Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 22, 2012

HỒI ỨC VỀ CHUYỆN HAI LÀNG VĂN QUỸ - HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

Hoàng hôn  trên sông Ô Lâu ở Hải Hòa - Ảnh Hồ Viết Phú


    Ranh giới giữa hai làng cách nhau bởi con hói, nước chảy ra tưới ruộng chung cho cả hai làng và nối liền bằng một chiếc cầu có tên thường gọi là Cầu Cừa. Có lẽ cạnh đó có cây Cừa. (cây cừa phía làng Hưng Nhơn). Cầu làm bằng gỗ lim, loại gỗ quí, tốt rắn chắc, chịu mưa nắng, bền. Chiều rộng, dài khoảng 3x 8m, cao hơn mặt đường khoảng 0,8 – 1,0m.

   Sau này tôi mới biết , Văn Quỹ có 4 xóm là Thượng An, Thái hoà, Phú Thọ và Đông An chứ trước đây học trò chúng tôi quen chia làm 3 xóm là Xóm Hội, xóm Nước Mắm và Xóm Chùa. Xóm Hội từ cầu Cừa lên nhà thờ đạo kể cả đường ông Câu Mộ. Từ đường “Câu Mộ” lên hết làng là Xóm Chùa. Từ đường “Câu Mộ” xuống hết làng là xóm Nước Mắm.

    Bảy tuổi tôi lên học trường Tổng tại xóm Nước Mắm và khi Trường sửa chữa chúng tôi lên học ở Xóm Chùa. Tuổi nhỏ của tôi đã sục sạo khắp cả ba xóm nhờ ở câu “nhất quỉ, nhì ma…”
   
    Ở Xóm Chùa, các ngôi nhà thờ, có cổng vòm, có tường xây trông rất nghiêm trang, có sáu cột tru. Cột trụ ở hai đầu bên trên có con nghê dáng vui vui. Chúng tôi lấy lá quấn thành điếu thuốc đốt cho có khói rồi cho nghê hút và cười khoái trá. Các cột trụ giữa thì không dám làm. Đặc biệt ngôi chùa và tượng Phật (có đứa bảo là Bồ tát) Cả vùng đó có thể nói Chùa là nhất, đặt tên là xóm Chùa cũng phải.

     Ở xóm Hội ấn tượng nhất là nhà thờ Đạo cao to và ông Linh mục người Pháp (thường gọi là Cố đạo), râu trắng, dài hay dắt 4-5 con ngổng đi dạo dọc đường. Không hiểu sao, hễ thấy ông đang đi đường này chúng tôi tránh sang đi đường khác. (ở đó có hai đường đến trường). Nhà ông Câu Mộ giàu lắm, nghe nói là con nuôi ông cố Đạo. Ông Câu Mộ có con trai tên là Ân học cùng lớp với tôi, nó đọc tiếng Pháp rất hay, thầy thường giao nó đọc trước, chúng tôi đọc theo.

     Có lần chúng tôi lên xem người nông dân bị oan gì đó đã treo cổ tự tử ở nhà ông Câu Mộ, quan Phủ vào xử tại nhà. Tôi chỉ được nghe các bác bàn tán: chết thì thiệt thân, họ giàu lại có cố Đạo thì làm gì được họ.

   Năm 1940 Linh mục người Pháp từ trần. Thi hài được an táng trước mặt nhà thờ. Lăng xây nổi, hình khối chữ nhật chung quanh có lan can, trên nấm có đắp hai thiên thần có cánh, tay bưng lọ hoa chầu người dưới mộ. Bây giờ ngôi mộ vẫn còn nấm mồ.

     Khoái nhất là lần đầu tiên được đá banh “mút” (như cao su vo tròn bằng quả banh bưởi, do nhà thằng Ân mua) tại sân gạch ông Câu Mộ. Trận đá thi (đấu) giữa học trò Văn Quỹ và học trò Hưng Nhơn. Kết quả Hưng Nhơn 2 Văn quỹ 3. Chúng tôi thua và tự nêu lý do là chưa quen đá sân gạch và banh mềm. Nhìn chân đứa nào máu cũng chảy luyềm loàm bởi quyệt nền gạch. Sáng hôm sau gặp nhau đứa nào cũng nói đêm qua bị mạ chửi bởi trằn trọc không ngủ : tức vì thua.


    Sau CM tháng 8, bắt đầu năm 1947 cho đến ngày ký hiệp định đình chiến 1954, Văn Quỹ chịu đựng với súng đạn căng thẳng hơn Hưng Nhơn và cả xã Hải Phong bởi cái đồn lính ở Ưu Điềm kiên cố chỉ cách con sông rộng không quá 100m. Sông tuy hẹp nhưng nhờ có sông mà quân dân ta vẫn hoạt động bình thường. Người dân phải rất nhiều mưu trí và dũng cảm mới sống nổi. Bến đò ở xóm Nước Mắm là nơi qua lại thường ngày sang chợ Ưu điềm. Ở làng tiêu đồng bạc cụ Hồ, sang chợ tiêu tiêu hai loại: đồng bạc Đông Dương lẫn đồng bạc cụ Hồ. Lính trong đồn ra giữa chợ hễ thấy bạc cụ Hồ là chúng xé. Các bà đi chợ cứ tiêu bạc cụ Hồ vẫn an toàn, ấy mới tài!

   Việc tổ chức các cuộc họp để báo cáo hoặc phổ biến chủ trương phần lớn họp về đêm và địa điểm họp là phần nữa sau Xóm Chùa cũng có khi ở Xóm Hội. Đội dân quân du kích, đội biệt động phải chốt các ngã đường trọng yếu (bến sông) và nhiều lúc phải áp dụng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Khi cần phải họp ban ngày, người đi họp phải “nguỵ trang như người đi cày, đi đạp nước” để tránh con mắt nhòm ngó phía bên kia sông. Nếu họp ban đêm đi phải im lặng không chuyện trò và lần mò trong tối cho dù trời không trăng sao.

    Xin kể vắn tắt chuyện mà tôi không thể quên:
    
    Văn Quỹ - Hưng Nhơn có chung con hói tưới nước cho cả hai cánh đồng, dĩ nhiên vụ trái năm nào cũng không đủ nước cho cả hai cánh đồng, tuy vậy vẫn không thấy có tranh chấp gì. Vụ trái năm 1952 lại có chuyện. Hôm đó Ban Thông tin chúng tôi đang trên đường đi viết khẩu hiệu ở Văn Quỹ và Câu Nhi, bất chợt mấy người chạy đến kéo tôi là phải ra gấp không thì nguy to (tôi lúc đó là uỷ viên HĐND xã). Chưa kịp hỏi gì chúng tôi chạy ra đến nơi mới biết hai bên đang giằng nhau mấy chiếc cọc tre để chặn giòng nước giữa hai làng với bộ mặt đùng đùng sát khí. Trong tôi chưa nghỉ ra câu gì để nói chỉ nhảy ào ra giữa chổ giằng co, nhìn vào họ và tôi nói. Không nhớ tôi đã nói những gì với họ, phút chốc thấy một bác ném cọc tre xuống, bùn nước văng lên tung toé, mấy người khác vất xẻng lên bờ và nhiều tiếng nối tiếp nhau: về thôi, về thôi…Hôm sau một cuộc họp đại diện hai thôn tại UB xã và đâu vào đấy: bình yên…

    Tôi hẹn bụng sẽ hỏi lại các cụ cùng trang lứa ở Văn Quỹ có nhớ lần ấy không, thế mà chưa có dịp nào may mắn.

    Kính chào trân trọng Văn Quỹ thân thương, mảnh đất mà từ tuổi vỡ lòng đến tuổi vào đời (tuổi 25) tôi gắn bó.

Email: nhuxuan29@gmail.com.
READ MORE - HỒI ỨC VỀ CHUYỆN HAI LÀNG VĂN QUỸ - HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

CHUYỀN ĐÔI - Hoàng Đình Chiến


                               Chuyền chuyền một
                               Đủ một đôi
                               Tôi và em
                               Chẵn một đôi chơi chuyền.

                               Nhện trời
                               Giăng sợi tơ duyên
                               Bên vườn
                               Một đóa Đỗ quyên dịu dàng.

                               Ngờ đâu
                               Đò ngỡ sang ngang
                               Góc thềm rêu mốc
                               Ngổn ngang que chuyền.

                               Chuyền chuyền một
                               Lẻ mình tôi.

                               HOÀNG ĐÌNH CHIẾN
hoangdinhchien48@yahoo.com


                             
READ MORE - CHUYỀN ĐÔI - Hoàng Đình Chiến

Hoàng Yên Linh - CHÚT GÌ... CÒN LẠI


 

" Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ..."

                  
Nhìn bạn xe lăn cuối đời lặng lẽ
Thương bạn thương mình sau cuộc bể dâu
Mấy mươi năm có ai còn nhắc nhớ
Lịch sử qua rồi còn lại nỗi đau.

Mấy mươi năm thời gian rồi khép lại
Tôi bạn bên đời tóc ngã màu sương
Còn gì cho nhau mắt nhìn ái ngại
Cuộc thế cơ cầu lưu lạc tha phương.

Ta uống mừng nhau mừng ngày hội ngộ
Rượu rót tràn ly gọi nhớ bạn bè
Đứa sống lang thang bên đời tan vở
Bằng hữu ơi về thức trắng đêm nay.

Nhìn bạn xe lăn tôi sờn áo vãi
Vở đất đắp bờ lận đận mưu sinh
Ta vẫn là ta dẫu đời oan trái
Như thuở nào vào cuộc chiến chinh.


HOÀNG YÊN LYNH 
READ MORE - Hoàng Yên Linh - CHÚT GÌ... CÒN LẠI

Saturday, July 21, 2012

EM GÁI HUẾ - Nguyễn Thanh Bá


Ảnh của Nguyễn Thanh Bá


G đùa ngọn bưởi Kim Long
Em ngây thơ để má hồng dễ thương
Cố Đô xe ngựa mấy đường
Trường Tiền - Bạch Hổ - Sông Hương nối tình
Ai về Mang Cá, Bao Vinh
Đông Ba, Gia Hội, Chợ Dinh… mấy đò?
Thuyền xuôi cao vút điệu hò
Mái chèo Cửa Thuận dặn dò lời xưa
Văn Lâu, Thương Bạc ai chờ?
Trăng lên Vỹ Dạ sương mờ Nam Giao
Đường vô thành nội xôn xao
Dấu chân Thượng Tứ chất bao ân tình
Hò ơi! Em gái Thần Kinh
Tóc thề nghiêng nón nụ tình nở hoa
Nhà em xa – mặc đường xa
Trường Tiền gãy nhịp anh qua chuyến đò
Ra đi lòng luống dặn dò
Yêu em gái Huế hẹn hò tương lai !

Nguyễn Thanh Bá
                thanhbaxabang@yahoo.com.vn 
         0985 994 641 
Bà Rịa - Vũng Tàu
READ MORE - EM GÁI HUẾ - Nguyễn Thanh Bá

KHÔNG CHỈ CÓ MỘT BÀ MẸ GIO LINH - Nguyễn Hồng Trân


Ở quê hương Quảng Trị  [QT] chúng tôi có chuyện các bà mẹ đi tìm đầu con trai mình bị giặc Pháp giết chết rồi chặt đầu. Đó là bà Nguyễn Thị Đệ (tức bà Nghè Lượng) làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng và bà Diêu Cháu, bà Hoàng Thị Sáng làng Mai Xá, huyện Gio Linh. Các bà mẹ này đều có con trai bị giặc Pháp tra tấn dã man rồi chặt đầu đem cắm lên cọc tre bêu diếu ngoài cổng chợ.

Bà Đệ có con trai đầu là Trần Tuân (cựu học trò Quốc học Huế), cán bộ tuyên truyền huyện Hải Lăng), do bọn Việt gian chỉ điểm nên bị giặc Pháp bắt vào đêm 24-4-1948 cùng với 6 cán bộ khác của xã tại thôn Phường Sắn (gần nhà thờ La Vang). Những người bị bắt hôm đó gồm có: Trần Tuân (người Long Hưng), Đào Nhượng, Lê Thanh, Lê Mão (người An Thái), Nguyễn Phàn, Bùi Phước Sanh (người Ba Khê) và Văn Ngọc Cẩn (người Phường Sắn). Sau đó giặc đưa vào thị trấn Diên Sanh giam một tuần để tra tấn rồi bọn giặc đem chặt đầu cả 6 người và cắm trên cọc tre dọc đường đến gần chợ Diên Sanh. Riêng anh Văn Ngọc Cẩn (con ông lý Văn Ngọc Hồng) thì bị thủ tiêu mà không đem chặt đầu bêu như 6 người nói trên.

Bà Đệ nghe tin giặc đã chặt đầu con mình, bà vô cùng đau thương khóc cạn nước mắt rồi lặng lẽ đi vào Diên Sanh nhìn đầu con và xin lấy đầu về mai táng cho con, nhưng bọn giặc không cho. Chúng nói bảo để cả ngày mai nữa. Nhưng đêm đến, bà Đệ đã nhờ người quen tìm cách lấy đầu anh Trần Tuân và các anh khác về cho gia đình chôn cất.

Còn bà Lê thị Cháu (tức Diêu Cháu) có con trai là Nguyễn Đức Kỳ(Xã đội trưởng) và bà Hoàng Thị Sáng có con trai là Nguyễn Phi (cán bộ bình dân học vụ xã) đã hy sinh vào ngày 16-8-1948 cùng cảnh ngộ bị giặc Pháp ở đồn Nhĩ Hạ bắt được và giết chết rồi chặt đầu đem bêu ngoài cổng chợ vùng Gio Mai, huyện Gio Linh. Sau đó bà Diêu Cháu và bà Sáng nghe tin con bị giặc chặt đầu đau xót vô cùng và đi lấy đầu con về chôn cất.

Chủ trương của giặc là cắm các đầu của những người chúng giết để bêu diếu ở nơi đông người qua lại như chợ địa phương cho nhiều người   trông thấy để về loan tin cho nhau biết rộng rãi nhằm mục đích làm cho đồng bào sợ hãi không giám cho con em đi theo Việt Minh.

Sự kiện dã man, tàn bạo ấy của giặc hòng đe dọa đồng bào ta lo sợ  không dám theo cách mạng. Nhưng chúng đã nhầm to, sau những vụ giết người dã man chưa từng thấy như vậy của giặc thì ngọn lửa căm thù giặc của dân chúng khắp nơi lại càng bốc cao hơn và họ quyết tâm theo cách mạng để diệt loài xâm lăng tàn bạo.

Nghe câu chuyện cảm động về bà mẹ có con đã hy sinh như vậy, nhạc sĩ Phạm Duy trong chuyến đi thực tế vào QT đã đến Gio Linh và sáng tác bài hát; “Bà mẹ Gio Linh” (năm 1948). Bài hát này đã vang lên một thời ở Bình, Trị, Thiên trong vài năm đầu chiến tranh chống giặc Pháp. Lời bài hát như một bài thơ đi cùng giai điệu nhạc buồn giản dị dễ nghe nhưng rất tình cảm, rất chân thực và đầy lòng nhân ái, sâu sắc ý nghĩa nhân văn. Chính giá trị lịch sử của bài ca “Bà mẹ Gio Linh” này đã được tái bản trong tuyển tập nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy gần đây và được đông đảo người dân Việt trân trọng và ngưỡng mộ hết lòng.

Bài ca “Bà mẹ Gio Linh” đã được nhiều người ưa thích và hát ca trong thời kháng chiến. Còn các ca sĩ đã từng hát bài này đầu tiên là chị Tân Nhân (người làng Mai Xá, Gio Linh); ca sĩ Hương Loan (làng Nại Cửu, Hải Lăng). Về sau này có nhiều ca sĩ đã hát bài này và có thu băng, ghi đĩa như: Khánh Ly, Duy Quang, Duy Khánh, Hương Lan, Thái Thanh, Thu Hiền, v.v… Trong đó hát hay nhất là các ca sĩ Khanh Ly, Duy Quang, Duy Khánh. Giọng hát và lời ca của các ca sĩ này rất ấm áp, tình cảm yêu thương mà không rên rỉ tiều tụy.

Phần ca từ trong bài hát, nhạc sĩ Phạm Duy đặt rất hay như ba đoạn thơ miêu tả hoàn cảnh và sự biến chuyển tình cảm qua từng thời khắc cuộc đời của một bà mẹ nghèo ở miền quê QT nhưng rất giàu lòng yêu nước Việt Nam. Chẳng hạn trong các câu hát:

“Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi, bát đầy...”
….
“…Con đi dân quân sớm tôi vác súng về,
mẹ mừng một con yêu nước có kém chi…”
….
“…Mẹ già tưới nước trồng rau
Nghe tin xóm làng kêu gào
Quân thù đã bắt được con
Đem ra giữa chợ cắt đầu…”
….
“Nghẹn ngào không nói một câu
Mang khăn gói đi lấy đầu…”
“Khi trông con nuôi, xum xít dưới túp nhà
Mẹ nhìn đàn con, thương nhớ đứa con xưa
Con ơi, con ơi, uống hết bát nước đầy
Ngày một ngày hai, con nhớ ghé chơi đây…”

Đoạn cuối lời bài ca đã nói lên tấm lòng của người mẹ đã coi các chiến sĩ bộ đội ta như con nuôi. Càng nhớ thương con mình bao nhiêu thì càng quý những đứa con nuôi bấy nhiêu.

Tuy lời bài hát: “Bà mẹ Gio Linh” sau này có thay đổi chút ít so với bản gốc năm 1948. Có phải do nhạc sĩ Phạm Duy sửa lại hay do các ca sĩ tự cải biên cho thích hợp với thời thế hay không? Nhưng dù sao thì linh hồn của bài ca “Bà mẹ Gio Linh” vẫn được sống mãi với thời gian.

Chúng tôi rất cám ơn nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại cho quê hương QT chúng tôi một ca khúc đầy tình nghĩa như thế! Đồng thời chúng tôi cũng xin cám ơn các ca sĩ đã đem giọng ca của mình làm rung động bao trái tim người dân Việt khắp nơi hình dung lại một thời tổn thất lớn lao của người dân Việt trong khói lửa chiến tranh.

Giờ đây, hằng năm cứ mỗi lần đến ngày Thương binh -Liệt sĩ, chúng tôi lại nhớ những sự kiện đau thương của các mẹ có con hy sinh cho quê hương đất nước tồn tại muôn đời…
                              

                          Phước Vĩnh Huế, tháng 7 năm 2012.
                                     NHT 
READ MORE - KHÔNG CHỈ CÓ MỘT BÀ MẸ GIO LINH - Nguyễn Hồng Trân

Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Đăng Mành


BIỆT ĐỘNG ĐỘI XÃ HẢI PHONG
Lê Đăng Mành
 
Nhớ xưa chiến trận cứa dòng sông
Tê tái Ô LÂU cuộn xót lòng
Lô cốt Ưu Điềm thực dân đóng
Cồn soi(1) Văn Qũy du kích phòng
Anh hùng biệt động tung đồn giặc
Liệt sỹ quân dân rạng chiến công
Mãi mãi muôn đời tổ quốc nhớ
Nghìn thu sử Việt chói non sông!

Mùa hạ lamnguyethien
cảm tác khi đọc VĂN QUỸ, HƯNG NHƠN
của tác giả NG THANH XUÂN
………………………………………………………………
(1) Cồn soi là doi đất bồi dọc bờ sông (trời cho) là công sự bố phòng của Đội Biệt động


    BÀI HỌA:
 
THẾ “CÀI RĂNG LƯỢC”
Nguyễn Thanh Xuân

Chỉ một mái chèo, một bước sông
Đó đây chung máu, lại chia lòng
Ỷ bom đạn, chúng càng điên đảo
Đốt cháy đồn, ta biết bố phòng
Trí tuệ Nhân dân tài đấu trí
Máu xương Biệt động tính chi công
Ô Lâu chiến tích, ngời thiên cổ
Sạch bóng thù, tình bến nghĩa sông./.

 nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Đăng Mành

NGƯỜI MẸ - Trương Nguyễn



Bước vào nhà mắt mẹ mở
Không nhận ra tôi!
Mắt mẹ đã mờ
Nghi ngút khói nhang
Hai chiếc bàn thờ
Vẫn trầm tư nhai trầu bỏm bẽm

Tay ôm chặt nối lòng thương cảm
Ừ! mẹ quá già từ thuở con đi
Chồng mẹ hy sinh nhà lao Quảng Trị
Mấy mươi năm cha chưa làm liệt sĩ
Mẹ âm thầm nuôi ba đứa con côi

Vợ tôi
Người anh qua đời
Đứa em nghề thuỷ lợi
Luôn xa nhà nên mẹ vẫn cô đơn

Chiến tranh đã lùi xa
Bao người còn lại
Bao người nằm xuống đất quê hương
Việt Nam ơi!
Niềm tự hào thăng hoa trời đất
Và bao nỗi buồn lệ ứa?

Trương Nguyễn
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - NGƯỜI MẸ - Trương Nguyễn

Thursday, July 19, 2012

YÊU MÃI GIO LINH - Thơ: Nguyễn Thị Tuyết Mai - Nhạc: Lê Thanh Đạm


READ MORE - YÊU MÃI GIO LINH - Thơ: Nguyễn Thị Tuyết Mai - Nhạc: Lê Thanh Đạm

Chùm thơ Xướng họa nhiều tác giả - Sông Thu biên tập


          



Hạn Bà Chằng

Đang giữa mùa mưa nước ngập tràn
Bỗng dưng hạn hán nắng chang chang
Làng trên, ruộng cạn vừa khô trắng
Xóm dưới, mạ non đã héo vàng
Thăm thẳm trời xanh không bóng gợn
Biếng lười mây xám chẳng trôi ngang
Thốt nhiên cuộc sống như bừng tỉnh
Tiếng sấm từ đâu chợt vọng sang ...
                    
 Sông Thu

*Hàng năm, khoảng cuối tháng 7- đầu tháng 8, đang giữa mùa mưa, có một đợt hạn hán kéo dài khoảng 10 ngày gọi là Hạn Bà Chằng.

CÁC BÀI HỌA

Lỡ độ đường

Thường niên đến độ nước đầy tràn
Nay bỗng ngược đời hạn nắng chang !
Cá chết phơi đồng ao nẻ trắng
Chồi  khô lả ngọn lá rơi vàng
Than thân mấy cụ theo trời bám
Trách phận dăm chàng bỏ ruộng ngang
Gió bão liên hồi mưa lũ đến
Cầu trôi viễn khách đợi đò sang . . .

                               Võ Làng Trâm


Mưa ngâu

Ngập trời nước mắt cứ dâng tràn
Át cả vừng dương hết chói chang.
Chức Nữ chờ mong  tuần hạ biếc
Ngưu Lang trông đợi tiết thu vàng.
Sông Ngân dòng thẳm chia đôi ngả
Ô Thước cầu kiều đã nối ngang.
Tháng bảy sụt sùi khi gặp lại
Đôi tình thương nhớ đợi cùng sang.

              Lương Thế Hùng


Thiên tai

Dưng không nước lũ bỗng tuôn tràn
Nắng quái về chiều vẫn chói chang
Vườn mới, màu hoa phai sắc thắm
Ruộng xưa, thân mạ hóa rơm vàng
Thôn quê lắm kẻ lòng tơ rối
Phố chợ nhiều người dạ ngổn ngang
Ác quá, trời bày chi bão tố
Thiên tai lại đến giữa Thu sang
  
Thy Lệ Trang
Massachusets

              
Hạn

Đời người năm tháng hạn lan tràn
Số mệnh nhằm sao chiếu chói chang
Một phút lỡ làng tiêu sự nghiệp
Vài giây ngớ ngẩn nát thân vàng
Buồn vui nhân thế bao phiền lụy
Phú qúy trần gian lắm ngổn ngang
Đây mộng Nam Kha vừa tỉnh giấc
Già nua đành đợi chuyến đò sang...

                        Thanh Trương


Mong trời

Long lanh lệ đẫm ướt mi tràn
Nắng hạn năm nay quá chói chang  
Ruộng lúa phơi mình, thân mốc xám
Vườn ngô ẩn dạng, lá thâm vàng                      
Thiên thời nguyện ước đều trôi ngược
Địa lợi cầu xin lại lướt ngang
Biết đến bao giờ dân hết khổ?
Mong Trời cám cảnh gửi mưa sang.

                  Như Thu




Email của Sông Thu: songthu195@yahoo.com.vn



READ MORE - Chùm thơ Xướng họa nhiều tác giả - Sông Thu biên tập

Wednesday, July 18, 2012

CHÙM THƠ NGÀY HÈ - Võ Làng Trâm



 Họa CHÙM THƠ MƯA của Sông Thu 
(đã đăng trên VNQT ngày 13/7/2012 )
           
  

HẠN

  
Khô cằn quê mẹ chẳng cơn mưa

Vạn vật khắp nơi ngóng cổ chờ

Rặng liễu đìu hiu, chim trú tạm

Lòng sông lặng phắc, nước nông nhờ  

Lớp già nhức nhối nằm không ngủ

Bọn trẻ eo sèo hỏi chẳng thưa 

Trời đất gây chi cơn đại họa

Dân tình chạy hạn cố mà đua !





MONG ƯỚC
  

Vầng đông vừa hé đẹp làm sao !

Xe cộ tranh nhau cứ chạy ào

Các cháu dầm mình da xám xịt

Mấy ông lấm bụi tóc vàng au

Nhóm nầy hối hả lo tìm chỗ

Tốp nọ đua chen ngại trễ tàu

Sinh động ngày hè vui nhộn quá

Ước chi trẻ mãi thú dường bao !



       

 HẸN NGÀY GẶP LẠI
  

Tạm biệt bạn bè tại quán ga

Chúng mình lần nữa lại chia xa

Đừng quên đông đến vui đôi trẻ

Nhớ nhé xuân sau hội lớp già

Mấy thuở gió Lào khô rát mặt

Bao phen lửa hạ cháy lằn da

Hẹn cùng gặp lại dù dôi nẻo  

Nín lặng cầm tay mắt lệ nhòa !. . .

                 
                    Quảng Trị  ngày hè 2012
Trao về Sông Thu

                          Võ Làng Trâm

READ MORE - CHÙM THƠ NGÀY HÈ - Võ Làng Trâm

TRĂN TRỞ - Hoàng Đình Chiến


 


           Ngày đầu tiên không còn ở rừng
                Mắc võng ngủ lưng chừng thành phố
                Hai đầu võng hai ô cửa sổ
                Trăng nghiêng trời đung đưa, đung đưa.

                Nằm lại một mình bên cánh rừng thưa
                Bạn không về, mình tôi lắc lư nỗi nhớ
                Cánh võng chùng, nặng thêm nhiều trăn trở
                Thành phố rực cờ, thiếu bóng bạn tôi.

                Chiến tranh đi ngót bốn chục năm rồi
                Viễn xứ biên cương, lá chưa về cội
                Nén nhang cong, thêm một lần dấu hỏi
                Sao chưa về? đồng đội mỏi mòn trông.

                Người vợ bạn tôi khắc khoải chờ chồng
                Thành bà ngoại lưng còng trước tuổi
                Vẫn giữ gìn tấm hình ngày cưới.
                Cứ nghĩ chồng mình đi xa, đi xa…

                Cuồn cuộn khói nhang, di ảnh la đà
                Ánh mắt xa xăm lặng thầm nhắc nhở
                Canh cánh trĩu lòng như người mắc nợ
                Có thể nào hờ hững. Người ơi!

                                        
                                    HOÀNG ĐÌNH CHIẾN
hoangdinhchien48@yahoo.com
READ MORE - TRĂN TRỞ - Hoàng Đình Chiến

THƯ GỞI BẠN - Hùng Vĩnh Phước



 Gởi Lê Bá Bôn, Hoàng Triều 
và tháng ngày Tam-Nhị C
 Nguyễn Hoàng


Bươn chải bao năm đời vẫn vắng
Vẫn thèm nghe tiếng bạn bè xưa
Tâm sự gởi về theo dòng chữ
Biết tụi mày còn nhớ hay không?

Còn nhớ những ngày đầu khai giảng
Đứa nào đứa nấy đứng lơ ngơ
Khi không ba đứa nhìn nhau thấy
Bóng dáng của mình trong đứa kia.

Thế nên không nói mà ba đứa
Phải níu vào nhau không thể xa
Buồn vui gom lại chia nhau hết
Chẳng nghĩ suy gì chuyện trước sau.

Còn nhớ mùa đông trong lớp học
Áo lạnh không mặc, ba đứa thôi!
Bên ngoài trời cứ vô tình rét
Để gió trong lòng thổi tả tơi.

Còn nhớ cái lần vô thi Huế
Chẳng biết về đâu để qua đêm
Có người xúi dại tìm đò xuống
Bà chủ chỉ cười: không chỗ đâu!

Còn nhớ những lần ra sông Điếu
Rồi về ghé lại Bích La Đông
Ghé ngắm bờ tre sông Vĩnh Phước
Muôn đời ấp ủ bóng yêu thương.

Rồi tháng ngày trôi theo thời thế
Mây xám bay đầy trời khổ đau
Buồn không? Dù biết đời dâu bể
Vẫn nghĩ trong lòng nhau có nhau.


Hùng Vĩnh Phước
Tháng 7/2012
hungvinhphuoc@yahoo.com
READ MORE - THƯ GỞI BẠN - Hùng Vĩnh Phước