Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 27, 2012

Võ Văn Luyến - NHỮNG GIỌT SƯƠNG KHÔNG TAN (Nhân đọc tập thơ CÁI RỐN của thi sĩ Nguyễn Văn Đắc)




Thơ là thánh đường của hoa trái tâm hồn. Ở đó, những tín niệm thẳm sâu mang phấn hương xao xuyến bay lên cùng ngọn gió mát lành. Dường như thơ sống trọn vẹn nhất giữa đời thường yêu mến, giữa cơn nhói của tim, giữa hân hoan phiêu huyền nước mây tình tự. Không phải ngẫu nhiên, mỗi khi có cuộc trà dư tửu hậu, có phút sẻ chia ngọt đắng, thơ vụt hiện bên ta hoá giải muôn nỗi buồn vui trần thế. Và những lúc ấy, bất chợt tôi nhớ đến người thơ bồng bềnh sóng tóc như ảnh hình của cơn dư chấn tình yêu sau bao biến thiên hút bóng. Ngoài đời, anh tự nhận mình là người mang giọt sương hành hương về XỨ THƠ hành lễ. Thế mà giọt - sương - chữ khiêm nhường kia đủ để lay thức những nhớ quên giữa âm u tục luỵ.

Có lẽ không ngại giải ngôn mà rằng, anh trả lại cho thơ nguyên khối bản thể sinh tồn hằng cửu: thơ là người. Cái định nghĩa tưởng muôn năm cũ này vận vào thơ Nguyễn Văn Đắc lại cho ta một thức nhận mới. Đó nguồn cội máu thịt không phải xa xôi mà ngay ở “cái rốn” đời người. Chân lý hiện hữu nhãn tiền nhưng trầm ngãi ám ảnh một day dứt:

Có những người khuyết tật bẩm sinh
Họ phải mang một thân thể dị hình
Họ đã thiếu cái họ có thể thiếu
Nhưng họ không thể thiếu cái họ không thể thiếu.
                                                 (Cái rốn)

Trong dòng chảy văn hoá, người đọc dù khiêm tốn sẽ không khó bắt gặp những câu thơ viết về quê hương đi cùng nhật nguyệt nhưng đa phần gắn với ảnh hình trơn nhẵn, gần gũi quen thuộc. Quen thuộc bởi sự sắp đặt của quan niệm và vì thế, ý nghĩa toả phát từ con chữ trở nên yếu dần. Thông thường, trong thơ người ta ít để cho “tư duy lý sự” lấn át. Nói rõ ra là kỵ lối hiển ngôn. Hiển ngôn dễ làm cho cây thơ cong queo, gầy guộc. Nhưng đôi khi người thơ ngộ ra điều kỳ diệu ẩn trong “cái đã biết” lại như một thủ đắc. Đây là một dẫn dụ:

Từ ấy con mang rốn vào đời
Mang theo cả nỗi đau và niềm hạnh phúc
Có hạnh phúc nào lại không bắt đầu từ nỗi đau
Và có nỗi đau thì niềm hạnh phúc mới diệu vợi.
                                                (Cái rốn)           

Hay sự sống tượng hình trong quả trứng thực sự có ý nghĩa khi mỗi cá thể (individu) tự mình thoát khỏi cái “vỏ bọc” chính mình lại được nhìn bằng con mắt thơ hướng đến sự minh triết:

Chỉ một kiểu vỡ có sự sống:
Tự bung ra để hiện hữu một hình hài!
                                              (Quả trứng)
Chính mạch sống ấp iu suối nguồn yêu thương tưới lên cây đời mộng thắm nên một nụ mầm truyền nối cũng đủ làm cho đất trời trẻ lại. Hoá ra “mùa xuân không chịu lùi” trong anh dù khi lên chức ông nội là vì thế:

Tiếng khóc o oe cháu chào đời
Từ nay ông nội há phải chơi!
Thế mà cứ ngỡ ông còn trẻ
Tóc bạc nhuộm xanh quả yêu đời.
                                                (Cảm tác về ngày sinh cháu nội)

Cảm tác về ngày sinh cháu nội là một bài thơ có giọng vui “đáo để”. Sự kiện cháu nội ra đời đã triển chuyển tình cảm các thành viên trong đại gia đình, không gian trỗi nhịp tươi hồng và sự ấm áp được rọi qua kính chiếu yêu thật dễ thương làm sao!

Rồi ra giữa muôn trùng dâu bể, cố hương luôn là cõi đi về. Ở đó, có dòng sông như đời mẹ giúp ta gội những muộn phiền, tiếp sức cho ta băng qua mưa nguồn thác lũ, trún* cho ta ngụm nước ngọt ngào trăng sao lấp lánh  . Và trong chiêm bao ta bắt gặp những con sóng của dòng sông tâm thức miên man vỗ vào thời gian mà rộng dài vô tận. Thế nên dễ hiểu vì sao anh lý giải về dòng sông quê nhà:

Ô Lâu sông của dòng sông
Dòng sông tuổi mẹ mặn nồng tình quê.
                                              (Dòng sông tuổi mẹ)

Từ dòng sông soi bóng tuổi thơ lộng lẫy, người thơ mang niềm kiêu hãnh lãng mạn gối lên sao trời để lắng nghe lời dụ ngôn của dòng sông khởi nguồn ngát hương tình tự:

Ôi đôi mắt em một lần và mãi mãi
Mời ta vào vùng hoa cúc hoang đường
Lửa sao trời và nguồn suối mê hương.
                                             (Gọi tên em bốn mùa)

Lẽ thường, dưới mái trời có ai không mang tình yêu làm giàu khát vọng nhưng người thơ thì suốt đời mắc nợ trần gian. Món nợ mà chỉ có ở những tâm hồn rộng mở cùng trời xanh mây trắng mới hân hoan lấy trái tim tín chấp và lúc này đây, chính con người nhà thơ ở anh đã nâng bỗng nhà doanh nghiệp lên đỉnh sống nhân văn:

Vay sông một chuyến đò đêm
Vay biển ngọn sóng dâng lên ngút ngàn
Vay em một chút ngỡ ngàng
Vay quê hương điệu hò khoan dập dìu.
                                               (Vay)

Giữa minh mang trời đất Lăng Cô ngất ngây cảnh đẹp, nhìn những con sóng bạc đầu sẵn bày trò chơi đuổi bắt mê mải làm anh sống lại thuở ban đầu bên người tình trăm năm:

Lăng Cô ta đến lần đầu
Cô Lăng** ta đã bạc đầu với em
                                            (Lăng Cô êm đềm)

Nhưng rồi nghiệp dĩ của trái tim nhạy cảm về “ánh chớp” phận người, rượu nồng không đủ men say để cất giấu cái “chau mày” ở đâu đó trên dặm dài sắc không nhưng thừa sự xanh trong của đôi mắt quẫy sóng tình yêu, thanh tẩy bụi bặm:

Ta úp mặt dưới biển trời cao rộng
Mở mắt ra rửa bóng bụi trần.
                                           (Ký ức thời gian)

Hồ như những gì lướt qua “đôi mắt” mang ý nghĩ kiếm tìm của thi sĩ, ta thấy hiện lên chân dung thẳm sâu của con người:

Ru bao thân phận cuộc đời
Mỗi thân phận ấy một đời tàu đi.
                                           (Đời tàu)

Đọc thi phẩm Cái Rốn, sẽ thấy một hồn thơ trầm sâu nội cảm, giàu ý nghĩa triết lý nhưng không khoa ngôn lộng ngữ. Thơ anh tạo được đường dẫn từ trái tim đến trái tim bằng sự chân thành thấm đẫm. Những câu thơ lúc cô đúc tụ kết chiêm nghiệm, lúc co duỗi cuốn theo cảm xúc cao trào. Tác giả biết dựng dậy cơn ngái ngủ đời người trên trò chơi bập bênh con chữ bởi sứ mạng thi ca đòi hỏi sự trầm tư trong hồn nhiên, sự cay đắng trong ngọt ngào. Có được như thế, cây thơ mới tươi xanh, toả bóng xuống tâm hồn yêu cuộc sống. Khiêm nhường mà nói, thi sĩ Nguyễn Văn Đắc là người cơ may hứng được những giọt sương không tan trong mắt nhớ con người. Điều đó thật đáng để cho ta trân trọng biết mấy.


                                                Trọng thu Kỷ Sửu, 2009
                                                       VÕ VĂN LUYẾN

-------------------------
Võ Văn Hoa gởi đăng


READ MORE - Võ Văn Luyến - NHỮNG GIỌT SƯƠNG KHÔNG TAN (Nhân đọc tập thơ CÁI RỐN của thi sĩ Nguyễn Văn Đắc)

TRUYỆN NGẮN LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC THAM VỌNG CỦA MÌNH? - Nguyễn Đức Tùng

Hình minh họa cho tiểu luận "The Ambition of the Short Story" của Steven Millhauser trên tạp chí The New York Times

“Tham Vọng Của Truyện Ngắn”, tác giả: Steven Millhauser,
người dịch: Hoàng Ngọc-Tuấn, Tiền Vệ, là nguồn cảm hứng cho bài viết này.

Trong các thể loại văn học ngoài thơ, tôi thích đọc truyện ngắn hơn cả, trước hết vì nó…ngắn, hay nói như Millhauser, vì sự “khiêm tốn” của nó. Thử tưởng tượng: bạn đi vào một căn nhà, một bữa tiệc, mọi người ăn mặc sang trọng, cười nói ồn ào, bỗng thấy một anh chàng nhà quê, điệu bộ lễ phép ngồi ở gần cửa, riêng một góc, gặp ai nhìn mình cũng mỉm cười đáp lễ, ngượng ngập nhưng không ra vẻ cầu cạnh. Bạn dễ chú ý đến anh chàng này: hoặc sẽ gặp một người đầy tài năng đang giấu mình rất kỹ, hoặc một người tuy chẳng tài gì nhưng vừa chân ướt chân ráo đến từ xó xỉnh nào đó, thế nào cũng mang theo một vài món quà bất ngờ. Tôi phải đồng ý với Millhauser rằng quả thật đằng sau cái vẻ khiêm tốn ấy có chứa một tham vọng thực sự, muốn chinh phục thế giới trong một hạt cát nhỏ bé.

Câu hỏi của tôi là: thường khi nó có làm được điều ấy không? Và nếu có, thì bằng cách nào?

Truyện ngắn không phải là một truyện dài được rút ngắn lại. Có nhiều người tìm cách định nghĩa truyện ngắn, nhưng tôi nghĩ công việc đó cũng khó như là khi ta tìm cách định nghĩa thơ . Mặc dù vậy, nếu cần một định nghĩa riêng của mình thì theo tôi truyện ngắn trước hết chứa đựng trong nó một câu chuyện kể. Câu chuyện được kể lại như thế nào? Nó được kể lại thông qua một cốt truyện, tức là thứ tự hoặc diễn trình của các hành động. Nhiều độc giả bình dân chỉ thích đọc hoặc xem phim với ý nghĩa này, tò mò biết cho được câu chuyện được kết thúc như thế nào. Cốt truyện bao giờ cũng dẫn từ khởi đầu đến các tình huống tạo ra xung đột, gọi là giai đoạn tăng tiến của hành động, đạt đến trạng thái khủng hoảng cao nhất, tình huống gay cấn nhất, và sau đó đi xuống, giai đoạn thoái bộ, trong diễn trình giải quyết vấn đề. Xung đột có thể xảy ra giữa con người và con người, giữa con người và thiên nhiên hay trong nội tâm của nhân vật. Dù trường hợp nào đi nữa thì số phận của một nhân vật chính là linh hồn của câu chuyện. Tôi muốn nói đến số phận trong một khoảnh khắc, vì truyện ngắn chỉ chạm đến các khoảnh khắc. Nhà văn dùng tác phẩm của mình để chiếu sáng khoảnh khắc ấy hay để giải quyết số phận của nhân vật trong chính khoảnh khắc ấy.

Như thế truyện ngắn là câu chuyện; một câu chuyện được kể dựa theo cốt truyện; cốt truyện thông qua các hành động của nhân vật mà diễn ra; nhân vật thông qua các hành động của mình mà bộc lộ các tính cách; xung đột giữa các tính cách hoặc giữa tính cách và hoàn cảnh tạo ra vấn đề của truyện ngắn.

Truyện ngắn được coi là khó viết vì đặc điểm của nó là sự dồn nén, sự tinh chế, sự loại trừ. Mặc dù có những ngoại lệ, nó đạt được hiệu quả thẩm mỹ là nhờ biết tập trung vào các điểm sau đây:

-          Tập trung vào một nhân vật
-          Xảy ra trong một hoàn cảnh hay một tình huống cụ thể
-          Diễn ra trong một thời gian ngắn
-          Tất cả là nhằm tiến tới một xung đột và vượt qua xung đột ấy

Ngày nay nhiều nhà văn viết truyện ngắn tìm cách vượt khỏi các quy ước thông thường, làm cho truyện ngắn của họ chạm đến ranh giới vốn mờ nhạt giữa truyện ngắn và các thể loại văn học khác như bút ký, tản văn, tuỳ bút, tiểu luận, làm cho người đọc có cảm giác rằng một truyện ngắn có thể không có câu chuyện, không có nhân vật nào là nhân vật chính, truyện chỉ toàn là độc thoại nội tâm, thậm chí truyện ngắn cố tình đánh mất tính hấp dẫn của nó và phô bày sự chán chường tuyệt vọng của đời sống như trong các truyện hậu hiện đại.

Theo tôi, trong những cố gắng này, sự thành công là có thật, thậm chí rực rỡ, nhưng hiếm hoi. Rất hiếm hoi. Các trường hợp thất bại hầu hết đều xuất phát từ sự non nớt của tác giả, không biết đến hoặc bỏ qua quan niệm căn bản của truyện ngắn đương đại. Quan niệm đó là các xung đột trong truyện không phải là các vấn đề có thể giải quyết được, nói cách khác, nhân vật của truyện ngắn về căn bản không thể vượt qua các xung đột ấy. Như thế truyện ngắn có thể kể một câu chuyện nhưng không có “tham vọng” giải quyết câu chuyện ấy. Đó là trường hợp của Raymond Carver và nhiểu người khác: truyện ngắn của họ chỉ trình bày các khía cạnh của đời sống và tâm hồn. Viết theo khuynh hướng này, chỉ cần non tay một chút, truyện ngắn sẽ thất bại. Cũng như thơ lục bát hoặc haiku, dễ viết nhưng khó thành.

Đọc các truyện ngắn tiếng Việt trong khoảng mười năm trở lại đây, tôi nhận thấy mấy điểm sau. Do các quan điểm thẩm mỹ ngày càng mới, sự quy định thể loại ngày càng rộng rãi và linh động, do sự rụt rè nhút nhát của các nhà phê bình, những kẻ vốn không bao giờ được quyền khiêm tốn, các nhà văn của chúng ta hiện nay, những kẻ vốn sinh ra đã có tài, không cần trường lớp, chẳng cần mentor men tiếc gì, có cảm giác rằng họ muốn viết gì thì viết, muốn gọi tác phẩm của mình là thơ hay truyện ngắn hay tuyệt tác đều được cả. Vì vậy họ dễ phạm vào các sai lầm:

-          truyện không có nhiều chi tiết sống động.

-          ngôn ngữ trừu tượng, khái quát.

-          dòng chảy của câu chuyện bị đứt quãng, làm cho người đọc khó chịu, như những người đang ngồi nghe chuyện thỉnh thoảng bị đập cửa bởi hàng xóm, làm người đọc không hòa mình hoàn toàn vào câu chuyện. Một ví dụ khác về sự đứt quãng: một người vừa kể chuyện vừa “làm dáng”, làm cho người nghe thay vì đặt những câu hỏi về nhân vật, thì lại tự hỏi về chính người kể chuyện.

-          nhân vật không biến đổi về tính cách, không có sự phát triển của nhân vật.

-          từ vựng nghèo nàn, nhiều chữ sáo, nhiều câu sáo.

-          đối thoại rườm rà, không thú vị.

-          quan trọng nhất là không soi sáng một điều gì, không đánh thức một điều gì, không đập vỡ một điều gì. Nặng tính riêng lẻ, không tiêu biểu. Hoặc tiêu biểu thì lại sáo mòn, nhà văn trở thành những con vẹt bắt chước. Truyện ngắn không nêu được các vấn đề nóng bỏng của lương tâm, tâm hồn, không đại diện được cho đa số người đọc trước các vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức hay tâm linh.

Tôi hy vọng sẽ có dịp nhắc đến những thí dụ cụ thể của văn chương Việt Nam. Tại sao hiện nay một số  nhà văn chúng ta không mấy thành công với truyện ngắn? Vì truyện ngắn của họ không đủ tham vọng mà cũng không đủ khiêm tốn: chúng thiếu cả hai. Tùy lúc, một thứ này quan trọng hơn thứ khác. Truyện ngắn không đủ khiêm tốn như thế nào? Không biết tự thu nhỏ mình lại, vứt hết những quần áo giày mũ rườm rà đi, nói nhỏ lại, nói ít hơn. Không đủ tham vọng như thế nào? Không biết chăm chú lắng nghe người khác, không có ý định thâu tóm trong trí nó tất cả những câu chuyện được kể trong buổi tiệc, sau đó tự kể đi kể lại với mình nhiều lần, biết chắc rằng sẽ có lúc chính nó bị đẩy lên trước đám đông và được MC dành cho ba phút. Đúng ba phút mà thôi. Nó phải dùng những chữ chính xác nhất, tiết kiệm nhất, bay bổng nhất, nói một lần là xong, để không ai cần hỏi đi hỏi lại. Nó phải làm cho khán giả nhảy nhổm lên trên những chiếc ghế bọc da của mình.

Có phải vì quá yêu mà tôi đòi hỏi quá đáng ở truyện ngắn không?

Nguyễn Đức Tùng
bachnguyen@shaw.ca

READ MORE - TRUYỆN NGẮN LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC THAM VỌNG CỦA MÌNH? - Nguyễn Đức Tùng

ĐÊM - Thơ - Sông Thu





Trăng hạ tuần treo ở góc trời
Đêm tàn lất phất hạt mưa rơi
Cuộc cờ giải muộn còn dang dở
Chén rượu tìm khuây thoắt đã vơi
Thơ viết sai vần không muốn sửa
Đàn ngân lỗi nhịp chẳng buồn chơi
Gió lùa song cửa đem hơi lạnh
Buốt giá tâm hồn, mộng tả tơi...

                                  Sông Thu
                                24/10/2012
songthu195@yahoo.com.vn
READ MORE - ĐÊM - Thơ - Sông Thu

Friday, October 26, 2012

TRÊN TAY NGƯỜI ĐÓA HỒNG THUỐC ĐỘC - Thơ - Huy Uyên



Em đốt hết vào đời bao mộng tưởng
người ngây thơ ngày đó là anh
ngờ đâu hạnh phúc mãi đi quanh
ôm bộc phá nổ tình mà sống.

Con đường nào em chỉ lối anh đi
lá hoa cỏ cây buồn da diết
đem khâm liệm mối tình đã chết
đứng nhìn nhau nói được lời chi.

Chôn đời nhau huyệt lạnh
đêm bàng hoàng trôi bơ vơ
dặm người sầu chưa mọc cánh
để trốn về đâu lúc đêm về.

Ta chia tay đầy vơi cay đắng
những bóng đen trần vội đi đâu
mai rồi cỏ cây quên lãng
tình người chia hai nỗi sầu .

Từ biệt em với môi hôn
người xưa ơi xa nhau từ đó
đâu rồi giọng của tượng buồn
đâu rồi ru ai mà cả đời tiếc dở.

Cũng một lần chôn đời nhau nghĩa trang
về đọc bài kinh thất tình cùng Chúa
vây quanh bầy thánh nữ
nước mắt cùng lời ca buồn.

Nơi đó anh khoảng đời trống vắng
về canh giữ ngục tù
nhớ nhau mà ngậm hoài cay đắng
đau đớn lòng từ hạ sang thu.

Hoang mê xưa em có trở về
trên tay đóa hồng thuốc độc
với mối tình đứng khóc
trời ơi em đã chết chiều nay.


Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com


READ MORE - TRÊN TAY NGƯỜI ĐÓA HỒNG THUỐC ĐỘC - Thơ - Huy Uyên

NHẮN CON - THƠ XƯỚNG HỌA - Lê Đăng Mành - Trương Đình Đăng - Trần ngộ



BÀI XƯỚNG

NHẮN CON !
Lê Đăng Mành
(Văn Quỹ, Q.Trị)

(Quý tặng anh Nguyễn Khắc Phước quê Hải Sơn)
  
Hơn sải nước dâng nguồn Hải Sơn*
Đất cằn lũ quét lại hao mòn
Xa quê có thắt lòng thương nhớ ?
Cố xứ ngùi trông dạ vấn vương.
Vẳng tiếng mẹ kêu chao nhật nguyệt
Nghe lời bạn gọi động càn khôn
Muôn loài quằn quại cầm tan tác
Con ngó** lụt chà nuốt có ngon.
                                       
*Hải Sơn thuộc Hải Lăng, Quảng Trị.
**nhìn.
(Chữ đầu  và cuối câu 1 và 8: nói lái)


CÁC BÀI HỌA

NHẮN AI !
Trương Đình Đăng
(Triệu Độ, Q.Trị)

Cơn sao mọc ở tận cao sơn
Chắn giữ đất đai đỡ xói mòn
Trường kỷ vẫn nguyên thân thiết mộc
Áo quan đang ủ xác tiền vương
Nay xem cổ vật rưng lòng nặng
Xưa vượt núi non hẳn gối chồn
Lâm tặc giờ đây nhan nhản phá
Còn ngông cho chúng nếm còng ngon.

                                        
HẬU HỌA  
Trần Ngộ
(Lâm Đồng) 
                               
Cơn sùng lá rụng khắp cùng sơn
Đồi trọc mưa tuôn nước xói mòn
Cột chặt rừng thưa lòng chẳng tiếc
Cây đào núi rổng dạ không vương
Thiên tai nước cuốn do người dại
Địa họa bão lùa bởi kẻ khôn
Tàn phá môi trường quên sự sống
Mòn ngôi lâm tặc tưởng mồi ngon.  

                                
READ MORE - NHẮN CON - THƠ XƯỚNG HỌA - Lê Đăng Mành - Trương Đình Đăng - Trần ngộ

Thursday, October 25, 2012

CÁI RỐN - Nguyễn Văn Đắc

Nhà thơ Nguyễn văn Đắc


Được tin nhà thơ Nguyễn Văn Đắc sinh quán tại Văn Quỹ, Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị, thường trú tại TX Quảng Trị vừa qua đời ngày 25/10/2012, VNQT xin gởi lời chia buồn đến gia đình và thân hữu của anh. 

CÁI RỐN là bài thơ được nhiều người ưa thích trong tập thơ cùng tên của anh. Xin trân trọng giới thiệu.

CÁI RỐN

Ai cũng có một lần sinh ra
Từ giọt máu của cha
Từ quặn đau của mẹ
Cái rốn sinh ra âm thầm lặng lẽ
Dấu ấn một đời lòng mẹ cắt ra
Triệu triệu người trong cuộc sống chúng ta
Có những người khuyết tật bẩm sinh
Họ có thể mang một thân thể dị hình
Họ đã thiếu cái mà họ có thể thiếu
Nhưng họ không thể thiếu cái mà họ không thể thiếu!
CÁI RỐN
Cái rốn lớn lên âm thầm lặng lẽ
Dấu ấn một đời lòng Mẹ cắt ra
Chín tháng mười ngày, lòng mẹ nối rốn con
Miếng dở miếng ngon mẹ cũng nuôi con theo đường ấy!
Đủ tháng, đủ ngày con lớn dậy
Mẹ cắt ruột mình để rốn lại cho con
Từ đó con mang rốn vào đời
Mang theo cả nỗi đau và niềm hạnh phúc
Có hạnh phúc nào không bắt đầu từ nỗi đau?
Có nỗi đau thì niềm hạnh phúc mới dịu vợi
Ai cũng có một quê hương!
Ai cũng có một nơi chôn nhau cắt rốn
Từ thưở lọt lòng đỏ hỏn
Ai cũng có một phần máu thịt để lại nơi đây!
Không nơi đâu sâu nặng hơn nơi này
Quê hương!

NGUYỄN VĂN ĐẮC
_________________

VNQT cập nhật 27/10/12


CHÙM THƠ BẠN BÈ TƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ NGUYỄN VĂN ĐẮC

TIẾC THƯƠNG

Kính tiển hương hồn nhà thơ Nguyễn Văn Đắc

Hôm qua xem Tri Âm
Lòng buồn không tả nỗi
Đọc bài thơ cái rốn
Tin anh đã qua đời
Gia đình bao thương tiếc
Bè bạn bao ngậm ngùi
Thay lòng bằng giọt lệ
Gởi về khóc anh tôi
Thôi thế thế là thôi
Ai cũng một đời người
Sanh già rồi bệnh chết
Luật vô thường anh ơi !
Từ nay anh xa mãi
Còn gởi lại gì không ?
Của đời ta cái rốn
Trời ơi ! quá não nùng

Người em xứ sở :TRẦN NGỘ
Bảo Lộc Lâm Đồng


VÔ THƯỜNG

Cách đây ba năm, cũng mùa này anh nhỉ?
Anh đến thăm tôi mang hơi ấm tình người
Nơi chốn đìu hiu quạnh quẽ quen rồi
Bổng ấm lên bài thơ "Cái rốn"
Trước đây không biết  anh
Sau này chưa gặp lại
Qua bài thơ mà tôi nhớ mãi
Một thoáng qua đời.

TRẦN HÀO
READ MORE - CÁI RỐN - Nguyễn Văn Đắc

NGHÌN THU TRONG ĐÁY CỐC - Lê Đình Hạnh

Tác giả Lê Đình Hạnh


Em cô đơn trên nhan sắc của mình
Tôi cô đơn trong từng bài thơ dang dở
Hai đứa cô đơn không cùng ở
Nên quanh đời lồng lộng gió cô đơn.
Em là rượu của nghìn xưa sót lại
Là men nồng hương ấm mãi chưa tan
Biết con trăng trước chưa về kịp
Mà gió mùa sau mãi rộn ràng.
Em nhốt trời thu trong mắt biếc
Cho quanh đây thiếu vắng lá vàng rơi
Cho một ngày nhè nhẹ cứ êm trôi
Ai mơ tiếng chân ai xào xạc lá
Đời hạn hẹp còn cảnh tình nghiệt ngã
Thì thơ ơi! lên tiếng hộ thay người
Đã xa thời hò hẹn với hoa tươi
Tôi nhốt cả nghìn thu trong đáy cốc.

Lê Đình Hạnh

Đà Nẵng
ĐT: 0905 863 307





READ MORE - NGHÌN THU TRONG ĐÁY CỐC - Lê Đình Hạnh

GỞI THEO DƯƠNG THẾ KINH LUÂN pd ĐỒNG LÝ - Thế Lộc





Một chuyến con đi Thiên cổ lụy
Thâm tình cốt nhục khóc sinh ly
Con ơi, NƯỚC, ĐẤT không còn LỬA
Thì GIÓ muôn phương có nghĩa gì!


Thắp nén hương lòng cha thổn thức
Thân này Tứ Đại cũng ra đi
Chao ôi, tất cả đều hư vọng
Thương tiếc tài hoa sớm tử quy.

30-04-2012

Thế Lộc
READ MORE - GỞI THEO DƯƠNG THẾ KINH LUÂN pd ĐỒNG LÝ - Thế Lộc

NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG HỆ THANG ÂM - ĐIỆU THỨC CỦA HÒ NHƯ LỆ Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Văn Khoa

Tóm tắt:
Hò Như Lệ ở Quảng Trị có những nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức Mi - Fa#non – La – Sigià - Rênon  ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon) mang tính chất độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng. Quá trình ấy là sự tiếp diễn và chuyển hóa từ hò Mái nhì Trị Thiên phát triển thành hò Như Lệ (hò Đò dọc, hò Giọng đò) sang hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung của ngày nay (âm bậc V ở hò Như Lệ cổ điển từ Đô#non đã trở lại nâng lên thành Rênon tương ứng với thang âm ban đầu của hò Mái nhì Bình - Trị - Thiên trên sông nước) mà vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng.
Ngày nay, Hò Như Lệ được sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị chú trọng bảo tồn trở thành một di sản quý giá trên vùng đất Quảng Trị nói riêng và vùng đất Bình - Trị - Thiên nói chung.

1. Dẫn nhập
Mỗi vùng miền đều có những nét độc đáo đặc trưng riêng trong mỗi hình thức và nội dung hò[1]. Riêng ở miền Trung thì khu vực Bình - Trị - Thiên có hò Mái nhì được nhiều người không chỉ bản địa mà nơi khác biết đến một cách phổ biến. Bởi hò Mái nhì có sức thuyết phục lòng người một cách sâu sắc mỗi khi nghe đến. Với làn điệu[2] khi cao vút ngân nga, khi trầm lặng sao xuyến qua sự bộc bạch những tâm trạng cảm xúc hoặc là sự u hoài-khắc khoải ân tình trước sự mênh mông bát ngát của sông nước-đất trời.
Qua khảo sát thực tế cũng như trực tiếp tiếp cận với nhiều giọng hò tại làng Như Lệ, đồng thời căn cứ trên những thuộc tính căn bản của các làn điệu hò, chúng tôi có thể tái khẳng định hò Như Lệ thuộc làn điệu hò Mái nhì, một làn điệu rất phổ biến ở vùng Bình Trị Thiên. Tuy nhiên, sự thay đổi về môi trường diễn xướng cũng như chức năng biểu đạt thông qua ca từ đã làm cho điệu hò Mái nhì có sự chuyển biến nhất định về làn điệu để định hình nên một giai điệu mới. Song không vì thế mà mất đi những nét đặc trưng của làn điệu hò Mái nhì[3].




Hò Như Lệ[4] ở Quảng Trị có những nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức ngũ cung[5] mang tính chất độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng. Quá trình ấy là sự tiếp diễn và chuyển hóa từ hò Mái nhì Trị Thiên phát triển thành hò Như Lệ (hò Đò dọc, hò Giọng đò) sang hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung của ngày nay vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức.
2. Nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức của hò Như Lệ ở Quảng Trị
Căn cứ vào các dữ liệu ghi chép và việc điền dã thực tế, bước đầu tôi nhận thấy:
Hệ thống thang âm – điệu thức trong hò Mái nhì ở các tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế đều có nét tương đồng trên hệ thống thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Rênon ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon). [Trong đó các âm bậc II, IV, V thường hay bị hò lệch. (Bậc II non, bậc IV già, bậc V non)].

Trên cơ sở cùng với nhóm nghiên cứu hò Như Lệ thông qua việc khảo sát trên làn điệu của nhiều bài, nhiều giọng hò từ trước đến nay trên vùng đất Như Lệ và các vùng phụ cận trên dòng sông Thạch Hãn. Tôi đã cùng với nhóm nghiên cứu phân thành hai nhóm làn điệu chính của hò Như Lệ còn được lưu giữ đến ngày nay đó là làn điệu hò cổ điển và làn điệu hò cách tân để phân tích nhận diện những nét đặc trưng.

Trong giới hạn của bài viết, tôi sẽ đi sâu vào nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức của hò Như Lệ thông qua các làn điệu đi điền dã là chủ yếu.

a.      Hệ thang âm - điệu thức qua các bài bản làn điệu hò cổ điển:
Tìm thấy ở các bài hò Mái nhì dưới nước. Thông qua việc xem xét đối chiếu từ các bài hò Mái nhì Bình – Trị Thiên so với các bài hò ở Như Lệ chúng ta sẽ thấy có sự tương đồng trong hệ thang âm – điệu thức giữa hò Mái nhì và hò Như Lệ (còn gọi là hò Đò dọc hoặc hò Giọng đò). Tuy nhiên, hệ thang âm – điệu thức trong làn điệu của hò Như Lệ cổ điển có biến đổi ở âm bậc V so với hò Mái nhì Bình – Trị Thiên cổ điển. Sự biến chuyển linh hoạt ấy là sự chuyển lệch âm bậc V hạ thấp xuống dao động trong 1/8 đến 1/4 cent (Rênon xuống Đô#non), biểu hiện trên hệ thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Đô#non .





Một vài câu trích hò Như Lệ có hệ thang âm liên quan
                              + Hò Như Lệ cổ điển:
Trích: Chuyện hò … Cây nứa…                             
                                   Giọng hò: Ngô Thị Hoãn
                                   Ký âm: Văn Khoa



                           + Hò Như Lệ cách tân (Hò Mái nhì trên cạn)
                     Trích: Chuyện hò … bắp Ba Lòng…

                            Giọng hò: Ngô Thị Huế
                            Ký âm: Văn Khoa





+ Hò Như Lệ cách tân tiếp theo (Hò Mái nhì trên cạn trùng thời gian với hò Binh vận). Trong đó cần lưu ý; có hệ thang âm – điệu thức trở lại giống như Hò Như Lệ cổ điển.
         Trích: Chuyện hò … nam nhi thà…

Giọng hò: Hoàng Thị Sự
Ký âm: Văn Khoa






Sự biểu đạt giai điệu cũng có những sự sóng sánh nhảy quãng tùy từng tính chất vùng miền hoặc chất giọng người hò. Trong việc nhận định về tông-giọng hò Mái nhì khu vực này người hò dễ bị nhầm lẫn cao độ cũng như âm chuẩn bởi sự nhảy quãng giữa phần xướng-phần xô và phần hò trả của phần xô.

(Nếu chuyện hò được người hò một mình thể hiện thì chúng ta cũng dễ dàng nhận ra tông-giọng, tuy nhiên cần phải phân biệt rõ ở những giọng hò ở các quãng nhảy).

            Sự tương giao và khác biệt ở hệ thang âm bậc V

Cũng diễn ra trên các dòng sông gắn với các động tác chèo thuyền khoan thai-thả hồn với giai điệu trữ tình, lững lờ sâu lắng. Các chuyện hò Mái nhì (cư dân ơ đây gọi là hò Đò dọc hoặc là hò Giọng đò) cứ tiếp nối thành những bức thông điệp chứa chan ân tình tiếng nói quê hương-tình yêu đôi lứa và cả những bộc bạch về hoàn cảnh đất nước vẫn vang lên xao động biết bao con người đồng cảm.

Cũng từ hò Đò dọc ở vùng đất này cũng thêm một lần nữa người dân ở đây lại tự mình chuyển hóa giai điệu-ca từ phù hợp với tính chất, linh hồn của người dân nơi đây như là cơ sở để sau này tiếp tục cơ động trong một số hình thức biểu hiện. Đặc biệt ở hệ thang âm trong làn điệu của hò Như Lệ cổ điển có biến đổi ở âm bậc V so với hò Mái nhì Bình – Trị Thiên cổ điển là sự chuyển lệch âm bậc V hạ thấp xuống dao động trong 1/8 đến 1/4 cent (Rênon xuống Đô# non) biểu hiện chất liệu đặc trưng các chuyện hò trên hệ thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Đô#non .


b.      Hệ thang âm - điệu thức qua các bài bản làn điệu hò cách tân:
Trích: Hò Binh vận (giai đoạn hoàn chỉnh 1953-1954)

Giọng hò: Ngô Thị Khuyến
Ký âm: Văn Khoa











Ra đời vào thời kì kháng chiến chống Pháp. Chủ yếu hò ở không gian trên cạn phục vụ ông tác hò Binh vận, phù hợp với bối cảnh lịch sử, điều kiện diễn xướng, mục đích biểu đạt... Hệ thang âm – điệu thức trở lại tương ứng với hò Mái nhì Bình – Trị - Thiên là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non

Trên cơ sở làn điệu hò Mái nhì và trực tiếp là lối hò Mái nhì trên cạn của vùng Triệu Phong, Hải Lăng, một số nghệ nhân ở làng Như Lệ phá vỡ khuôn khổ cổ điển, cách tân để hình thành một nhóm giai điệu mới. Đặc biệt Đội tuyên truyền lưu động: Dùng tiếng hò để kêu gọi anh em binh sỹ là những người Việt đi lính cho quân Pháp, trong các đồn bốt của địch quay súng trở về với nhân dân với cách mạng[6]. (Ca từ của làn điệu cách tân do lực lượng kháng chiến sáng tác và nhân dân ứng tác nếu thấy phù hợp thì được cấp trên duyệt cho phép thể hiện).

            Sự cơ bản của hò Như Lệ cách tân vẫn được thể hiện trở lại với hệ thống thang 5 âm là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non của hò Mái nhì. Khi thể hiện một số âm được nâng lên quãng 8 tạo thành những điểm nhấn với mục đích truyền tải rõ ràng nội dung của ca từ mà người diễn xướng cần biểu đạt. Do đó âm bậc V lại được nâng lên dao động trong 1/8 đến 1/4cent. Đồng thời tính chất luyến láy đã được rút gọn hơn, nhịp điệu phóng khoáng tự do trong một bố cục khá chặt chẽ nhằm chuyển tải rõ ràng đầy đủ nội dung nhưng không vì thế mà xem nhẹ yếu tính nghệ thuật.

            Một đặc điểm đáng được chú ý để nhận diện điệu hò Như Lệ, đó là ngoài việc sử dụng các tiếng đệm thông dụng của làn điệu hò Mái nhì như; hơ, hờ, ha, hi, hô, ơ, i, à, ơi,…, các nghệ nhân làng Như Lệ còn sử dụng những tiếng đệm khá riêng biệt như; hì, hi, hí, hà, hè, hờ, hợ, hới, hợi, hừ, hư, hùm, ư, ừ, chứ, chớ, chừ,… Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giai điệu của hò Như Lệ có những biến chuyển nhất định.

            Đồng thời, để chuyển tải rõ ràng, mạnh mẽ nội dung của ca từ nên có những âm khi thể hiện được nâng lên quãng 8. Điểm nổi bật của của hò Như Lệ là người hò đã vận dụng hơi để cho tiếng hò vang xa, nhưng không vì thế mà đi quá xa so với hệ thống thang âm chung của làn điệu hò Mái nhì là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non . Không những thế hò Như Lệ còn được biểu hiện qua tính biến dụng rất linh hoạt về môi trường diễn xướng trong môi trường lao động, một đặc điểm cố hữu của thể điệu hò, vừa có thể linh hoạt chuyển đổi chức năng cũng như mục đích biểu đạt rất cụ thể.

            Ngày nay, các nghệ nhân kế cận hò Như Lệ đã vận dụng sáng tác nên những bài bản mới nhưng vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức của hò Như Lệ giai đoạn hò Binh vận. Tuy nhiên, làn điệu mới có nét phóng thoáng tự do hơn:

Trích: Chuyện hò …Hải Lệ quê tôi…xóm làng mừng vui…

                                                                                                                               
Giọng hò: Ngô Thị Thời
Ký âm: Văn Khoa




Trích: Chuyện hò …Hải Lệ quê tôi…đang còn vấn vương…
Giọng hò: Ngô Thị Huế
Ký âm: Văn Khoa







3. Kết luận:
Hò Như Lệ phát triển trên cơ sở thang âm - điệu thức hò Mái nhì. Với hệ thống thang âm – điệu thức biểu hiện là Mi - Fa#non – La – Sigià - Rênon ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon). Hò Như Lệ có kết cấu giai điệu gãy gọn, tầm âm rộng (âm bậc V ở hò Như Lệ cổ điển từ Đô#non đã trở lại nâng lên thành Rênon tương ứng với thang âm ban đầu của hò Mái nhì Bình - Trị - Thiên trên sông nước. Với sự chuyển hóa cách tân thành hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung mà vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng) đang được nghệ nhân và đông đảo nhân dân Như Lệ - Quảng Trị yêu mến hò hằng ngày và hò trong các ngày liên hoan-lễ hội sâu rộng.
Ngày nay, Hò Như Lệ được sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị chú trọng bảo tồn trở thành một di sản quý giá trên vùng đất Quảng Trị nói riêng và vùng đất Bình - Trị - Thiên nói chung.

 Ghi chú:
1. là một hình thức của ca, được xướng-xô theo những làn điệu đặc thù trong môi trường diễn xướng cụ thể nhằm thúc đẩy cho công việc tiến triển, hay thể hiện các sắc thái tình cảm của con người để giao ứng giữa chủ thể biểu đạt và khách thể tiếp nhận. – Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012, tr 2.
2.  Làn điệu và giai điệu là hai khái niệm có nội dung tương đương nên lắm lúc được dùng lẫn lộn. Trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam, giai điệu thường để gọi nhạc bản và ca khúc sáng tác theo nhạc lý phương Tây; còn làn điệu là thuật ngữ dùng trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc, các ca khúc truyền thống dân tộc, nhất là dân ca. Trong rất nhiều bài viết của giáo sư Trần Văn Khê về âm nhạc dân ca, tác giả thường dùng thuật ngữ làn điệu. Theo giáo sư Tô Vũ thì làn điệu khác với giai điệu. Bởi giai điệu là những âm thanh phát ra nối tiếp nhau có hệ thống và hoàn chỉnh về hình thức lẫn nội dung. Giai điệu có tính ổn định và chuẩn xác về thang âm điệu thức vì ngôn ngữ đa âm không có thanh điệu. Làn điệu tương đương giai điệu, nhưng những âm thanh có thể thay đổi theo thanh điệu vì tiếng Việt có sáu thanh tương ứng với các dấu không, sắc, hỏi, huyền, nặng, ngã. - Lê Văn Chưởng, Đặc khảo Hò Huế, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2005), tr 65-66.
3. Hò Như Lệ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), (Hà Nội: Nxb Thông tin truyền thông, 2012), tr 61- 62.
4.  Xuất phát ở làng Như Lệ kéo dài – lang tỏa trên dòng sông Thạch Hãn và một số vùng lân cận huyện Triệu Phong, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
5.  Hệ thang âm – điệu thức ngũ cung (5 âm) ở trong hò Như Lệ là chuỗi âm thanh được tính trong mỗi chuyện hò (hoặc mỗi bài hò) không hạn định thời gian âm thanh làn điệu vang lên từ âm đầu đến âm cuối thuộc điệu thức Bắc-cộng sinh âm hưởng Nam ai.
6. Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012, tr 5 - 6.

Tài liệu tham khảo:
1. Dương Viết Á, Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn Văn hóa, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 2005).
2. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Văn Thanh, Phan Đăng dịch & chú giải), (Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, 2009).
3. Tôn Thất Bình, “Thử tìm hiểu nguồn gốc làn điệu hò Mái nhì”,(Tạp chí Dân Tộc học, số 2, 1986).
4. Tôn Thất Bình, Dân ca Bình Trị Thiên, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1997).
5. Tôn Thất Bình, Những đặc trưng của Hò Trị Thiên, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ, 2006).
6. Thân Trọng Bình, Hò Khoan Sáu Mái, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2006).
7. Lê Văn Chưởng, Đặc khảo Hò Huế, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2005).
8. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, mục Âm tự, (Sài Gòn, tập II, quyển 4, 1972).
9. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, (Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội, tập I, 1997).
10. Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu), (Huế: Nxb Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005).
11. Tuấn Giang, Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Văn hóa thông tin, 2006).
12. Lê Văn Hảo, Vài nét về hò, dân ca miền Trung và miền Nam, (Huế: Tạp chí Đại học, 1968), số 35-36.
13. Nguyễn Minh Hiến , Chữ nhạc dân tộc Việt, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 2005)
14. Trần Hoàn, Tuyển tập Văn hóa và Âm nhạc, (Trong tổng hợp các Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam năm 2007, Hà Nội: Nxb Văn hóa, 1997).
15. Trần Hoàng, Tìm về Văn hóa - Văn học dân gian một miền quê trung bộ, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2000).
16. Trần Hoàng, Trần Thùy Mai, Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1988).
Võ Thế Hùng, “Còn đó một điệu hò Như Lệ” (Báo Quảng Trị, 2006).
17. Đào Việt Hưng, Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc trung bộ, (Hà Nội: Viện Âm nhạc, Nxb Âm nhạc, 1999).
18 Trần Văn Khê, Văn hóa với Âm nhạc dân tộc, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Thanh niên, 2000).
19. Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ, 2004).
20. Nguyễn Văn Khoa, Kiến thức Nhạc lý và Hòa âm thực hành, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2006).
21. Thụy Loan, Lược sử Âm nhạc Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 1993).
22. Phạm Phúc Minh, Tìm hiểu dân ca Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 1994).
23. Trần Việt Ngữ - Thành Duy, Dân ca Bình Trị Thiên, (Hà Nội: Nxb Văn học, 1967).
24. Tú Ngọc, Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam, (Hà Nội: Tạp chí Âm nhạc, 1976).
25. Nguyễn Thi Nhung, Các dạng cấu trúc đoạn trong dân ca Người Việt, (Luận án PTS, 1981).
26.Trần Hữu Pháp (1996), Nhạc cổ truyền Huế, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế, Nxb Thuận Hóa.
27. Vĩnh Phúc, Âm nhạc cổ truyền qua báo chí nửa sau thế kỷ XX, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2001).
28. Minh Phương - Quách Mộng Lân, Vài nét về dân ca Quảng Bình, (Huế, Nxb Thuận Hóa, 1998).
Lê Văn, “Hò Bình Trị Thiên” (Tạp chí âm nhạc, số 4, 1979).
29. Văn Thanh, Tìm hiểu về ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên, (Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản, 1989).
30. Nguyễn Hữu Thông, Lê Đình Hùng, “Từ tập hồi ký của một người di dân – nhận diện vùng đất Thuận Hóa đầu thế kỷ XV”, (Nghiên cứu Văn hóa Miền Trung, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, số tháng 3, 2009).
31. Văn Quang, “Hò địch vận và kháng chiến chống Pháp” (Tạp chí Cửa Việt, số 7 tháng 12, 1994).
32. Phan Thiện Quốc, “Hò Quảng Trị”, (Tạp chí Cửa Việt, số 36, tháng 9, 1997).
33. Nguyễn Viên, “Về một bài dân ca mới: Hò Hải Thanh” (Tạp chí Âm nhạc, số 1, 1979).
34. Phan Vĩnh Yên, “Người giữ điệu hò Như Lệ”, (Báo Công an Nhân dân, 2010).
35. Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012.
36. Hò Như Lệ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), (Hà Nội: Nxb Thông tin truyền thông, 2012).
37. Maricia Herndon, “Diễn xướng hát”, (Trong Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan chủ biên, Folklore -Một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội, 2005).
38. Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – Xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (Nguyễn Nghị dịch), (Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 1999).
39. http://thuvienquangtri.gov.vn/baiviet.aspx?id=294&nhom=1



NGUYỄN VẮN KHOA
Học viên Cao học Văn hóa học - Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
vankhoa3@gmail.com



-----------------------------------------------------

XIN BẤM CHUỘT TRÁI VÀO HÌNH ĐỂ XEM TO VÀ RÕ HƠN (Ghi chú của Admin)








READ MORE - NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG HỆ THANG ÂM - ĐIỆU THỨC CỦA HÒ NHƯ LỆ Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Văn Khoa