Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, April 4, 2015

HOA SƯA HÀ NỘI - thơ Tuyền Linh




Hoa Sưa Hà Nội

Em về đúng hẹn tháng ba
Lòng như ấp ủ thiết tha đợi tình ?
Nõn tơ thanh khiết xinh xinh
Em cười trắng nuốt nụ tình phố xưa

Yêu biết mấy… nói sao vừa…!
Bồi hồi xao xuyến đung đưa dáng mềm
Phố phường nhuộm trắng bởi em
Kia Hoàng Hoa Thám, đây Phan Đình Phùng

Lê Nin lá đổ một vùng
Công viên trắng xóa như cùng hội xuân
Qua Trần Huy Liệu bâng khuâng
Ơi con phố đẹp, ơi lòng hoa sưa !

Nức lòng gió đón mây đưa
Em vừa lạ lẫm, em vừa rêu phong
Nghe như có tiếng thì thầm
Sắc hoa màu nhớ trăm năm đợi tình

Em về Hà Nội rực lên
Nam thanh nữ tú rộn trên vỉa hè
Phố phường đầy ắp ngựa xe
Tháng ba Hà Nội tràn trề nhịp vui

Tháng ba bão lũ đi rồi
Và em xuất hiện rạng ngời thành đô
Đèn xanh, đèn đỏ xôn xao
Đèn tâm tư sáng đón chào Quê Hương

Đẹp thay với những con đường
Hoa sưa khoe sắc, Quê Hương yên bình
Hà thành rạng rỡ thêm lên
Hòa cùng nhịp sống đượm tình nước non


                            Tuyền Linh
READ MORE - HOA SƯA HÀ NỘI - thơ Tuyền Linh

ĐỜI CHIA TRĂM NHÁNH SÔNG - thơ Hoàng Anh 79




ĐỜI CHIA TRĂM NHÁNH SÔNG

Ở bên nầy mưa bay
Tình chưa trọn vòng tay
Cánh mưa sầu muôn thuở
Nhớ nhiều em có hay

Trên nẻo hẹn dấu yêu
Làn tóc rối phai chiều
Bao giờ em trở lại
Đợi  gì trong quạnh hiu

Em bên trời viễn xứ
Ta xa cách muôn trùng
Quê người  đầy tuyết phủ
Có nghe bờ môi run
Môi thơm màu đỏ dụ
Còn Yêu đến vô cùng

Bước qua con phố nhỏ
Nghe thoảng làn hương đưa
Lá me rơi theo gió
Ngỡ em về trong mưa
Thời gian như xa quá
Mình già nhiều hơn xưa


Chim còn bay về rừng
Mười năm thấm nổi buồn
Sao ta còn cách biển
Mười năm mắt lệ rưng

Ta đi giữa chiều sương
Phía trước dường mênh mông
Có loài hoa đỏ rụng
Đời chia trăm nhánh sông!

Ngày 1/4/2015

Hoàng Anh 79
READ MORE - ĐỜI CHIA TRĂM NHÁNH SÔNG - thơ Hoàng Anh 79

GIẤC BIỂN - thơ Trúc Thanh Tâm







GIẤC BIỂN

Chiều xanh giấc biển phận người
Cơn đau vụt ngả nửa đời âu lo

Chiều rưng con tuổi ban sơ
Đám tinh tú rụng trước giờ bình minh
Đầy trong ánh mắt trao tình
Ơi, người chốn cũ vẫn nhìn xa xăm

Thời gian xa tuổi thêm gần
Tình như tháp cổ ngàn năm vẫn sầu
Ngọn đèn, một giấc ngàn thu
Chiều xanh giấc biền lá khô tuổi đời ...

TRÚC THANH TÂM

( Thi tập - Lục Bát Thời Yêu Em - 1972 )
READ MORE - GIẤC BIỂN - thơ Trúc Thanh Tâm

NGỦ YÊN TÌNH YÊU - thơ Trương Thị Thanh Tâm



NGỦ YÊN TÌNH YÊU

                     * Gởi Trúc Thanh Tâm

Ngủ yên, tình ngủ trên tay
Gối êm hạnh phúc đong đầy ước mơ
Tuổi nào, ánh mắt ban sơ
Cho ta quen lại, tình cờ mới quen

Ngủ đi, tình ngủ cho yên
Chút hương buổi sớm mới len vào phòng
Nói gì ngọn gió vào đông
Khép đối cánh nhỏ cửa lòng xôn xao

Ngủ đi, tình ngủ cho mau
Trong mơ bước chậm tìm nhau cuối đời
Ngủ đi, tình cũng đầy vơi
Nước kia ra biển vẫn xuôi về nguồn

Ngủ đi, một khúc ru buồn
Nghe như tiếng mẹ dỗ mòn giấc đêm .

TRƯƠNG THỊ THANH TÂM
(Mỹ Tho)



READ MORE - NGỦ YÊN TÌNH YÊU - thơ Trương Thị Thanh Tâm

CÂY RỰA, CÂY TRE VỚI NHÀ NÔNG - Tản văn của Nguyễn Đặng Mừng




Nguyễn Đặng Mừng
CÂY RỰA, CÂY TRE VỚI NHÀ NÔNG


Mỗi lần về thăm quê, thấy làng xóm khang trang, đường sá được bê tông hóa, đèn điện sáng trưng thì mừng nhưng thấy thiêu thiếu một cái gì đó không giải thích được. Ở tuổi ngũ thập hay nhớ chuyện xưa, nhớ cái hồn của làng xưa mà bắt đầu từ đâu nhỉ? À, phải rồi, hình như đường xóm thẳng và rộng hơn, cây tre ít lại. Có nơi chặt hết tre vì vướng dây điện. Làng quê mà không có những lũy tre thì mất đi một phần hồn quê, điều mà trong tâm thức của những đứa con xa xứ luôn thương nhớ, khắc ghi.

Cha ông mình với nghề nông đã gắn với cây tre từ bao đời. Lũy tre là bức thành vững chắc ngăn gió bão. Hình như từ nhà cửa đến dụng cụ gia đình, nhà nông đều gắn liền với cây tre. Hãy nghe lời than vãn của người đàn ông về những bất hạnh gắn liền với cây rựa (quê mình gọi là rạ):

Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rạ đùi

 Vợ dại trâu chậm thì làm sao ngóc đầu lên với bà con. Cái khổ thứ ba "rạ đùi" thì ngạc nhiên thật. Mà đúng thế, để chặt một cây tre chẻ lạt, đan lát các dụng cụ thì không thể thiếu cây rựa, mà "rạ đùi" thì có chi khổ bằng ??? Cái rựa quê mình đẹp và thanh thoát lại rất tiện dụng, luôn theo nhà nông  suốt cuộc đời. Từ cây rựa mà người nông dân sáng tạo ra cơ man nào là dụng cụ. Chuyện kể có anh nông dân khi chia gia tài với vợ, bà vợ bảo "cái gì giống đực thì của ông, giống cái thì của tui." Ông chồng đang tức tối, đồng ý ngay. Thế là tất cả gia sản  từ cái sàng, cái dần, cái cối, cái chày, cái cày, cái bừa ... đều giống cái . Đến khi bà vợ toan lấy cái rựa  thì ông chồng giành lại và nói "Nó là đực rựa". Tiếng đực rựa bắt đầu như thế đó. Những dụng cụ nhà nông ở quê mình luôn mang dáng dấp giống đực giống cái, hay như cách nói của các cụ thì là "có đôi, có đụa" : Cày thì có bừa, đòn xóc thì có đòn gánh, mỏ xảy thì có mỏ ngà, liềm thì có vằng, sàng dần thì có thúng mủng …

Thức khuya dậy sớm hỏi chàng
Tre non khẳm lá đan sàng được không?!

Thiếu nữ hỏi chàng một câu thật dí dỏm. Sàng dần, thúng mủng đều phải dùng loại tre già để đủ độ chắc bền không mối mọt. Cũng như phụ nữ phải trưởng thành mới lấy chồng. Thiếu nữ chưa trưởng thành hay còn trong giai đoạn khẳm lá (vị thành niên) mà đòi được "đan sàng" thì ngộ nghĩnh và dễ thương biết bao. Tình yêu nam nữ đã được ví von bằng hình tượng rất gần gũi.

Rồi họ thương yêu nhau, lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. Có những gia dình hạnh phúc nhưng cũng biết bao gia đình tan nát. Hãy nghe lời than vãn trách móc của thiếu phụ:

 "Anh nói với em như rìu sa xuống đá, như rạ chém xuống đất, như mật rót vào tai. Chặng chừ  anh đã nghe ai, để tranh mòn rui mọt, để nụ măng mai tồi tàn."

Cảm động biết bao khi người vợ đôi lúc phải nói giọng đanh thép như "rìu sa xuống đá", trầm thống như "rạ chém xuống đất", êm ả ngọt ngào như "mật rót vào tai". Để... "chặng chừ anh đã nghe ai" ...”để" để, để gì? "để tranh mòn rui mọt, để nụ măng mai tồi tàn”. Trách móc, giận hờn,  biết ví với cái gì đây? Nhìn cây rựa, cây rìu chồng để lại mà ví vào, nhìn lên mái nhà tranh dột nát rồi mà chồng chưa về, lại  nghĩ đến tình cảnh của gia đình, mai kia đàn  con thơ  như “nụ măng mai” sẽ lớn lên  thế nào khi vắng bóng cha, ai sẽ dạy dỗ chúng nên người, bà con sẽ dè bỉu là "con nhà không ai tra cán cuốc".

Như đã nói ở trên những dụng cụ nhà nông thường mang dáng dấp giống đực giống cái. Hai loại dụng cụ ấn tượng nhất về điều đó là đòn xóc và đòn gánh. Đòn gánh thì khắp nơi đâu cũng có, cái đòn gánh của quê mình nó mảnh mai làm sao. Nó cong như cánh cung nhịp nhàng trên vai thiếu nữ, làm ta nhớ lại quê nhà thuở thanh bình.

 Nhưng cái đòn xóc mới là độc đáo:  Lựa cây tre già, có độ cong tương đối, cắt khoảng 1.6 m, chẻ đôi khúc tre theo kiểu "phá mắt" ta sẽ có được phía lưng làm đòn xóc, chiều ngược lại làm đòn gánh. Đòn xóc được vót nhọn 2 đầu (Có câu tục ngữ để ví người hay châm chọc người khác là "đòn xóc nhọn 2 đầu" ) dùng để gánh lúa bó từ đồng về. Lúa được bó thật chặt bằng lạt, dùng đòn xóc thọc vào khoảng 7 phân, 2 bó lúa được xóc đối xứng nhau. Đòn xóc cong ngược lên để bó lúa không bị "trơi". Có lẽ Phạm Duy ấn tượng về cách gánh lúa của quê mình mà viết nên bài "Gánh lúa" nổi tiếng, với hình ảnh thật lãng mạn :"Chơi vơi, chơi vơi, gánh lúa chơi vơi, cánh đồng làng tôi mà làng tôi ... "

Không biết mình có thiên vị không nhưng theo tôi những dụng cụ nông nghiệp của quê mình nó có duyên hơn những vùng tôi đã đi qua. Thời đại văn minh càng ngày càng xa với những dụng cụ cổ truyền. Về quê thấy có làng văn hóa, có bảo tàng địa phương ... Mà phần  nhiều chỉ nói về thời chiến tranh. Quê mình có hằng trăm năm thanh bình, thịnh vượng với nền văn minh lúa nước. Biểu tượng của làng quê phải là thanh bình.

Nên chăng mỗi làng ở quê mình  lập một nhà bảo tàng (có thể ngay ở đình làng) để lưu lại những dụng cụ ngày nay không còn dùng nữa như cối xay lúa, xe đạp nước, cày bừa, gàu tát nước ...v..v... Để thế hệ trẻ nhớ về một thuở nhà nông của cha ông mình. Sợ đến một ngày nào đó lớp trẻ chẳng biết gì về đời sống vùng quê xưa …
Những người trên 50 tuổi hôm nay vài mươi năm nữa sẽ "ra đi" như câu ca dao buồn của người thôn nữ tiễn "chàng" về quê:

Chàng về thì đục cũng về
Dùi cui ở lại mần nghề chi ăn.

Vâng, những dụng cụ cần nhau như chàng, đục, dùi cui ... Như con người của quá khứ, hiện tại và tương lai cùng cần nhau lắm lắm.
                                                                                        
                                            Đã đăng trên Báo Sông Hương.


Trích từ tập tản văn 
Nhịp Đời Buồn Vui
tác giả Nguyễn Đặng Mừng
NXB Hội Nhà Văn
2011
Tác giả gởi tặng

READ MORE - CÂY RỰA, CÂY TRE VỚI NHÀ NÔNG - Tản văn của Nguyễn Đặng Mừng

CHIỀU THU TỰ CẢM - Thơ Quang Tuyết



    
               Tác giả Quang Tuyết 


CHIỀU THU TỰ CẢM

Ngựa chừ vó nản chân bon
Ờ sao em mãi chập chờn trong mơ
                               (Thơ La Thuỵ)

Đời sao chẳng đẹp như thơ
Đường dài cô độc thẩn thờ ngựa phi
Úa tàn giấc mộng xuân thì
Hoàng hôn thấp thoáng mong chi nắng về

Dặm ngàn bao nẻo sơn khê
Vẳng nghe nhạc ngựa não nề chớm đông
Dường như gió thoảng tiếng lòng
Bâng khuâng để mặc cho dòng lệ tuôn

Phải chăng phận mỏng cánh chuồn
Heo may gờn gợn như hờn duyên ai
Một đời thiên lý dặm dài
Trời gieo chi kiếp đoạ đày thân tôi

Thở dài não nuột than ôi
Má hồng môi thắm một thời bỏ không
Phải duyên thắm chỉ hoài mong 
Ươm mơ với mộng cuối cùng buông xuôi

Cánh bèo trôi dạt dòng đời
Bên chiều thu tận chơi vơi cõi lòng
Mới hay sắc sắc không không
Với tay nhặt mớ bòng bong tội tình

Lời thề thuở ấy đinh ninh
Sao nay duyên phận lênh đênh bụi bờ
Tình người như sợi chỉ tơ
Một làn gió thoảng hững hờ đoạn ly

Còn đây dòng lệ sầu bi
Dòng đời sao chẳng hội kỳ hỡi ai
Chờ chi duyên đã nhạt phai 
Mong chi người đã đổi thay câu thề

Tiếc xưa vai sánh dựa kề 
Mà nay tình lại mệt mề đớn đau
Ta về buông mối tình sầu
Theo dòng nước cuốn vui câu thơ đời

Mặc cho gió cuốn mây trôi
Mặc câu thế sự ai người bạc đen
Có trăng chớ vội quên đèn
Lập loè đom đóm phận hèn tủi thân

                                 Quang Tuyết

READ MORE - CHIỀU THU TỰ CẢM - Thơ Quang Tuyết

Friday, April 3, 2015

CÀ PHÊ MỘT MÌNH - Thơ Bùi Đức Thu


Thu Bui


CÀ PHÊ MỘT MÌNH 

Bạn rằng: Bạn uống cà phê , 
Tôi đây cũng uống: "cà phê một mình". 
Giọt sầu, giọt đắng lung linh 
Giọt thương, giọt nhớ một mình mình tôi. 
Giọt khơi bao nỗi bồi hồi 
Giọt thêm nỗi nhớ một thời xa xưa. 
Bây giờ khác nắng, khác mưa 
Đôi đường xa ngái, tình xưa quay về. 
Ước gì chung tách cà phê 
Vậy mà ! Vẫn uống  "CÀ PHÊ MỘT MÌNH"… 


                                           Bùi Đức Thu
                                   Chicago Mar 29 , 2015 


( Nhân đọc : Ly Cà Phê Thân Ái của nhóm bằng hữu Đông Hà )

READ MORE - CÀ PHÊ MỘT MÌNH - Thơ Bùi Đức Thu

Thursday, April 2, 2015

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng mời nghe: YÊU LÀ YÊU - Nhạc: Thanh Trang - Trình bày: Hiếu Tâm, Hiếu Thuận, Hiếu Phương và Hiếu Trang.






1. Nguời biết yêu cuộc sống
Yêu trời đất mênh mông
Chờ nắng mưa gọi xuống
Cho thắm tươi muôn lòng

Nguời đến trong cuộc sống
Có khi về với hư không
Một sớm mai lẻ bóng
Mơ ước duyên tình nồng

Ð.K.
Yêu là yêu là yêu khoảng trời ngát xanh
Yêu là là yêu là yêu chợt khi vắng anh
Yêu là khi gặp duyên hẹn ngày có nhau
Yêu là khi muộn duyên hẹn chờ kiếp sau !

2. Ngày tháng phai màu áo
Nên người dễ quên nhau
Tình ngắn hay tình sâu
Theo nắng mưa dãi dầu

Hỏi những tâm tình đó
Giữ trong đời đến bao lâu ?
Lời cuối anh thầm nói :
Yêu mỗi tâm tình đầu !

( Trờ lại Ð.K. )

3. Dù thiết tha là mấy
Cũng ngày bỗng chia tay
Người buớc đi một buớc
Sao vẫn quay trông lại ?

Hỏi chốn xưa nẻo ấy
Nhớ nhung gì bấy lâu nay
Lời cuối anh thầm nói :
Yêu mỗi phương trời này ! 

( Trờ lại Ð.K. )

4. Ngày tháng phai màu áo
Ai nguời dễ quên nhau ?
Tình chớm hay tình sâu
Qua nắng mua dãi dầu

Hỏi những duyên tình cũ
Giữ trong lòng đến bao lâu
Lời cuối anh thầm nói :
“Yêu mỗi trang tình đầu !”

( Trở lại ÐK. Và hết)

Theo: www.lyricafe.com
READ MORE - Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng mời nghe: YÊU LÀ YÊU - Nhạc: Thanh Trang - Trình bày: Hiếu Tâm, Hiếu Thuận, Hiếu Phương và Hiếu Trang.

NGÀY EM VỀ - thơ Trầm Mặc

Tác giả Trầm Mặc


Thơ Trầm Mạc (Nguyễn Thị Bê)

       Ngày Em Về         

Rồi một ngày em về
Ngập chìm trong biển mê
Giọt hờn theo năm tháng
Dòng sông Hoài đê mê 

Ta đi giữa trưa buồn
Nghe giọt nhớ giọt thương
Phố cũ chiều lặng lẽ
Lá vàng mãi vấn vương

Ôi! ngày em trở về
Mưa … mưa ...  dài lê thê
Gió u hoài than khóc
Chạnh lòng nỗi sơn khê

Mưa... vẫn rơi não nề
Ai bảo em hẹn về
Lời buồn sao nói hết
Anh phổ khúc hẹn thề 

Em!
Có biết chăng?
Ai đêm trường không ngủ
Cây trút lá vi vu
Trăng treo lưng chừng ngõ
Anh vời vợi khúc ru... 

Ơ  hờ! Em hẹn về ...
Ngày em về ...

Ôi!!
Còn đâu mắt môi?
Tình anh đơn côi
em còn hờn dỗi
Tình đầu xa xôi
mộng vàng trôi thôi
Người ơi đâu rồi?
Ơ hờ ... đâu rồi ... đâu rồi...

                                     Vỹ Dạ Huế

                                           2015
READ MORE - NGÀY EM VỀ - thơ Trầm Mặc

BIẾT ĐÂU CHỪNG ... - Chùm thơ Nguyễn Văn Gia


Tác giả Nguyễn Văn Gia















Chùm thơ Nguyễn Văn Gia

BIẾT  ĐÂU  CHỪNG ...

Biết đâu chừng ...
Rồi một ngày
Trời đất sẽ xanh hơn
Rộn rã tiếng chim
Hoa trái đầy vườn
Trẻ thơ đến trường
Tung tăng chân sáo
Nước sẽ mát lành
Vui con cá lội
Và con người
Lại biết sống yêu thương.


THÀ  RẰNG

Bầy
Đàn
Là cái chi chi
Thà rằng lặng lẽ mỗi khi
Đi
Về
Rảo quanh cái cõi u mê
Rong chơi dăm bữa mai về hư vô.


TƯỞNG  BỞ

Trái đất quá mong manh
Lắm phen ta tưởng bở
Chẳng có gì muôn năm
Giữa trùng trùng dâu bể.


                        Nguyễn Văn Gia
READ MORE - BIẾT ĐÂU CHỪNG ... - Chùm thơ Nguyễn Văn Gia

ĐỌC “XIN LỖI” THƠ VĨNH THUYÊN - Châu Thạch

Nhà thơ Dương Vĩnh Thuyên



ĐỌC “XIN LỖI” THƠ VĨNH THUYÊN
   Châu Thạch

XIN LỖI
Cảm ơn em
Cảm ơn hết mọi người
Đã cho tôi
Một lần xin lỗi
Trời sinh tôi
Sinh thêm lắm tội
Lời nói đầu
Tôi XIN LỖI tôi

Phà Cổ Chiên
Tháng ngày mấy lượt
Đưa tôi đi
Và đón tôi về
Cầu Cổ Chiên xây xong
Ai tiễn
Phà về đâu
Tôi biết đâu tìm

Ao Bà Om
Chiều hôm còn đợi
Đợi điều gì
Không hẹn chưa quen
Gió đã nói
Lời như trách móc
Tôi đã thua lần nữa
Mấy lần

                   Vĩnh Thuyên


Lời Bình:  Châu Thạch

Có người nói với tôi Vĩnh Thuyên thiếu chữ để diễn tả ý thơ mình. Tôi cười không trả lời nhưng tôi biết không phải như thế vì Vĩnh Thuyên muốn nói ít để người ta hiểu nhiều. Thơ Vĩnh Thuyên không bao giờ tối nghĩa nhưng đọc thơ Vĩnh Thuyên thì trước hết phải trang bị cho mình con mắt thẩm mỹ để cảm nhận  vẽ đẹp một cách khái quát như thoáng nhìn một bức tranh lập thể, sau đó từ từ chiêm nghiệm.

Đọc bài thơ “Xin Lỗi” ta cũng dễ ngỡ ngàng vì gặp ngay những lời khô khan vào đề:

Cảm ơn em
Cảm ơn hết mọi người
Đã cho tôi
Một lần xin lỗi

Xin lỗi và cảm ơn là hai câu nói ở đầu cửa miệng người Âu Mỹ . Vĩnh Thuyên tiến bộ hơn họ ở chổ vừa xin lỗi xong, lại cám ơn tiếp vì người ta nhận lời xin lỗi của mình. Đây là một phong cách thơ có mục đích nhấn mạnh thêm lỗi của nhà thơ nặng nề, trầm trọng hơn những lỗi trong sự va chạm bình thường ngoài đời.
Ta cũng ngỡ ngàng thêm vì không biết nhà thơ có tội chi mà xin lỗi nhiều như thế. Đọc tiếp hai câu thơ sau ta thấy Vĩnh Thuyên mặc dầu xin lỗi nhưng cái lỗi chính lại là cái Tôi cuả mình.

Người theo đạo Chúa thường đấm ngực xưng tội mình nhưng họ nói “lỗi tại tôi mọi bề” chớ chẳng khi nào đổ tội cho Trời và xưng tội với người. Người theo đạo Phật thì lại càng tự nhận lỗi về mình tất cả để tu tập trên con đường Diệt Đế . “Trời sinh ra tôi-Sinh thêm lắm tội” nhưng tại thâm tâm mình nhà thơ cũng ý niệm được “lỗi tại tôi mọi bề” nên ông lại tự xin lỗi chính mình. Điều đó cũng xác nhận được nhà thơ tự cảm nhận được trong thể xác mình có hai bản thể con người. Một bản thể mang tội lỗi và một bản thể là công chính, không tội:

Lời nói đầu
Tôi XIN LỖI tôi

Vế thơ cho ta thấy Vĩnh Thuyên vạch ra một vấn đề nam giải. Đó là nguyên nhân của tội lỗi. Câu hỏi tội lỗi từ đâu mà có? Tội lỗi từ trời hay tội lỗi từ tôi? Nhà thơ đưa ra nan đề và nhà thơ không trả lời. Những lời cảm ơn em và cảm ơn mọi người đã cho nhà thơ một lần xin lỗi chẳng phải là chân thành đâu vì ai đâu biết tác giả có lỗi gì mà tha thứ. Đó chẳng qua là ngón đòn tâm lý đánh thức tư duy của em và của mọi người để tự giải bài toán khó giải kia, để giải một nan đề thuộc về một triết lý cao sâu.  Phần đáp án phải do mỗi người trong chúng ta, những ai đọc bài thơ “Xin Lỗi”, hoặc nó là một sự phi lý sẽ treo lơ lửng muôn đời không ai giải được.

Qua phần thứ hai của bài thơ tưởng như lạc lỏng với vế thơ đầu. Phần nầy tác giả nói về việc cây cầu Cổ Chiên xây xong đã làm cho con phà Cổ Chiên biến mất. Phà cổ Chiên là hình ảnh thân thương trong quá khứ đối với tác giả và đối với nhiều người.Khi người qua sông có phà đưa đón. Phà Cổ Chiên không còn  ai sẽ  tiễn  phà đi để nhà thơ phải ngẫn ngơ mà thốt lên:

Ai tiễn
Phà về đâu
Tôi biết đâu tìm

Phà cổ Chiên và cầu Cổ Chiên có liên quan gì đến chủ đề bài thơ là “Xin lỗi”? Tại sao tác giả đặt phà và cầu vào trong bài thơ nói về tội lỗi? Bến phà biến đi làm mất theo luôn cảnh nhộn nhịp của người qua lại, của sự trao đổi bán mua. Cây cầu hiện ra là một hình ảnh mới, một sinh hoạt mới  gọn hơn và nhanh hơn trước. Thâm tâm nhà thơ có sự ray rức vì tưởng như quá khứ có linh hồn và linh hồn đó đã chết. Tác giả tự chuốc vào mình cái lỗi của sự từ giả một nếp sống thân thương mà mình quyến luyến. Nhà thơ nghe tiếng than thở oán trách của linh hồn quá khứ trong linh hồn của nhà thơ. Vì thế tác giả  mới phân bua trước mọi người như là người ta đang chất vấn mình: “Ai tiễn/Phà về đâu/Tôi đâu biết”.

Vế thơ cho thấy quan niệm những thay đổi trong cuộc đời dầu là thay đổi tốt hơn nhưng không biết trân trọng quá khứ cũng là một tội lỗi. Chiếc áo mới thay chiếc áo cũ, ngôi nhà mới thay ngôi nhà cũ, cây cầu mới thay bến phà cũ là ta vất bỏ chính ta của một quá khứ gắn bó, nương cậy, chuyên chở…đời ta mà với quan niệm về chữ “chấp” của nhà Phật, có thể ta cho chính đó là ta. Vậy thì lỗi hay tội lỗi nó nằm trong mọi hành vi, mọi giao tiếp của tôi với đời mà nó từ đâu đến, không phải do tôi vì “Ai tiễn/Phà về đâu/Tôi biết đâu tìm” nhưng tôi phải đau khổ như chính tôi là thủ phạm vì kỷ niệm ấy tôi sẽ giết chết lần trong ký ức của tôi. Từ đó tôi phải xin lỗi cuộc đời .- Đó là một nan đề.

Vế thứ ba của bài thơ tác giả đem mình vào trong huyền thoại đất Trà Vinh:


Ao Bà Om 
Chiều hom còn đợi 
Đợi điều gì         
Không hẹn chưa quen         
Gió đã nói         
Lời như trách móc         
Tôi đã thua lần nữa       
Mấy lần
  
Chuyện kể ngày xưa tại đất Trà vinh có xảy ra cuộc tranh tài đào ao giữa nam và nữ. Bên nam vì ỷ lại và ham vui nên bị bên nữ lừa phải thua cuộc. Người lảnh đạo bên nữ là bà Om bày kế múa hát cho phía đàn ông mê mẩn quên đi trách nhiệm của mình.

Huyền thoại nầy cũng tưởng như không liên quan gì với chủ đề “Xin Lỗi” ở trên nhưng, đọc lời thảo luận của nhà thơ Hoài Huyền Thanh cho ta ý niệm về vế thơ nầy:

“Tình sương khói cho đời thêm mộng mị
Được chào thua người là hạnh phúc cho thơ”

“Chào thua” như Hoài Huyền Thanh nói hay xin lỗi cũng là một cử chỉ biểu hiện sự thua cuộc hay sự nhân nhượng chịu là mình thua cuộc. Từ thời xa xưa người nam đã vì sự yêu thích người nữ mà chào thua trong câu chuyện Bà Om. Ngày nay thi nhân chờ đợi sự thua cuộc đó trong đời mình. Mặc dầu “Gió đã nói/ Lời như trách móc”  nhưng người thơ vẫn “Cảm ơn em/Cảm ơn hết mọi người” đã nhận của tôi một lời xin lỗi hay nói đúng hơn, nhận sự thua cuộc của tôi với em, với hết thảy mọi người. Người đời thua cuộc thì sinh hận thù. Thi nhân thua cuộc có khi là hạnh phúc, giống như con kén tự rúc vào cái bọc mình làm ra để thua cuộc, và khi kén chết tức là thua cuộc thì tơ tằm đem ra làm đẹp cho đời. Những sự thua cuộc đó chính là “Được chào thua người là hạnh phúc cho thơ “.

Ba vế thơ trong “Xin Lỗi” tưởng như nói về ba vấn đề riêng biệt nhưng thật tình nó liên kết nhau trong một chủ đề, lật cho người đọc thấy như bức tranh về sự ngang trái  của cuộc đời và những nan đề đặt ra cho triết lý nhân sinh như nhà thơ Lê Hào đã thảo luận.

Tôi nghĩ bài thơ nầy nếu thêm 1 khổ nữa thì tròn trịa biết bao

Viết về bài thơ nầy, nếu viết ngắn thì không hết ý, chỉ nói loanh quanh mà viết dài thì mõi mắt người xem.

Xin dùng lời cảm ơn của Vĩnh Thuyên để gởi đến mọi người nhận cho tôi một lần xin lỗi vì sự nông cạn của mình nhưng yêu thơ Vĩnh Thuyên nên tỏ bày vài hàng thô thiển./.
                                                              Châu Thạch








READ MORE - ĐỌC “XIN LỖI” THƠ VĨNH THUYÊN - Châu Thạch