Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 12, 2013

CỦA KẾ THỪA - truyện ngắn Đinh Thanh Hải



Ông Mót bỏ xứ đi sau 1975, về quê hương đoàn tụ chưa được bao lâu thì phải khăn gói ra đi. Hai vợ chồng ông với một đàn con nheo nhóc ... Bà Riêng vợ ông cứ luôn lo lắng, không biết cái miền Nam nó nằm ở đâu? Ngã ba Dầu Dây là nơi nào ? Nhưng thân phận người phụ nữ miền Trung là vậy, chồng đi đâu là vợ theo đó, chẳng dám một lời than vãn hay góp ý với chồng. Bà ở cùng làng với ông, nên hiểu tính ông, ông đã muốn là phải được, chẳng ai can ngăn gì được.

Cứ tưởng hết chiến tranh chồng về với vợ với con, cùng nhau xây dựng cuộc sống, theo tập quán cha ông từ muôn đời trước ... bám ruộng nương mà cày cấy mà lao động, hết mùa lúa mùa ngô thì lại kéo nhau lên huyện lên tỉnh để làm thợ xây thợ mộc. Ông Mót là một người thợ xây giỏi của làng, ngày trước một mình ông mà có tới chục đứa đi theo học nghề. Ông có tay nghề giỏi, xây bức tường lên chẳng cần dây thước gì mà tường nó thẳng tắp. Khi đất nước ngừng tiếng súng, mọi người lần lượt kéo về quê, người thì què chân, người thì cụt tay, người thì miếng đạn găm trong đùi ... nhưng họ đều về với quê được. Ông Mót thì mãi lâu sau mới về quê, ông chạy vô tới miền nam ... Về tới làng ông bị cán bộ xã gọi lên chất vấn, viết tường trình. Ông chẳng thể đi đâu xa làm ăn ... nghề xây dựng thì phải lên huyện, lên tỉnh mới có việc, chứ ở làng quê tiền đâu mà bà con xây nhà tường gạch với vôi. Ông Mót dần chán chường, cọc cằn, nóng tính ... từ sáng đến tối ông cứ hằm hằm, không nói gì với ai một câu, có lúc ông lại đá con chó đen nằm trên sân, nó kêu oẳng oẳng rồi chạy mất hút.

Họ phân biệt nặng với những gia đình như ông Mót, cái gì cực khổ thì họ gọi gia đình ông đầu tiên, cái gì hưởng lợi thì nhận sau cùng ... Ở quê thì đất ruộng là cái nuôi sống cả gia đình, nhưng  những gia đình như ông, những kẻ thua cuộc, thì chi được giao những miếng ruộng xấu.

Đêm đó, ông Mót tự dưng gọi cả nhà dậy và nói: "Chúng ta đi vô miền Nam lập nghiệp, tôi chán ngấy cái cảnh sống ở đây lắm rồi, nếu ở mãi đây chúng ta sẽ chết ... ". Nói xong ông Mót đi ngủ ... Cả nhà chưng hững không biết đang mơ ngủ hay là thực? Bà Riêng cùng đàn con ngồi đó, chẳng ai nói một lời nào, bên kia thì ông Mót đã ngáy nhè nhẹ.


Vậy là cả gia đình khăn gói đi vô miền Nam. Họ phải bán đi tất cả đồ đạc, trâu bò, bán luôn căn nhà gỗ của ông bà để lại ... để có được một ít tiền để đi đường, và sinh sống, hy vọng được một đến hai năm. Trong gia đình không một ai có thể tưởng tượng ra miền Nam nó như thế nào ? Chỉ có ông Mót mới biết thôi ...

Nơi ông Mót đưa gia đình đến là nông trường Cù Bị mà nay là xã Cù Bị, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà con nơi đây sinh sống bằng nghề làm rẫy ... Những ngày đầu cơ cực trăm bề, cái gì cũng lạ cũng mới ... ông Mót từ sáng sớm đã đưa các con trai lớn lên rẫy, đến tối mờ mịt mới về, gia đình ông đã có một cái chòi nhỏ chui vào chui ra. Ông Mót đã bắt đầu nhẹ nhàng, nói nói cười cười ... vì nơi đây ông không phải lên xã để mà viết tường trình, rồi bị mắng chửi.

Cuộc sống gia đình ông Mót ngày một đi lên, cái chòi xưa nay đã đổi thành căn nhà khang trang, rộng rãi, con cái của ông ai cũng được cắp sách đến trường học cái chữ .. Có đứa đã học xong đại học, và đi lập nghiệp trên thành phố ... bà Riêng và các con nay nhìn lại mới thấy quyết định của ông Mót là hoàn toàn đúng, nhờ thoát ly xa quê hương nên mới thoát được nghèo đói, con cái học hành đàng hoàng, chứ ở quê chắc không được như vậy, thôi thì mất cái này được cái kia.

Cuộc sống cứ như vậy thì đâu có gì nên chuyện, nhưng ... rất nhiều cái nhưng đã đến với gia đình ông Mót ... Sau những ngày tháng ông ăn nằm trên nương rẫy, bà vợ ở nhà lại đi theo tiếng gọi của những môn phái tu hành, bỏ gia đình con cái ... ông Mót buồn lắm, ông dần dần không về nhà nữa, mà dựng một cái chòi trên rẫy và ở đó luôn, lúc nào hết đồ ăn thức uống thì ông mới về để đi chợ .

Ông Mót ngày càng già đi, chẳng có ai tâm sự cùng ông, con cái thì lập nghiệp ở xa ... vợ thì nay không còn nữa, ông chỉ còn làm thân với nương rẫy, cái cuốc, cái cào ... cây tiêu cây mít. Cái nương rẫy thương ông nên cây cối xanh tốt, cá dưới hồ thì sinh sôi nảy nở, ông chẳng còn lo miếng ăn hàng ngày nữa, lâu lâu đi ra xã mua gạo thôi, còn lại trong vườn ông có đủ.

Ừ thôi thì thân già sống cho qua ngày tháng, đời mình nay coi như đã hết ... mình đã làm trọn bổn phận của một người chồng, một người cha rồi. Nhưng ông Mót đâu ngờ rằng ngày mai kia ông sẻ mất đi cái bình yên đó, mất đi cái cuộc sống nhẹ nhàng bên nương rẫy ... Gia đình ông lại gặp chuyện ... Dự án của tỉnh có mở một con đường lớn, chạy từ Sài Gòn về và đi qua nương rẫy của ông, cái miếng đất đó tự nhiên được lên giá ... con số bạc tỷ nó đến với ông.

Cơ sự lại kéo đến, vợ ông bà Riêng viết đơn đòi ly dị, để chia gia tài ... con cái ông những đứa đã có gia đình riêng cũng đòi chia tài sản ... Mắt ông thôi còn nước để mà khóc, lòng ông đau đớn ... những tháng ngày yên ấm nay cũng chẳng thể nào có được. Ông đang ngồi trên đống tiền và ngồi trên cái mâu thuẩn gia đình cùng con cái, ba chữ " chia tài sản " cứ vờn mãi trong đầu ông ? Sự ám ảnh của ba từ đó nó đi vào trong giấc ngủ vật vờ của ông già gần đất xa trời này ...
Ông Mót chưa quyết định gì, cứ xem tình thế nó chuyển biến như thế nào ? Nhưng ngoài kia ... những câu chuyện của xã hội thêu dệt ra giúp ông, quyết định giúp ông ... và đến tai vợ con ông, họ lại kéo đến bên cái chòi rách nát mà kiện cáo, thua thiệt ...

Ông Mót cười đau xót, nếu như trước kia khi ông chưa có miếng đất bạc tỷ ... ngày nào tụi nó cũng đến với mình như vậy thì tuyệt vời làm sao? Nó mắng chửi hay cười vui cũng là có tiếng người ... lâu nay hình như ông quên tiếng người thì phải, chỉ nói trong đầu với cỏ cây và muông thú thôi. Tại sao họ giờ này mới đến ... trong khi mình còn sống như vậy mà đòi của thừa kế, đòi chia gia tài là sao? Cái nương rẫy này nó có được hôm nay là cả máu và mồ hôi nước mắt mà ông già Mót này đổ xuống.

Sao mọi người lại đối xử với lão như vậy? 

Bây giờ lão phải ra tòa xử ly hôn, xử của thừa kế sao? Lão già này cần phải có tòa án xử hay không? Hay lão già cần một tòa án lương tâm, xử cái đạo làm con người, cái tình cảm thiêng liêng của máu thịt ...

Tình thương yêu cao quý hơn vật chất, ừ cái nương rẫy đó nó bán đi chừng đôi ba tỷ, chia cho con cái ông, vợ ông ... thì mỗi người được mấy trăm triệu ... và rồi sao? Họ có còn là một đại gia đình không?

Sài Gòn ngày 07/01/2013
Đinh Thanh Hải

*****
PS: Rất nhiều câu chuyện đau buồn từ miếng đất của ông bà cha mẹ để lại ... họ vì cái đồng tiền trước mắt mà đánh mất đi cái thiêng liêng của tình cảm gia đình, anh em ruột thịt.Đồng tiền mất đi có thể làm lại được, nhưng mất tình thâm ruột thịt thì mãi không bao giờ lấy lại được. Đừng làm đau nhau ... cái ngày cơ cực củ sắn củ khoai chia đôi, chia ba vẫn yêu nhau mà. Sao giờ lại cắn nhau chỉ vì một cái của thừa kế.


READ MORE - CỦA KẾ THỪA - truyện ngắn Đinh Thanh Hải

MAI VỀ - chùm thơ Thế Lộc

Tác giả THẾ LỘC bên sông Thu Bồn

MAI VỀ

Mai về Mai nhé em
Cúc nở thắm môi mềm
Xuân về hoa bướm quyện
Mắt nhớ đọng bên thềm

Mai về Mai nhé em
Nắng gọi gió êm đềm
Heo may về gợi nhớ
Chim Nhạn đến bên thềm

Mai về Mai nhé em
Nỗi nhớ nào nguôi quên
Tình thương nào chín mọng
Về nhé, em hỡi em.


NHỚ CHỊ BỐN DIỆP

Ngày về nghe tiếng thu ngân
Sầu riêng rụng lá buâng khuâng nhớ Người
Ba năm xa vắng tiếng cười
Nhìn chân dung chị ngậm ngùi lòng em
Cây mai nghiêng bóng trước thềm
Ngỡ mái tóc chị hong đêm đợi chồng
Nắng chia sợi nhớ phương Đông
Em thương tiếc mãi để lòng xót xa
Chị đi như cánh Thiên Nga
Về trời Đâu Suất hồn và tinh anh
Nhìn theo em ước điều lành
Về bên ấy để gặp anh chung tình
Bây giờ nỗi nhớ lặng thinh
Nhà xưa em đứng một mình thương trông.

THẾ LỘC
READ MORE - MAI VỀ - chùm thơ Thế Lộc

NGUYỄN XUÂN HÒA – NGƯỜI THÍCH ĐÙA - Ghi chép Võ Văn Hoa

Anh NGUYỄN XUÂN HÒA (giữa) đang đọc bài thơ MỪNG KHẾ NHÀ RA HOA,
Bên trái là anh Hoàng Tấn Trung, bên phải là anh Võ văn Hoa




Azit Nezin – nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ có tác phẩm “Những người thích đùa” nổi tiếng khắp thế giới. Với tôi, anh Nguyễn Xuân Hòa cũng là một trong những người thích đùa nổi tiếng ở Quảng Trị. Anh là ai?

Nhà thư pháp Hoàng Trung có lần nói về anh: “Anh thuộc  dòng dõi họ Nguyễn, làng Nại Cửu, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, vùng đất địa linh nhân kiệt “Non Mai Sông Hãn”. Là bạn tâm giao với nhiều văn nghệ sĩ và các bậc túc nho, thức giả. Xuất thân là con nhà võ (võ sư) nhưng lại mê văn. Văn chương thi phú, đặc biệt là văn học dân gian (folklore) đối với anh là món ăn tinh thần không thể thiếu được. Anh thường lấy văn chương để gặp gỡ bạn bè, “quân tử dĩ văn hội hữu” (Khổng Tử).

          Hiện anh đảm đương công việc Tổng Giám đốc Cao su S.G.S ở đất nước “Triệu voi”, thỉnh thoảng anh về nước. Lần nào về cũng vậy, anh thường thông báo với bạn bè qua điện thoại, qua mail để có dịp giao lưu hội ngộ. Cách đây khá lâu, chúng tôi có dịp đến nhà anh ở Gio Linh – một không gian đẹp – bốn thế hệ chung một mái ấm gia đình, trên thuận dưới hòa. Đặc biệt, phòng khách nhà anh ở tầng hai sang trọng, thân thiện, có hai câu đối của anh được viết bằng thư pháp :

Đối ẩm tương phùng cao nghệ võ
Giao bôi tri kỷ rộng đàn văn!

Ra về lần ấy, tôi viết ngay bài thơ tặng anh:

MỘT CHIỀU SÂN VÕ GIA

Một chiều sân võ gia
Côn kiếm dựng góc nhà
Ta về bên chiếu rượu
Muôn đời chuyện thi ca!
*
Chuyện tứ đại đồng đường
Chuyện hài ở Đông Dương
Em về “ rời khung cửi “ *
Trăm mến với ngàn thương
*
Đêm nay sương xuống vội
Đồng vọng những tơ lòng
Bên ta còn nguyệt bạch
Phím trời xe bên song ...   
    Bờ Nam sông Hiền Lương, 27/3/2010
                 VÕ VĂN HOA

Còn anh với bản lĩnh đàn ông: năng động, nhiệt tình, dí dõm ... luôn gây được tiếng cười sảng khoái trong những lần gặp mặt bạn bè. Cộng với trí nhớ tốt, ứng khẩu nhanh, diễn xuất dân ca hay, thông tin trên mạng thường xuyên cập nhật...nên anh hội nhập nhanh chóng!

Anh thường chia sẻ với tôi những comment, những bài thơ trào phúng ... Đọc đi đọc lại mới ngấm dần và “lấy vui làm chính!”.

Chẳng hạn như :

TẶNG BẠN VÕ VĂN HOA

Nhân ngày Lễ trọng ngành ta,
Xuân Hoà chúc Võ Văn Hoa muôn bề:
Sức khoẻ, hạnh phúc phu thê,
Bà con, bầu bạn - tứ bề hạnh thông.
Tác eng, tuy chức lên ông,
Cỏ non vẫn đợi lộn rồng lên mây,
Nụ đào vẫn ấm hơi tay,
Mừng cho có bạn đợi ngày hàn huyên.


NGẪU HỨNG TẶNG VÕ VĂN HOA
(Nhân đọc bài thơ ĐỎ MẮT của chủ nhân TRI ÂM CÁC)

Nhớ ai mà đỏ mắt ?
Lại tương tư nữa rồi
Nhớ "chơi với người nhỏ
Người lớn chỉ làm thôi!"
*
Đi cùng Đất, cuối Trời
Vẫn đề tài muôn thuở
Phải giữ gìn "Cửa sổ"
Bể ái tình đầy vơi!
*
Ẳm một bông Hoa Tuyết
Lại tiếc hoài "Diêu bông"
Thả hòn "Phiêu bồng thảo"
Tiễn người yêu lấy chồng
*
Sẽ qua mau. Mắt đỏ
Để phiêu bồng cùng Thơ
Và tiếp. Bao tình nhỏ
Ngắm Hoa hoài ngẫn ngơ!

09.10.2012


MỪNG KHẾ NHÀ HOA RA HOA

Tím trời Hoa khế trong vườn
Trốn trên lầu, lại muốn vươn ra ngoài
Mừng cho nó – ra Hoa hoài
Để cho trong ấm, mà ngoài vẫn êm !
Mừng cho có … quả nghe em
Ngẫn ngơ thiên hạ chết thèm khế hoa.

Thế đấy! Xuất khẩu thành thi! Và dù đi đâu, ở đâu, tố chất trào lộng ở anh luôn tuôn trào!
   
Ngoài công việc, tôi biết anh còn là một người con hiếu thảo trong gia đình; một người chồng, người cha tuyệt vời, một công dân có nghĩa vụ và trách nhiệm lớn với họ tộc, quê hương đất nước.

Chứng minh điều này, tôi đã có lần về bên sông Vĩnh Định thăm ngôi nhà ba mẹ của anh và những tình cảm tôi thấy bằng mắt chứ không chỉ nghe bằng tai!

Nguyễn Xuân Hòa là thế đó. Một nhà thơ trào phúng đang dậy thì dù tuổi đã ngoài năm mươi! Như có lần anh  tự bạch:

Tôi tên là Nguyễn Xuân Hòa
Đàn ông ưa ít, đàn bà ưa hung *!

Có dịp các bạn tiếp xúc người thích đùa Nguyễn Xuân Hòa nhé!

                                    Hải Lăng, 12.01.2013
                                      VÕ VĂN HOA

READ MORE - NGUYỄN XUÂN HÒA – NGƯỜI THÍCH ĐÙA - Ghi chép Võ Văn Hoa

Friday, January 11, 2013

XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI - truyện ngắn Kha Tiệm Ly


         
Nghe tiếng trống ba dùi một: Thùng thùng! Thùng! Thùng thùng, Thùng!... là tôi nôn nao cả người. Đó là tiếng trống “rao bảng” của gánh bầu Trình về hồi sáng mà thằng Tửng đã thông báo cho cả bọn chúng tôi hay. Mẹ đã hứa cho tôi tối được xem hát, nhưng với điều kiện là phải xắt và bầm xong một thúng chuối cây cho con ụt (heo)! Chuyện nầy không nặng mà cũng không nhẹ nhàng gì. Với con dao xắt mà thợ rèn rèn để chuyên dùng cho việc xắt chuối nên nó bén ngót; và nhờ cái cán dài tựa vào vế, nên cây chuối to đùng tôi chỉ khứa có sáu khứa là xong một lát, nhưng sao lần nầy tôi thấy ngán cái việc tầm thường nầy quá! Còn nửa thúng nữa mới xong, tôi định bỏ dao chạy ra xem (“rao bảng”), nhưng sợ mất thời gian mà trễ xuất hát. Đúng ra tôi muốn đến sớm để cùng lũ bạn chơi đùa và “ăn” nước đá nhận, chứ tới tối mới mở màn, thì làm sao trễ được? Phải chi có thằng Tửng lại, biểu nó phụ bằm thì hay biết mấy!

Từ “rao bảng” thời bây giờ ít được nhắc tới nên các bạn khó mường tượng được. Như vầy: Khi gánh hát vừa tới nơi thì có bộ phận trang trí sân khấu, …và một bộ phận đi … “rao bảng”!

Thường bầu hát mướn một cỗ xe ngựa, (loại phương tiện giao thông cao cấp thời ấy ở quê tôi), hai bên hông và sau xe được treo ba tấm bảng đề tên tuồng hát và hình ảnh ấn tượng nhất của vở tuồng được diễn tối hôm đó. Trên xe có một cái trống chầu và một người đánh trống, thường là người trong đoàn, nhưng đôi khi cũng là người tình nguyện ở lớp tuổi đàn anh của chúng tôi (để được đi xe ngựa và đựơc đánh trống chơi!). Sau xe ngựa là cả bọn chúng tôi… chạy bộ theo; dọc đường lại được các bọn khác tháp tùng, nên xe “rao bảng” cũng coi xôm tụ lắm.

Cứ hai tiếng nhặt, một tiếng khoan (Thùng thùng! Thùng!) theo bước chân ngựa thật chậm từ đầu làng đến cuối làng. Và như thói quen như nghe tiếng chuông cà rem; Nghe tiếng trống, thí ai cũng biết gánh hát về!

Tiếng trống xa dần,..Hồi sáng thằng Tửng nói tối nay hát tuồng Tôn Tẩn Hạ San tôi càng háo hức được xem. Tôi khoái chuyện nầy qua lời kể của mẹ tôi, nên lấy lại khí thế xắt cho xong nửa thúng còn lại. Để khích lệ tinh thần, mỗi lần khứa dao, tôi đọc thầm trong bụng: “Tôn -Tẩn - Hạ - San -Tôn -Tẩn - phực!”, đến “phực”, sáu khứa dao, là xong một lát chuối; lát mới tôi đếm lại từ đầu : “Tôn-Tẩn…..phực!”. được năm mười cái “phực” thì đã mỏi tay. Tôi kiên nhẫn thêm vài cái “phực” nữa thì thằng Tửng áo vắt trên vai, cổ lòng thòng chiếc ná thun, vốn là vật bất ly thân của nó; hổn hển hỏi tôi:

- Chưa rồi sao mậy?

Tôi mừng húm:

- Mầy phụ bầm với tao đi! Gần xong rồi!

Nó tự động lấy tấm thớt và con dao quen thuộc, ngồi cạnh tôi, hốt chuối ra bầm. Thao tác nhuần nhuyễn như đầu bếp chuyên nghiệp bầm thịt!

Trong bọn, tôi thích thằng Tửng nhất, vì nó xông xáo và hay giúp đở bạn bè. Nó lại có nhiều tài vặt mà bọn chúng tôi không có hoặc thua xa; như dám bơi qua lại con rạch cái hai lần khi nước chảy xiết, biết cỡi trâu, đặt lờ, bắt cá và leo cây như khỉ, còn gan dạ nữa! Đi chơi với nó không hề bị đói. Mùa vú sữa thì ăn vú sữa ở đinh, chùa. Các mùa khác thì…. chui rào hái trộm! Gần tết, khi ruộng vừa gặt xong, những chỗ nước đọng lại, nó chỉ huy chúng tôi đắp hầm bắt cá. Trong lúc chờ đợi cá nhảy vào, nó làm bẫy cò ke để bắt những con cò xấu số đang lặn hụp tìm mồi.

Được cá, nó bảo chúng tôi bứt gốc rạ khô, đốt lên rồi thảy cá lớn cá nhỏ vào. Chỉ một lát, mùi cá chín bốc lên ngậy cả mũi. Khều cá ra, lấy rạ chà sơ lớp cháy bên ngoài, để lộ lớp thịt vàng lươm…

Tôi dừng tay lại:

- Mầy rủ tụi nó chưa?

- Rồi! Làm lẹ đi!

Cứ mỗi lần gánh hát về thì bộ mặt làng tôi coi xôm tụ lắm. Mới bốn giờ chiều mà mấy chị đã trưng bày các “cửa hàng” của mình: Bốn năm xề mía chặt khúc, mấy xề đậu phọng nấu. Tấp nập nhất là “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Đó là một bàn chữ nhật khá cũ kỹ, ở trên để một bàn bào nước đá, cả chục cái ly và hai chai sirô. Chị liên tục bào đá, hứng vào một ly rồi ém chặt lại, sau đó xịt sirô vào, lật úp ly lại, lấy ra khối đá hình cái ly đượm màu sirô đỏ thắm, trao cho người mua, toàn là bọn trẻ lứa tuổi chúng tôi! Cứ thế chúng tôi mút! Mút liên tục (nếu không thì sirô theo đá tan ra thì uổng lắm).Tay nầy tê thì đổi qua tay kia, mút chừng nào khối đá còn một miếng nhỏ, chúng tôi bỏ tọt vào miệng nhai rào rạo! Món nầy gọi là “nước đá nhận”, xem ra rất thích hợp với chúng tôi, bởi vừa ăn, vừa chơi đùa được, lại tiện lợi là, sau khi ăn xong, hai môi đỏ đẹp như thoa son; hai tay sạch trơn, như vừa rửa vậy!
Không hiểu sao, cái món vừa ngon lành, vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi như thế mà ngày thường các chị không bán, mà phải đợi đến gánh  hát về?

Gánh hát đêm đầu, người xem đông.

Vì diễn ở nhà lồng chợ, chợ làng tôi cũng như chợ huyện thời ấy chỉ là một dãy nhà nhiều căn liên tục, xung quanh không rào, không cửa (mới gọi là nhà lồng), nên gánh hát về phải lấy vải dày bao xung quanh, chỉ chừa một cái cửa để “bán vé”. Nói “bán vé” chứ vé viết gì đâu? Người bán “vé” luôn là bà bầu, tức là vợ của ông bầu gánh hát, kèm theo là con hay người trong đoàn mà bà tín cẩn. Cứ người lớn vô cửa thì ba đồng, con nít một đồng. Những đêm cuối, thì người lớn hai đồng, con nít vẫn giữ nguyên., bởi một đồng chỉ giá trị hai gói xôi! Tuy vậy, bà bầu cũng “du di”, thấy đứa nào sạch sẽ … như tôi (!), thì bà cho hai đứa một đồng! Bởi cái “du di” nầy mà xãy ra nhiều chuyện buồn cười:

- Sao hai thằng đó một đồng mà tôi với con tôi tới ba đồng ?

- Thi…thì tại hai đứa đó dễ thương.

- Vậy chớ con tôi dễ ghét lắm hả? Tui với nó hai đồng rưỡi  thôi!

- Bà vô  bốn người mà trả có hai đồng rưỡi, chắc chết tôi quá! Dắt một đứa, cõng một đứa, bồng một đứa….

- Em bé không tính tiền mà!

- Thôi vô đi bà nội, rầu bà quá!

Hai anh em thằng Xoài thằng Mận là chuyên gia coi cọp. Chúng đợi ở cửa, lợi dụng lúc đông người, xô đẩy nhau, chúng chen vào. Mười lần cũng lọt được năm sáu, những lần còn lại  bị… kéo lổ tay, đuổi ra.

Tôi vốn nhát gan, nên mua “vé” đàng hoàng. Thằng Tửng nói với tôi:

- Mầy mua “vé”được rồi đó!

- Đợi một hồi cho bớt chen lấn rồi hãy vô.

- Đồ ngu! Mầy vô sau, đứng sau người ta, có nước… hửi đít họ chớ làm sao mà coi?

Rồi kéo tôi ra sau hông nhà lồng, chỉ vào một chỗ; nói:

- Lát nữa mầy vô, mầy lại cây cột nầy nghen!

Tôi ầm ừ, vì không phải lần đầu tiên tôi a tòng với nó. Nó dặn lại:

- Nhớ à nghen!

Vào cửa, vừa tới cây cột nó chỉ thì ở ngoài nó đánh vào vải “bịch, bịch”, biết ám hiệu, tôi nhìn quanh rồi giở vải cho nó chui vào. Chiến thuật nầy hiệu quả hơn của Xoài, Mận nhiều, vì hầu hết nó vô trót lọt! Nếu xui rủi bị phát hiện thì nó cũng không bị kéo lỗ tai; mà là tôi! Tôi khoái nó ở chỗ, dù có trót lọt hay không, hôm sau nó cũng đãi tôi một chầu đá nhận!

“Rạp hát” không có ghế ngồi cho khán giả, muốn ngồi ghế thì tự đem ghế nhà vào, thường là mấy bà già, còn hầu hết thì ai vô trước, đứng truóc, ai vô sau đứng sau. Còn vô sau mà muốn đứng trước thì cứ chen lấn! Mấy đêm đầu, người sát như nêm, mùi mồ hôi ngậy mũi, tiếng cãi cọ luôn xãy ra khi chờ đợi mở màn: “Mấy thằng quỷ nầy làm gì chạy tới chạy lui hoài vậy?” Một người bịt mũi: “Ai bỏ “bom nguyên tử” vậy ta?”. Mọi người vừa bụm miệng thì lại có tiếng: “Hùm… “trái” nầy còn ác liệt hơn nữa!”. Ai cũng cười rung cả bụng.  Một chị gái: “Lợi dụng hả?”. “Chật phải cho người ta đụng chớ? Sợ thì ở nhà đi!”

Quê tôi trước sau có bốn gánh hát (chuyện hi hữu tại một xã nghèo thưa thớt dân cư), mà bầu Bời, bầu Trình là kỳ cựu nhất. Đào kép trong đoàn đa phần cũng là con em trong làng. Dẫu sống đời lang bạc, nhưng họ cũng ít nhiều ưu ái với nơi cắt rún chôn nhau. Hậu trường các gánh khác chúng tôi dễ gì được vào xem. Với các gánh nầy, chúng tôi vào thoải mái, miễn đừng lớn tiếng, phá phách, với đừng … ăn ổi chín là được! Lần đầu tôi cầm trái ổi chín rục, thơm lừng, vừa cắn một miếng thì chị Ẩn, đào chánh giật lấy. Tôi nhơ ngác: “ Ổi của em mà!”. “Biết rồi! Trái nầy em cho chị”. “Bộ chị có bầu hả? Sáng mai em hái cho chị.” Chị vò đầu tôi: “Không phải, nhưng ăn trước bàn tổ không nên, ông bầu thấy ổng quánh bây giờ”. Chị lại cười: “Ví (với) một lát, mấy em không được ăn me trước mấy ông thổi kèn nghe không?” Tôi ngơ ngác dạ dạ cho qua. Sau nầy mới biết, không cho ăn ổi vì sợ… ông tổ thích mùi ổi chín mà bỏ đi (về nhà người ăn ổi); còn không cho ăn me trước mấy ông thổi kèn vì sợ mấy ổng… thèm chảy nước miếng mà thổi không được! Từ đó, tôi còn nghe người lớn nói như vầy: “Ăn cướp không bao giờ cướp đồ (tài sản) của gánh hát!”. “Sao vậy?”. “Vì họ cùng một ông tổ mà ra, hồi đó ông tổ gánh hát bỏ nghề rồi đi … ăn cướp” (?) “Ối! Xa lơ xa lắc, giờ cướp đại, chết thằng tây nào?”. “Bậy! Nếu cướp của gánh hát thì bị quan bắt liền, hồi trước ổng thề như vậy”. “Ờ hén”. “Có ghe cướp, cướp nhằm ghe gánh hát mà không biết, chừng về thấy mấy cái rương toàn là âu ria, áo mão, hoảng hồn, đem trả không kịp!”

Khán giả đa số là bà già, ông già, các lớp đàn anh đàn chị chúng tôi, tức khoảng mười bảy mười tám tuổi, tuổi sắp có chồng, có vợ! Thời đó, nam mười tám, nữ mười sáu có chồng có vợ là chuyện thường tình. Lớp trên hai mươi, con cái đùm đề, ít ai đi coi. Tuổi trung niên còn ít nữa, không hiểu vì sao!

Có một khán giả rất đặc biệt là thằng Hợp (sau nầy là kép cải lương của anh sáu Triều), nó  ngồi một chỗ cũng rất đặc biệt: Dưới “bàn vua”. Đó là cái bàn chữ nhật như cái bua-rô của thầy giáo, không trải drap, phía sau là cái ghế đẩu, tượng trưng cho ngai vàng! Không hiểu sao, đêm nào cũng có cái bàn ấy đặt sát tấm màn phong cảnh tận cuối sân khấu, dù đêm đó không có vai vua cũng vậy!

Hợp ngồi xếp bằng dưới cái…. “long bàn” ấy. Áo luôn phanh ngực, lâu lâu quẹt mũi, nhìn xuống coi… khán giả, bởi mặt bàn che khuất tầm nhìn, làm sao coi đào kép?

Có gánh hát nào lại cho khán giả ngồi chỗ đó, ngoài gánh bầu Bời, bầu Trình? Ban đầu mở màn thấy nó ngồi, ai cũng cười dễ dãi, sau thành quen, xem như đó là ghế danh dự dành cho nó vậy!

Có lần vị vua nào đó lâm triều, vừa ngồi xuống  ngai (ghế đẩu), vua duỗi chân ra, đạp nhằm nó, vua “ý” một tiếng, làm “bá quan văn võ”(thường có bốn người - hai văn hai võ) cũng giật mình. Khán giả thì cười rần. Rồi đâu cũng vào đấy, vua làm việc vua, nó ngồi tiếp!

Lại lần khác, vua vỗ bàn quát: “Giáp sĩ đâu?”, cùng lúc ngoài rạp có tiếng tía nó gọi: “Hợp ơi, về biểu!”, nó lật đật “dạ” một tiếng thật lớn còn hơn cả tập thể gánh hát “dạ” trong hậu trường, rồi vội vàng đứng dậy, đội luôn cả “long bàn” trên đầu. Vua quan ngơ ngác, còn khán giả thì cười vỡ bụng.

Thế mà hôm sau, nó cũng không vắng mặt ở chỗ ngồi danh dự đó!

Cũng nên nói thêm, gánh hát không có máy đèn. Ánh sáng là chiếc đèn măng sông duy nhất được treo giữa sân khấu và hàng ghế đầu tiên của khán giả. Nói “hàng ghế”cũng đúng, vì dường như đêm nào cũng có một hai hàng ghế thượng hạng dành cho các cụ, dù ghế nầy do các cụ mang tới. Đó hàng ghế bất khả xâm phạm trong một điều luật bất thành văn: Các anh chị và lũ chúng tôi ở phía dưới, cãi cọ, chen lấn làm gì làm, tuyệt nhiên không ai dám lướt qua các hàng ghế trưởng bối đó. Các cụ dù vô sau, chỉ cần đưa ghế lên (cho dễ đi), là có hàng loạt tiếng nói :- “Tránh ra cho bác Bảy ( ông Ba, bà Hai…) đi cà tụi bây ơi!”.  “Cái thằng nầy lì quá, nói nãy giờ mà cứ giỡn hoài!”

Đó không phài là văn hoá kính lão, là điều đáng tự hào của quê hương tôi đó sao?

Về tuồng tích thì thừơng là những trích đoạn của các truyện Tàu mà cô Năm tôi thường đọc cho các người lớn trong làng nghe trong các buổi đám cưới, đám giỗ, hay những lúc nông nhàn, như “Phụng Nghi Đình”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”,”Tôn Tẩn hạ San”, “Triệu Tử Long đoạt ấu chúa”, “Chiêu Quân cống Hồ”.…Thật tình, giờ tôi nhớ được nội dung những chuyện ấy là nhờ nghe cô Năm đọc, còn coi hát bội, tôi không nhớ gì hết ngoài mấy tiếng “tróc mã đề thương, ứ ư, ứ ư…”, bởi hát bội thường  “hát”chữ nho, hiểu đâu mà nhớ?!

Vài năm sau (khoảng năm 1959), các gánh hát bội của bầu Trình, bầu Bời dần dà ế khách, bị lép vế bởi các đoàn cải lương ở xa đến như Điền Viên, Kiếp Bướm, Ánh Sáng. Gánh bầu Trình phải diễn luôn cả suất ban ngày mà hầu như không đủ sống, bởi khán giả toàn là lũ nhí chúng tôi, mà tụ lại không bằng một gánh Sơn Đông mãi võ! Suất đêm là chính, lại bị  “sập dàn” hoài!(*), bởi cũng chỉ có đám chúng tôi vào coi, chỉ là ham vui, hơn là ham coi hát!

Cửa vé vắng tanh, thằng Mận, thằng Xoài không còn cơ hội “thừa nước đục thả câu”, còn tôi cũng không dám giở màn cho thằng Tửng chui vào. Thằng Hợp cũng tự động rời khỏi đít  “long bàn”. Các “cửa hàng” mía, đậu phọng đã dẹp tiệm, chỉ còn lại “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Chị bào nước đá thư thả hơn, gọi tụi tôi là “cưng” chứ không là “tụi bây” như trước, và ly nước đá cũng cao hơn, sirô nhiều hơn!

Ban ngày tôi thường lân la vào hậu trường chơi, chị Ẩn nằm một mình trên võng, thấy tôi chị cười , khoe hai hàm răng đều đặn, không phấn son mà tôi thấy chị đẹp lắm, song trông chị buồn còn hơn khi chị đóng vai Chiêu Quân lúc rời xa đất Hán!

- Ủa? Sao có một mình chị ở đây vậy? Mấy anh đâu hết rồi?

Mắt “Chiêu Quân” nhoà lệ:

- Mấy ảnh đi bắt cá hết rồi, chị ở nhà nấu cơm.

- Sao hồi sáng không mua, bắt làm chi cho mệt?

Chị rời võng, đến thêm củi cho nồi cơm tổ bố. Có lẽ khói cay, làm mắt chị ươn ướt, đỏ hoe:

- Hát ế quá đâu có tiền mua cá, em!

Hai giọt nước mắt chị rơi xuống, tôi chạnh lòng, vừa thương chị, vừa ân hận về việc đã bao lần a tòng với thằng Tửng giở vải để cho nó vào coi cọp. Chị lau nước mắt cười thật buồn, hỏi tôi:

- …Ổi nhà em có trái nhiều không?

- Có, có nhiều lắm. Sao chị bảo không nên ăn ổi chín chỗ này?

Chị vẫn cười buồn:

- …Chị muốn ăn ổi chua.

- Chị có bầu hả? Sao bụng chị nhỏ xíu vậy?

Chị hơi vui vì lời trẻ con của tôi; không đáp, chỉ gật nhẹ. Tôi nhanh nhẩu:

- Vậy chị chờ em chút nghe.

Rồi chạy vụt ra réo to:

- Tửng ơi Tửng! Tửng ơi Tửng! Về nhà tao chơi.

Chiều hôm ấy ông bầu đến từ giã bà con ở dãy ngã tư. Ông buồn hơn mọi ngày. Khi đến nhà thầy Tư (tiệm thuốc bắc) thì bà con cũng kéo đến. Chú chín chệch Xồi

- Tui tặng ông bầu hai ký lường (đường) táng uống lước (nươc). Chừng nào lảnh (rảnh) dìa (về) hát cho dui (vui).

Chú chín chệch Xồi sống ở làng đã lâu đời, có vợ Việt, ăn mắm sống nên không “nị,  ngộ” như các chú Tàu ở huyện.

Một lát chú Hai Cộc xách một xô cá từ mé triền lên:

- Mới tát đìa! Biếu anh Ba (ông bầu thứ ba) và anh em ăn lấy thảo.

Thằng Hợp vừa hít mũi vừa bưng một đĩa lớn bánh cam bánh cồng đầy ắp (chắc bán ế) lại, thưa:

- Má con nói biếu ông bầu ăn uống nước.

Thiếm tư quay quanh rồi nói:

- Ở đây cũng có bánh trái rồi…Hay là đứa nào mang qua nhà lồng cho mấy em ở bển. Đem cá của anh hai cho mấy em làm luôn thể, tối rồi.

Thầy Tư ngập ngừng nói với ông bầu:

- Hổm rày chắc vất vả lắm hả anh Ba?

- Thì anh thấy đó, cứ “sập dàn” hoài!

Chú Chệch Xồi:

- Hay là ông bầu dìa mua bán dí (với) tui, kiếm ăn lược lám  ló!(được lắm đó)

Mọi người ái ngại cho câu nói thiệt lòng của chú Chín. Nhưng ông bầu chỉ thở dài:

- Làm như cái “nghiệp” anh Chín ơi! Khi ế anh em cứ than thở đòi về làm ruộng, nhưng khi được bà con ái mộ thì quên hết! “Cái nghiệp” khó dứt lắm anh ơi. Như con tằm ăn dâu phải nhả tơ đền nợ dâu vậy.

Sáng hôm sau khi tôi định xách thêm bọc ổi chua và gói muối ớt cho chị Ẩn, thì thấy thằng Tửng bọc một áo xoài đứng ở trước cửa. Tôi trố mắt hỏi nó:

- Mày ăn cắp hả?

- Tao xin đàng hoàng. Tao nói xin cho chị Ẩn, thiếm Bảy bảo hái cho khá khá. Ăn cắp gì mà nhiều dữ vậy?

Khi chúng tôi đến, mọi người đang ăn cơm. Chị nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào:

- Cám ơn hai em nghen!

Ăn cơm xong mọi người lỉnh kỉnh gánh gồng xuống ghe. Tôi và Tửng đứng trên bến. Chị vò đầu chúng tôi rồi xuống sau cùng:

- Mấy em ở lại rán học giỏi nghe. Lần sau chị về chị bao mấy em coi hát khỏi mua vé.

Thằng Tửng coi bộ sượng sùng vì lời chị. Tôi nói:

- Chừng nào chị về nhớ ẵm em bé về chơi nghen.

Ghe rời bến, chị yếu ớt vẫy tay. Ghe đi xa, chúng tôi nhìn đến khuất bóng mới thôi. Tôi ngó qua Tửng, nó ngượng ngùng quẹt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc. Và lần cuối cùng tôi gặp chi Ẩn./.

KHA TIỆM LY
khatiemly@gmail.com

READ MORE - XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI - truyện ngắn Kha Tiệm Ly

Trần Ngộ - CHÙM THƠ NHỚ TẾT


TẾT NHỚ NHÀ

Nụ mai hé vàng trước ngõ
Bên song én liệng xuân về
Hoàng hôn bao trùm xóm nhỏ
Mưa phùn thấm lạnh đường quê

Tựa cửa mòn mắt mẹ đợi
Đêm nằm nhớ đứa con xa
Màu tóc cha giờ bạc trắng
Thương con mấy tết vắng nhà

Khuya nay rừng thông gió thổi
Gác riêng thức trắng lòng ta
Đìu hiu nằm chờ đón tết
Đôi mắt ướt nhẹp lệ nhòa

Cung trầm gõ nhịp thời gian
Thì thầm niềm riêng bao nỗi
Vần thơ giao thừa chưa cạn
Đã nghe pháo nổ khắp làng
Mồng 1 Tết Mậu Ngọ 1978


CẢM XUÂN

Mậu thìn xuân vừa sang
Long thiên đổ mưa vàng
Mát chung muôn sinh vật
Thắm đượm khóm mai vàng

Nước non đầy hứa hẹn
Dân tộc nức tiếng cười
Mậu thìn tết nguyên đán
Ấm lòng dạ muôn người

Trẻ thơ nô đùa giỡn
Thanh nữ mặc lòng khoe
Aó xanh vàng hồng tím
Con chim hót đầu hè

Xuân mừng lên một tuổi
Cụ lão bà thêm năm
Em tôi nhiếu áo mới 
Ba mươi mốt tuổi đời

Mồng 1 tết Mậu Thìn



CỐ QUÊN

Xuân đã qua rồi ta cố quên
Cô em gái nhỏ ở làng bên
Ngây thơ tà áo màu sim tím
Đi lễ đầu năm vái trước đền

Mồng 1 tết Canh Ngọ 1990
READ MORE - Trần Ngộ - CHÙM THƠ NHỚ TẾT

huongnamhuynh - DẤU VẾT MỘT THỜI



                                            
Em về, đâu có xa xôi,
Phải chăng em ở trong tôi vĩnh hằng?

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Mai đào vẫn thế đây rồi hương xuân.
Nhớ xưa yêu, đắm đuối, cuồng,
Điên trong ân ái – thẹn thuồng – ngất ngây.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Lời yêu ước hẹn bên đời có em.
Nụ hôn cháy bỏng môi mềm,
Vẫn còn lưu dấu êm đềm – mùa xuân.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Bến xe-buyt cũ, ta ngồi đợi ta.
Thẫn thờ từng chuyến xe qua,
Nắng xuân yếu ớt buồn nhoà mắt ai.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Còn đây kỷ niệm núi đồi Huyện Hiên.
Dấu chân đôi, khắp mọi miền,
Vòng tay ấm, ánh trăng hiền, biển xa.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Cửa Tùng đêm ấy bồi hồi còn đâu.
Dòng sông ngã bóng cây cầu,
Gio Linh, Bến Hải - nỗi sầu riêng ta.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Đông Hà, Quảng Trị chẳng thôi gió Lào.
Hãi Lăng bụi cát rì rào,
Con đò Mỹ Chánh dấu nào chưa phai.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hương Giang, Lê-Lợi-Số-Hai vẫn còn.
Đem thời gian phủ lối mòn,
Vẫn không xoá nổi dấu son cuộc tình.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hải Vân mây nước buồn trôi một mình.
Xuân Thiều ghi dấu chân xinh,
Bà Nà phong cảnh hữu tình cho ai ?

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Xuân vui nhộn, ta mồ côi với đời.
Phố Điện Biên đã một thời,
Một thời yêu, nhớ một thời đáng yêu.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hội An khuất lấp một thời kiêu sa.
Ta về đâu chỉ có ta,
Có em đâu đó chiều tà tịch liêu.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Sông Hoài-Phố Hội-Em-Ta-Vĩnh Hằng.
Bến sông, bãi biển, vầng trăng,
Con đò, đồi cát, chị Hằng ngẩn ngơ.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Quế Sơn vẫn núi với đồi sánh vai.
Nhớ đêm trăng ngũ, sao phai,
Nhớ em, nhớ cả đêm dài…thâu đêm...

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Mà sao nhớ thế, đứng ngồi không yên.
Nhớ Thăng Bình, nhớ Bình Nguyên,
Chim bay về tổ, chiều nghiêng ngỡ ngàng.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Đường lên Tiên Phước núi đồi dọc ngang.
Hoa Mua sắc tím rộn ràng,
Bây giờ vẫn thế – còn mang nặng tình.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
“Mimosa”, ngát hương đời, ngát hương.
Phải không em – “Đóa vô thường”
Tam kỳ đêm ấy vấn vương suốt đời.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Vị đời vẫn ngọt, đâu rồi cố nhân.
Nước sông Trà Khúc xanh ngần,
Đêm Quảng Ngãi, vị lâng lâng vẫn còn...

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Phải chăng em ở trong tôi vĩnh hằng?

hnh
READ MORE - huongnamhuynh - DẤU VẾT MỘT THỜI