Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, December 20, 2018

ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

   
             Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC
                                                                Châu Thạch

Đa số người Việt ta, dầu có chữ hay không có chữ, chẳng mấy ai không biết Trương Phi. Bởi Trương phi là một trong những danh tướng nhà Thục Hán thời Tam Quốc bên Tàu, được truyền tụng và được yêu mến, có ảnh hưởng sâu đậm trong dân gian. Trong tiêu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Trương Phi cùng Lưu Bị và Quan Vũ kết nghĩa huynh đệ, bái trời đất tại vườn đào. Trương Phi là em út trong ba người.
Đọc bài thơ “Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” của Thế Lộc không ai không biết nhà thơ mượn nhân vật Trương phi để gởi tâm sự của mình vào đó. Cái chữ “rượu gạo” cũng đã mang một hàm ý sâu xa rồi.
Ngày xưa Trương Phi uống rượu gì ta không biết, thế nhưng cũng dễ đoán được. Vì một người uống rượu như lưu linh, lại là một võ tướng ngoài sa trường thì không có mỹ tửu đâu đủ để uống cho say túy lúy, trừ ra là rượu gạo. “Rượu gạo” cũng mang tính dân tộc. Những anh hùng trong lịch sử nước ta, như Quang Trung chẳng hạn, cũng xuất thân từ giai cấp nông dân, mặc áo vãi, uống rượu gạo mà phất ngọn cờ đào làm nên lich sử vẽ vang cho đất nước.
Ngày nay, Thế Lộc dùng hai chữ “rượu gạo” trong thơ, một phần tỏ cái hào khí của mình cũng giống như người xưa vậy, một phần tỏ cái thân phận thường dân của mình trong cuộc sống thời nay, là cái thời mà bậc quyền thế, giới giàu sang chỉ uống toàn rượu ngoại đắt tiền.
Vào đề nhà thơ đã dựng lại một bức tranh thật hào hùng của người mãnh tướng năm xưa:

Vác xà mâu đứng giữa cầu

Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng

Truyện xưa viết rằng: Trương Phi là người khẳng khái, bộc trực, rất nóng nảy. Trương Phi có võ nghệ siêu phàm, vô cùng dũng cảm. Trương Phi xử dụng vũ khí là một cây bát xà mâu dài 1,8 trượng, cưởi tuấn mã màu đen chân trắng. Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù. Một lần, trên cầu Trường Bản, Trương phi đã quát mấy tiếng khiến Tào Tháo hoảng sợ mà lui binh. Khi ấy Trương Phi chỉ có vài mươi kỵ sĩ, còn Tào Tháo thì có trăm vạn hùng binh. Trong trận ấy Hạ Hầu Kiệt, một viên quan hầu Tào Tháo phải vỡ mật, chết đi vì hoảng sợ khi nghe tiếng hét của Trương Phi.
Nhà thơ Thế Lộc nhắc lại chuyện nầy để làm gì? Tác giả muốn dựng lại hình ảnh của chính mình đã có một thời như thế. Tất nhiên, để anh hùng như Trương Phi thì ngàn năm mới có một người. Thế nhưng, bất cứ người lính chiến nào, ở trong thời đại nào,  ở trong quân ngũ nào, nếu không là kẻ khiếp nhược thì cái tinh thân Trương Phi vẫn có luôn trong dòng máu nóng. Thế Lộc dựng hình ảnh Trương Phi đứng trên cầu Trương Bản năm xưa để tưởng nhớ lại chính mình, còn tưởng nhớ đến một lớp người đã khoác áo chiến binh, mang một bầu máu nóng, thẳng thắng, bộc trực, gan dạ và oai hùng trong thời binh lửa.
Thế rồi tiếp bốn câu thơ sau, Thế Lộc đem mình ra so sánh với Trương Phi:

Mấy mươi năm ông lẩy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu
Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng  giống ông chỉ ở tù mấy năm

Như trên đã nói, Trương Phi là người rất nóng nảy. Cũng bởi tính nóng nảy đó, ông đã chuốc họa vào thân. Do nôn nóng việc báo thù cho Quan Vũ, người anh kết nghĩa vườn đào của Trương Phi bị Đông Ngô hại chết mà ông đánh đập quân sĩ, làm cho khiếp đảm những người dưới trướng. Một đêm, uống rượu ngủ say, Trương Phi bị  Trương Đạt và Phạm Cương, vì lo sợ Trương Phi sẽ chém đầu bởi không làm tròn phận sự mà Trương Phi giao phó, đã âm thầm sát hại, dùng dao đâm ông chết. Cái chết của Trương Phi thật là bi đát, bởi không chết trên sa trường, không da ngựa bọc thây, là điều hảnh diện của võ tướng, của mọi người chiến binh gan dạ.
Khi nhà thơ Thế Lộc nói “Cũng như ông” tức là tác giả tự cho mình tuy không chết, tuy chỉ ở tù mấy năm nhưng nỗi đau có khi, còn nhiều hơn Trương Phi thuở xưa nữa, vì không chết trên sa trường, không poncho bọc thây, không thỏa lòng chỉ vì xuôi tay theo định mệnh an bài. Thật thế, làm thân trai mang bầu máu nóng, kẻ ra đi vì lý tưởng non sông, người ra đi vì lý tưởng của riêng mình, chẳng một ai muốn mình buông vũ khi để vào tù. Thà chết quách như Trương Phi, không chịu khổ lụy tiếp theo, để “huy hoàng rồi vụt tắt / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Thế Lộc đã nhấn mạnh điều đó trong hai câu thơ sau, hai câu thơ tuy không nói rõ, nhưng như có một chút gì ganh tỵ với Trương Phi,  như cho rằng Trương Phi đã thỏa lòng vì đã ngàn năm yên giấc:

Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng

Thế rồi khi rượu đã say, nhà thơ không nói mình rơi lệ, nhưng ta biết lòng nhà thơ rơi lệ:

Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Cuộc cờ thì có hưng có phế có suy vong là lẽ thường tình, nhưng thương cho người “kiếm cung bỏ dở” phải chịu bao điều đắng cay.
Từ sự cảm kích một danh tướng thưở xa xưa, nhà thơ đã chạnh lòng khi nhớ đến mình cũng đã từng mang ít hay nhiều hào khí như hào khí của Trương Phi. Bốn câu thơ cho ta tưởng tượng một cuộc đổi dời như nương dâu hóa biển và biết bao thân phận như bọt bèo trôi theo dòng lũ. Bốn câu thơ cũng gợi cho ta những tâm sự buồn thê thiết khi ai đó phải nhìn tận vào lòng mình để thấy “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Thế rồi bằng một sự so sánh, Thế Lộc đã đánh giá sự chết của Trương Phi và sự sống của mình rất khác nhau:


Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông

Vâng đúng thế, chết đi thì “nhẹ  hều” còn sống thì phải mang nặng bao điều của cuộc sống. Điều đó là sự thật, và là sự thật đau lòng cho hàng triệu chiến binh đã buông tay súng vì bất đắc dĩ trước đây. Không cần phải kể lể, không càn phải thống kê, ai cũng biết rằng những người chiến binh đó khó mà vươn lên giữa đời như một thân cây  tươi tốt vì được bón hoa màu. Họ dầu ở đâu, thân cũng chỉ như “cánh bèo trôi” trên dòng sông đầy gềnh đầy thác!
Cuối cùng nhà thơ tỉnh người trong cơn say rượu gạo. Tỉnh người để thấy bão bùng nổi lên bốn phương, để nhớ người mẹ thân yêu mà mình hằng xa cách:

Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

“Lòng mẹ bao la như biển thái bình”. Đối với tác giả, cha là cuôc sống hiện tại, mẹ là của cái thời thanh xuân, còn trai trẻ. Mấy ai mà quên được thời trai trẻ của mình, nhất là cái thời ấy, anh ta được vẩy vùng như hình ảnh của danh tướng Trương Phi. Hai câu thơ cuối như một lời nhắn gởi thân yêu về qua khứ, cũng như một lời từ biệt quá khứ không hẹn ngày tái ngộ.
Ngày mẹ lấy chồng. phải từ bỏ một thời con gái, lìa bỏ cha mẹ anh em để tòng phu. Sự phân cách đó, không chỉ buồn một lúc cho người ra đi, mà ngược lại nó tồn tại hòai trong ký ức mỗi khi tưởng lại giây phút chia lìa. Thế Lộc dùng hình ảnh người mẹ ra đi, như một ẩn dụ để gián tiếp bày tỏ nỗi niềm sâu kín trong tận con tim. Tiếng kêu ấy như dòng nước mắt nuốt vào, hóa thành nỗi đau tinh thần, trở thành nan y trong suốt cả cuộc đời còn lại.
“Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” là một bài thơ bi hùng. Đọc bài thơ đó ta thấy hùng khí hiển hiện trong thơ, qua hình ảnh Trương Phi. Cũng qua hình ảnh Trương Phi tác giả phát họa được hình ảnh của chính mình một thời trai trẻ. Bài thơ có sự than thở tưởng như bi nhưng sự bi đó cũng nằm trong sự hào hùng, kể cả khi “kiếm cung bỏ dở” trong cuộc “hưng phế, suy vong”.

Đọc thơ, dầu người lớn tuổi đã trải qua chinh chiến hay người nhỏ tuổi ở thế hệ hòa bình, vẫn thấy cái tinh thần quật cường trong tâm hồn người chiến sĩ, dẫu họ thành hay bại trong cuộc cờ thế sự. Tuy họ sống âm thâm, nỗi lòng của họ mang theo cùng sự lãng mạn với chất Người hảo hán mà cha ông họ, thời đại họ đã giáo dục họ không bao giờ thay đổi.

                                                               Châu Thạch



                               Nhà thơ Thế Lộc


UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI

Vác xà mâu đứng giữa cầu
Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng
Mấy mươi năm ông lẫy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu

Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng giống ông chỉ ở tù mấy năm
Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng
Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông
Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

                                                Thế Lộc
                                            24. 04.2013

READ MORE - ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

QUẢNG TRỊ MỘT TÌNH YÊU - Thơ: Trương Hằng Nga - Nhạc: Đào Bá Hoàng Anh và Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Ngọc Bích

READ MORE - QUẢNG TRỊ MỘT TÌNH YÊU - Thơ: Trương Hằng Nga - Nhạc: Đào Bá Hoàng Anh và Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Ngọc Bích

MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím


                    Nhà thơ Hiệp Kim Áo Tím


MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG

Chia tay... anh hứa sẽ về
Mùa đông phố núi hẹn thề trăm năm
Thế rồi đã mấy trăng rằm
Người đi... đi mãi âm thầm mình em

Năm xưa... buổi tối nô en
Mình cùng sánh bước đi xem nhà thờ
Bên người... em quá ngây thơ
Thích xem sính lễ mộng mơ thật nhiều

Ngân vang thánh thót chuông chiều
Bên ai em chỉ biết yêu... thôi mà
Thế mà ta phải chia xa
Anh đi để lại trong ta nỗi buồn

Giáng sinh lất phất mưa phùn
Người buồn có lẽ trời tuôn giọt sầu
Vắng anh thức trọn canh thâu
Giáng sinh ta lại nhớ nhau ơi... người!

Anh bảo thích tiếng em cười
Thích nghe em nói lại lười môi cong
Mùa đông sao má em hồng
Sưởi cho anh ấm tấc lòng đơn côi

Anh đi về chốn xa xôi
Đếm bao lá rụng để rồi ngóng trông
Bao mùa chờ đợi nhớ mong
Giáng sinh thương nhớ... người không trở về...

                                         Hiệp Kim Áo Tím
                                       Đà Lạt, 21/12 /2018

READ MORE - MÙA GIÁNG SINH... NHỚ THƯƠNG - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

NIỆM KHÚC THU 1 - Thơ Châu Thanh Thủy





NIỆM KHÚC THU 1
(Tặng Người đàn ông của tôi!)

Qua thềm bóng nắng sẽ rơi
Qua sông gió sẽ hát lời tương tư
Yêu nhau buổi ấy mùa thu
Lá vàng rơi khẽ như ru lòng buồn
Hãy đừng để giọt lệ tuôn
Hãy chôn nước mắt vào hồn li tan
Người đi buổi ấy trăng ngàn
Mây xa níu lại, cỏ giàn bước chân.
Đừng quay lại, đừng phân vân
Có là li biệt cũng lần ấy thôi...

Ta trong dằng dặc cuộc đời
Dù tan - hợp, cũng là lời tình yêu !

                        Châu Thanh Thủy

READ MORE - NIỆM KHÚC THU 1 - Thơ Châu Thanh Thủy

TIẾNG LÒNG, ĐỢI, CHIỀU - Thơ Tịnh Đàm



                    Nhà thơ Tịnh Đàm


TIẾNG LÒNG
(Tặng Tâm Châu)

Vỗ đàn
Theo giọng thơ ngâm
Nhịp đưa trầm lắng
Dư âm... tiếng lòng.

Vui say
Cho trọn đêm mong
Người về
Bỗng nhớ người...
Trong bồi hồi.


ĐỢI

Mỗi ngày
Tôi vẫn đợi mong
Một niềm vui nhỏ
Đến trong cuộc đời.

Để hồn như bướm
Chơi vơi
Về theo cánh gió
Mộng...
Trời yêu thương.


CHIỀU 

Chiều rơi
Như những giot lòng
Buồn vương bao nỗi
Nhớ mong
Bên đời.

Mắt nhìn
Về phía xa khơi
Một phương người đó
Tím...
Trời hoàng hôn !

       TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - TIẾNG LÒNG, ĐỢI, CHIỀU - Thơ Tịnh Đàm

Wednesday, December 19, 2018

GÓP Ý VỀ " ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI" - Nguyên Lạc



                          Nhà bình thơ Nguyên Lạc



GÓP Ý VỀ "ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI"
                                                      Nguyên Lạc
* * *
LỜI PHÁT BIỂU CỦA NHÀ BÌNH THƠ CHÂU THẠCH

Tình cờ vào trang THƠ ĐƯỜNG ĐẤT VIỆT, tôi đọc được bài: “XUÂN ĐỢI NHÉ” THƠ LÃNG UYỂN CHÂU: ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI của Nhà bình thơ Châu Thạch [1] đăng ngày 23-05-2018, những lời phát biểu sau đây của Nhà bình thơ gây nhiều "ấn tượng" đối với tôi:
" Tôi không rành văn học sử nhưng hình như các thể thơ làm theo phong cách mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, được các nhà nghiên cứu văn học cho rằng là thơ hiện đại. Ngày nay có một thứ thơ chữ nghĩa bí hiểm, ý tứ bí mật được cho là thơ hậu hiện đại. Tất nhiên thứ thơ hiện đại và hậu hiện đại nầy không có Đường thi. Từ lập luận nầy người viết nghĩ ra một ý ngộ nghĩnh, dí dỏm như sau: Đường thi cũng có hai loại, Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Đường thi cổ thi là thơ Đường luật được sáng tác từ xưa đến nay, câu thơ dùng nhiều hán tự và điển tích, ý thơ gò bó trong ngữ nghĩa của ông bà để lại và đối ngẩu thì đập vào nhau chan chát như hai chiếc bánh xe song hành trên đường sắt.  Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau. Đây chỉ là một phát biểu vui của người viết, xin đừng ném đá nếu cho là sai.
Trong số Đường thi hậu hiện đại ấy, hôm nay tôi thấy mình thích thú với bài thơ “Xuân Đợi Nhé” của Lãng Uyển Châu" [Châu Thạch]
Phát biểu trên có những điểm theo tôi nghĩ nên cần "thương thảo" nhau cho chính xác, cho rõ nghĩa:
-- "Đây chỉ là một phát biểu vui của người viết, xin đừng ném đá nếu cho là sai".
Theo tôi, đã là nhà phê bình, đã phê bình các bài thơ đưa ra công chúng thì lời nói có trọng lượng, được cân nhắc cẩn trọng chứ không thể nào gọi là "một phát biểu vui" được. Chỉ gọi là phát biểu vui khi nào lời phát biểu được đưa ra trong lúc thù tạc bạn bè ở tiệc rượu hoặc quán càphê. Không có chuyện "đừng ném đá nếu cho là sai" vì câu nói nầy rõ ràng cố tính không cho người khác phê bình tính chủ quan của người phát biểu - Nhà bình thơ.
--  "thơ chữ nghĩa bí hiểm, ý tứ bí mật được cho là thơ hậu hiện đại"
Đoạn này theo tôi không chính xác vì thơ Hậu hiện đại chữ nghĩa đâu có bí hiểm, ý tứ đầu có bí mật? Chỉ vì không hiểu rõ cách "làm thơ" của trường phái nầy nên nói vậy thôi
-- Các thể thơ làm theo phong cách mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, được các nhà nghiên cứu văn học cho rằng là thơ hiện đại.
Câu nầy tương đối chính xác. Trong thơ hiện đại có thơ mới và thơ tự do
-- "Đường thi cũng có hai loại, Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Đường thi cổ thi là thơ Đường luật được sáng tác từ xưa đến nay, câu thơ dùng nhiều Hán tự và điển tích, ý thơ gò bó trong ngữ nghĩa của ông bà để lại và đối ngẩu thì đập vào nhau chan chát như hai chiếc bánh xe song hành trên đường sắt.  Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau"
Đoạn này không chính xác. Trước khi tôi phân tích rõ, mời các bạn đọc 2 trích đoạn lý thú này về Đường thi:
Trích đoạn 1
[... 1. Thơ Đường tức là Đường Thi: là những bài thơ của các thi gia Trung hoa làm vào thời đại nhà Đường (618 – 907), số lượng các bài Đường thi được ghi chép và lưu truyền đến nay rất nhiều, lên đến hàng ngàn bài.
Đã có một tác phẩm nổi tiếng là Đường Thi Nhất Thiên Thủ chọn lọc 1000 bài Đường Thi được coi là hay nhất của các thi nhân đời Đường. Trong số đó có một số được làm theo thể Thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong (Cổ phong hay cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định). Cho nên gọi là Đường Thi hay Thơ Đường thì phải là những bài thơ được sáng tác vào thời đại nhà Đường bên Trung hoa nhưng không nhất thiết làm theo luật thơ của Thơ Đường Luật.
2. Thơ Đường Luật: còn gọi thơ cận thể (để phân biệt với cổ phong là thơ cổ thể) là thể thơ được đặt ra từ đời nhà Đường và phải tuân theo các qui tắc bắt buộc, rất khắt khe, gò bó.
Đường Luật Chính Thể chỉ có Thất Ngôn Bát Cú 5 vần bằng mà thôi.
3. Một sự lạm dụng và ngộ nhận:
Thuật ngữ Thơ Đường hay Đường Thi đã bị lạm dụng, hiểu lầm, thiết nghĩ cần nói lại cho rõ.
Thơ Đường là loại thơ do các thi nhân đời nhà Đường bên Trung Hoa sáng tác, hoàn toàn không có các tác giả đời khác, ngoài các thi sĩ đời Đường.
Các thi sĩ Việt Nam trước đây (thường gọi là các nhà thơ cổ điển) chủ yếu làm theo thể Thơ Đường Luật. Họ sáng tác bằng Hán văn, gọi là thơ Hán văn (thí dụ thơ Hán văn của Nguyễn Du…). Còn nếu họ sáng tác bằng chữ Nôm, gọi là thơ Nôm. Như thơ của Bà Hồ Xuân Hương chẳng hạn, được người đời sau tôn xưng Bà là bà chúa thơ Nôm.
Không ai gọi thơ Hán văn của Nguyễn Du là Thơ Đường cả. Cũng không ai gọi Bà Hồ Xuân Hương là bà chúa Thơ Đường cả.
Tóm lại, các thi gia từ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Kỷ, Trần Tế Xương, Tản Đả, Nguyễn Khuyến … trở về trước, người ta thường không nói là họ làm Thơ Đường, mà chỉ phân biệt Thơ Hán (Hán văn) và Thơ Nôm (chữ Nôm) thôi, với hiểu ngầm là Thơ Đường Luật chữ Hán hoặc Thơ Đường Luật chữ Nôm. Gọi tắt là Thơ Hán Đường Luật và Thơ Nôm Đường Luật.
Các bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt … gọi chung là thể Thơ Đường Luật không phải Thơ Đường (Đường Thi)...]
(Khải Chính Phạm Kim Thư) [2]
Trích đoạn 2
[...Hai thể loại thơ hình thành: Một sáng tác theo lối mới, gọi là Cận thể hay Luật thi; một loại sáng tác theo lối cũ, gọi là cổ thể hay Cổ phong. Thơ cận thể gồm những bài có số câu nhất định (tứ tuyệt, bát cú), số tiếng trong các câu thống nhất (ngũ ngôn, thất ngôn), phép gieo vần (vận luật) và tiết tấu (thanh luật) đều được quy định rõ ràng chặt chẽ…”
Như vậy, loại hình thơ Cổ phong (cổ thể) trên thực tế cùng tồn tại song song với thơ cận thể ở đời Đường, thậm chí cổ phong vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay ở Trung Quốc và Việt Nam.Thơ Cổ phong tuy không có những quy định ngặt nghèo như thi luật, nhưng không phải là không có phép tắc gieo vần...]
(Theo Phan Lan Hoa)

TÍNH KHÔNG CHÍNH XÁC TRONG LỜI PHÁT BIỂU
Vài ý nghĩ về bình thơ:
Trước khi phân tích tính không chính xác lời phát biểu của Nhà bình thơ Châu Thạch, tôi xin được ghi ra đây vài ý
-- Người xưa có nói "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Tôi tự nhận xét mình cũng có hiểu biết chút ít về phê bình nên góp vài lời chắc cũng không sao, có gì các cao nhân sẽ niệm tình cho tấm lòng yêu thương sự chính xác của chữ nghĩa, của cái đẹp tiếng Việt
-- Người bình thơ nên học hỏi thêm về Văn học sử, căn bản về các trường phái thơ, biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho sự bình thơ; vì nếu chỉ bình theo cảm tính thì bài phê bình không chính xác, đầy tính chủ quan và có nhiều khi vô tình gây ảnh hưởng tiêu cực đến bài thơ.
-- Hãy thật lòng mình, đừng bẻ cong ngòi bút vì tư lợi, ý đồ, phe cánh hoặc vì tiếng tăm người khác gắn cho bài thơ, cho thi nhân.v.v… mà vội vàng hít hà khen thưởng, không thẩm định kỹ. Nên nhớ rằng, khen “quá lố” có khi làm hại người được khen.
– Cũng đừng đóng “hòm” trước rồi chặt chân xác chết cho vừa cái “hòm”. Có nghĩa là đừng đưa ra tiêu chí chủ quan riêng mình rồi ép bài thơ được bình phải hợp theo. Không nên áp đặt như vậy
-- Nhà binh thơ nên cũng nên cần biết câu chuyện này:
"Nhà thơ Jacque Prévert đi vào câu lạc bộ bình thơ của Pháp tại Paris. Gặp lúc các nhà bình thơ đem thơ ông ra mổ xẻ đủ loại, đủ điều nhưng chả có ai chú ý đến một người vô danh mới vào và chăm chú theo dõi cuộc bình thơ. Hết cuộc bình thơ, người khách lạ bước lên sân khấu bắt tay các diễn giả và nói rằng: "Xin chân thành cảm ơn tất cả các ngài đã đem thơ tôi bình luận. Thật sự tôi chưa bao giờ biết rằng tôi đã có những ý nghĩ lạ lùng cao xa ấy trong thơ mình và tôi cũng không ngờ thơ tôi lại hay như vậy. Cảm ơn các ngài.
Nói xong, người khách lặng lẽ bước ra. Người khách lạ ấy chính là Jacque Prévert."
(Chuyện đã lâu, người bạn tôi kể lại):
Cái ý của câu chuyện này chắc nhà bình thơ hiểu rõ?
Phân tích lời phát biểu của nhà bình thơ
-- Luật của thợ Đường rất rắc rối: Nhà bình thơ nói đúng ở đây
Các đặc trưng cơ bản nhất của thơ Đường luật (Đường thì) là "luật",  "niêm",  "đối",  "vận". Đặc biệt nhất là các cặp 3-4 (cặp câu thực) và 5-6 (cặp câu luận) phải đối nhau.  Người làm thơ Đường luật nhất thiết phải đạt được các đặc trưng ấy, nếu không sẽ thành bài thơ theo thể khác
Tuy nhiên nói: "Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau" là không chính xác. Tại sao?
Giải thích
- Tùy theo thời, quan niệm về cái đẹp khác nhau nên cách dùng chữ (tôi không thích dùng chữ "từ" vì không chính xác) khác nhau: Ngày xưa ví cái đẹp người nữ với những nhân vật cụ thể như Tây Thi, Bao Tự... Sau đó ví như bông hoa như Lý Bạch ca tụng Dương Quí Phi (được thưởng cho cả ký vàng): "Vân tưởng y thường hoa tưởng dung/ Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng... "
Về sau quan niệm thay đổi, cái đẹp như thế này:

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển...
                       (Nga - Nguyên Sa)

Hoặc thanh thoát như mắt nâu trầm, ngực trăng rầm:

Nụ tình nở đỏ môi nhau
Nón nghiêng che vạt mắt nâu em trầm
Rủ tôi về giữa trăm năm
Nghe trăng rụng xuống xanh rằm ngực em
                                           (Quỳnh Nga)

Nhưng dù dùng chữ như thế nào đi nữa, các thể loại thơ mà các tác giả sử dụng vẫn không thay đổi. Thí dụ Đường thi, Lục bát.v.v.. vẫn là Đường thi, Lục bát, chứ không có vụ áp đặt  Đường thi hậu hiện đại, Lục bát hậu hiện đại được?
Đường thi là Đường thi, không có chuyện Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Sự thay đổi trường phái thơ là ở cái khác.
Cố tình ghép thêm vào là thừa. Không có chuyện "Đường thi hậu hiện đại" và do đó không có chuyện "Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau".Đây là phát biểu áp đặt kiểu đóng hòm trước rồi chặt chân xát chết dài/ cao nhét vào cho vừa.
Không biết nhà bình thơ hiểu "thơ Hậu hiện đại" như thế nào, chứ tôi thì hiểu sơ lược như thế này

SƠ LƯỢC VỀ THƠ HẬU HIỆN ĐẠI, TÂN HÌNH THỨC

-- Chủ Nghĩa Hiện Đại (Post-Modernism) trong Thi Ca gồm: Hậu Hiện Đại, Tân Hình Thức, Thơ CụThể...
Khuynh hướng Tân hình thức, mà người mở đường là nhà thơ Khế Iêm, với sự phát triển ở hải ngoại như Nguyễn Đăng Thường,Vương Ngọc Minh, Hà Nguyên Du...  ở trong nước như Hồ Đăng Thanh Ngọc và những người khác.
Có lý-thuyết gia theo Chủ Nghĩa Hiện Đại ở hải ngoại như ông Nguyễn Đăng Thường chủ-trương cần làm thơ bạch thoại, triệt hạ tu từ, theo sát với “bốn không” khi làm thơ: Đó là không ẩn dụ, không siêu hình, không vũ trụ, không ngôn ngữ tu từ, đề cao “Tính đời thường”hoặc “Cấu trúc đặt câu bất định”.
-- Chủ Nghĩa Hiện Đại của thơ hải ngoại bao gồm tính chất “Thơ không vần, xuống hàng bất
chợt”. Ta thử đọc vài bài thơ tiêu biểu
… đưa mắt trông mong người
đi đó! Ơi người về
đâu đâu là cõi riêng
an lành vết oan khiên…
(Hoàng Hôn Mưa - thơ Hà Nguyên Du )

khi tôi động đến con chữ lập
tức ý nghĩa trỗi nhạc và nở
hoa trong tôi lập tức cảm khoái
như đêm động phòng hoa chúc... lập
(thơ Hà Nguyên Du)

Thơ Tân hình thức, một dòng thơ mới hiện đại của thi sĩ Hà Nguyên Du chuyên chở ý tưởng thi ca như sau:

ngón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
em thường vẽ lên đó một nụ
hồng màu tươi rói như màu máu

trái tim rất lãng mạn của tôi
ngón tay của em hàm chứa nguyên
trinh cuộc đời tôi như một nhiệm
mầu! cái ngón tay có cái túi

đựng hai chiếc chìa khóa dùng đề
mở hai cánh cửa thiên đàng và
địa ngục cái ngón tay trắng ngà
màu vàng sữa như một magic
(Ngón tay cái của em - Hà Nguyên Du)

-- Điểm mạnh và cũng có thể là điểm yếu của Tân hình thức là sự khách quan hóa, phi cá thể hóa (impersonality).
Thử xét thêm bài thơ này:

Ngày thứ hai của tuần trăng mật
Chúng ta ngủ trong một khách sạn rẻ tiền
Những con rệp cắn anh suốt đêm

Bây giờ đây anh nhớ chúng khôn xiết
Khi mỗi lần đi ngang mộ em
(NHỮNG CON RỆP - Nguyễn Đức Tùng)

Nhận xét ta thấy: Thơ "không ngôn ngữ tu từ", đề cao “Tính đời thường”, thơ không vần, chữ bị lóc hết da thịt, chỉ còn bộ xương: Không hình dung từ, bổ từ, phụ từ v.v... gì cả. Trần trụi.
***
Trở lại với bài thơ Đường luật của Lãng Uyển Châu mà nhà bình thơ Châu Thạch cho là Đường thi hậu hiện đại, ta nhận xét thế nào?  Ta thấy vẫn đầy đủ vần điệu, niêm luật, cặp thực 3-4 và cấp luận 5-6 đối nhau, vậy làm sao đổi tên thơ là Hậu hiện đại được? Đây là bài thơ của Lãng Uyển Châu

XUÂN ĐỢI NHÉ!
Cội mai già thắm sắc vào xuân
Điểm nụ vàng xinh gấp mấy lần
Hò hẹn... yến, oanh vờn khắp giậu
Dập dìu... ong, bướm lượn đầy sân
Tết xưa tươi trẻ, lòng nao nức
Xuân mới già nua, dạ xốn xang
Nhớ thuở tình nồng yêu ấp cũ
Hương xưa ngày ấy… vẫn còn ngân

@. Nhận xét riêng
Như đã nói trên, luật của thợ Đường rất rắc rối: Các đặc trưng cơ bản nhất của thơ Đường luật (Đường thì) là "luật",  "niêm",  "đối",  "vận". Đặc biệt nhất là các cặp 3-4 (cặp câu thực) và 5-6 (cặp câu luận) phải đối nhau.  Người làm thơ Đường luật nhất thiết phải đạt được các đặc trưng ấy, nếu không sẽ thành bài thơ theo thể khác, không phải là Đường thi. Ngược lại thơ Hậu hiện đại không ngôn ngữ tu từ, cấu trúc đặt câu bất định, không có vần niêm luật, xuống hàng bất chợt". Cả 2 thể đi ngược nhau, triệt tiêu nhau thì làm sao mà nói Đường thi hậu hiện đại được? Nhà bình thơ muốn đóng cái "hòm" trước rồi chặt chân xát chết nhét vào hay muốn "khoát áo Veston lên áo dài khăn đóng"?
Nhớ lúc trước Nhà bình thơ Châu Thạch đã phê phán nhà bình thơ Phạm Đức Nhì là "Khoát Veston lên áo dài khăn đóng" khi ông Phạm, có "chiêu thức" dùng thủ pháp "Show do not Tell", phân tích thơ.  Ở đây tôi thấy nhà binh thơ Châu Thạch cũng làm giống "y chang":  "Khoát Veston lên áo dài khăn đóng" thơ Lãng Uyển Châu. Cái khác là áo Veston của ông Phạm khoát vừa vặn, nhìn thấy đẹp/hay, còn riêng ông Châu thì không có theo thủ pháp nào cả,  "vô chiêu" (Chắc ông muốn mình vô địch như Lệnh Hồ Xung,  "vô chiêu thắng hữu chiêu", xỉa bậy kiếm vào vòng tròn của đối thủ, người đang canh giữ tù nhân Nhậm Ngã Hành dưới đáy Động Đình Hồ trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung?), nên "cái áo khoát  Veston" rộng thùng thình, dài phủ gối, phủ đầu khiến tác giả bài thơ bây giờ phải ngậm ngùi vì không biết thơ mình ở thể loại nào"chẳng giống ai": Vua chẳng ra vua, mà hề chẳng ra hề. Than ôi!

LỜI KẾT

CHỮ (tôi không dùng TỪ vi không chính xác) quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Vụ Khổng Minh sửa đổi chữ bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực, đưa đến việc thua trận Xích Bích của Tào Tháo.
Xin sơ lược về vụ nổi tiếng này:
Đây là nguyên tác bài phú Tào Thực (con) ca tụng "Đồng Tước đài" do Tào Tháo (cha) xây lên:
Liên nhị kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.

Nghĩa là:

Bắc hai cầu tây đông nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian

Nhưng Khổng Minh lại cố tình đổi thành:

Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.
Nghĩa là:
Tìm hai Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...

- Liên (nối liền) thành Lãm (thưởng thức, thưởng lãm)
- Đem chữ "kiều" đổi ra chữ "Kiều", Khổng Minh chủ ý lừa và chọc tức Chu Du. (Vì hai Kiều: một là vợ của Tôn Kiên, vua Đông Ngô, người thứ hai là vợ của Chu Du, đô đốc Đông Ngô)
Kết quả sự đổi chữ Chu Du tức tối, khiến Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, sau nhờ Khổng Minh cầu đông phong, Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to.
Thấy chưa, vì VĂN NẠN mà Tào Tháo nướng gần một triệu (850,000) binh sĩ, thoát chạy với vài tên cận vệ.
Hãy cẩn trọng và chính xác trong chữ nghĩa, nhất là các nhà phê bình văn thơ. Hãy bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Và cuối cùng hãy nhớ: ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ TIÊU VONG NẾU MẤT TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA RIÊNG MÌNH.

Nguyên Lạc
..............
[1] “XUÂN ĐỢI NHÉ” THƠ LÃNG UYỂN CHÂU: ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI - Châu Thạch
[2] Thơ Cổ Phong Và Thơ Đường – Thơ Đường Luật - Khải Chính Phạm Kim Thư
READ MORE - GÓP Ý VỀ " ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI" - Nguyên Lạc