Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 18, 2015

LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH - Phạm Đức Nhì

                
                          Tác giả Phạm Đức Nhì





           LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH
           (Trao đổi với nhà văn Châu Thạch)

Cách đây không lâu anh Nguyễn Khắc Phước có thư riêng mời tôi cộng tác với trang web Văn Nghệ Quảng Trị, một trang thuần túy văn học nghệ thuật. Trước khi nhận lời mời tôi có bỏ ra vài buổi dạo qua trang web. Là người làm thơ và bình thơ nên tôi để ý đến những cây bút phê bình văn học và những bài viết của Châu Thạch đã chiếm được cảm tình của tôi với cung cách đứng đắn lịch sự, lời văn hòa nhã.
Hôm nay đọc được bài Đọc Tống Biệt Hành Thơ Thâm Tâm của anh trên Văn Nghệ Quảng Trị (và Văn Đàn Việt) trong đó anh có nhắc đến mấy đoạn trong một bài viết – cũng về Tống Biệt Hành - của tôi nên xin phép được trao đổi với anh trong tinh thần “bạn văn” cùng viết trên một diễn đàn văn học.
Sau đây là những đoạn trong bài viết của tôi được anh đề cập:
     1/ Anh nhắc đến hai đoạn thơ:

          Ta biết người buồn chiều hôm trước          
          Bây giờ mùa hạ sen nở nốt          
          Một chị, hai chị cũng như sen          
          Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

          Ta biết người buồn sáng hôm nay:          
          Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay          
          Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc          
          Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

rồi anh viết: Đoạn này có tác giả bình thơ nhận xét rằng “không những tầm thường mà lạ còn hơi ‘sến’ nữa.” Theo anh thì: “Lời thơ kể lể ở đây không phải ‘tầm thường’, không phải ‘sến’ mà nó là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật.” 
Theo tôi, hai đoạn thơ đã có những khuyết điểm sau đây:
    - Nói chuyện “chiều hôm trước” mà dùng trạng từ chỉ thời gian “Bây giờ” là  không chính xác. Muốn chính xác, muốn hay, phải dùng từ khác.
   -  So sánh “sen nở nốt” với “dòng lệ sót” rất khập khiễng. Những bông sen nở cuối mùa và dòng lệ còn sót lại của mấy người chị vừa khóc vừa khuyên em, hai hình ảnh đó quá xa cách, không tương hợp. Phép “ẩn dụ” không hay.
   -  Chữ “dòng” trong cụm từ “dòng lệ sót” giảm giá trị của chữ “sót”.
   -  “Giời chưa mùa thu tươi lắm thay” là một câu thơ “vô tích sự” bởi nó lạc lõng, thừa thãi, không ăn nhập gì với cả đoạn thơ.
   -  Đọc hai câu:
           Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
           Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

tôi tưởng tượng trước mắt mình một em nhỏ, đôi mắt ngây thơ tròn xoe nhìn người anh sắp đi xa, tay cầm chiếc khăn tay như muốn gói trọn thương tiếc trong lòng mình vào đấy. Ôi! Hình ảnh ấy vừa khô cứng, vừa “cải lương”, lại vừa không thật; ngây thơ đôi mắt biếc như em nhỏ thì biết gì mà thương với tiếc; chữ “tiếc” ở đây hoàn toàn sai.
    Trên đây là một vài chi tiết khiến tôi đưa ra nhận xét là hai đoạn thơ “không những tầm thường mà lại còn ‘sến’ nữa.” Anh Châu Thạch cho đó “là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật” là quyền của anh. Tôi dành sự phán xét sau cùng cho độc giả.

   2/ Vế chót của bài thơ như sau:
           Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay
          Chị thà coi như là hạt bụi
          Em thà coi như hơi rượu cay

Có người cho rằng vế thơ này “quá cứng cỏi, lạnh lùng và vô tình.” Theo anh thì: “Thật ra đây là một vế thơ rất hay, nó cho thấy bút pháp tài hoa của tác giả.”
Tôi không nghĩ như vậy. Trên bề mặt chữ nghĩa 3 câu cuối rõ ràng là cứng cỏi, lạnh lùng và vô tình. Hơn nữa, đó không phải là tâm trạng, cách suy nghĩ của chính người ra đi nói ra mà chỉ là sự võ đoán của người đưa tiễn. Cho nên nếu nói đến giá trị nghệ thuật thì mấy câu thơ ấy chỉ như là rượu giả, khó làm vừa lòng những tay sành rượu.

    3/ Hoài Thanh không ưu ái với nhà thơ Thâm Tâm mà Hoài Thanh chọn Tống Biệt Hành để đưa vào Thi Nhân Việt Nam với sự công tâm đánh giá nghệ thuật như bao bài thơ của các tác giả khác thời bấy giờ. Uy tín của Hoài Thanh đủ khẳng định cho Tống Biệt hành có giá trị nghề thuật cao.

Tôi đồng ý với anh Châu Thạch là TBH phải hay, phải có giá trị nghệ thuật ở mức độ nào đó, phải hợp “gu” với Hoài Thanh thì mới được ông tuyển chọn đưa vào Thi Nhân Việt Nam. Nhưng được Hoài Thanh tuyển chọn lại là con dao hai lưỡi. Thời gian qua đi, cách nhìn nhận và đánh giá thơ ca thay đổi, uy tín của Hoài Thanh - đặc biệt lúc ông còn sống - khiến người yêu thơ e ngại khi phải đưa ra những ý kiến trái ngược hoặc khác với nhận định của ông. “Sợ” uy quyền của ông cũng có nhưng cái sợ lớn nhất là sợ bước vào một trận chiến không cân sức với một đối thủ quá mạnh. Anh Châu Thạch còn viết rằng: “Truyện Kiều của Nguyễn Du mà còn có người dám chỉnh sửa lại thì Tống Biệt Hành là cái gì mà 75 năm qua mọi người nhắm mắt tán tụng nó theo Hoài Thanh.” Theo tôi, chỉnh sửa một điểm nào đó trong truyện Kiều không khó vì không bị đè nặng bới một sức ép chính trị tâm lý nào. Miễn là anh có kiến thức rộng về văn học, thơ ca và đủ tự tin để viết. “Đụng” vào TBH là “đụng” vào cả một chính sách lớn của nhà nước trong hoàn cảnh chiến tranh, lúc người chống lưng cho nó vừa có văn tài, vừa có quyền uy ngất ngưởng trong lãnh vực bình phẩm văn chương.

    4/ Chính quyền miền Bắc và miền Nam trước 1975 có hàng vạn bài thơ phục vụ cho chế độ mình trực tiếp và cụ thể, đâu cần chi một bài thơ Tống Biệt Hành nói về một sự ra đi vu vơ không mục đích rõ ràng.

Những bài thơ viết để trực tiếp phục vụ chế độ (ở miền Nam có một số bản nhạc như vậy nhưng thơ thì không nhiều), đọc lên đã sặc mùi tuyên truyền. Tác giả loại thơ này thường là người nằm trong bộ máy chính quyền, chức vụ không cao, viết vì công việc, vì “cái ghế”, vì miếng cơm manh áo. Cả tác giả lẫn tác phẩm đều bị coi thường, khinh rẻ. Thậm chí đọc phải những bài thơ này có người còn bực bội chửi thề ngay cả trước mặt công chúng. (Con số hàng vạn của anh Châu Thạch tôi e rằng quá lố).
Chỉ có những bài thơ tác giả có tay nghề cao, viết bằng trái tim mình, bày tỏ cảm xúc thật của mình nhưng ý tứ của bài thơ lại tình cờ phù hợp với đường lối, chính sách của chính phủ nên được phổ biến trong quảng đại quần chúng. Vâng! Chính những bài thơ ấy mới hấp dẫn người đọc, mới thôi thúc người đọc đi theo, làm theo tiếng gọi của tứ thơ (hoặc ý thơ). TBH nằm trong số những bài thơ ấy.

    5/ Bài thơ được đưa vào nhà trường tức là được chọn lọc. Thêm một lần nữa khẳng định giá trị nghệ thuật cao của bài thơ. (Điều này không phải lúc nào cũng đúng.) Nhiều năm qua kể từ khi bài thơ được giảng dạy đến nay, không có dư luận nào chê trách việc giảng dạy Tống Biệt Hành. Điều đó chứng tỏ giá trị nghệ thuật của Tống Biệt Hành được đánh giá đúng nên không có sự phản hồi, phản bác, đối nghịch trong công luận.
Vào trường học là có giáo án, thi cử. Thử hỏi có học sinh nào dám đem tương lai của mình để đánh đổi lấy một cơ hội được phản bác điều mình được dạy trong trường lớp? Có thầy, cô giáo nào dám dạy sai giáo án để phí công bao năm đèn sách ở các trường cao đẳng hay đại học sư phạm. Vả lại, nếu người phản bác không có thực tài, không chọn đúng thời điểm có phong trào, có cách nhìn nhận, đánh giá thơ ca mới, không có sự hỗ trợ của một vài nhân vật có chức quyền trong ngành, những ý kiến phản bác sẽ như muối bỏ bể, rơi vào quên lãng.

Giá Trị Nghệ Thuật Của Tống Biệt Hành

  1/ Khuyết điểm
Ngoài những khuyết điểm ở hai đoạn thơ nói về chị và em TBH còn có những yếu kém sau đây:
  - Câu “Đưa người ta chỉ đưa người ấy” có vẻ ngây ngô và đóng góp rất ít cho bài thơ.
  - Cái dở nhất của TBH, theo tôi, là có nhiều đoạn người ra đi không được bày tỏ trực tiếp mà cảm xúc, tâm trạng của anh ta lại do người tống biệt võ đoán và nói hộ. Độc giả có cảm giác như được Thâm Tâm mời đến thưởng thức món thuốc lá gia truyền rất ngon, nhưng khi gặp nhau thì chỉ được hút một, hai hơi; sau đó là ngồi ngửi khói (hút gián tiếp). Lời khuyên “Làm thơ nên viết ở ngôi thứ nhất” đã bị vi phạm mà không có lý do chính đáng.

  2/ Ưu điểm
Dù vậy TBH cũng vẫn là một bài thơ hay. Chỉ với 4 câu đầu tác giả đã khắc họa một cách tài tình tâm trạng của người đưa tiễn – và với khả năng quan sát tinh tế, đã “bắt” được nỗi buồn của người ra đi:

     Đưa người ta không đưa qua sông
     Sao có tiếng sóng ở trong lòng
     Bóng chiều không thắm không vàng vọt
     Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Để tả cảnh chia ly 4 câu thơ này có thể hiên ngang đọ sức với bất cứ câu thơ hay nào của bất cứ tác giả nào trong Phong Trào Thơ Mới.
Cái độc đáo nữa của TBH là Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. (1)
Đứng bên cạnh những bài thơ có âm điệu du dương như hầu hết thơ mới thời ấy TBH có dáng dấp độc đáo, gây được sự chú ý ngay từ hình thức bề ngoài của bài thơ.
Cái hay nhất của TBH là - mặc dù nhân vật và khung cảnh khác xa nhau – đã gợi được không khí hào hung, bi tráng của cuộc chia ly nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa: Thái Tử Đan tiễn Kinh Kha sang sông Dịch để ám sát Tần Thủy Hoàng. Người đọc, đặc biệt là nam nhân, cảm thấy hào khí bốc lên cao ngất, thân này kể bỏ, gia đình (mẹ, chị và em) cũng coi như không có, vì lý tưởng, vì nước quyết ra đi để thỏa mãn chí lớn của người trai.

          Chí lớn không về bàn tay không
          Thì không bao giờ nói trở lại
          Ba năm mẹ già cũng đừng mong. 

Tôi hoàn toàn đồng ý với Châu Thạch khi anh viết:

Đoạn nầy ý nói người ra đi sẽ không quay về khi chí lớn chưa thành, dầu mẹ có chết ba năm sau ngày giáp cử cũng không về để tang mẹ được. Những câu thơ ở vế thơ nầy thật rắn rỏi nêu lên sự quyết tâm của người ra đi vì chí lớn. Lời thơ như hịch xuất quân, như lời thề non nước.

Tóm lại, nếu đặt ưu và khuyết điểm lên bàn cân thì TBH vẫn là một bài thơ hay. Ưu điểm rất độc đáo và gây được ấn tượng sâu sắc nơi người đọc. Có những đoạn thơ thường được ngâm nga trong những buổi họp mặt của thanh niên trước lúc lên đường. Nhưng khuyết điểm cũng không ít trong đó có cả khuyết điểm căn bản trong việc sáng tác thơ ca.

Riêng về tứ thơ thì tôi cho rằng tứ thơ của TBH là một thứ dây leo chùm gởi, phải nhờ vào cái bóng của một “khung cảnh lịch sử” ở tận bên Trung Quốc để có được sức hấp dẫn người đọc như nó đã có. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, rượu trong bữa tiệc thơ TBH là rượu giả; cảm xúc (ngoài hai câu đầu) không phải là thứ  “tông” phát xuất từ chính trái tim người tống biệt mà chỉ là cảm xúc của người ra đi được người tống biệt đoán ra. Khách mời của bữa tiệc TBH tưởng như mình sắp sửa qua sông Dịch để cứu muôn triệu dân lành. Rót rượu đầy ly, nâng cao và hô một tiếng “dzô” thật lớn rồi uống cạn để thấy hào khí trong người mình dâng lên cao ngất. Đến khi tỉnh dậy sau cơn say khướt, thấy nhức đầu một cách khó hiểu nhưng cũng không biết là mình uống phải rượu giả, toàn nước lã pha cồn.

Hồ Trường (Nguyễn Bá Trác) thì hoàn toàn khác. Khung cảnh thật, rượu thật, tâm sự được chính tác giả thốt ra trong lúc ngà ngà say, không có bàn tay “gạn đục khơi trong” của lý trí nên cũng rất thật. Và hào khí, thì dù người đọc có say hay tỉnh, cũng thấy bốc cao ngất trời và nóng bỏng.

Trong trò chơi bình thơ, với tôi, chê lầm một câu (bài) thơ hay hoặc khen lầm một câu (bài) thơ dở là một lỗi nặng, ảnh hưởng đến uy tín của người bình thơ. Tuy nhiên, ở đời ai chẳng có lúc lỗi lầm? Miễn là sau đó mình cố gắng học hỏi và sửa chữa. Nhưng bình một bài thơ mà – vì một lý do nào đó ngoài thơ - thấy một điểm hay mà không dám khen, thấy một điểm dở mà không dám chê thì theo tôi, là một cái tội, tội với lương tâm mình và tội với thơ. Cho nên khi bình thơ, tôi khen chê thẳng thắn đúng với sự hiểu biết và cảm nhận của mình lúc đó. Vì thế bài viết của anh Châu Thạch đã cho tôi cơ hội đọc kỹ lại Tống Biệt Hành và giải thích thêm một số chi tiết mà tôi – vì muốn hướng sự chú ý của độc giả vào những điểm chính – đã bỏ qua. Và chuyện đúng sai xin nhường cho độc giả phán xét.

Với bài thơ TBH anh Châu Thạch và tôi có vài chỗ ý kiến khác nhau. Đó cũng là chuyện thường tình trong bình phẩm thơ ca. Trong Văn Nghệ Quảng Trị anh Châu Thạch có số bài gấp nhiều lần số bài của tôi. Anh là cựu binh, còn tôi là lính mới. Cũng may là trên chốn văn chương nên tôi mới dám mạnh dạn trao đổi với anh. Qua hai bài viết, một của anh và một của tôi, xin được nói riêng với anh Châu Thạch, cả hai chúng ta đều có lợi. Và biết đâu những độc giả đọc bài của chúng ta cũng đang rung đùi, gật gù khoái chí.

                                                    Galveston, Texas 10/18/15
                                                            PHẠM ĐỨC NHÌ
                                                        nhidpham@gmail.com

Chú thích:
1/ Chữ của Hoài Thanh

READ MORE - LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH - Phạm Đức Nhì

Saturday, October 17, 2015

VÀI LỜI BIỆN HỘ CHO “NHỚ RỪNG” THƠ THẾ LỮ - Châu Thạch



NHỚ RỪNG
Tác giả: Thế Lữ
Tặng Nguyễn Tường Tam
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
1936
THẾ LỮ

Lời biện hộ:   Châu Thạch

Thế Lữ là một trong nhưng cây bút đi đầu của phong trào thơ mới. Tác phẩm ghi lại dấu ấn của ông là bài thơ “Nhớ Rừng”. Từ ngày bài thơ được phổ biến đến nay đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực ca tụng nó. Gần đây nhà thơ Phạm Đức Nhì  trong bài viết “Hai cái bẩy nguy hiểm của Nhớ Rừng”* đã có một cái nhìn khác mà nhà văn Lê Xuân Quang nhận xét đại ý là “Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những’’phát kiến…mới’’ thiên về thực dụng…”

Trong cái nhìn “phát kiến…mới” nầy nhà thơ Phạm Đức Nhì đã phê phán bài thơ “Nhớ Rừng” đại ý như sau:

1/ Con hổ trong vườn bách thú tuy vẫn khao khát tự do, vẫn mơ “giấc mộng ngàn to lớn” nhưng đã mất hết ý chí chiến đấu, đã đành bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phũ phàng.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

2/ Con hổ khao khát tự do. Nhưng nếu được tự do nó sẽ trở thành một bạo chúa, áp dụng chế độ độc tài với “thần dân” của nó.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài”

Trong phần kết luận bài viết, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã nhận dình về bài thơ “Nhớ Rừng” có một câu như sau:

“Nhớ Rừng giống như cô gái nhảy xinh đẹp, thân hình sexy, hấp dẫn nhưng mắc chứng bệnh SIDA nguy hiểm.”

 Và sau đó trong một bài viết với đề tài “Không sợ thừa! Chỉ sợ quá muộn*” để trao đổi với nhà văn Lê Xuân Quang, nhà thơ Phạm Đức Nhì nhấn mạnh hai hành động của Hổ trong vườn bách thú là “bó tay cam chiu số phận|” và “mơ ước được tự do sẽ lại làm bạo chúa” là  hai cái bẩy nguy hiểm làm thui chột ý chí chiến đấu và cổ vũ cho lòng ham muốn độc tài, hiếp đáp người khác của những thế hệ Việt Nam trước và hiện tại.

 Đọc những bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì tôi xin mạo muội góp một vài ý kiến thổ thiển của mình để biện hộ cho nhớ rừng của Thế Lữ. Dẫu ý kiến của tôi có khác biệt nhưng tôi xin bày tỏ lòng cảm mến và khâm phục của tôi đến nhà thơ Phạm Đức Nhì là cây bút thơ và văn điêu luyện mà tôi luôn trân trọng.

-Thứ nhất: Tôi xin nói về con Hổ có khi nào “Bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phủ phàng” không?

Như đã thấy, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã bôi đậm câu thơ “Nơi ta không còn được thấy bao giờ” và dựa vào câu thơ ấy mà quả quyết là con Hổ đã mất hết ý chí chiến đấu, cam chịu thân phận tù tội của mình. Để biết nhận xét nầy đúng hay là oan cho con Hổ trước hết ta hãy tìm hiểu con Hổ là biểu tượng của cái gì. Trong nhiều nền văn hoá trên thế giới, con Hổ là biểu tượng của đẳng cấp chiến binh, toát lên vẽ đẹp hung vĩ và sức mạnh. Trong Tam Quốc Chí, ngũ hổ tướng của nhà Thục là Quan Vũ, Trương Phi, Triệu vân, Hiếu Trung và Mã Siêu là nhưng mãnh tướng bất khuất mà đến nay thế gian vẫn tôn thờ, trong đó Triệu tử Long được phong là Hổ oai Tướng Quân. Trong truyện Kiều, Từ Hải là bậc anh Hùng mà khi chết cũng chết đứng đã được Nguyễn Du tôn vinh bằng bộ râu của con Hổ: “Râu hùm. Hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng , thân mười thước cao”. Vậy khi nhà thơ Thế Lữ nhốt một con Hổ vào sở thú trong bài thơ của ông thì ông sẽ nhốt con Hổ nào? Chẳng lẽ ông lại đi nhốt con Hổ bạc nhược mất sức chiến đấu hay sao? Hay là ông sẽ nhốt con Hổ biểu tượng của sự cao cả, của bậc anh hùng, của ý chí bất khuất ở trên. Bài thơ cho ta thấy ông đã nhốt con Hổ “Oai linh rừng thẳm” là con Hổ mang đầy đủ biểu tượng của một anh hùng. Kinh nghiệm cho ta thấy không có con vật hoang dã nào, dầu con chim, con sóc cũng không chịu nằm yên trong lồng huống chi là con Hổ. Chỉ trong một phút yếu lòng nhớ rừng xưa con Hổ mới than một câu tưởng như là nó đã bị thuần hoá: “Nơi ta không còn được thấy bao giờ”, nhưng thật ra thế giới bên trong của Hổ vẫn ngùn ngụt ngọn lửa bất khuất. Ngọn lửa đó thể hiện ở chổ nó nhớ rừng da diết, nó khinh thường “những cảnh sửa sang tầm thường, dả dối” và nó khinh không chịu “ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Hổ đang bị thúc thủ nên nó phải than vãn, nhưng nó đang chờ thời cơ để vùng dậy.

-Thứ Hai:Làm sao biết con Hổ nếu được tự do sẽ chuyên chế, độc tài, hiếp đáp thần dân mình?

Ở trên ta thấy rằng nhà thơ Phạm Đức Nhì đã dùng nhưng câu thơ “Trong hang tối mắt thần khi đã quắc/ Là khiến cho mọi vật đều im hơi/Ta biết ta chúa tể của muôn loài” để kết tội cho Hổ của Thế Lữ là con vật xấu xa, là bạo chúa. Thật ra ba câu thơ trên biểu hiện tác phong, uy vũ của một minh quân. Nếu vua mà không có uy vũ nầy thì làm sao trị quốc bình thiên hạ cho được. Ở đây ta để ý hai chữ “mắt thần”. Mắt thần đương nhiên không phải mắt của bạo chúa mà “mắt thần” là mắt của bậc công chính. Khi “mắt thần”đã quắc thì uy lực từ chính nghĩa làm cho mọi vật đều im hơi. Nếu là mắt của bạo chúa thì “ở đâu có đàn áp, ở đó có đấu tranh”, sẽ không có sự im hơi bao giờ. Trong nền văn hoá dân gian Việt, hình tượng của con vật hung bạo, tàn ác là con Sói, còn hình tượng của Hổ mang ý nghĩa nhân đạo, quyền uy khiến Hổ sở hửu một phẩm hạnh rất cao để trở thành linh vật của tôn giáo. Vậy khi Thế Lữ đưa con Hổ vào bài thơ là đưa một linh vật có bản chất tốt nên không bao giờ có “cái tính muốn làm bạo chúa đã là máu thịt, đã là bản chất của loài hổ.”  như lời kết tội Hổ trong bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì.

-Thứ ba: Bài thơ “Nhớ Rừng’ có là cái bẩy nguy hiểm không?

Tất cả mọi người khi đọc bài thơ “ Nhớ Rừng” đều thấy buồn thương cho con Hổ trong vườn bách thú và lòng tự nhiên phấn khích muốn đạp đổ tất cả để vượt trên cuộc sống bình thường, chật hẹp, tù túng. Nhà thơ Thế Lữ đưa hình ảnh con Hổ bị nhốt trong vườn bách thú không phải để chúng ta đọc xong là buồn chán rủ rượi hay đọc xong là mơ ước chuyện cướp bóc, hành hạ tha nhân. Đây là hình ảnh của thế hệ ông bị 100 năm đô hộ giặc Tây. Con người đọc lời than van da diết của con Hổ “gặm một khối căm hờ trong củi sắt” để không bao giờ chịu làm con Hổ như thế, để đứng lên phá xích xiềng, để được sống như Hổ nơi rừng núi oai linh, hùng ví ngày xưa.  Mấy ai trong chúng ta khi đọc xong bài thơ nầy lại muốn mình làm thân phận của con Hổ kia. Vậy thì kết tội bài thơ  như là “Cô gái nhảy ,xinh đẹp mà bị bệnh SIDA” làm lây lan căn bệnh đó khiến cho nhiều thế hệ băng hoại thì thật ra oan khiên quá cho bài thơ, cho Hổ là loài có biểu tượng tốt đẹp và cho thi sĩ là người vì nỗi ray rức cho thân phận nô lệ của mình, của thế hệ mình mà phổ vào thơ, hầu đưa ra một hình ảnh ẩn dụ, để cho người đọc “cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim, kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não …” như lời nhà văn Lê Xuân Quang đã viết.

Vậy “ Nhớ Rừng” tuy là một bài thơ chất chưa tâm trạng tủi nhục của con Hổ trong vườn bách thú nhưng nó không phải là một bài thơ tiêu cực, mà là một bài thơ tích cực, phơi bày sự giả tạo, buồn chán của kiếp sống nô lệ tù tội, khôn khéo trong hoàn cảnh cấm đoán ngôn luận trong thời Pháp thuộc để khích động tinh thần yêu nước, khiến cho cả thế hệ nhìn Hổ  mà ngẫm đến mình, đứng lên phá vòng cương toả.

Hình như giai đoạn sau nầy nhà thơ Thế Lữ còn làm những bài thơ đấu tranh cụ thể hơn , tích cực hơn nhưng rồi ngày nay đã mai một hết, chỉ “Nhớ Rừng” vẫn còn vang bóng . Điều đó chứng tỏ “Nhớ Rừng” là bài thơ đúng đắn nên đã sống và còn sống lâu dài. Nó sống thì nó không phải là một con bệnh SiDA được, và khi  “Nhớ Rừng” sống thì chứng tỏ con Hổ của “ nhớ Rừng”, của Thế Lữ không một khuyết điểm nào nên nền văn học đã nuôi nấng nó ./.   

                                                                        Châu Thạch  
READ MORE - VÀI LỜI BIỆN HỘ CHO “NHỚ RỪNG” THƠ THẾ LỮ - Châu Thạch

CHÙM THƠ ĐỖ BÍCH VÂN


Hiển thị image.jpeg
                Tác giả  Đỗ Bích Vân



CÔ ĐƠN

Trăng cô đơn, tình tôi đơn lẻ
Bóng xế tà, vẫn quạnh quẽ như
                                           trăng
Đêm thu về, trăng bên dáng chị Hằng
Riêng tôi vẫn, lẻ loi sầu muôn kiếp



ĐONG XA


Tàn thu, Đông giá đã kề
Để cho bóng nhỏ... tìm về xa xăm
Tận sâu tâm khảm rét căm
Chim xa tổ ấm, cách ngăn nghìn trùng



THỜI GIAN


Ngày tháng thoi đưa, chợt xuyến xao
Thời gian phai úa nét hồng đào
Vô tình em bước qua xuân sắc
Dáng ngọc còn đâu, của thuở nao


                      Đỗ Bích Vân        
         vando9575@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ ĐỖ BÍCH VÂN

Friday, October 16, 2015

NGÀY ẤY ĐÂU RỒI - truyện ngắn Đinh Thị Hiệp





Đinh Thị Hiệp

NGÀY ẤY ĐÂU RỒI


Tiếng ồn ào vang lên cả một góc chợ rau. Người về càng lúc càng đông dần. Những gánh rau tươi xanh mơn mởn từ các làng quê đổ dồn về phía ngã tư trên đường vào chợ. Họ nhanh tay xếp rau thành từng đống cao, gọn gàng để bán. Nhìn kĩ người ta có thể thấy những con tem giấy (thuế vào chợ) trên những chiếc nón lá cũ kĩ của những người dân quê.


Hạnh kéo mạnh cánh cửa sắt để phụ mẹ dọn hàng. Tiệm tạp hoá của mẹ bán gồm nhiều mặt hàng phong phú, cần thiết; mẹ thường đóng hàng cho mấy người vùng ven tỉnh. Hạnh bước ra khỏi nhà, vươn vai hít thở không khí trong lành buổi ban mai. Hạnh cười thật tươi, chào hỏi mấy người thân quen.Họ cũng vui vẻ đưa tay vẩy chào con bé hồn nhiên đang tung tăng chân sáo bước men theo vỉa hè. Sáng nào cũng vậy, Hạnh là người khách hàng quen thuộc của bác bán hàng ăn ngồi ở cuối dãy lòng chợ  này.


Mặt trời đang lên cao, toả những tia nắng ấm áp, xua tan nhanh cái giá lạnh của một đêm dài. Hạnh cùng Quỳnh hoà vào đám bạn trên đường Quang Trung dẫn đến trường. Con đường ngập tràn những tà áo dài trắng của học sinh nữ. Từng tốp nam, nữ sinh từ các ngã đường đổ dồn về con đường chính dẫn đến trường Nguyễn Hoàng.Tiếng cười đùa ồn ã, làm như không ai có thể ngăn nỗi những niềm vui đang vỡ oà của bọn trẻ sau một đêm không gặp nhau. Mới chiều hôm qua thôi còn chơi đùa trên sân bóng của ty thanh niên. Hạnh có thói quen cầm chiếc cặp xoay xoay, chân vẫn bước nhanh cho theo kịp các bạn. Cứ mỗi bước đi là hai bím tóc y như là nhảy múa. Đôi mắt đen ánh lên niềm vui , Hạnh nhanh nhảu:

-Nè, nhỏ Nhơn đã về rồi. Sáng này, nó đi học đó.

Cả bọn nhao nhao lên:

-Sao nó không chờ tụi mình đi chung?

-Ba nó chở nó đi học mà. Hạnh trả lời.

-À, vậy là tụi mình sắp có quà Sài Gòn rồi đó nghe.


 Bầy con gái như bước nhanh chân hơn để đến trường. Không phải đi sớm để bày trò chơi như thường ngày, mà muốn đến để xem con nhỏ Nhơn thay đổi ra sao sau một tuần đi ngao du ở thành phố Sài gòn hoa lệ. Đúng là một sự thay đổi khác hẳn ở Nhơn. Nhơn đứng chờ sẵn ở cửa lớp với vẻ mặt xinh tươi, hớn hở như hoa; đầu tóc nhỏ cắt ngắn, diện bộ áo quần mới ra dáng dân thành phố quá. Nhơn cầm mấy bị kẹo giơ lên cao:

-Nào, ai muốn làm bạn với Nhơn nào!
Cả bầy con gái đồng loạt đưa tay, cười nói tíu tít: 
-Tao, tao.

-Tao,tao đây nè.

-Hạnh đây là bạn Nhơn nè, Nhơn ơi!

 Nhơn giả bộ xoa đầu Hạnh như vỗ về em bé:

-Đúng rồi đó, con nhỏ Hạnh này là bạn thân yêu của Nhơn kia mà. Tao nhớ nó muốn chết đi được.

 Hạnh cười tít mắt, tưởng mình đang lên tận tầng mây. Hạnh ôm chầm lấy Nhơn:

-Ới chị hai ơi! Chị đi lâu quá, làm em cũng nhớ chị quá trời đi! 

-Ừa, chị cũng nhớ em ghê đi. Này, cho nhỏ Hạnh trước, rồi cho mấy con nhỏ xí xọn kia sau ha!

Bầy con gái Quỳnh, Sương, Lai, …cười xoà rượt đuổi theo Nhơn và Hạnh đang cầm mấy bị kẹo chạy lòng vòng quanh sân trường.

Tan học. Như đã hẹn, cả nhóm bạn tập trung gần cổng trường đi theo Nhơn. Hạnh nói lớn:

-Hôm nay nhỏ Nhơn khao tụi mình một chầu bún bò Huế. Vào quán ở bến xe cho tiện đường về luôn. Chuyến sau, đến lượt tao khao tụi bây nghe.

-Đồng ý liền đó. Cả bầy lại nhao nhao lên.

-Ừ,đi nhanh lên! Đói bụng quá trời đây nè.
Hạnh lại ậm ừ: 
-Được rồi, thay mặt nhỏ Nhơn, tao đồng ý liền. Nhưng mấy lần sau, cũng đến lượt các bạn đó nghe!

-Được rồi, được rồi mà.


Nhơn coi bộ có nhiều tiền rủng rỉnh trong chiếc ví nhỏ. Trông bộ mặt con nhỏ sướng ghê! Đi theo ba vào Sài Gòn chơi, xa ơi là xa. Vào đó nó còn làm đẹp từ đầu tóc đến áo quần. Nghe nói nó còn mấy bộ đầm mới đẹp lắm. Chiều này mình đến nhà Nhơn xem mới được. Hạnh tự nhủ thầm.


Buổi trưa này bạn bè Hạnh được Nhơn khao ăn một chầu thật xứng đáng đồng tiền lắm. Khi ra về, cả bọn theo con đường Lý Thái Tổ dọc theo bờ hồ, sát mặt sau cổ thành. Mùi bánh mì ngòn ngọt, thơm phức thoang thoảng khiến đứa nào cũng hít hà.Gần đến đường Trần Hưng Đạo, chia tay nhau mỗi đứa đi mỗi đường. Trưa nay, Hạnh về nhà, đến tối mới ra tiệm ở lại. 


…Hoàng hôn dần buông. Những ánh đèn thi nhau bật sáng từ các ô cửa của các ngôi nhà nằm san sát bên nhau. Đường phố đã lên đèn từ lâu. Sau bữa cơm tối cùng gia đình, Hạnh ôm cặp đi ra tiệm. Ra đến góc phố, Hạnh không quên ghé vào tiệm sách Tùng Sơn. Ở đó, Hạnh tha hồ ngắm nghía các quyển sách được chưng bày dưới bóng điện sáng trưng. Đủ các loại, nhưng hạnh chỉ đứng hồi lâu ở dãy sách truyện thiếu nhi. Hạnh lật và đọc lướt nhanh qua các trang , sau đó chọn mua một quyển. Thường xuyên là Hạnh mua báo Thằng Bờm để tìm xem có bài mình được đăng trên đó không?


Ban đêm, con đường vào sau khu vực chợ thật vắng vẻ, chỉ có vài ánh đèn hắt ra từ các ngôi nhà cao tầng. Nhà nào cũng đóng cửa kín mít, hầu như người ta sinh hoạt ở trong nhà, ít khi bật đèn  sáng ở nhà ngoài. Hạnh kêu cửa một hồi lâu, cô Nữ, người giúp việc cho chủ nhà mới ra mở. Cô Nữ nhìn kĩ để biết đúng là Hạnh rồi cô vội vàng mở, chỉ kịp để cho Hạnh bước vào là cô đóng ngay lại, khoá cửa hai ba lần cho chắc chắn. Chỉ có hai cô cháu ở trong một ngôi nhà với  ba tầng lầu, rộng thênh thang, , thật thoải mái nhưng cũng thật là vắng vẻ. Ở tầng trệt, cả mặt trước và mặt sau, mẹ và dì Hạnh buôn bán hàng tạp hoá. Hạnh chỉ có việc là tối tối ra ở lại tiệm học bài, ở với cô Nữ. Buổi sáng, sau buổi học trên trường, Hạnh còn là cô kế toán nhỏ của mẹ, phụ giúp mẹ tính toán, ghi chép vào sổ sách.


Hạnh bước ra ban công. Đứng đây, Hạnh nhìn ra xa kia là bờ sông Thạch Hản. Một màu đen như mực, bóng tối bao trùm lên toàn bộ một vùng trải dài từ con đường Gia Long chạy ven bờ sông. Một vài cơn gió mát rượi từ phía bờ sông thổi vào làm Hạnh thấy nhẹ nhõm, có cảm giác lâng lâng, sảng khoái. Hạnh hít lấy một hơi thật sâu vào lồng ngực. Đâu đó, tiếng rao hàng ngày một rõ dần. Một bóng người gánh chè bán đêm lầm lũi đi trên vỉa hè. Khi bóng người khuất dần mà tiếng rao như còn vẳng lại.


Hạnh nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại, bước hẳn vào trong nhà. Tối này, sau khi học bài xong, Hạnh sẽ tìm trong tủ sách của con trai người chủ nhà những tập san Thời Nay để đọc.Hạnh thích thú đọc mấy mẩu chuyện ngắn trong mấy tập sách này lắm. Cô Nữ là một con người trầm tính, ít khi nói chuyện. Có hỏi thì cô đáp lại ậm ừ đôi ba câu. Hạnh chỉ biết lờ mờ về cuộc đời của cô. Nghe kể lại cô Nữ không có bà con thân thích, đã sống giúp việc cho người chủ này từ thời còn con gái. Sau này cô Nữ trở thành người thân tín của nhà chủ. (Cho đến sau này, Đất nước thống nhất, hai người anh đã đi bộ đội từ mùa thu năm 1945 trở về, tìm được người em gái thất lạc bao nhiêu năm trời, nay cả gia đình vui đoàn tụ). Khi tiếng chuông đồng hồ treo tường gõ lên đúng mười tiếng, Hạnh đã lên bộ ván ngựa dày cộp, mát lạnh ngủ một giấc thật ngon lành, không quên mơ về giấc đẹp một ngày bạn bè đi chơi xa…


-Hạnh ơi! Hạnh dậy thôi con!

Hạnh choàng mở mắt. Trước mặt Hạnh là mẹ. Mẹ đang đứng bên cạnh Hạnh từ hồi nào. Hạnh giật mình, ngồi bật dậy:

-Chết rồi, con đi học trễ mất.

Mẹ cười xoà:

-Hôm nay là chủ nhật mà con.

 Hạnh cười mắc cở:

-Uả, con quên. Mẹ dọn hàng rồi hả mẹ?

-Xong từ lâu rồi. Con xuống nhà ăn sáng đi, rồi về ngoại chơi!

         
Hạnh nhanh chân theo mẹ xuống cầu thang. Hôm nay, mẹ cho phép Hạnh về thăm cậu mợ. Nhà cậu mợ ở trên đường Lê văn Duyệt, phía trước cửa cổ thành Đinh Công Tráng. Trước kia, nhà Hạnh cũng ở đây, nhưng do chiến tranh xảy ra, cả nhà lên ở hẳn trên chợ tỉnh, ở trong một ngôi nhà nằm trong một con hẽm ở đường Quang Trung.


Một chiếc xe xích lô vừa trờ tới, Hạnh vẩy tay đón. Bác chạy xe dừng ngay lại, đón Hạnh lên, kéo vội tấm rèm che nắng. Từ chợ về đường Lê văn Duyệt không xa lắm nhưng đối với đôi mắt trẻ thơ thì ôi quả là xa. Bác phu xe thong thả đạp, còn Hạnh thì ngồi gọn lỏn trên ghế, ngắm quang cảnh hai bên đường, thích thú ngắm những người dân trong ngày chủ nhật đẹp trời. 


 Xe vừa dừng trước đường, Hạnh vội vàng bước xuống. Bỗng nghe tiếng gọi:

-Hạnh ơi! Về đó hả!


Hạnh đang cúi xuống sửa lại đôi giày vải cho ngay ngắn, nghe tiếng gọi , ngẩng đầu lên. Trước mặt Hạnh là anh Trung, một người hàng xóm thân quen. 

-Dạ, hôm nay chủ nhật rảnh, em về ngoại chơi. 


Hạnh cùng anh Trung đi vào xóm. Hạnh dừng lại, đứng một hồi lâu trước mảnh sân của ngôi nhà cũ. Trung cũng tần ngần đứng sau lưng Hạnh, biết trong lòng Hạnh đang dấy lên những kỉ niệm về ngôi nhà thân yêu mà trước đây cả gia đình Hạnh từng sinh sống. Giờ đây trên mảnh đất ấy là ngôi nhà mới xây của dì Hạnh.Chỉ qua một đêm tết Mậu Thân năm 1968, ngôi nhà Hạnh đã bị súng đạn chiến tranh tàn phá, thiêu rụi gần hết. Hạnh bồi hồi nhớ lại…
           
Trời càng về khuya, càng thấy cái lạnh như thấm sâu vào da thịt. Cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa, nồi bánh tét to đùng nước đang sôi lên sùng sục; tiếng củi cháy nổ lép bép, bắn lên những tia lửa hồng trông thật vui mắt. Mẹ giục các con đi ngủ để sáng mai, mồng một Tết đi viếng chùa Sắc Tứ. Hạnh lên giường nằm rồi mà vẫn còn thao thức, nôn nao nằm nghĩ tới sáng mai diện bộ đầm đẹp, rồi nghĩ đến  giao thừa, giờ phút thiêng liêng trọng đại chuyển tiếp từ năm cũ sang năm mới…


Một vài tiếng pháo lẹt đẹt nổ rồi nhiều tiếng pháo nữa nổ lớn , giòn giã, liên hồi. Chuông đồng hồ cũng vừa điểm. Tiếng mẹ và chị Hạnh trò chuyện nho nhỏ, sợ đánh thức mọi người dậy. mẹ Hạnh bước ra trước sân thắp mấy nén nhang thơm cúng giao thừa. Hương thơm của nhang phảng phất xen lẫn với mùi khét lẹt của pháo…Tiếng nổ càng lúc càng lớn dần, giòn hơn, to hơn hẳn, pha lẫn nhiều âm thanh khác lạ. Mẹ Hạnh hốt hoảng:

-Hình như có tiếng súng đó. Dậy, dậy thôi, mau xuống hầm đi mấy con!

Hạnh choàng dậy, tỉnh ngủ hẳn, nhanh chân theo mẹ chui ngay xuống chiếc hầm ngầm nằm ngay cửa nhà. Mẹ Hạnh cuống cuồng đưa chị em Hạnh, rồi bồng đứa em trai mới mấy tháng tuổi tụt xuống hầm. Thằng nhỏ khóc thét lên trong cơn buồn ngủ. Chiếc hầm này là nơi trú ẩn khá an toàn cho cả nhà, phía trên che chắn bằng những bao cát. Ba Hạnh thì không có nhà, hôm nay ông đã vào thăm quê nội.


 Qua một đêm dài nằm, ngồi thu lu dưới hầm sâu, vừa tối tăm mù mịt, vừa đầy dẫy nỗi sợ hãi chết chóc. Thời gian dường như trôi chậm lại nặng nề.Khi tiếng súng giao tranh của hai bên vừa tạm ngưng, mới thấy mấy sinh mạng mỏng manh còn lại giữa hai lằn đạn vô tình. Ôi, chiến tranh! Một chiếc xe hồng thập tự vừa mới chạy qua trên con đường vắng ngắt như tờ. Súng trong thành không còn nả ra như mưa nữa. Mọi người trong chiếc hầm chật hẹp tranh thủ ùa ra, miệng la thất thanh để không bị bắn nhầm rồi lũ lượt kéo nhau chạy vào trong xóm.Trên bầu trời có tiếng máy bay, bay chừng như sát mặt đất hơn bao giờ hết. Một số thanh niên lạ, không phải là người dân địa phương, vai khoác súng, họ đi lại im lặng như cái bóng, vẩy vẩy tay cho bà con vào trong nhà. Trời sáng hẳn,bà con bồng bế nhau chạy lên chợ tỉnh. Mẹ con Hạnh cũng theo đoàn người tìm cách băng rào các nhà hàng xóm chạy đi lánh nạn. Khi lên đến nhà dì, lúc ấy dì cũng vừa rảnh rỗi trong một ngày đầu năm mới. Quanh năm suốt tháng dì bận rộn theo công việc buôn bán. Dì Hạnh vô cùng ngạc nhiên khi thấy mẹ con nhà Hạnh tay bồng, tay bế dắt nhau chạy vào nhà, mặt mày hớt hơ hớt hãi. 


(Lịch sử sau này kể lại rằng đó là cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1968 của Cách mạng trên khắp các tỉnh miền Nam.)


 Qua hôm sau, tiếng súng ngừng hẳn, không còn cuộc giao tranh, mọi người trở về nhà mình. Mẹ con hạnh đứng thẩn thờ trước ngôi nhà đầy vết đạn lỗ chỗ, một đống đổ nát hoang tàn, gian hàng bị cháy rụi, vẫn còn làn khói âm ỉ. Nhà Hạnh lên khu phố chợ kể từ những ngày đầu mùa xuân năm ấy… 
  

Hạnh giật mình khi nghe tiếng anh Trung:

-Đi vào nhà thôi Hạnh ơi!

Cả một buổi sáng vui đùa với các anh chị con cậu mợ. Hạnh không quên ghé thăm số nhà người quen trong xóm. Mỗi ngôi nhà hầu như đều có một vườn hoa nho nhỏ, xinh xắn. Ai cũng thích chăm chút, tô điểm cho ngôi nhà mình thêm đẹp. Nhà cách nhà là những hàng rào dâm bụt, có những cánh hoa đỏ thắm nổi bật trên nền lá dày xanh thẩm. Mỗi khi về đây, Hạnh qua nhà anh Trung chơi, đều được anh bày thêm một trò chơi thú vị. Anh Trung rất thích Hạnh về lại xóm cũ…
 
…Đài radio vừa phát đi một bản tin. Hạnh lắng nghe. Trong lòng lại cảm thấy nôn nao. Tiếng phát thanh viên như gấp rút hơn khi đọc tin tức chiến sự đang diễn ra. Cuối bản tin là giai điệu trầm buồn của bài hát:

“Bài hát đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”…
          
 Chiến tranh thật sự xảy ra rồi ư! Mấy ngày nay, người dân lần lượt bỏ nhà cửa mà ra đi, trong lúc đó số dân ở miệt ngoài lại tìm về, sống tạm trong các ngôi trường hoặc nhà thờ, nhà chùa nào đó. Họ lại đi tiếp vào Huế, ra đi vội vã như là chạy trốn cuộc chiến có thể rình rập xảy ra bất cứ lúc nào. Mẹ Hạnh vốn cả lo, bà may cho Hạnh một túi vải, bỏ ít tiền vào phòng thân lỡ khi lạc nhau. Cả nhà Hạnh ai nấy như ngồi trên đống lửa, mẹ đợi dì về. Mẹ tất bật chạy đi chạy lại tìm thuê một chiếc xe để chở gia đình vào Huế. Không hề có một chiếc xe nào cả, hầu như toàn bộ xe của tỉnh này đều đi hết rồi. Đến trưa, dì Hạnh từ Huế ra đến nơi. Dì thuê được một chiếc taxi nhỏ. Mẹ con nhà Hạnh chỉ kịp lấy áo quần, gom góp thêm một ít đồ đạc, nhanh chóng bỏ lên xe. Dì hối thúc mọi người nhanh lên, khoá cánh cửa tiệm lại và giục bác tài cho xe chạy, bỏ lại đằng sau một gia sản mà bấy lâu nay dày công vun vén, gầy dựng…

           
Chiếc xe nhỏ bé chở cả nhà Hạnh chạy ngược về phía Long Hưng, để ra quốc lộ. Mọi người dáo dác tìm nhau, xe cộ cứ nối tiếp tìm cách chạy về Huế. Một vài tiếng nổ lớn, đúng là pháo nổ ngay trên đường xe chạy. Mấy chiếc xe tìm cách dạt qua một bên, len lỏi để chạy cho bằng được. Một hình ảnh thương tâm diễn ra trước mặt Hạnh, làm Hạnh nhớ mãi cho đến sau này. Một anh lính bị thương, đang ôm chặt cánh tay, anh nhìn người qua lại như cầu cứu nhưng không hề có một ai giúp đỡ. Lòng trắc ẩn, nhân đạo của con người không còn thể hiện, ai cũng cuống cuồng lo sợ tìm cách chạy loạn, tìm con đường sống.


Giữa dòng người, giữa dòng xe

Nối tiếp nhau
Thờ ơ
Mặc cho anh, một người lính trẻ
Ôm chặt cánh tay, máu loang chảy thành dòng
Em biết đấy, anh không còn ai nương cậy
Không ai đoái hoài thương xót gợi lòng nhân
Không ai ngoảnh lại dù một lần thôi cũng được
Chỉ còn chăng làn bụi quá ơ thờ
Máu cứ chảy không chừng anh gục ngã
Giữa tuổi đời chưa đến độ đôi mươi
Đôi mắt anh như chìm sâu bóng tối
Như mãi vô tình lắng đọng tuổi thơ em

Mỗi lần nhớ ngày kỉ niệm kinh hoàng
Là em nhớ đôi mắt người lính trẻ
Thân phận con người giữa cảnh loạn ly
Chẳng khác chi lau lách mọc ven đường 

…Một tháng trời nặng nề sống nhờ sống tạm ở thành phố Huế. Không kịp thấy được vẻ đẹp của Huế mộng mơ. Không có dịp về thăm làng quê nội. Một tháng sau cả nhà lại tiếp tục lên xe vào ở Đà Nẵng. Sống vội vàng. Sống gấp rút. Mọi người đi đi, chạy chạy như con thoi. Vỏn vẹn chỉ gần hai tháng ở miền Trung, quê hương ruột thịt. Một buổi trưa cuối tháng năm, cả nhà Hạnh lên máy bay vào sống hẳn ở miền Nam, xa cách Quảng Trị cũng kể từ ngày ấy. 

Có nhiều kỉ niệm khó phai mờ về tuổi thơ, thời niên thiếu của Hạnh ở quê hương, trên vùng đất Quảng Trị. Mặc dù trong thời buổi chiến tranh nhưng Hạnh lúc đó chưa hề cảm thấy nỗi lo toan, vẫn sống vô tư . Cho đến khi mùa hè đỏ lửa thực sự cướp mất sự bình yên của người dân, bắt mọi người phải xa xứ, ly tán khắp nơi. Đâu dễ gì tìm lại khung cảnh cũ, nơi đó bây giờ hoàn toàn đổi thay, người ta đã cất lên những ngôi nhà mới, con đường đã không còn như xưa nữa. Một khi ai đó đã ra đi định cư nơi khác, xem đây như là quê hương thứ hai của mình, lại có công vun vén, gầy dựng cơ ngơi mới, gầy dựng mối quan hệ với những người xa lạ thành quen thuộc, thân thiết thì việc trở về sống trên mảnh đất quê cũ hầu như khó mà thực hiện. Tuy nhiên, Hạnh vẫn mong đến một ngày nào trở về thăm quê nội, quê ngoại trên mảnh đất chôn rau cắt rốn. Niềm hoài bão đó cứ đau đáu trong lòng Hạnh. Điều này có thể thực hiện được chăng?

…Một buổi chiều sau 36 năm xa quê, xa vời những kỉ niệm thời niên thiếu.Sau buổi tan trường, tiếng chuông điện thoại vang lên.

-Alô! Có phải Hạnh không?

Ai vậy nhỉ? Hạnh rất ngạc nhiên khi thấy hiện lên dãy số của tổng đài.

-Hạnh đây. Xin lỗi, ai vậy?

-Anh là Trung ngày xưa ở Quảng Trị, anh bạn hàng xóm của Hạnh đây.

Giọng của anh Trung sao giờ khác lạ đến thế!Hạnh mừng rỡ reo lên:

-À, anh Trung. Bấy lâu nay anh ở đâu? Sao em không liên lạc được? 

-Anh ở Canada. Anh biết số em  là nhờ người bạn, nên anh gọi về cho em đây. Đã 34 năm rồi còn gì. Lâu quá phải không em? 

-Em mừng quá! Bấy lâu nay em muốn liên lạc với anh nhưng không được. Em tưởng anh…

-Tưởng anh chết rồi còn gì!Anh Trung cười.

-Anh Trung có giận em không? Vì em không trả lời thư anh đó


…Qua chuyện trò, Hạnh đã cởi bỏ hết những tâm sự bấy lâu nay mang nặng trong lòng. Những ngày Hạnh vào miền Nam cũng là lúc nhà anh Trung ra tận Phú Quốc, một hải đảo xa xôi, mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc. Những bức thư của anh Trung gởi cho Hạnh phảng phất nỗi buồn xa xứ. Anh gởi cho Hạnh một tấm hình chụp cảnh đảo, phía sau kèm theo những dòng chữ: “Đây là tấm hình của hải đảo này. Hình này là một trong những cảnh mà anh cho là đẹp. Vậy anh gởi tặng em để làm kỷ niệm. Người anh lưu lạc. Hoàng Châu Trung”.  


-Hạnh ơi! Anh sẽ về, sẽ về thăm quê một ngày gần đây...

Hạnh bồi hồi nhớ lại những ngày xa xưa…Vâng, mong anh sẽ về…Mong một ngày trùng phùng…

ĐTH
READ MORE - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI - truyện ngắn Đinh Thị Hiệp