
Như dắt anh về tháng năm thơ dại
Không vướng bận điều gì, mùa nối mùa mê mãi
Vỡ vụn bên đường, những ký ức lệch phương ...
Lê Thanh Hùng


Đưa em đi hái lộc
Chếnh choáng, đưa em hái lộc
Giao thừa bói lá, được yêu
Lăng xăng, đạp xe qua dốc
Đôi co, trả giá ít, nhiều ...
               *
Đầu năm, đừng mà giận dỗi
Kẻo rông cả năm, bé này
Lặng thinh, bé ngồi, thiệt tội
Vòng quanh, mắt biếc mờ cay ...
                *
Mênh mang sao trời nhấp nháy
Đèn khuya đong tiếng thở dài
Có gì đâu, mà giận lẫy
Xem kìa, đêm sắp tàn phai
                *
Đắn đo, dặm đường vương vãi
Đường xa mây trắng vờn bay
May mà gió chao, níu lại
Ngượng ngùng, nồng ấm vòng tay ...
Lê Thanh Hùng


Gió cuốn xuân thì
Em đã về dây
Ơi Hoa Xuân
Lắng trong góc cạnh
Bờ xuân mộng
Bỏ quên
Gió cuốn tà áo mỏng
Lộ
Sắc xuân thì
Vướng bến xuân
Lê Thanh Hùng


Đêm Dốc Đá Phú Hài
Bên Dốc Đá, bồi hồi gió
Cuốn, khẳng khiu rơi mờ tỏ ánh đèn
Đêm, nhập nhoạng lối thân quen
Cũ, càng hoa sắc rối beng tiếng cười
Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - CHIẾC ÁO VÀNG TRONG KÝ ỨC LỆCH PHƯƠNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

GIỜ THÀNH ĐẠO - Thơ Lê Đăng Mành






GIỜ THÀNH ĐẠO

Kinh dâng ngày Đức Phật Thành Đạo
         (mồng 8 tháng chạp)

Đông co ro núp ngoài hiên
Tẩm hơi gió lạnh cho biền bãi giăng
Cỏ cây mưa đập rách tan
Mùa hun hút đợi thay làn đông phong

Hoát nhiên bừng sắc phương đông
Ánh Sao mai rọi dịu lòng nhẹ tênh
Bóng đêm vỡ vụn lanh canh
Nhường vầng trí tuệ gọi bình minh lên

Phút thành đạo lặng an nhiên
Chim muông lảnh lót dạo miền chơn như
Chư thiên xin đấng đại từ
Khai nguồn diệu pháp chỉ bờ là nơi…

Phật thành đạo, con thành người
Biết buông cừu hận để nuôi dưỡng mình
Tập nhìn, thấy, rõ vô minh
Lời ru, tiếng khóc là kinh diệu thường

Quê ngào ngạt giải thoát hương
Phật thành đạo thắp cát tường vào đông
Biết buồn, vui chảy một nguồn
Thì an lạc mọc giữa mông quạnh mùa

                            LÊ ĐĂNG MÀNH

READ MORE - GIỜ THÀNH ĐẠO - Thơ Lê Đăng Mành

VẪN... - Thơ Quang Tuyết

                      Nhà thơ Quang Tuyết


VẪN...

Dù đó
Nguời xưa hay là ai
Cũng chỉ một thời áo chửa phai
Thuở mắt say tình nơi góc phố
Chờ bóng chiều rơi thả bước dài
Dòng sông vẫn rứa - mờ sương muối
Tê tái đông về lạnh gió mưa
Vẫn mỗi con đò không người lái
Triều dâng từ thuở bảo... rằng xưa
Ôi vẫn...
Nhưng sao mùa bỗng chướng
Mây mù phong toả mắt mờ trông
Từng cọng rong buồn màu bạc trắng
Và em
Ngồi đó... Tự dối lòng

Thạch Hãn lạnh cuối mùa
Đinh Quang Tuyết

READ MORE - VẪN... - Thơ Quang Tuyết

TÌNH QUÊN - Thơ Nhã My, nhạc Thảo Nguyên


                          Nhà thơ Nhã My

TÌNH QUÊN
(Thơ bình thanh)

Tình xa tình đang trôi về đâu
Bên trời bèo mây sao không vui trùng phùng
Đàn ai  cung thương nghe gieo sầu chơi vơi
Mơ màng xa khơi
Trùng dương trăng chìm lung linh vàng trôi
Tình xa về đâu trôi theo dòng đời mù tăm
Người đi như mây bay về nơi xa xăm
Thời gian qua mau còn trông về đâu
Ngàn năm âm thầm thương cho người chờ mong
Bên trời xa xăm ai hay lời thề năm xưa
Vằng trăng đêm mưa buồn rơi vàng trôi theo dòng sông
Người xa tình quên...

                                                                       Nhã My

  

Thơ: Nhã My
Nhạc: Thảo Nguyên
Hòa âm: Trần Nhàn
Giọng hát: Ca sĩ Thanh Hoa

READ MORE - TÌNH QUÊN - Thơ Nhã My, nhạc Thảo Nguyên

NHỚ QUÊ HƯƠNG - Thơ Uyên Khuê



NHỚ QUÊ HƯƠNG

Quê hương ơi
da diết nhớ làm sao
Từng lũy tre xanh, hàng dừa nghiêng bóng đổ
Bờ ao in bóng dải mây xanh, cánh chim trời bay liệng
Những buổi chiều
theo mẹ ra cánh đồng
Đàn cò trắng bay, đồng lúa xanh mênh mông
Rập rờn nhấp nhô
lúa lượn như sóng nước
Hai bên đường đi ngả một màu xanh mướt
Những chiều thả diều, nghe tiếng sáo vi vu

Ôi nhớ lắm!
những trưa hè hái vài quả cà
chơi đánh đũa, bắn bi...
Những ngày cột bò,
thả diều, ... rong chơi cùng lũ bạn
Quá bữa ăn mẹ đi tìm mắng cho một trận
Mắt rưng rưng bỗng dưng tôi muốn khóc
Cha an ủi rồi hỏi bò đâu con ?
Ngơ ngác tôi tìm bò xung quanh
Không thấy bò đâu thôi lần này sẽ no đòn rồi đấy
Sợ quá tôi khóc xin cha mẹ tha lỗi
Cha tìm được bò
Rồi nói nó về chuồng rồi con...

Cuộc sống mưu sinh lớn lên
tôi phải xa quê hương
Mỗi lần nhớ quê
chỉ được về thăm mẹ cha những ngày nghỉ phép
Bao buồn vui...
chỉ còn trong kí ức
Sắp hai mươi hai năm rồi
lòng vẫn luôn thổn thức
Nhớ mẹ già mòn mỏi ngóng chờ con.

Uyên Khuê
Giáo viên
Thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
<nguyenuyenkhuegl@gmail.com>


READ MORE - NHỚ QUÊ HƯƠNG - Thơ Uyên Khuê

Wednesday, January 9, 2019

QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN - Nguyên Lạc


                             Nhà thơ Nguyên Lạc


 QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN
                                  (Bài 1)         
                                                           Nguyên Lạc

Cẩn báo:  Cụ Nguyễn Hiến Lê có nói:  "Muốn học điều gì thì hãy viết về điều đó". Theo tinh thần đó, chúng tôi đang học về Kinh Dịch, nên xin viết ra đây những gì mình đã học được từ người xưa, từ các bậc tiền bối... Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh bỏ quá cho! Nếu các bạn tìm thấy có ít nhiều điều hữu ích thì tốt, còn nếu không, coi như " Mua vui cũng được một vài trống can
Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau ở chỗ biết dùng hay không! 
     
Dẫn nhập: Bói Dịch không phải là mê tín, nó là khoa học. Có thể gọi là khoa học huyền bí. Vì vậy,  Tiến sĩ Phân tâm học C.G. Jung  ( ông cùng với S. Freud là một trong những thủy tổ của khoa Phân Tâm Học, nghiên cứu về tiềm thức của loài người) năm 1949 đã dùng bói Dịch để biết việc quảng bá và giới thiệu Dịch (I Ching) từ tiếng Đức sang tiếng Anh có đuoc thuận lợi hay không?. Bói được rất tốt, ông tiến hành và Dịch đã trở thành kinh điển cho các học giả và các trường đại học Tây Phương học hỏi!
Có 2 lý do để tôi viết bài này:
1/ Chúng ta chỉ sợ những gì mình không hiểu. Thí dụ như sợ Ma, vì chúng ta không biết rõ Ma là gì?. Nếu  biết thì sẽ không sợ. Cũng vậy, chúng ta sợ chết, vì không biết chết ra sao, sau khi chết như thế nào?. Nếu chúng ta biết rõ thì chắc chúng ta cũng sẽ không sợ. Đó  là lý do Phật giáo khuyên chúng ta nên tìm hiểu về sự chết (Tử)!(*)
Tôi viết bài này mong độc giả tìm hiểu rõ về Bói Dịch, không sợ nó nữa, để các ông thầy Bói toán, Phong thủy (giả), vì tư lợi, không còn "hù" ta được nữa. Bói Dịch mà vì tư lợi sẽ không bao giờ linh ứng
2/ Kinh Dịch là 1 trong 5 Kinh chính của triết lý Đông Phương. Các nhà trí thức (nho gia) xưa phải lào thông nó mới có thể đi thi. Điều đó chứng tỏ nó rất quan trọng. Bói Dịch rất khó hiểu đối với các người trẻ, người mới bắt đầu. Ngay cả sách được cho là kinh điển của cụ Ngô Tất Tố, phần giải thích về bói cũng rất khó hiểu. Tôi mong làm nó đơn giản, dễ hiểu hơn, giúp cho các bạn trẻ , ai muốn tìm hiểu, sẽ dễ dàng hơn, hầu mong giữ gìn những quý giá của ông cha không bị mai một!
Lại nữa, ý của Dịch cho rằng con người tự mình vẫn có thể sửa đổi được số mạng của mình một phần nào. Thế thì tại sao chúng ta không tự tìm hiểu, tự bói quẻ tìm phương thức đối ứng,  mà phải nhờ người khác làm cho mình? Có biết chắc họ thật sự là bậc Thức giả không? Ở đời, biết đâu hư biết đâu thực, biết đâu chân biết đâu giả?!  (Nguyên Lạc)
                                                                                                  
NHẬP MÔN KINH DỊCH
ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẺ DỊCH

Kinh Dịch

Kinh Dịch là một trong ba bộ kinh cổ nhất của Trung quốc, sau Kinh Thi và Kinh Thư, nhưng
nguồn gốc của nó (tức bát quái) thì có thể sớm hơn, vào cuối đời Ân, khoảng 1.200 năm
trước Tây Lịch.
Nó không do một người viết, mà do nhiều người góp sức trong một ngàn năm, từ Văn
Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán.
Điều kỳ dị nhất của Dịch là nó chỉ dựng trên thuyết âm dương, trên một vạch liền ____
tượng trưng cho dương, một vạch đứt __   __ tượng trưng cho âm. Hai vạch đó chồng lên
nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bát quái này lại
chồng lẫn lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: Lục thập tứ quái.
Dùng sáu mươi bốn hình này, người ta diễn được tất cả các quan niệm về vũ trụ, nhân
sinh. Từ những hiện tượng trên trời dưới đất, những luật thiên nhiên cho tới những công
việc thường ngày như trị nước, ra quân, trị nhà, cưới hỏi, ăn uống, xử thế...

-- Mới đầu chỉ có lưỡng nghi: dương (vạch liền:  ___ ) và âm (vạch đứt:  _  _ )
-- Bên dương, nếu lấy dương chồng lên dương, rồi lấy âm chồng lên dương, chúng ta sẽ
được hai hình tượng:
- (vạch dương/ vạch dương): thái dương
- (vạch âm/ vạch dương): thiếu dương
Bên âm cũng vậy, nếu lấy âm chồng lên âm, rồi lấy dương chồng lên âm, chúng ta sẽ được
hai hình tượng nữa:
- (vạch âm/ vạch âm): thái âm
- (vạch dương/ vạch âm): thiếu âm
Như vậy được bốn hình tượng, gọi là tứ tượng.
Tứ tượng có tên:  Thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm
-- Sau cùng, lấy dương lần lượt chồng lên cả bốn hình trên, chúng ta sẽ được 4 hình:
Ly (Li) , Càn (Kiền) , Tốn , Cấn.
Rồi lấy âm lần lượt chồng lên cũng cả bốn hình đó, chúng ta sẽ được thêm 4 hình nữa:
Chấn , Ðoài (Đoái) , Khảm , Khôn.

                           
                Hình 1: Sự hình thành bát quái

Như vậy được hết thảy 8 hình gọi là bát quái (tám quẻ). Mỗi quẻ có 3 vạch (gọi là 3 hào),
xuất hiện lần lần từ dưới lên trên. Cho nên khi gọi tên hào, khi đóan quẻ, phải đếm và xét
từ dưới lên trên: Hào dưới (cũng là hào 1), rồi lên hào 2, hào 3...


Bát quái                                                                       
Số của Bát quái / Hành

☰ : Càn (hay Kiền) vi thiên là trời có đức cứng mạnh, là đàn ông.
1 Kim

☷ : Khôn vi địa là đất, có đức nhu thuận, là đàn bà.    
8 Thổ

☲ : Ly vi hỏa là lửa, sáng.                                                         
3 Hoả

☵ : Khảm vi thủy là nước, hiểm trở.                                       
6 Thuỷ

☶ : Cấn vi sơn là núi, yên tĩnh.                                                 
7 Thổ

☱ : Đoái (hay Đoài) vi trạch là chầm (đầm), vui vẻ.               
2 Kim

☴ : Tốn vi phong là gió, vào.                                                   
5 Mộc

☳ : Chấn vi lôi là sấm, động.                                                    

4 Mộc

Các bạn phải thuộc rõ 8 hình trên, trông thấy hình nào, thì phải gọi được tên của nó. Ngược
lại hể nghe thấy nói tên quẻ nào, thì phải vẽ ngay được hình nó.

Bạn có thể theo cách này:

Trước hết chúng ta bỏ qua quẻ Càn và quẻ Khôn đi, vì ai cũng cũng nhớ ngay rồi, còn lại 6
quẻ:
- 3 quẻ có 1 hào âm (một vạch đứt): quẻ Ly, quẻ Đòai, quẻ Tốn.
- 3 quẻ còn lại Khảm, Cấn, Chấn đều có một hào dương (một vạch liền).
Chúng ta chỉ cần nhớ vị trí ba vạch đứt trong 3 quẻ có 1 hào âm thôi:
- Quẻ Ly là lửa thì vạch đứt ở giữa: Như hình miệng lò.
- Quẻ Đòai là chầm (đầm) thì vạch đứt ở trên cùng: Như chỗ trũng trên mặt đất.
- Quẻ Tốn là gió thì vạch đứt tất phải ở dưới cùng: Vạch đứt (âm) đó tượng trưng sự mềm
mại, dịu dàng của gió.

Nhớ như vậy rồi thì vẽ được ba quẻ đó, vì hai hào kia của mỗi quẻ là vạch liền (dương).
Vẽ được 3 quẻ đó rồi thì vẽ được ba quẻ trái với chúng về ý nghĩa cũng như về các vạch:
- Khảm (nước) trái với Ly (lửa), thì gồm một vạch liền (dương) ở giữa còn lại hai vạch
kia đứt
- Cấn (núi) trái với Đòai (đầm): núi nổi lên trên mặt đất, đầm trũng xuống, thì gồm một
vạch liền (dương) ở trên cùng, còn lại hai vạch kia đứt (âm).
- Chấn (sấm): trái với Tốn (gió): Chấn (sấm) động mạnh, còn Tốn (gió) thổi nhẹ thì gồm
vạch liền (dương) ở dưới cùng, còn lại hai vạch kia đứt (âm).

Trùng quái:

Chúng ta biết lưỡng nghi chồng lên nhau một lần thành tứ tượng, chồng lên một lần nữa
là bát quái. Chỉ có 8 quẻ với 24 hào thì không thể diễn được nhiều hiện tượng, sự việc...
nên lại phải chồng lên thêm một lần nữa. Lần này không lấy 1 vạch âm haydương như lần
thứ nhì, mà lấy trọn một quẻ chồng lên tất cả 8 quẻ. Chẳng hạn, lấy quẻ Càn chồng lên Càn
và 7 quẻ kia, lấy quẻ Ly chồng lên Ly và cả 7 quẻ kia. Như vậy mỗi quẻ thành ra 8 quẻ mới,
tám quẻ thành 64 quẻ mới. Mỗi quẻ mới gồm 6 hào, cộng là 64 x 6: 384 hào, tạm đủ để
diễn được khá nhiều hiện tượng, sự việc rồi.
Sáu mươi bốn quẻ mới này gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên
thủy gọi là đơn quái (quẻ đơn).

Chu Dịch (Dịch nhà Chu) hòan tòan xây dựng trên quan niệm âm dương. Sáu mươi bốn
quẻ chỉ do hai vạch âm và dương (đứt và liền) chồng lên nhau, thay đổi cho nhau
mà thành.

Nghĩa hai chữ dương và âm

Theo một số nhà ngữ nguyên học Trung Hoa thì mới đầu hai chữ dương, âm có hình thức
như sau:
Chữ dương (陽) gồm hai phần: bên trái là sườn núi hoặc bức tường; bên phải, trên có mặt
trời lên khỏi chân trời, dưới là những tia sáng mặt trời chiếu xuống.
Do đó, dương trỏ phía có ánh sáng, phía sáng.
Chữ âm (陰) gồm hai phần: bên trái cũng là sườn núi, bên phải, trên có nóc nhà, dưới có
đám mây.Do đó, âm trỏ phía mặt trời bị che khuất,không có ánh nắng, phía tối.
Phía có ánh nắng thì ấm áp, cây cối tươi tốt, phía không có ánh nắng thì lạnh lẽo, cây cối
không phát triển. Do đó âm dương từ cái nghĩa tối/ sáng chuyển qua nghĩa lạnh/ nóng,
đêm/ ngày, mùa đông/ mùa hè, mặt trăng/ mặt trời, chết/ sống, yếu/mạnh, giống cái/
giống đực, suy/thịnh, xấu/tốt, hư/thực, tiểu nhân/ quân tử, đóng/ mở, đục/ trong...
Trong âm có dương, trong dương có âm. Âm thịnh thì dương suy, dương thịnh thì âm suy.
Kinh Dịch tượng trưng âm dương bằng hai vạch: Vạch liền (dương):  ___  và vạch đứt
(âm):  _  _ . Liền thì gọi là thực (đặc), đứt gọi là hư (rỗng).

Thái cực
Từ khi có quan niệm Thái cực, người Trung Hoa tượng trưng âm dương bằng hình đen
và hình trắng, vì mới đầu, âm có nghĩa là phía không có ánh mặt trời, ở trong bóng tối,
dương có nghĩa là phía có ánh mặt trời, sáng sủa.


                            Hình 2: Thái cực

Chúng ta nhận thấy vòng tròn Thái cực gồm hai hình âm dương đó, và hai hình này tuy cách
biệt hẳn nhau, đối lập nhau, mà lại ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau.
Lại thêm chỗ hình đen phồng ra có một điểm trắng, chỗ hình trắng phồng ra có một điểm
đen; chỗ hình đen phồng ra là chỗ hình trắng thót lại, ngược lại chỗ hình trắng phồng ra là
chỗ hình đen thót lại. Như vậy để diễn cái ý :" âm thịnh lần thì dương suy lần, ngược lại
dương thịnh lần thì âm cũng suy lần. Khi âm cực thịnh đã có một
mầm dương (điểm trắng) xuất hiện rồi, khi dương cực thịnh đã có một mầm đen (điểm
đen) xuất hiện rồi".
Vậy chẳng những âm dương xoắn lấy nhau mà trong âm còn có dương, trong dương
còn có âm nữa!

Thành rồi hủy

Luật trong dương có âm, trong âm có dương có nghĩa là hiện tượng nào cũng chứa sẵn
mầm tự hủy của nó. Trong sự thịnh có mầm của sự suy, trong sự trị có mầm của sự loạn,
trong sự sống có mầm của sự chết. Cho nên có người bảo một đứa trẻ sinh ra là bắt đầu
tiến tới sự chết, mà chết là bắt đầu sống lại một cuộc sống khác, là tái sinh dưới hình thức
này hay hình thức khác. Không thể có dương mà không có âm, có sống mà không có chết,
có thịnh mà không có suy, có trị mà không có loạn. Phải có đủ cả hai thì mới thành một
hiện tượng được, mới thành vũ trụ được, cũng như bất kỳ vật nào cũng có mặt phải và mặt
trái, xã hội nào cũng có thiện và ác.
Mọi sự biến trong vũ trụ chỉ là một tiến trình thành rồi hủy, hủy rồi thành.
Sự thành của dương là sự hủy của âm và ngược lại, sự thành của âm là sự hủy của dương.
Tóm lại âm dương tuy tính chất tương phản nhưng cũng tương ứng, tương cầu (tìm nhau),
tương giao (gặp nhau) có tương giao mới tương thôi (xô đẩy nhau), tương ma (cọ xát
nhau), tương thể (thay thế, bổ túc nhau) để tương thành (giúp nhau tự hoàn thành: có
cái này thì mới có cái kia, có cái này thì cái kia mới làm tròn được nhiệm vụ của nó trong vũ
trụ).
Quan trọng nhất là sự tương giao: giống đực giống cái, cả trời đất nữa (vì trời đất cũng chỉ
là âm dương) có giao cảm với nhau rồi mới có vạn vật, vạn vật mới sinh nở biến hóa được.
- Âm dương đều động: Muốn giao nhau thì cả dương lẫn âm đều phải động.
- Rồi biến hóa: Âm dương có động thì mới giao nhau, mới biến mà sinh sinh hóa hóa

Chữ dịch ở đây là biến dịch, tức đạo biến hóa trongvũ trụ. Mọi sự biến hóa đều từ Càn
Khôn mà ra; không còn Càn Khôn tức âm dương thì không còn sự biến hóa.
Mà nếu không có sự biến hóa, nghĩa là nếu âm dương không tác động lẫn nhau, không gặp
nhau, thì “cô dương” không thể sinh, “độc âm” không thể thành; trong trường hợp đó âm
dương sẽ bị tiêu diệt.
Tóm lại, Dịch cho rằng có số mạng, nhưng con người vẫn có thể sửa đổi số mạng được
phần nào!

(còn tiếp)
                                                              Nguyên Lạc                                                                         
....................
Tham Khảo: Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard Wilhelm,
Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng, Internet, Facebook...

READ MORE - QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN - Nguyên Lạc