Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 28, 2014

GIỌT LỆ TÌNH - Trúc Thanh Tâm

Tác giả Trúc Thanh Tâm


GIỌT LỆ TÌNH 

Qua rồi hò hẹn đón đưa
Cành cây tình ái đong đưa lá sầu
Ngọt ngào dậy sóng biển dâu
Hương bay lạc nẻo dãi dầu nhớ quên

Tình cờ tôi gặp lại em
Bốn mươi năm đã hằn thêm vết buồn
Mắt chờ môi đợi phai son
Còn đâu lối mộng thiên đường ngày xưa

Bất thần trời đổ cơn mưa
Vào ngồi quán lá gió lùa sau lưng
Cà phê từng giọt dửng dưng
Nhìn em vuốt tóc nghe từng sợi đau

Càn khôn cánh én nghiêng chao
Dòng sông định mệnh chảy vào xa xôi
Bây giờ tôi khóc chính tôi
Và em từng giọt lệ rơi xuống lòng !

 Cuối năm 2014
TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)
READ MORE - GIỌT LỆ TÌNH - Trúc Thanh Tâm

ĐEN VÀ ĐỎ - Chu Vương Miện







đen và đỏ

canh bạc có canh đỏ canh đen
có canh lùa vào có canh chi
ra con người có người đen người
đỏ vàng thì vàng bạc thì trắng
than thì đen và lửa thì đỏ có kẻ
an nhàn có kẻ cực khổ có
kẻ đi trên đường cái ó kẻ
lăn xuống hố có kẻ đoàn tụ
với nhau có người vợ bỏ chồng
bỏ có người đi lính khố xanh
ngược lại có người đi lính khố
đỏ trong bàn cờ tướng có anh
thủ vai tốt xanh có anh thủ vai
tốt đỏ có anh làm lý trưởng
có anh làm thằng mõ có anh
số đen có anh số đỏ có anh
là cai mỏ than có anh chỉ
làm thợ mỏ có anh ung dung
ngồi nhâm trà có anh khom lưng
đẩy xe cắt cỏ

                        chu vương miện



READ MORE - ĐEN VÀ ĐỎ - Chu Vương Miện

XIN ĐỪNG GỌI TÔI LÀ NHÀ THƠ - Hồng Tâm








Xin Đừng Gọi Tôi Là Nhà Thơ

Xin đừng gọi tôi là nhà thơ

Tôi cũng như bao con người khác thôi
Cũng lắm ước mơ
Lắm chông gai, trăn trở chuyện đời

Đừng gọi tôi là nhà thơ nữa người ơi !
Tôi như bao người bất hạnh
Có mái ấm gia đình
Rồi  tan vỡ
Sự sống mong manh
Cái chết sắp cận kề

Đến với thơ vì sự đam mê
Đem con chữ gieo vào vườn văn học
Yêu thơ như yêu từng hạt ngọc
Để tìm chính tôi khi vấp những sai lầm
Tôi làm thơ là đi tìm
Tìm nỗi nhớ mong manh, chiều kỷ niệm
Tìm lại ai lạc bước cuối con đường
Và có ai đợi chờ như cánh hạc phơi sương
Tôi mong mỏi tìm lại người thương ... Mùi hương áo lụa
Con đừng gọi tôi là nhà thơ nữa
Tôi chẳng thích đâu!


Hồng Tâm ( Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu- Tây Ninh )
Email: lyminhly456@gmail.com
Điện thoại: 01285990757
READ MORE - XIN ĐỪNG GỌI TÔI LÀ NHÀ THƠ - Hồng Tâm

CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN VÀ MẸ - Trương Đình Phượng







CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN VÀ MẸ

TÂM SỰ KẺ THA HƯƠNG

Con rời váy mẹ ra đi
Miệt mài theo đuổi đam mê nửa đời
Chênh vênh lạc giữa chợ người
Che tiếng khóc dưới nụ cười tái tê
Sương giăng mờ lối con về
Tháng ngày vắt kiệt lời thề cỏ may
Bụi hèn phủ kín đôi tay
Cô đơn oằn gót thơ ngây dặm trường
Đêm dài thèm chút tình thương
Ngu ngơ tìm kiếm mùi hương cuối mùa
Ngoài trời mòn mỏi gieo mưa
Hững hờ gió bấc khẽ lùa song thưa
Buồn về lật cả cơn mơ
Để thuyền tình lạc bến bờ bình yên
Nửa đời dạt xứ xa miền
Bán hạnh phúc nhận muộn phiền đắng cay
Không người khóc mướn thương vay
Một mình cạn chén men say... tủi hờn
Mẹ ơi đông lạnh sắp tàn
Con về dẫu có muộn màng... đón xuân
Sắc hoa tô thắm mảnh vườn
Người người đón tết rộn đường quê hương
Tay mòn mẹ rải tình thương
Xua tan bao nỗi sầu vương tháng ngày


TẾT VẮNG MẸ

(Viết cho những mảnh đời mồ côi)

Mẹ ơi tết lại về rồi
Sắt se gió lạnh trắng trời mưa bay
Từ ngày mẹ vắng đến nay
Hai gian nhà trống chất đầy lặng im
Nỗi buồn con giấu vào tim
Nửa đêm choàng giấc đi tìm trong mơ
Ước gì con mãi còn thơ
Như xưa mẹ lại ầu ơ ru hời
Môi khô mẹ khẽ mỉm cười
Xua tan buốt giá...canh dài bình yên
Đông tàn vợi nỗi triền miên
Đắng cay đời mẹ...dịu hiền sắc xuân
Thời gian ngừng gót gian truân
Dòng sông đời bớt đôi phần nổi trôi
Nếp thơm mẹ lại đồ xôi
Bánh chưng mẹ gói xanh ngời lá dong
Mẹ đem tất cả tấm lòng
Thương yêu...dành cả cho chồng cho con
Ngày xuân ai cũng má hồng
Chỉ riêng má mẹ mỏi mòn...mẹ ơi!

Tử sinh khắc nghiệt luật trời
Một ngày u ám nghẹn lời tiễn đưa
Con khóc mẹ trời tuôn mưa
Bao nhiêu đau đớn cho vừa biệt ly?
Nặng nề con bước chân đi
Mẹ nằm ở lại tái tê con về
Mười năm như một giấc mê
Mỗi năm tết đến não nề lòng con
Thời gian dẫu có hao mòn
Tình thương của mẹ vẫn còn vẹn nguyên


BAN MAI


Mùa xuân ghé đến bên thềm
Bâng khuâng đôi giọt sương mềm nhẹ gieo
Mái tranh một bóng mẹ nghèo
Cô đơn ngồi đếm eo xèo... thời gian



ĐÊM DÀI

Năm canh thao thức mẹ nằm
Thương con xứ lạ kiếp tằm nhả tơ
Bao năm tìm kiếm bến bờ
Xuân về lòng mãi hững hờ tình duyên



VO TRÒN

Mẹ vo tròn nỗi khát khao
Và muôn cay đắng nén vào thẳm sâu
Thời gian rụng trắng mái đầu
Đêm qua xuân đến nỗi sầu nhẹ khuây



NHỚ CON

Rưng rưng mẹ thắp nén hương
Gửi vào trong khói tình thương dạt dào
Con đi vì nước năm nào
Để nay thêm thắm sắc đào ... mùa xuân



XUÂN BUỒN

Ngày mai xuân đã đến rồi
Nhà nhà sắm tết nơi nơi rộn ràng
Kiếp nghèo mẹ mãi đa mang
Không đào thắm chẳng mai vàng chào xuân

(Mùa xuân đa phần các thi sĩ đều viết về niềm vui riêng, tôi lại viết
về nỗi buồn của mẹ không biết có hơi bị lạc lõng chăng?Thôi thì xem
như chút lòng gửi tới những bà mẹ nghèo vậy. Kính chúc các mẹ mùa xuân
về bình an và lòng già nguôi khuây nỗi cô đơn)
READ MORE - CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN VÀ MẸ - Trương Đình Phượng

TÌNH KHÚC SỐ 15 - thơ Trúc Thanh Tâm




1. NẮNG CUỐI NĂM

Em áo mỏng phập phồng mùa xuân lạ
Anh mở lòng cho hương ngụ trái tim
Xin cám ơn những chiêm bao chợt đến
Nắng cuối năm và gió bấc qua thềm !

2. NẮNG HOA VÀNG

Xuân đầy ắp mắt nai ngoan mơ mộng
Hẹn hò ơi, xanh mãi lá sân trường
Có con bướm bay vô vườn hút mật
Nắng hoa vàng trên lối cỏ yêu thương !

3. NẮNG TÌNH YÊU

Nắng tình yêu trôi bồng bềnh trên tóc
Hơi thở em nhè nhẹ gió thanh xuân
Ta hôn nhau cho thời gian chết đuối
Cho đất trời mầu nhiệm cũng bâng khuâng !

TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )
READ MORE - TÌNH KHÚC SỐ 15 - thơ Trúc Thanh Tâm

LẦU HOÀNG HẠC - Chu Vương Miện





lầu hoàng hạc

người xưa cưỡi hạc vàng bay mất
hoàng hạc trơ đây bạc mái đầu
hạc vàng bay mỏi không trở lại
mây trắng ngàn năm đuổi mãi nhau
cây cối Hán Dương dòng sông lạnh
bãi bờ Anh Vũ cỏ tươi mầu
chiều tôí quê nhà nơi nào nhỉ?
trên sông khói sóng gợi lòng đau.

                         chu vương miện


READ MORE - LẦU HOÀNG HẠC - Chu Vương Miện

Saturday, December 27, 2014

VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU - Thơ Kha Tiệm Ly





VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU
            (Tặng Lang Vườn)

Đất Phương Nam rượu đã lờn mùi,
Chợt nhớ đệ huynh dọc đường số một.
Hảo hán bốn phương thiếu gì chí cốt,
Lẽ nào một mình ôm rượu uống khơi khơi?

Một ngày gặp nhau , mấy ngày ly biệt,
Lời tri âm sao chẳng nổ tràn tràn ?
Trăm năm dễ chi gặp người hào kiệt
Thì rượu tương phùng sao chẳng rót chang chang ?

Rồi mai đây, đâu hẹn thân bèo nước,
Bỏ hết đi ! – Chừa sĩ khí mà thôi!
Ta gặp nhau cũng là duyên kiếp trước.
Biết ra sao, sau sáu nẻo luân hồi ?

Rượu khí phách tràn tràn lời khí phách,
Rượu hùng anh cạn chén với anh hùng.
Rượu hảo hán chỉ chọn người hảo hán
Rượu ngang tàng bén kiếm Lệnh Hồ Xung!

Mặc cho đời tranh danh tranh lợi,
Tranh nhục, tranh vinh, rồi cũng một mấm mồ
Đập bình vỡ, nói một lới sảng khoái,
Vỗ bàn ca khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.

                             Kha Tiệm Ly
                               (12/ 2014)
...............................................................................

KHA TIỆM LY
99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
Tel: 0987  701  952   -   01229  880  130
Email: khatiemly@gmail.com

READ MORE - VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU - Thơ Kha Tiệm Ly

VIẾT TẶNG ĐÔI MÌNH HAI KẺ XA NHAU - Hồng Tâm







Viết Tặng Đôi Mình- Hai Kẻ Xa Nhau



Viết tặng đôi mình - hai kẻ xa nhau

Mấy năm dài ta không gặp lại

Mấy mùa đông qua rồi xuân đến

Trôi theo dòng đời mà người đâu có hay



Lời yêu ngày nào giờ gió thổi bay

Câu thề ấy, đốt thành tro tàn dĩ vãng

Nỗi buồn em giấu theo năm tháng

Sao bây giờ em khơi lại chuyện xưa?



Nỗi nhớ người lòng hoá  những cơn mưa

Mùa đông về, em cuồng điên tê dại

Câu thơ em viết tình yêu ngang trái

Bởi phân chia ranh giới sang, nghèo



Biết làm gì cho đỡ tủi người ơi !

Giọt lệ rưng rưng trên khoé mắt

Có nỗi đau cứ mãi chôn chặt

Chẳng thể nào em được chạm vào đâu



Viết tặng đôi mình - hai kẻ xa nhau

Thôi luyến tiếc, thôi mong chờ vô vọng

Em sẽ cố quên đi hình bóng

Một thời em say đắm bên anh



Hồng Tâm 
(Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu - Tây Ninh)

Điện thoại :01285990757

Email : lyminhly456@gmail.com
READ MORE - VIẾT TẶNG ĐÔI MÌNH HAI KẺ XA NHAU - Hồng Tâm

DÊ TRONG THƠ VIỆT - Trần Ngọc Hưởng






Dê trong thơ Việt

Trong thập nhị chi mười hai con giáp thì dê đứng hàng thứ 8 trước con khỉ và sau con ngựa. Từ thời xa xưa đến nay, trong mắt con người, con dê là một trong số những con vật quí. Các vua chúa trước đây thường chọn dê là một trong số những lễ vật quí báu khi các vương hầu đến diện kiến hoặc triều cống các hoàng đế.

Ngược lại, khi vua quan ban thưởng cho các thuộc hạ, cùng với lụa là gấm vóc là những con vật : dê, cừu, ngựa.. Dê còn được nuôi trong nội cung của vua để kéo xe cho vua đi lại trong nội cung.

Sách đông y xưa cũng có nói đến con dê. Theo đó thịt dê và sữa dê có rất nhiều chất bổ dưỡng. Đặc biệt chân dê và tinh hoàn dê có chế biến thành món ăn hoặc ngâm rượu có tác đụng rất mạnh trong việc bồi dưỡng sức khoẻ, làm cho cơ thể cường tráng. Ngày nay những món ăn món uống từ thịt dê cũng đang được nhiều người ưa thích và được coi là những món đặc sản đáng quý.

Nói tới con dê, lập tức người ta liên tưởng đến người có máu dê như Bùi Kiệm trong tác phẩm truyền đời của cụ Đồ Chiểu.
“ Còn người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi chai bộ mặt như giề thịt trâu
              (Lục Vân Tiên)

Dân Việt Nam mình hình như không có cảm tình mấy đối con vật có vẻ hiền lành này.

Để chỉ sự lừa lọc, dối trá, làm một đường nói một nẻo, dân mình có câu tục ngữ: “Treo đầu dê bán thịt chó”. Dê và chó đối lập nhau biểu hiện cho sự trái ngược nhau giữa lời nói  và hành động, giữa giới thiệu và thực hiện, cái nói về cái giới thiệu thì quá tốt đẹp còn cái trao cho đưa tới mọi người thì thật là tồi tê.

Nữ sĩ tài hoa Hồ Xuân Hương đã dùng hình ảnh Dê cỏn để ám chỉ và phê phán bọn công tử bột đương thời chơi bời bừa bãi:
Ong non ngứa nọc châm hoa sữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa

Trong văn học, hình ảnh dương xa (xe dê) là điển tích khá quen thuộc có nguồn gốc là chiếc xe do dê kéo để chở vua đi khi đến với các phi tần. Trong các triều đại phong kiến Trung Hoa trước đây, vua thường có rất nhiều cung phi mỹ nữ. Nhiều đến nỗi không sao nhớ hết mặt, thuộc hết tên. Bởi thế, có những người thường bị vua bỏ quên từ lúc nhập cung tới lúc chết già không được vua ban ân sủng. Vì biết con dê thích ăn lá dâu nên nhiều cung nữ đã rắc lá dâu trước cửa phòng mình để dê vào ăn và kéo luôn xe của vua vào với mình.

Đọc Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, mọi người hẳn còn nhớ đến những câu thơ: "Phải duyên hương lửa cùng nhau/ Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào”

Khi không được xe dê tìm đến mua vui thì người cung nữ nào cũng cảm thấy lạnh lẽo cô đơn: Thâm khuê vắng ngắt như tờ, Cửa châu gió lọt rèm ngà sương gieo. Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ. Dấu dương xa (xe dê) đám cỏ quanh co…(Cung oán ngâm khúc).

Dê cũng là hình ảnh tiêu biểu đi vào văn thơ, góp phần tạo nên những tác phẩm nổi tiếng thuộc nhiều thể loại và ở mọi thời đại. Từ các áng văn chính luận sắc bén chống giặc ngoại xâm như Hịch tướng sĩ (thế kỷ 13) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong câu “Tắc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (thế kỷ 19) của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong câu “Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.”

Như phần trên có nói, người ta thường dễ liên hệ dê với người có máu dê, hạng người luôn bị chỉ trích trong xã hội vì đa tình, sàm sổ bừa bãi bất kể mỹ tục thuần phong : “Phượng hoàng đậu nhánh sa kê, Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi”( Ca dao)

Có người còn cho rằng chữ de trong câu ca dao : “Cam sành lột vỏ còn the, Thấy em còn nhỏ anh de để dành” hay trong câu : “Bắp non mà nướng lửa lò. Đố ai de được con đò Thủ Thiêm" là bắt nguồn từ dê nghĩa là gần gũi, o bế, dỗ dành, kích thích khêu gợi cho nhau.

Con dê trong Lục súc tranh công từng khẳng định công nghiệp mình cùng ngựa và các con thú khác:
“Dê vốn thật thuộc về việc lễ,
Ðể hòng khi về hạng tư văn ;
Ðể dành khi tế thánh, tế thần,
Lại có thủa kỳ yên, kỳ phước.
Hễ có việc, lấy dê làm trước,
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Ngựa tuy rằng hình tượng lớn cao,
Tam sanh lễ, ai dùng đến ngựa ?
Dầu đến việc làm đình, làm chợ,
Cũng lấy dê trảm thảo, bồi cơ ;
Nhẫn đến ngày mạng tướng xuất sư,
Cũng lấy dê khấn cầu tổ đạo.
Lễ cốc sóc thánh nhân còn bảo :
Tử Cống sao dê sống bỏ đi ?
Ngựa nói ngang mà chẳng biết suy,
Dê nào có thiếu chi công trạng ?”

Nhiều người còn nhớ bài thơ đường luật con dêmột thời nổi tiếng:
Giống nai sao lại tiếng bê hê
        Đứng lại mà coi vốn thiệt dê
Đực cái cũng râu không hổ thẹn
Vợ chồng một mặt hết khen chê
Sớm phơi bốn móng sân Tô Vũ
Chiều gác đôi sừng cửa Lý Hề
Bởi nó sợ trâu kia dớn dác
Cam lòng chịu buộc lịnh vua Tề

Ra đời khi Nam kỳ lọt vào tay giặc Pháp, tác giả bài thơ kín đáo phê phán bọn tay sai cam tâm nuốt nhục cúi đầu để mặc giặc thù thao túng đày đọa dân lành.

Trong hoàn cảnh đó có người còn mượn hình ảnh Tô Vũ chăn dê để bày tỏ tâm sự vững lòng thuỷ chung đối với quê hương Tổ quốc:
        “Ngàn dặm Trường An mặt luống băng
Đoạn sầu căn dặn nỗi tằn mằn
Khôn đem tóc bạc thay đầu ác (1)
Dễ khiến lòng son đổi miệng lằn
Đêm lạnh ngù cờ sương lợt đợt
Ngày chiều dải mão (2) gió xung xăng
Muôn dê bao sá loài Hồ lỗ (3)
Một tưởng hàng vương, một nghiến răng”


Trong kháng chiến chống Pháp, Bùi Giáng đã “chăn dê một đoạn đời 15 năm ở núi đồi Nam Ngãi Bình Phú”, như ông kể lại trong bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ (Mưa Nguồn – 1962). Đàn dê trong thơ ông tự do nhảy múa, tha hồ be he, bé hé, bế hế, bê hê, tung tăng những bộ lông rực rỡ, trong chiếc vòng nhiều màu sắc do nhà thơ thoăn thoắt bện cho:
“Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi vút dòng khe
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Vang vang lên đồi núi giọng be be
Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả
Ðeo vòng vào em nghển cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên...”

“Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm
        Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
        Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
        Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.”

Nhà thơ ghi chú rõ: Dê Hoa Cà có sắc lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậy. Đẹp vô cùng. Nhất là buổi chiều, sắc lông óng ả dưới nắng vàng – xa xa hình bóng dê rực rỡ bổi bật trên sườn núi xanh lơ. Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao, vì lông lổ đổ sáng như sao...

Ông chân thành bày tỏ:
Cái lần đầu, thuở 20 tuổi trao cái vòng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đeo vòng cho dê vậy (tr.151).

Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ
Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm lời ước thệ
Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.
Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc
Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao ?
Vì lòng anh luống ân thầm tha thiết
Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao.
Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa
Và giờ đây một lời thề đã thốt
Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.

Hình ảnh những con dê trong thơ Bùi Giáng thật đẹp đằm thắm tình người rạng rỡ và tráng lệ hiếm có lấn át hoàn toàn hình ảnh đôi con dê già khó trị trong xã hôi thường ngày lâu nay:
Chém cha cái tết con dê
Chồi non lộc biếc bốn bề tả tơi
Dê già quen thói ăn chơi
Tiền chùa thoải mái dê cười chào xuân.

Năm mới sắp tới đây  2015,Năm Dê (Mùi, Ất Mùi) , con dê tượng trưng cho sự sung sức, nhất định sẽ là năm sung túc, dân giàu nước mạnh tổ quốc đi lên. Là người Việt Nam ai cũng mong điều đó.

                                       Trần Ngọc Hưởng










READ MORE - DÊ TRONG THƠ VIỆT - Trần Ngọc Hưởng

Friday, December 26, 2014

Thơ Hoài Huyền Thanh - CHÚT NẮNG XUÂN VỀ, HẠT MÙ SƯƠNG CHỢT NHỚ VÒM HIÊN




CHÚT NẮNG XUÂN VỀ



Tết đầu tiên ta về thăm quê nội

Nắng  hàng cau xanh thắm những bờ vui

Cầu Bằng Lăng tim tím ngày thương nhớ

Phú Thuận cù lao, sóng nhịp vỗ bồi hồi



Sau bốn mươi năm ta thắp nén hương mờ lệ

Kính cáo từ đường, thăm viếng mộ ông bà

Lẫn quất tâm tư ai trả cho ta một thời thơ dại

Cõng những nỗi niềm tê tái trẻ không cha



Hai mươi năm mẹ giấu bài ca lỗi nhịp

Thảng nhớ tiếng gà trưa táo tác long đong

Ai trả mẹ ta hơn mười ngàn ngày đắng cay lầm lũi

Hơn mười ngàn đêm vò võ bến không chồng



Ta dật dờ như lục bình trôi mải miết

Dòng thời gian tan tác những ngày xanh

Hơn bốn mươi năm ngày ngỡ ngàng ly biệt

Mù mịt chốn quê xưa sao trở lại đoạn đành!



Mây xanh thắm hòa trời xuân đơm lôc biếc

Đau đáu  lòng ta ánh mắt mẹ trối trăn

Hạnh phúc cho người mẹ chọn một đời ly biệt

Hà cớ gì ta trĩu nặng nỗi băn khoăn


Hơn bốn mươi năm con về thăm quê nội

Thành kính trải lòng xin đón nhận tình thân

Mẹ an nghĩ cõi vĩnh hằng xa ngái nhé

Chốn hồng trần nắng rực rỡ đón chào xuân.

         




HẠT MÙ SƯƠNG CHỢT NHỚ VÒM HIÊN



Nào giận chi nhau mà dấu nhớ

Cho nỗi buồn lay lắt chao nghiêng

Hôm qua nắng vàng không qua ngõ

Hạt mù sương chợt nhớ vòm hiên



Ví dụ lá không còn xanh thắm nữa

Biêng biếc … vời xa với mênh mông

Thu vàng vời vợi … nghiêng nghiêng bóng

Cánh võng chiều xưa có nhớ mong?!



Se sẻ tóc phai màu niên thiếu

Hoa râm trong tiếng nói giọng cười

Muối tiêu rồi tình cũ ai ơi!

Sao vẫn nhớ dáng xưa thời hoa nắng



Nào có phải bỗng dưng trời trở gió

Mây từ đâu ồn ã đuổi nhau về

Giông tố một trời đan kỷ niệm

Bỗng vỡ òa ôm ấp những cơn mưa



Và có thể cũng chừng không có thể

Chuyến tàu đêm hun hút độc hành

Bến ga đời mênh mông trần thế

Satna nào… giã biệt chốn trầm luân.



                            HOÀI HUYỀN THANH


READ MORE - Thơ Hoài Huyền Thanh - CHÚT NẮNG XUÂN VỀ, HẠT MÙ SƯƠNG CHỢT NHỚ VÒM HIÊN