Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, August 7, 2012

Chùm thơ của Nguyễn Thanh Bá

TRỐN TÌM

Tôi với em chơi chạy trốn tìm
Em chun bụi chuối cứ ngồi im
Loay hoay tôi chạy tìm quanh quất
Đêm xuống không trăng thật khó nhìn

Thế rồi tôi cũng kiếm ra em
Em kẻ chơi thua chịu phạt đền
Cõng chạy vòng sân chân vấp ngã
Tôi dìu em dậy áo bùn lem

Nay đã lớn khôn cũng trốn tìm
Không vào bụi chuối để ngồi im
Không loay hoay chạy tìm quanh quất
Mà tận cùng xa mỏi cánh chim !




TIỄN BƯỚC SANG NGANG


Xưa cài chiếc lá nên chân tóc
Tôi đứng nhìn em che miệng cười
Vương miện cô dâu vài chiếc lá
Tôi làm chú rể ở trần thôi

Đám rước cô dâu thật nhộn vui
Một bầy mươi đứa thỏa thích chơi
Tiếng la tiếng hát vang đường xóm
Người lớn trông theo thấy nực cười

Giờ đây mái tóc được cài voan
Tay trái long lanh chiếc nhẫn vàng
Áo đỏ phượng rồng thêu rực rỡ
Nhà vui mở tiệc tiễn sang ngang

Tôi chỉ là người đến tiễn đưa
Không làm chú rể tuổi thơ xưa
Ít nhiều cảm xúc vờn quanh mắt
Nhìn lá, nhìn em – tiếc chẳng vừa !

                          


                     Nguyễn Thanh Bá
READ MORE - Chùm thơ của Nguyễn Thanh Bá

NƠI CƠN LŨ ĐI QUA - Hoàng Đình Chiến

Mùa lũ bên sông Thạch Hãn


                                            

(Thương về Miền Trung)

                  Tóc dừa sau lũ rối bời
                  Lược trăng ai chải cho vơi
                  dãi dầu.
                  Lời ru tràn cả hai đầu
                  Đung dưa cánh võng bạc màu
                  thời gian .
                  Quê nghèo vất vả gian nan
                  Lưng còng dáng mẹ lũ lam
                  thân cò .
                  Nước dâng gãy cả giọng hò
                  Sông trào cuộn sóng bến đò
                  còn đâu.
                  Bãi ngô lút nước đỏ ngầu
                  Suốt tuần vắng chợ
                  cơi trầu mẹ vơi.
                  Thảm vàng lúa rách giữa trời
                  Lời cầu hôn bỗng thành lời
                  bão giông.

                  Mưa tan nước vẫn tràn đồng
                  Nghiêng cho nước rút cuối sông
                  đầu nguồn.
                  Nghĩa tình xoa dịu nỗi buồn
                  Bờ tre rợp bóng cánh chuồn
                  lẩy  thơ.

                                                  HOÀNG ĐÌNH CHIẾN
READ MORE - NƠI CƠN LŨ ĐI QUA - Hoàng Đình Chiến

Nguyễn Nguyên An - CHÙM TÁC PHẦM ĐOẠT GIẢI NHẤT TẠP CHÍ NỘI THẤT CUỘC THI “MÁI ẤM YÊU THƯƠNG”


HAI NGÔI NHÀ HẠNH PHÚC


Nguyễn Nguyên An


Nhà tôi trong thung lũng gió, nhiều chùa bao bọc, sớm chiều chuông mõ ngân nga. Vợ tôi bỏ chồng bỏ con, tôi bồng, dắt bốn con về quê nương cha mẹ, lao động nuôi con. Bao năm, tôi dạy học ở vùng cồn xao xác nhớ nhà, ky cóp mấy chỉ vàng nhờ cha tôi dựng cho gia đình rách tươm của tôi mái nhà tranh. Ở nhà tre, tranh, nứa, lá, giữa bốn bề ruộng, vườn chùa, đêm đêm eo óc tiếng cóc, nhái, côn trùng nỉ non, và những hồi chuông ủ ê lòng tôi tê tái nỗi thương nhớ người phản bội và canh cánh lo toan cơm gạo ngày mai.

Tác giả trước tư gia 50 Trần Thái Tông
Chưa đủ ăn nhưng có chỗ cho cha con tôi chui ra chui vào khi nắng quái, mưa dầm, nghỉ ngơi, ăn uống, các con tôi có chỗ học hành, tôi có nơi suy ngẫm sau những cuốc xe mệt lử và vững gót, bản lĩnh trong việc làm trách nhiệm người cha đối với đàn con nheo nhóc thiếu ăn, khát mặc, thèm mẹ, tha thiết sự chăm sóc bàn tay phụ nữ - kể cả bản thân tôi.

Tôi, ngày cuối chợ, đầu ga cùng chiếc xe đạp cà tàng đạp thồ chở khách với lòng ao ước xây nhà cấp bốn, có phòng học cho các con, có phòng riêng cho con gái đang lớn dậy từng ngày thích những phút riêng tư. Ứớc mơ ấy đối với tôi như với tay chạm tới thiên đàng, nhưng tôi vẫn ôm hy vọng...

Trong những ngày khó khăn, khổ cực ấy, mấy anh em trai tôi tổ chức đi trầm. Một buổi sáng, các em chia nhau vào rừng “đạp cội” tìm trầm, tôi ở “nhà” làm bếp, ra suối dọn bến, xây nơi tắm giặt, phơi, móc áo, quần cho mấy em “đi làm” về sinh hoạt. Bất ngờ tôi nhặt được hai chỉ vàng hi hữu giữa rừng núi đại ngàn. Nhờ đó tôi giả từ “nghề”  tìm trầm, sắm chiếc máy ảnh chuyển sang nghề chụp ảnh mưu sinh, nuôi con.

Tôi đạp xe lang thang về làng quê, chợ Đông ba, An Cựu, Phú Thứ… chụp ảnh lấy tiền hoặc đổi khoai, gạo, cá, mắm… miễn có cái đem về cho những con tàu háu ăn, há miệng khát cơm. Tôi chụp một cô gái bán bành mì với thúng mì nóng giòn ở chợ Đông, các cô khác cũng thích có ảnh kỷ niệm, bắt chước nhau gọi chụp ảnh và cứ thế tôi bấm lách tách hết cuốn phim lúc nào không hay. Rồi hàng thịt, hàng tạp hóa… họ đua nhau chụp dây chuyền. Có tiền, tôi mua ít thức ăn móc ở ghi đông xe đạp vù về nhà. Chạng vạng, các con tôi chạy ra đón tôi đầu hẻm, nhảy cỡn lên: “Ba về”.  Gia đình tôi vỡ òa trong bữa ăn ngon. Rồi tôi đi chụp cho các em thiếu nhi các trường mầm non. Các em lúc nào cũng đẹp, dễ thương, tươi tắn, sự hồn nhiên mủm mỉm của các em giục tôi đến với nhiếp ảnh nghệ thuật, báo chí. Chụp ảnh đang báo, hưởng nhuận bút. Trong giai đoạn này, được sự trợ giúp của cha mẹ và mấy năm lao động khó nhọc của tôi, tôi xây một ngôi nhà cấp bốn.

Những buổi trưa hè, nằm ngửa trên nền xi măng mát rượi, nhìn lên lớp rui, mèn đen ngù và lớp lớp ngói, thứ tự, thẳng tắp lòng lâng lâng. Ngôi nhà như được hạo khí trời đất, cho tôi “an cư lạc nghiệp” nhiều nguồn vui ập đến gia đình tôi. Tôi được giải thưởng ảnh nghệ thuật do báo Tuổi Trẻ tổ chức, giải thưởng ảnh nghệ thuật toàn quốc đầu tiên của Huế, rồi huy tượng Q. (TPHCM)5, giải thưởng ảnh Việt Nhật… Chuyển qua viết, tôi lại được một số giải thưởng… Tôi có tiền bắt điện, điện thoại, internet… cho ngôi nhà, làm thêm phòng cho các con học hành, ngủ nghỉ và tôi có vợ, các con tôi có mẹ mới chăm lo, con gái đầu tôi đang khao khát bàn tay mẹ.

Vợ tôi bảo: “Thương anh vì anh nuôi bốn con. Em lên thăm anh, thấy anh có nhà cửa đàng hoàng em mới lấy anh”. Rõ ràng, ngôi nhà không chỉ nâng giấc các đời người mà còn giúp tôi có vợ, giúp tôi dần có tiếng tăm với xã hội. Ngôi nhà là nền tảng vững chắc, viên gạch nhỏ bé của Tổ quốc lộng lẫy và điểm son thành đạt mỗi người. Với tôi, còn là nơi tu dưỡng rèn luyện nhân cách mình.

Mấy năm trước, bên vợ tôi cho gia đình tôi một ngôi nhà thứ hai để dành con trai út tôi cách nhà cũ 1km5. Nhà nằm trên đồi, xa xa núi Kim Phụng án ngữ. Thích cô tịch, tối đến tôi lên ngủ trông coi. Mỗi tối, tôi được sống một mình, hít thở không khí trong lành cho đến hôm sau mới “hạ san”. Ở tuổi sáu mươi hoa giáp tâm hồn tôi thật thanh thản, bớt đau đầu, bớt sân si, ham muốn, bon chen.

Ngôi nhà dưới phố (ảnh) là nơi gia đình tôi sinh sống, làm ăn, quan hệ, học hành, chia sẻ buồn vui với xã hội. Ngôi nhà trên núi là nơi tu dưỡng, thờ cúng, mặc khải, cõi phúc lạc của tôi. Tôi đặt tên “thảo am” ấy HẠNH PHÚC AN.

Huế, 03-05-11
N.N.A



 
NGÔI NHÀ THƠ ẤU Ở XÓM HEO

Nguyễn Nguyên An


Từ Huế, tôi đạp xe ra Quảng Trị, tìm ngôi nhà thơ ấu của mình, dắt xe vào xóm trưa vắng vẻ. Cây vườn hồi sinh hơn hai chục năm trở lại đây chưa kịp tròn bóng mát. Tôi xa Quảng Trị năm mười một tuổi, về thăm khi tuổi đã  năm mươi. Thời gian chưa đủ bãi biển hoá nương dâu, nhưng sức tàn phá của chiến tranh đã biến cái xóm nhỏ của tôi thành xa lạ, ngôi nhà thơ ấu của tôi không còn dấu vết, đến đất đai cũng chẳng còn chút thân quen.

Mẹ tôi sinh tôi trong ngôi nhà của ngoại, ở xóm Heo Quảng Trị. Tất cảnhững gì có trong nhà ngoại như lò làm bún, bộ ngựa ở nhà trên, buồng ngủ, liếp cửa Bình Khoa và cả thị xã chung quanh cùng dòng sông Thạch Hãn cho đến mái trường Nam thân yêu thời tiểu học đều đóng sẹo trong trái tim tôi, thi htoảng hiện về chấp chới xa xôi một dòng hoài niệm ngoài tay với…

 Tôi lang thang tìm ngôi nhà của mình… Vẫn nhớ đầu gần xóm Heo, nơi tiếp giáp đường Quang Trung thuộc phường Đệ Nhị, có ông Tẩu. Ông già lụ khụ, làm cái nghề tôi luôn gợi tính hiếu kỳ lũ trẻ chúng tôi. Ông nuôi nhiều đĩa trâu trong ống tre, giam dói hàng tháng. Ai bị nhọt đều đến nhờ ông lấy máu độc ra. Ông chúc đầu ống tre xuống nơi nhọt sưng tấy, con đỉa đói hút căng phồng bụng máu, ông rứt đỉa ra, thả  nhúm muối lên các cái thân nhớt lầy đen láng ấy, con đỉa quằn quại phun máu ra, chờ đỉa xép ve, ông lại cho đỉa vào ống tre cất giữ, dùng lần sau. Ông Tẩu không còn nữa, nền móng ngôi nhà của tôi chẳng biết nơi đâu. Hầu hết người dân xóm Heo đã trôi dạt phương nào? 

Tôi tìm dòng sông Thạch Hãn – dòng sông mà mỗi khi tôi hụp lặn ở bất cứ dòng sông nào tôi cũng nhớ về. Một nỗi nhớ trào dâng ngậm ngùi… Tôi đứng bần thần trên bến sông xưa nay cũng mất sạch dấu vết, chỉ còn bến đò ngang, một chiếc đò rời rạc đưa khách sáng sông. Sát bến đò là khu chợ Quảng Trị; khu chợ sang trọng này xây dựng từ đổ nát điêu linh, nghiêng bóng lung linh bên dòng Thạch Hãn. Dắt xe xuống đò, tôi thả hồn theo từng mái chèo khoan nhặt của bác lái đò, đò chưa cặp bến Nhan Biều mà lòng tôi đã chạm vào kỷ niệm... Hồi đó tôi và em trai kế tôi tắm sông, em tôi bị chuột rút chìm nghỉm chỗ sâu, tôi la: "cứu...cứu em tôi với...". Một anh thanh niên đang tắm sông đã cứu em tôi, vác em tôi chúc ngược đầu xuống đất chạy quanh cho nước ộc ra và sau đó làm hô hấp nhân tạo. Em tôi thoát chết đuối. Tôi bị bầm mông vì trận đòn của ba tôi! Cho tới bây giờ tôi chưa gặp lại anh ấy. Tôi mang ơn cứu tử của một người con Quảng Trị.

Còn bác Mót cạnh nhà bác Sung dễ nực cười bởi tưóng người phốp pháp, da thịt mát mẻ, béo tròn hin một cục. Nhà bác làm nghề mổ lợn. tính vác xuề xoà, luôn vui tươi; trên khuôn mặt nần nẫn thịt của bác không hề bợn chút phiền toái. Bác Mót vô tư, tự nhiên như cây cỏ, buổi sáng bác chạy xuống hói (*) đi đồng, khi nào bác cũng đợi Tào Tháo đuổi mới chịu lạch bạch chạy...và thả lại trong tai bọn chúng tôi một tràng...chúng tôi đỏ mặt nhìn nhau cười rúc rích.

Tôi phải ra Đông Hà tìm bạn thơ ấu của mình. Thạch cẩn trọng đăm chiêu. Quang dạn dày bão tố, khuôn mặt sần sùi của Quang nói lên một quãng đời khổ ải. Ba đứa chúng tôi quây quần chuyện vãn suốt buổi. Nhắc cho nhau biết những nhau biết những đứa đang ở rải rác các tỉnh. Thành phố miền Trung như Nguyễn Thái Sơn bán cà phê ở Huế. Phạm Đình Quát nhà báo, bác sĩ Nguyễn Thái ở Viện dịch tễ Buôn Ma Thuột... Khi chưa gặp nhau, tôi tưởng chúng tôi sẽ ùa vào nhau nói năng bỗ bã cho thoả lòng bao năm xa cách. Nhưng khoảng cách năm mươi năm gặp lại kìm chúng tôi giữ gìn ý tứ với nhau. Ai cũng lớn cả rồi, đâu dám buông tuồng suồng sã như thuở thiếu thời. Thì ra, con người càng lớn càng dè dặt nhiều điều. Năm tháng chồng chất, dạy người ta thận trọng trong quan hệ, đối đãi với nhau chừng mực và lễ nghĩa hơn.

 Tạm biệt Quảng Trị, quê hương niên thiếu của tôi, nơi sinh ra tôi lớn dậy làm người. Tạm biệt bạn bè quấn quýt một thuở, giờ này vẫn còn lưu luyến nhau đến bạc đầu. Tôi đạp xe vào Huế lòng hân hoan... 

N.N.A


(*) Con sông nhỏ - từ địa phương Quảng Trị


Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH (NNA) - 50 Trần Thái Tông, Huế -Tel: 01688971486
READ MORE - Nguyễn Nguyên An - CHÙM TÁC PHẦM ĐOẠT GIẢI NHẤT TẠP CHÍ NỘI THẤT CUỘC THI “MÁI ẤM YÊU THƯƠNG”

Monday, August 6, 2012

MIÊN MAN QUANH CHIÊC BÁNH BỘT LỌC LÀNG ĐIẾU - Hoàng Đằng

Bánh bèo dọn trong một lễ đính hôn ở Triệu Thuận. Ảnh NKP

Mời về làng Điếu quê mình,
Dẻo thơm bánh lọc ... níu tình khó đi.

Làng Điếu Ngao, trước đây, thuộc Triệu Phong, nằm phía đông nam thị trấn Đông Hà, chỉ cách một cánh đồng nhỏ. Khi Đông Hà lên đơn vị quận, thị xã rồi bây giờ thành phố, làng Điếu Ngao thuộc về Đông Hà.

Phố thị Đông Hà tuổi đời chưa lâu. Mới hình thành trong thập kỷ 1930, khi đường sắt Bắc – Nam và đường quốc lộ 9 thông thương với Lào hoạt động chuyên chở hàng hóa và hành khách tương đối nhộn nhịp. Cùng với ga xe lửa và trục lộ giao thông, chợ Đông Hà được mở, người quanh vùng đặt cho cái tên là “chợ ga”; những nhà buôn từ các nơi và các chợ lân cận, đặc biệt từ chợ Sòng (làng Kim Đâu)  chuyển cơ sở kinh doanh về đây.

Trong chiến tranh (1946 –  1972) dân tới định cư ở Đông Hà đông dần; họ là những điền chủ, những chức sắc ở nông thôn về đây tị nạn; họ là vợ con của những công chức, binh lính về đây để gần gũi cha, chồng và họ cũng là những kẻ thất cơ lỡ vận, không ruộng đất, không tài sản về đây buôn thúng bán mẹt sống qua ngày.

Sau thống nhất đất nước (1975), đặc biệt, từ khi được chọn làm tỉnh lỵ Quảng Trị (1989), Đông Hà phát triển mạnh; dân tứ xứ dồn về; phố xá mọc lên san sát, đường sá đầy xe cộ và người qua lại không ngớt.

Ba làng vây quanh Đông Hà, mỗi làng bày ra một đặc sản riêng để phục vụ khách qua đường: làng Tây Trì có bánh bèo, làng An Lạc có bánh ướt, làng Điếu Ngao có bánh bột lọc.

Bánh bèo Tây Trì không bán ở tiệm, ở quán mà bán trong thúng, trong gánh. Khác với cái bánh bèo dày dặn ở Huế dọn ra trong dĩa nhỏ, khách ăn nạy ra, lủm một miếng vào miệng, những chiếc bánh Tây Trì, mỏng dính, trắng phêu, xếp rải nhiều lớp hình vòng giữa một chiếc dĩa, bên trên rắc tôm chấy, ớt bột đỏ thẩm, khách ăn rưới vào một loại nước mắm pha chế đặc biệt, rồi gắp từng chiếc bánh đưa vào miệng, vừa thưởng thức vừa hà thít. Tiếc là bây giờ, thu nhập do nghề bánh bèo không khấm khá nổi, người ta bỏ nghề gần hết, cả làng chỉ còn khoảng vài ba nhà còn giữ nghề.

Bánh ướt An Lạc ngon lắm, đặc biệt nước lèo và rau sống; nước lèo không biết pha chế bằng những thứ gì mà sền sệt, đo đỏ, không thể dùng lời mà diễn tả cái vị của nó được; rau sống được trộn bằng nhiều loại rau non, gồm cây cải củ con, rau thơm, giá sống, hoa chuối non xắt nhỏ. Bánh ướt An Lạc dùng với thịt nướng ngon hơn dùng với thịt heo phay ba chỉ; ở An Lạc, thịt heo xắt miếng quá nhỏ và quá mỏng; đặt vào miệng không đủ để có độ ngấm. Cũng tiếc là nay ở An Lạc chỉ còn một hay 2 quán bánh ướt. Sau khi đường Hoàng Diệu mở dọc bờ sông, người dân năng động đã chuyển qua nghề quán nhậu, quán giải khát buổi chiều và buổi tối, thu hút khách hóng mát bên ly bia, dĩa mồi, kiếm thu nhập nhiều hơn.

Tác giả HOÀNG ĐẰNG
Còn bánh bột lọc làng Điếu Ngao thì sao?

Bánh bột lọc đâu cũng có, công thức làm đơn sơ; nhưng bánh bột lọc làng Điếu Ngao vừa thơm, vừa béo, vừa giòn, vừa dẻo, cắn vào miệng, nghe tiếng “bụp”, vị tỏa ra trong miệng mằn mặn, cay cay, bùi bùi; đã ăn một cái thì thành nghiền, muốn ăn hoài, ăn mãi. Thế mới lạ!

Chỉ có bột sắn lọc, nhồi nhuyễn, bắt thành những chiếc bánh có hình thù mộc mạc: chiếc gối, vành tai, quả cau, quai vạc ..., bên trong, độn nhân tôm, thịt lợn, nấm, đậu xanh hay đậu phụng, vậy mà ai đã từng ăn thì đi mô dù cách xa “trăm núi ngàn sông” cũng thương, cũng nhớ phụ nữ làng Điếu, như thử, bánh bột lọc làng Điếu có bùa mê, thuốc giấu.

Bánh có khi để trần, trắng nỏn, nhấp nhô, phủ một lớp dầu hay mỡ,  trơn trơn, ươn ướt, điểm lác đác mấy cọng ngò, lá ném xắt nhỏ, bắt mắt người ăn. Bánh có khi gói trong lá chuối, kín kín, hở hở, khiến khách ăn nổi tính tò mò ... mở ra sẽ có một lọn hay hai lọn đây.

Dù đơn sơ giản dị, bánh bột lọc làng Điếu vẫn có lịch sử phát triển từ khá lâu đời.

Xưa kia, ở địa phận làng Điếu Ngao, vùng đất trên đường xe lửa - nay nằm trong địa phận của phường 1, phường 5, thành phố Đông Hà - là đất trồng sắn. Hàng năm, cứ đến tháng 11, tháng chạp Âm lịch, dân làng Điếu thu hoạch sắn. Nhổ sắn lên, phụ nữ làng Điếu thấy củ nào vừa to vừa dài, mừng lắm! Mân mê, vuốt ve rồi ... nhìn nhau ... cười khúc khích.

Đêm đêm, dưới ánh trăng hay ánh ngọn đèn dầu lạc leo lét, nhà nhà ngồi xắt sắn lát, phơi khô, làm lương thực dự trữ.

Các mẹ, các chị tranh thủ lựa ra một ít củ sắn ưa ý nhất, cạo sạch lớp vỏ ngoài, ngồi chàng hảng, hai tay nắm chặt củ sắn, đẩy vô đẩy ra trên cái bàn mài làm bằng miếng sắt cứng có đục lỗ. Vữa sắn mài ra gói vào miếng vải sưa vắt lấy bột lọc. Với việc mài sắn thủ công, bột lọc lấy được không nhiều, vừa đủ dùng trong phạm vi gia đình, hay rộng ra một chút là mời được bà con, xóm giềng.

Sẵn tôm tép, cua đam bắt được trong ngày khi đi làm đồng, sẵn đậu mè để dành trong hũ, trong đôộc, các mẹ, các chị trổ tài làm bánh bột lọc bồi dưỡng bữa khuya, bữa lỡ, bữa chiều. Cũng có nhiều gia đình dùng bánh bột lọc để dọn khách trong ngày Tết, dâng cúng ông bà tổ tiên trong dịp kỵ giỗ.

Hiện nay, dân số Đông Hà xấp xỉ 100,000. Nhà hàng, tiệm ăn, người bán hàng rong phát triển đội ngũ để phục vụ khách dùng bữa, khách ăn vặt.

Trong chiều hướng đó, phụ nữ làng Điếu nghĩ ra việc làm bánh bột lọc bán cho khách ăn vặt, kiếm thêm thu nhập chi tiêu việc gia đình.

Bánh bột lọc làng Điếu bước ra xã hội, trở thành một món ăn được ưa chuộng, được tiêu thụ nhiều.
Làm bánh để bán, cần số lượng bột nhiều, thì phải lên chợ mua, số lượng bao nhiêu cũng có. Hiện tại, bột lọc hay còn gọi là tinh bột sắn  được sản xuất ở nhà máy. Không biết số lượng nhà máy tinh bột sắn trên cả nước Việt Nam là bao nhiêu; riêng tỉnh Quảng Trị có đến 2: một ở Hải Lăng và một ở Hướng Hóa. Thỉnh thoảng, báo chí đưa tin môi trường ô nhiễm, sinh thái hủy diệt do chất thải của các nhà máy này. Hóa ra hiện đại cũng gây nguy hại!

Tổ tiên làng Điếu khéo chọn đất lập làng, tìm được vị trí thuận tiện, gần sông (sông Hiếu), gần chợ (chợ Đông Hà), gần các trục lộ giao thông (QL.1, QL.9), gần bến xe, ga tàu. Nhờ thế, phụ nữ làng Điếu có được nghề bán bánh bột lọc làm kế sinh nhai, khỏi phải học hành cho có bằng cấp rồi nộp hồ sơ xin việc chỗ này chỗ khác!

Hàng ngày, buổi sáng cũng như buổi chiều, hàng trăm phụ nữ làng Điếu, mặt mày son phấn như ai, tay nách thúng bánh, tay “đánh xa” nhịp nhàng rảo bước khắp bến xe, bến tàu, các khu vực ở chợ, các đường phố đông người, miệng lanh lảnh rao:“Lọc làng Điếu khôông”. Khách kêu đằng này, khách níu đằng kia. Phút chốc, thúng bánh trống trơn. Các chủ hàng ngồi chò hỏ xuống, kiểm tiền, tính chi, tính thu, người bán nào cũng lãi trên dưới trăm ngàn. Nhờ “đồng ra đồng vào” ấy, các chị ghé vào chợ, mua miếng tai heo, khúc chả giò, gói lòng bò ... về nhà “mụ đút ôông hà”, trông tình tứ lắm. Một số con em làng Điếu học hành thành tài cũng nhờ thúng bánh bột lọc của mẹ, của chị. Đám cưới, đám kỵ, giỗ chạp dọn được năm bảy mâm cũng nhờ thúng bánh bột lọc hàng ngày.
Bánh bột lọc thế mà lắm hiệu quả: không những xóa đói giảm nghèo mà còn tạo dựng hạnh phúc gia đình.

Thôi, “trăm lần nghe không bằng một lần thấy; trăm lần thấy không bằng một lần thử”. Mời mọi người khắp nơi có dịp về thăm quê, hãy ghé nếm bánh lọc làng Điếu, xem thế nào nhé! Giá rẻ mạt, mỗi người tốn khỏang 15,000 VND là ngất!

Công việc làm và bán bánh bột lọc khá dễ dàng, không cần lao tâm nhọc trí thăm dò, nắm bắt thị trường, quảng cáo, tiếp thị. Vốn ít mà lời nhiều, chỉ 300,000 đồng vốn là kiếm được 100,000 đồng lãi một lượt như chơi! Hàng bán không bao giờ phải đổ vứt, ôi thiu. Nếu ế ẩm, bán không hết thì đem về cho con ăn trừ bữa, khỏi tốn gạo nấu cơm. Với nghề bánh bột lọc bán dạo, bán rong, giàu thì không bao giờ, nhưng nghèo kiệt xác cũng không. Ở làng Điếu, không ai bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ làng, bỏ xóm, “tha phương cầu thực”, chống gậy ăn xin, ngủ bụi ngủ bờ, móng cầu bến xe.

Tuy nhiên, sự dễ dàng trong mưu sinh đôi khi cũng là một nhược điểm. Dân làng không bôn ba, không bon chen, không mưu mẹo. Trong cuộc sống, cứ “chín bỏ làm mười”, cứ “răng cũng được”, thiếu lăn lóc xoay xở, cạnh tranh sinh tồn; bây giờ, làng đi vào đô thị hóa, người nhập cư nhiều, kinh nghiệm sống của họ nhiều hơn, họ sành sõi và trở nên giàu có hơn; mức sinh hoạt trong khu dân cư đã có độ chênh lệch cao. Lầu đài cao to bên cạnh nhà xây thấp nhỏ, ai trông mà khỏi buồn, khỏi tủi!

Trở lại với cây sắn, ngọn nguồn của bánh bột lọc, nông dân làng Điếu không trồng sắn nữa đã lâu; vùng đất đồi chuyên trồng sắn ngày xưa ấy đã mọc lên lầu cao, lầu thấp, biệt thự, công viên.

Sắn thời này đã lên “tầm vĩ mô”; sắn đã chuyển lên vùng rừng núi, cao nguyên, bãi bồi, trồng với diện tích rộng. Trồng sắn đã đi vào chiều hướng kinh doanh (cash crop) chứ không còn để ăn trong gia đình (subsistence crop). Các giống sắn ăn củ ngon như mì nè mì nạng thơm dẻo, mì đỏ giòn tan ... tuyệt chủng; các giống sắn cao sản nhập từ nước ngoài về chiếm ưu thế.

Sắn không còn - hoặc còn cũng không đáng kể - dùng làm bánh bột lọc, bánh “bột ngang” hoặc độn vào cơm như một loại cây lương thưc mà đã là một loại cây công nghiệp dùng chế biến bột ngọt hay xăng sinh học.

Không chừng đến một lúc nào đó phụ nữ lang Điếu không còn mua được tinh bột sắn về làm bánh bột lọc nữa mà phải đổi nghề! Nghề chi đây hè!

31/7/2012
Hoàng Đằng
READ MORE - MIÊN MAN QUANH CHIÊC BÁNH BỘT LỌC LÀNG ĐIẾU - Hoàng Đằng

Sunday, August 5, 2012

BỨC TRANH NGÀY HÈ TRONG THƠ CỦA NỮ SĨ ANH THƠ - Nguyễn Khắc Phước


"Painting is silent poetry, and poetry is painting with the gift of speech." Simonides




“…lúc đó tôi nghĩ là tôi sẽ vẽ tranh bằng thơ nên tôi muốn có một xấp tranh nho nhỏ tuy hình thức giống nhau nhưng nội dung mỗi bài một khác.”  Nữ sĩ Anh Thơ





Mùa hè đến và thành phố biến thành chảo rang, nóng chín cả người. Hầu như tất cả công trình xây dựng phơi dưới ánh nắng đều là những thứ hấp thụ nhiệt và phát nhiệt rất có "công hiệu": tường bê tông, mái tôn kẻm, mặt đường rải nhựa, lề đường,…. Vào những đêm cúp điện thì, trời ơi, ở trong nhà giống như đang bị tra tấn trong vạc đầu dưới địa ngục. Bờ sông cũng không khá hơn, lại thường bốc mùi khó ngửi. Thôi thì đành ngồi trong bóng tối , để tâm hồn lang thang ngược dòng thời gian về một miền quê thơ ấu nơi có gió đồng mát rượi phảng phất mùi lúa chín, nơi có ao làng ngào ngạt hương sen.

Và tôi nhớ ra rồi! Có một nữ thi sĩ có thể dẫn ta bay về quá khứ bảy mươi năm, lúc bà tuổi vừa mười chín đôi mươi, để cùng bà dạo chơi trên miền quê Bắc Giang vào một ngày hè đượm mùi cổ tích ca dao. Thưa các bạn, đó là nữ thi sĩ Anh Thơ, một thi sĩ, theo tôi, có nhiều bài thơ về mùa hè nhất, và đặc biệt, ghép những bài thơ ấy lại với nhau, ta có một bài thơ tả một ngày hè cụ thể , sáng-trưa-chiều-tối, và mở trước mắt ta một bức tranh sống động chân thực, đầy màu sắc và âm thanh, về đời sống ở một miền quê gần như đã đi vào quá khứ. Bạn hãy chuẩn bị sơn và giá vẽ để thử vẽ lại phong cảnh sống động này.


Sáng hè : vẻ đẹp doạ dẫm

Một ngày hè dài đang bắt đầu với buổi bình minh yên tĩnh và tươi mát. Bạn hãy chuẩn bị màu : tre xanh, trời hồng , khói xám, mây hồng và nhớ vẽ con chim sẽ kêu chiêm chiếp vừa thức giấc trên ngọn tre.

Gió man mát bờ tre rung tiếng sẻ,
Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây.
Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ
Vươn mình lên như tĩnh giấc mơ say. (Sáng hè)

Và một bài hát xưa lắc xưa lơ tự nhiên vang lên và bạn vừa vẽ vừa nhịp chân vừa hát theo .

Trời hồng hồng sáng trong trong / Ngàn phượng rung nắng ngoài song/ Cành mềm mềm gió ru êm /Lọc mầu mây bích ngọc qua mầu duyên…( Hè về, Hùng Lân)

Thế nhưng đó là buổi sáng đầu hè, còn đôi chút thời tiết của mùa xuân còn sót lại.

Chừng một tháng sau thì thời tiết đã thay đổi. Mặt trời nhô lên đỏ rực như một hòn lửa , trời đứng gió, báo hiệu một ngày nắng nóng, mọi thứ đều khô rang khô rốc, có thể một mùa hạn hán đang chờ .

Mới tinh sương rực góc trời mây lửa,
Cây đứng im từng chiếc lá khô rơị
Những ao tù nước bèo xanh cạn nửa
Đường ra đồng, như đi trên lá áo tơi (Nắng hanh )

Mọi người bắt đầu công việc ngay sau khi thức dậy, từ trẻ đến già, ai cũng có việc để làm. Bọn súc vật cũng thức dậy và đòi ăn.
Người dậy cả, bà già lần thổi bếp
Thằng cu con rụi mắt quét quàng sân.
Cùng trong lúc gà lồng kêu chiếp chiếp,
Và lợn chuồng ủn ỉn giục cho ăn. ( Sáng hè)

Khi mặt trời lên đến ngọn tre, kẻ thì mang rơm ra phơi.

Mặt trời lên lũy tre xa cháy đỏ
Lão ông chống gậy lần ra saụ
Những đàn bà tung rơm phơi ổ,
Mũi khô dòng, bầy trẻ vắng ruồi bâu ( Nắng hanh)

Người thì rục rịc ra chợ, mang theo bó rau muống hay mớ bèo hái vội để đổi lấy chút muối háy miếng trầu.

Bên ao nước bèo chen rau muống nổi,
Mẹ rồi con xắn váy cúi khom, và
Người vớt bèo, người khều rau hái vội,
Vì trên đường lên chợ đã người qua. ( Sáng hè)

Chợ hè: mồ hôi và quạt giấy

Muốn biết đời sống vật chất miền quê Bắc Giang thời ấy thế nào, ta hãy ra chợ bằng cách theo chân một cô gái quê đội chiếc khăn mỏ quạ trên đầu và đôi môi duyên trầu đỏ thắm. ( Bạn nhớ mang theo giá vẽ nhé ).

Ngoài quán chợ với chiếc khăn mỏ quạ
Cô gái làng ghé nón sau bồ cau
Nhưng nắng hanh cũng làm cô đỏ má
Cho thêm duyên trên miệng thắm quết trầu . (Nắng hanh)

Ngoài bó rau, mớ bèo, hàng hoá còn là những mẹt bún, sàng dưa.

Trời lóe nắng, chợ vào đầy những nắng
Đầy những người chen chúc họp...mồ hôi.
Các mẹt bún bày ruồi không hở trắng.
Các sàng dưa bán nhặng kín xanh tươi. ( Chợ mùa hè)

Trong cái nắng gay gắt vã mồ hôi ấy, món nước chè được gọi không ngớt, những người bán nước tranh nhau phục vụ khách hàng.

Những hàng chè, hàng nước chạy va nhau. (Chợ mùa hè)

Mua gì thì mua, nhưng cuối cùng ai cũng nghĩ đến cái quạt giấy, vật chống nóng tốt nhất thời đó:

Nhưng đắt nhất có chị hàng bán quạt
Ngồi trước đình không kịp đếm tiền xâu. ( Chợ mùa hè)

Ruồi : ám ảnh trong nhiều bài thơ

Chợ quê ngày ấy sao mà lắm ruồi thế!. Ruồi không chỉ bu kín các mẹt bún, sàng dưa ở chợ, ruồi còn theo các gánh hàng đi rong chơi khắp nơi.

Ngoài cổng chợ từng tốp người rải rác
Gánh hàng về gánh cả thúng ruồi xanh. (Buổi trưa)

Ruồi về đến ngõ, ruồi nhiều đến nỗi những thứ côn trùng khác sợ hãi phải bay xa :

Nắng đã rực, cây vườn im thở gió
Ngõ đầy ruồi vắng bóng bướm ong qua. (Vào hè)
Ruồi vào nhà chung sống với con người

Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy
Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu. (Trưa hè)

Và bu bất cứ chỗ nào có mùi tanh:
Những đàn bà tung rơm phơi ổ,
Mũi khô dòng, đứa trẻ vắng ruồi bâu. (Nắng hanh)

Mặc dù Anh Thơ chẳng có từ nào “ phê bình, kiểm điểm” bầy ruồi, nhưng việc bà nhắc đến ruồi trong nhiều bài thơ chứng tỏ bà bị đàn ruồi ám ảnh, có lẽ bà muốn cho người đọc thấy ruồi nhặng là thứ côn trùng đặc trưng xuất hiện và sinh sôi nẩy nở nhiều vào mùa hè, người ta chung sống tự nhiên với ruồi, không hiểu nguy cơ truyền bệnh của ruồi.

Ít thấy con ve xuất hiện trong thơ của bà, có lẽ vì chúng sợ ruồi quá chăng ! ?

Trưa hè: vẻ đẹp của không gian và sự khó chịu của thời tiết

Trưa hè trong thơ của Anh Thơ là một bức tranh thiên nhiên hoành tráng, thơ mộng, bay bổng, đầy màu sắc: trời trong xanh, gió lộng, hoa lựu đỏ, bướm vàng bay, cánh diều bay , cánh cò bay, tơ mây bay :

Trời trong biếc không qua mây gïợn trắng,
Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa.
Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng,
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua. ( Trưa hè)

Mấy thoi cò đưa ngang trên trời vắng
Vài tơ mây uể oải vướng tre ngà. ( Buổi trưa)


Có chuồn chuồn nhởn nhơ ngoài đê vắng
Ngoài đê thẳm, không người đi vắng vẻ
Lũ chuồn chuồn giỡn nắng, đuổi nhau bay. ( Trưa hè)

Bên cánh đồng lúa trĩu hạt thóc vàng lẫn hạt nắng vàng :

Lúa trĩu nắng ngập đồng vàng những nắng! ( Buổi trưa)

Không gian buổi trưa hè tuyệt vời như thế nhưng con người và vật thì phải chịu đựng cái nắng nóng một cách mệt mỏi, uể oải, đang cố làm một việc nhẹ nhàng nào đấy để cho qua buổi trưa:

Trong thôn vắng, tiếng gà xao xác gáy,
Các bà già đưa võng hát, thiu thiu...
Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy
Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu. ( Trưa hè)

Trong quán nước bọn làm đồng biếng nhác
Nằm nghỉ dài sau một bữa ăn nhanh. ( Buổi trưa)

Đây, góc quán bà già ngồi rũ nóng.
Kia, cửa lều ông lão quạt khăn tay.
Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng,
Lợn trói nằm hồng hộc thở căng giây. ( Chợ mùa hè)

Chỉ có các cô gái nhờ cái nắng mà thêm xinh đẹp:

Nhưng nắng hanh cũng làm cô đỏ má
Cho thêm duyên trên miệng thắm quết trầu( Nắng hanh)

Chiều hè: thời khắc tuyệt vời

Nếu cái nắng nóng buổi trưa ấy kéo dài mãi thì có lẽ chẳng còn chi tồn tại, nhưng may thay, chiều đến, và có lẽ là thời khắc tuyệt vời nhất trong ngày hè.

Có lẽ Anh Thơ yêu chiều hè quá đỗi đến nỗi bà không tiếc gì từ ngữ giàu màu sắc, hình ảnh, âm thanh để mô tả cho hết vẽ đẹp của nó : đàn cò trắng, đồng lúa vàng, tiếng sáo diều véo von, tiếng hát nhịp nhàng, mắt mơ màng, gió hiu hiu. Mọi mệt nhọc , ủê oải, vẻ ngái ngủ của buổi trưa đã tan biến. Người ta đang làm nốt những công việc cuối ngày trong không khí thoải mái, với ý nghĩ rằng mình sắp được về nhà nghỉ ngơi.

Mặt trời lặn, mây còn tươi ráng đỏ,
Cò từng đàn bay trắng phía đồng xa.
Tiếng diều sáo véo von cùng tiếng gió
Hoà nhịp nhàng giọng ả hái dâu ca.
Trong đồng lúa tươi vàng bông rủ chín
Những trai tơ từng bọn gặt vui cười.
Cùng trong lúc ông già che nón kín.
Ngồi đầu bờ hút thuốc thở từng hơi.
Trên đê trắng, chỏm đầu phơ phất gió,
Lũ cu con mê mải chạy theo diều.
Bỏ mặc cả trâu, bò nằm vệ cỏ
Mắt mơ màng trông gió gợn hiu hiu.
(Chiều hè)

Thật đúng là một thiên đường mà những người lao động trong thành phố giữa những bức tường bê tông chứa sức nóng dưới mái tôn kẽm hừng hực lửa như chúng ta hằng mơ ước.

Bài thơ trên gợi cho ta nhớ một đoạn nhạc dịu dàng tươi mát trong bài hát Hè Về của Hùng Lân:

Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng đàn chim cánh đo trời /
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ thuyền ai biếng trôi /Xa xa lớp lúa dồn cao sóng vàng leo dốc trên đồi / Thanh thanh hương sen nồng ướp gió mát khi chiều rơi ...

Và tâm hồn ta trở nên nhẹ nhàng , thanh thoát, lâng lâng như làn mây trắng bay trong nắng chiều tà.

Đêm hè, ai được nghỉ ngơi?

Anh Thơ có lẽ là người ở thị xã nên không dành nhiều ưu ái cho quang cảnh đêm hè, mà dành hai phần ba bài thơ để mô tả những hoạt động của người nông dân trong đêm.

Khi trăng vừa lên, đèn dầu vừa thắp le lói sau tấm rại, thì chưa hẳn là thời gian để nghỉ ngơi. Công việc hình như còn đeo đuổi cánh phụ nữ; trong khi cánh đàn ông thì xem đêm là thời khắc để nghỉ ngơi, giải trí.

Đúng như vậy. Đàn ông ở nông thôn là lao động chính trong gia đình, suốt ngày thường đảm đương công việc nặng nhọc ngoài đồng :cày, cuốc, bừa, đào mương, phát cỏ; phụ nữ đa số ở nhà nội trợ, chăm sóc con cái và gia súc, làm việc trong nhà, trong vườn , làm thế nào khi chồng con từ ngoài đồng về đói bụng, bỏ cái cày xuống , hỏi cơm là phải có ngay. Khi chồng và con trai ăn xong, bắt đầu nghỉ ngơi thì các mẹ, các chị , các cô tiếp tục công việc của mình : dệt vãi, tát nước.. Người đàn bà nông thôn ở bất cứ thời nào cũng phải chịu đựng vất vã hơn đàn ông, tuy vậy họ không than thở, mà vừa làm vừa hát để cho quên mệt nhọc.

Vườn vắng gió,ve sầu im tiếng hát,
Ao đầy bèo, đom đóm rủ nhau bơi.
Trời quang mây, cánh diều bay hóng mát
Tận Ngân Hà buông giọng sáo chơi vơi.
Nhà trong xóm đèn mờ qua tấm rại,
Các ông già ra võng hát thơ xưa.
Những đàn bà lên khung ngồi dệt vải
Tiếng thoi gieo cùng điệu nhịp nhàng đưa.
Ngoài đồng lúa một vài cô tát nước
Múc trăng lên theo tiếng hát mơ màng.
Thấp thoáng bóng trên sông đào phía trước.
Bọn trai làng bơi tắm nói cười vang.
(Đêm hè)

Trong thơ nhạc hiện đại, khi viết về mùa hè, nhiều tác giả thường dùng hình ảnh hoa phượng thắm, tiếng ve sầu để diễn tả những mối tình học trò lãng mạn, mới chớm hay đã qua; nỗi buồn chia ly hay hy vọng gặp lại:

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng /Em chở mùa hè của tôi đi đâu?/Chùm phượng vỹ em cầm là tuổi tôi mười tám / Thuở chẳng ai hay thầm lặng - mối tình đầu.
(Chút tình đẩu – Đỗ Trung Quân)

Mùa hè qua đi suốt năm không trở lại / Một thời qua đi, một thời đi...đi mãi / Ôi thiếu nữ một thời kỷ niệm / Sẽ qua đi có trở lại bao giờ.
(Mùa hè tiếu nữ - Diệp Minh Tuyền)

Lặng lẽ chiều nay / Lặng lẽ mùa hè / Sân trường vắng / Và lòng tôi cũng vắng / Muốn tặng em / Một chùm phượng thắm /
Tôi nhờ mùa hè / Bẻ hộ tôi
(Lặng lẽ mùa hè - Nguyễn Nhật Ánh)

Nhưng nhà thơ nữ thời thơ mới của chúng ta không nói đến tình yêu đôi lứa mà chỉ là một người yêu thiên nhiên và con người, yêu vẻ đẹp của bầu trời mùa hè, yêu cái tinh thần lao động không biết mệt mỏi của người dân quê đồng thời cũng ca ngợi sự dẽo dai và tính chịu khó của người phụ nữ. Một vài hình ảnh cũng phơi bày được cuộc sống khó nghèo và lạc hậu của người quê qua cách diễn đạt đôi chút châm biếm hài hước.

Tranh trong thơ

Có thể gọi nữ thi sĩ Anh Thơ là một hoạ sĩ, nhưng bà không hề dùng một chút sơn nào mà bà vẽ tranh bằng thơ. Mỗi bài thơ là một bức tranh thiên nhiên sống động mà người đọc dù không phải là hoạ sĩ cũng có thể hình dung được, vẽ được trong trí mình một miền quê có phong cảnh nên thơ hửu tình dù thời tiết khắc nghiệt, cuộc sốn tuy nghèo nhưng yên ả, và người dân yêu lao động, biết tìm cho mình những hạnh phúc nho nhỏ để vượt qua khó khăn.

Có người nói những bài thơ ấy không hẳn là những bức tranh mà là những cuốn phim màu lịch sử sống động, để rồi trong tương lai chúng sẽ trở thành những tài liệu quý giá cho những nhà làm phim, những đạo diễn sân khấu, những hoạ sĩ, thậm chí cả những nhà khảo cổ có thể dựa vào đấy để xây dựng tác phẩm hay nghiên cứu của mình.

  
Nguyễn Khắc Phước


READ MORE - BỨC TRANH NGÀY HÈ TRONG THƠ CỦA NỮ SĨ ANH THƠ - Nguyễn Khắc Phước

BÂNG KHUÂNG - La Thuỵ

 

                        BÂNG KHUÂNG
            Bâng khuâng giữa chín nhịp cầu
      Ngập ngừng gió thổi về đâu bến bờ...?
            Thôi thì chắp cánh cho thơ
      Gieo muôn ý nhạc cập bờ ... chân như ....

                            THẢ
            Đêm này ai thả ước mong
      Trong mơ người sẽ còn trông thấy người....
            Mai kia thả nốt tuổi trời
      Thời gian cuốn hút phận đời mong manh
           Sắc không ừ thả bồng bềnh
      Mộng lòng dù đã ươm xanh ... thả dần

                      KHÔNG ĐỀ
           Gửi vào nắng gió mây trôi
      Loay hoay không đặng nửa lời chữ yêu ...
           Ta xin lượm chút bóng chiều
      Nhen cho hoài vọng dáng kiều xa xăm
           Ờ sao thi tứ biệt tăm ...
                                              LA THUỴ
READ MORE - BÂNG KHUÂNG - La Thuỵ

Saturday, August 4, 2012

THƠ XƯỚNG HỌA của HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÍ - Lê Đăng Mành giới thiệu



HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÍ
DẠ SĨ THIỆN TRÍ (1907-2000)

Hòa Thượng THÍCH THIỆN TRÍ pháp danh Thượng Tâm Hạ Thái, pháp hiệu Thiện Trí, tự Hoà Khương, bút hiệu Dạ Sỹ Thiện Trí, thế danh Nguyễn Diệu, sinh năm Đinh Mùi (1907) tại làng Văn Quỹ, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ Ngài là cụ ông họ Nguyễn, húy Hồng Ân, tự Tế Mỹ, hiệu Huyền Hưng, nguyên quán làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong; thân mẫu là cụ bà Trần Thị Ngạch, pháp danh Hồng Liên, tự An Thành. Suốt thời niên thiếu, Ngài sống với gia đình bên ngoại ở làng Văn Quỹ.

Năm Khải Định  thứ 4 (Kỷ Mùi -1919) lúc 12 tuổi, Ngài xuất gia đầu sư với HT Thích Phước Hậu, trụ trì chùa Linh Quang Huế. Năm 27 tuổi (1932 - Bảo Đại năm thứ 7), Ngài thọ Tỳ Kheo. Năm 75 tuổi, Ngài được Giáo Hội suy tôn lên ngôi vị Hòa Thượng, tọa chủ chùa Hiếu Quang, Giáo Phẩm Chứng Minh, Giáo Hội Phật Gíao tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ngoài kiến thức Phật học, Ngài còn tinh tường về các thể thơ, đối, liễn, nghi lễ và là một soạn giả ca Huế.  
   
Trong cuốn Phật Học Thiển Đàm của Hòa Thượng Thiện Trí được nhà chí sĩ Phan Bội Châu đề thơ kính tặng :

Ai vào bể khổ vớt quần sinh
Ức vạn Như Lai một quyển kinh
Lời cạn ý sâu là Phật lý
Khơi đèn Bát Nhã diệt vô minh.                                                                          

Ngài viên tịch tại Chùa Hiếu Quang ngày 13/02/2000 nhằm ngày 9 tháng 1 năm Canh Thìn.

Nhân mùa Vu Lan, đệ tử Lê Đăng Mành, pháp danh Nguyên Mỹ, kính xin Hòa Thượng Trụ Trì và Chư Tăng Chùa Hiếu Quang cho phép đệ tử  được trích một vài tác phẩm văn, thơ, xướng họa của Hòa Thượng Khai Sơn Chùa Hiếu Quang nhằm giới thiệu với hàng đệ tử ở quê nội Đạo Đầu, quê ngoại Văn Quỹ và đệ tử đôi miền Ô Lâu của Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế biết Ân Sư của mình là bậc CAO TĂNG THẠC ĐỨC.

Lê Đăng Mành


VĂN, THƠ, XƯỚNG HỌA 
CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÍ

NHỚ MẸ !

Kính lạy hương hồn Mẹ !

Cũng lời thân phụ con nói: Ông ngoại là một nhà nho, người làng Văn Quỹ Xã Hải Tân, tư cách thuần thành nên được cử làm chủ tự ở Chùa Làng (không có sư). Ngoại thấy Mẹ có khiếu lanh sáng nên đã dạy cho Mẹ một bài về ý nghĩa niệm Phật bằng thể thơ lục bát (không hiểu tác giả là ai).

Những đêm trăng sáng, những lúc vỗ về con, thay vì lời ca tiếng hát thường tình, Mẹ ẳm con ngâm nga và hát lên những vần thơ ấy. Mẹ đã truyền cảm, con đã nhập thần và cuộc đời con ngày hôm nay được tiến đạo nghiêm thân là nhờ công ơn của Mẹ.

Hôm nay con nhớ Mẹ, con xin chép ra đây những âm hưởng còn đọng lại ở cõi lòng con để vỗ về, răn nhắc như khi con đang còn trong vòng tay Mẹ.

Mẹ thường ca :

Niệm Phật có bốn thần linh
Thường thường ủng hộ ẩn hình thấy mô
Niệm Phật tội nghiệp tiêu khô
Như sương tan nắng như hồ nước trong
Niệm Phật để dặn tâm lòng
Đừng còn tráo trở mắc vòng gian nan
Niêm Phật cực lạc thanh hoan
Ta bà khổ não giàu sang mấy hồi
Niệm Phật muôn việc phủi rồi
Chớ nên tham luyến luân hồi khổ thân
Niệm Phật thì phải ân cần
Thức khuya dậy sớm tay lần hạt châu
Niệm Phật ngay thảo làm đầu
Ơn sâu cũng trả nghĩa sâu cũng đền
Niệm Phật thọ mạng tăng diên
Phật VÔ LƯỢNG THỌ ta liền khác chi
Niệm Phật giữ dạ từ bi
Tham lam nguyện bỏ sân si nguyện chừa
Niệm Phật dầu kẻ không ưa
Ác nhiều thiện ít từ xưa đến chừ
Niêm Phật sen nở đợi chờ
Hoa nào người nấy sờ sờ chẳng sai.

Kính lạy hương hồn MẸ !

Con thiếu phước nên chỉ được 12 năm sống và ủ ấp trong bóng Mẹ hiền, nhưng với thời gian ngắn ngủi nầy, con đã làm cho Mẹ đau đớn khổ sở vô vàn vì nghiệp chướng kỳ quái của con. Con ăn năn đau xót khi hồi tưởng lại công ơn  của Mẹ, con chẳng biết làm gì hơn, chỉ nhất tâm tinh tấn hành đạo, nguyện cầu Cha Mẹ, sanh sanh dữ Phật vi quyến thuộc, thế thế bồ đề kết thiện duyên, thì con sẽ được gặp Mẹ trong Thường Tịch Quang Độ, hằng thường bất biến vậy.
                                                                   Con của Mẹ
                                                            Tỷ Kheo Thiện Trí


GỞI BÁNH CÚNG ÔN ĐÔN HẬU

Tỏ lòng luyến mộ kính lời thăm
Chúc nguyện tôn nhan ánh nguyệt rằm
Bánh ngọt,chút tình vui đạo vị
Mong người nạp thọ chứng thành tâm
                                             Dạ sĩ Thiện Trí

Sư Bà Thể Quán kính họa :

Lâu lâu cũng muốn đến hầu thăm
Nghiệt nổi ba mươi với sáng rằm
Tập chúng hai thời lo thuyết giới
Chỉ mong thông cảm mối chân tâm.




BÀI THƠ CA NGỢI HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG

Hòa thượng Trí Quang, pháp danh TÂM CAN đã tuyệt thực 100 ngày để phản đối phong trào ly khai Phật giáo vào năm 1966. Hòa thượng Thiện Trí đã có bài thơ ca ngợi Hòa thượng Trí Quang như sau:   

Tâm Như thiết thạch trí như gương
Can đảm trung kiên thật lạ thường
Tuyệt thực trăm ngày vì Đạo pháp
Hy sinh mấy độ dẹp ma vương
Thế gian tài sánh trang hào kiệt
Tôn giáo đức tày bậc đống lương
Danh lợi uy quyền xem thảo giới
Thanh cao tu sĩ chí hiên ngang.
                       Dạ sĩ Thiện Trí




NGHỀ CHƠI CHỮ

Cái nghề chơi chữ cũng hay hay!
Lao động mà thơ lụn tháng ngày
Thảo luận văn từ quên mõi miệng
Điểm tô nghệ thuật chẳng rời tay
Cãi nhau vài nét la khan cổ
Thích ý đôi câu sướng chững mày !                        
Thú vị như mình đâu dễ có !
Cứ vui hoài kẻ trả người vay.
                                        Dạ Sĩ Thiện Trí




NGÀY XUÂN
Đệ tử Lê Chí Cấp (Câu Nhi, Hải Tân) kính dâng Thầy.

Con đến thăm Thầy một sớm xuân
Với tâm hoan hỷ niệm ân cần
Cầu xin Phật Tổ ban hồng phúc
Mừng đặng tôn sư rưới đặc ân
Hoa thắm bừng khai hòa nắng ấm
Lòng thành trổi dậy giọt đàn ngân…
Xuân về dịp tết con mừng thấy
Sắc thái siêu phàm đấng thượng nhân./.



HỌA VẦN NGÀY XUÂN của Lê Chí Cấp

Thăm chùa lễ Phật buổi đầu xuân
Hiểu đạo tìm vui, đạo vị cần
Thiện chí đã từng nghe chánh pháp
Thành tâm hẳn đặng gội từ ân
Trau giồi cội phúc sây mầm tốt
Lặng lóng chuông thiền dội tiếng ngân…
Sảng khoái tâm hồn khi hội ngộ
Chung tình đạo sĩ với thời nhân.
                                Dạ Sĩ Thiện Trí



BÀI XƯỚNG:
CỦI QUẾ GẠO CHÂU

Thấy đời thêm chạnh mối từ bi
Củi quế gạo châu quá lạ kỳ !
Nắm bổi so tày cây nguyệt điện
Hạt cơm sánh với ngọc Ma ni
Lạnh lùng thế sự khôn đành vậy
No ấm sanh linh biết lấy gì
Tế độ hằng mong nhờ cửa Phật
Chuyển thay thời vận hết suy vi.
                              Dạ Sĩ Thiện Trí


BÀI HỌA:
NỒI DA XÁO THỊT

Ai gây chinh chiến lắm thương bi
Xáo thịt nồi da nghĩa quá kỳ
Xót cảnh đồng bào ngoài phía nớ
Chạnh tình huynh đệ ở bên ni
Đuổi hùm cửa trước không suy tính
Rước sói đằng sau đã ích gì ?
Bôi mặt gà nhà chi há nỡ
Nhiễu điều phủ giá nhớ hành vi.
                           Nguyễn Văn Bình
                       (Văn Quỹ, Hải Tân)
                                Kính họa vần.
Cả 2 bài đã đăng trên Liên Hoa Nguyệt San năm 1966 (Bính Ngọ)


THƠ KHẮC BIA ĐÁ TẠI CẦU NGÓI THANH TOÀN, HUẾ

Ngõa kiều thanh thủy lưu kim cổ
Trần Thị* công đức hiển lịch niên
Ân tứ sắc phong tồn sử sách
Thiên thu bất hủ phổ tương truyền

                                       Dạ Sĩ Thiện Trí

Việt dịch:
Nước trong cầu ngói bắc xưa nay
Công đức bà Trần tuôn tháng ngày
Phong sắc vua ban ghi sử sách
Thiên thu bất hủ mãi còn đây.
                              (nguồn Lê Quang Tư)

*Năm 1776 Bà Trần Thị Đạo phát tâm xây dựng cầu, được vua Khải Định phong thần DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ
và lập bàn thờ Bà ngay trên cầu.



BỮA ĂN CHIỀU

Cháo một bát kèm thêm vài quả chuối
Đỡ dạ dày không nghĩ chuyện ăn ngon
Sống đơn sơ là thấy khỏe tâm hồn
Khỏi nặng bụng bởi mùi đời lộn xộn

Không cao lương chẳng bận phiền cung đốn
Không ngon mồm khỏi vướng nợ sinh linh
Đặng thanh tâm cho tuệ mạng trưởng thành
Dễ tiêu hoá những nỗi niềm tham vọng

Ăn mà sống chuyện ăn nào quan trọng
Sống vị tha đâu phải sống mà ăn
Hoá cho nên khoái khẩu vốn không cần
Không thị dục là thân không hệ luỵ

                             Dạ Sĩ Thiện Trí

READ MORE - THƠ XƯỚNG HỌA của HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÍ - Lê Đăng Mành giới thiệu