Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, August 14, 2024

NON MAI (Kỳ 1/2) - Yến Thọ

 


 

NON MAI

(Trích từ  tập sách KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ, 

tác giả LÊ ĐỨC THỌ)

 

Người Quảng Trị từ nhiều đời nay đã khá quen thuộc với cặp đôi sông núi Non Mai - Sông Hãn. Non Mai đi kèm với sông Hãn là đất nước, là giang sơn, là địa linh, là khí thiêng và là biểu trưng văn hóa của một vùng đất Quảng Trị. 

Cặp đôi sông núi được chọn làm biểu tượng văn hoá này thuộc về người Việt, văn hoá Việt, do người Việt định dạng, tôn vinh và có quá trình định hình chính thức kể từ khi thủ phủ, trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh (dinh, trấn, đạo) Quảng Trị được thiết lập ven bờ sông Thạch Hãn. 

Sông Thạch Hãn (石捍江/Thạch Hãn giang/sông Hãn/Nguồn Hàn - long mạch chủ của toàn vùng Quảng Trị thì không ai là không biết, bởi lẽ nó hiển hiện trên Quốc lộ 1 đi qua thị xã Quảng Trị nhỏ nhắn, nên thơ, gần với Thành cổ mà người Quảng Trị cũng như khách thập phương đều ít nhất có một lần ghé đến. Thạch Hãn là dòng sông có dòng chảy rộng dài đi qua nhiều vùng địa hình, nhiều khu vực hành chính từ rừng xuống biển; từ đồi núi xuống đồng bằng; từ thượng nguồn về hạ lưu; từ các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số đến các xóm thôn người Việt; từ kẻ mọi xuống kẻ ruộng, kẻ chợ, kẻ biển. Sông Thạch Hãn còn là dòng sông chứa đựng nhiều dấu ấn lịch sử, văn hoá, nơi chứng kiến bao nổi thăng trầm dâu bể của lịch sử, con người và thời cuộc. Thế nhưng, Non Mai/núi Mai Lĩnh thì không phải ai cũng có cơ hội, điều kiện, cơ duyên để một lần được đặt chân lên chốn này. Sông thì hiện hữu, gắn bó mật thiết với từng phận người vì nước là nguồn sống sinh hoạt, sản xuất, đi lại; còn núi thì thường mờ xa tận đâu đó, nơi hang sâu, rừng thẳm, ít hoặc thậm không mấy liên quan đến đời sống con người nên nếu không vì một mục đích cụ thể thì dù kể cả những người sống trong khu vực cũng chẳng mấy quan tâm. 

Chính vì thế, Non Mai/núi Mai Lĩnh ở đâu?, nhiều năm nay là câu hỏi ít có lời đáp thoả đáng.

Non Mai có lên chữ Hán là Mai Lĩnh sơn 枚嶺山 - Núi Mai Lĩnh. Trong các tài liệu thư tịch cổ viết chữ Mai là 枚, với nghĩa là cái, quả, gốc cây; hoặc theo nghĩa là cái vú chuông; còn nhiều làng xã trong dân gian lại viết chữ Mai là 梅, với nghĩa là cây mơ, cây mai hoặc với nghĩa là mùa. Cả hai nghĩa của từ này đều được các nhà văn nghệ hiểu theo mỗi người mỗi cách. Chữ Lĩnh 嶺 trong từ Mai Lĩnh nghĩa là đỉnh núi có thể thông ra đường cái. Như vậy. Mai Lĩnh hiểu theo nghĩa chiết tự Hán - Nôm thì đó là ngọn núi hình vú chuông có thể thông ra đường cái hoặc cũng có thể hiểu nó là ngọn núi có gắn (hoặc có liên quan) với cây mơ/mai và có thể thông ra đường cái. 

Nhà thơ Lương An diễn nghĩa hai từ Mai Lĩnh đầy chất tuỳ hứng thi ca và cho là “Mai Lĩnh, cái tên chữ của nó có nghĩa là “ngọn núi vú chuông”, hai sườn cân đối, chóp chĩa thẳng nhọn lên trời, dường như đánh vào thì sẽ thành tiếng ngân xa nghìn dặm. Từ Đông Hà, theo đường số 9 đi lên, khi qua khỏi Tân Lâm, hễ gặp sông Thạch Hãn thì thấy nó. Núi và sông như đôi tri kỷ không rời nhau, tăng thêm vẻ đẹp cho nhau. Mùa xuân hoa mai nở vàng, hoa chè nở trắng hai bên sườn thoai thoải. Một mùi hương dịu tỏ xa, ướp thêm hương vị cho dòng nước thêm trong, thêm thơm ngát” 1).

Tác giả Đinh Xuân Vịnh khi biên soạn “Sổ tay địa danh Việt Nam” thì diễn theo tên chữ Mai là hoa mai và định vị: “Mai Lĩnh (hay Mai Lãnh) ở huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, trên đường quốc lộ 9, ở km 40, bên sông Thạch Hãn, núi ở huyện Hướng Hoá, đầy mai vàng” 2).

Tuy nhiên, nói và viết vậy nhưng không chắc rằng các nghệ sĩ này đã từng đến Mai Lĩnh, hoặc ít nhất có một cơ hội nào đó từng đặt chân lên Non Mai.

Nhà Văn Xuân Đức trong một đề án xây dựng khu văn hoá - du lịch Mai Lĩnh của Sở VH - TT Quảng Trị đã cất công đi tìm núi Mai Lĩnh và sau một “hành trình khám phá” đầy ngoạn mục cùng nhiều dẫn liệu đầy cảm tính từ các nhân chứng và từ chính tác giả đã đi đến khẳng quyết rằng Động Ngài - ngọn núi mà thư tịch cổ gọi là Động Mang/Mang Sơn (芒山) 3) là núi Mai Lĩnh/non Mai: “Động Ngài (kể cả hòn đá vôi cao đẹp phía đầu và cả dãy động nhấp nhô kéo về tận phường Mai Lĩnh), chính là động Mai Lĩnh. Như vậy, ta có thể ghi lên bản đồ vùng đó những dãy núi chính như sau: Phía bắc và tây bắc là dãy núi Kalu, phía đông là Động Toàn, phía nam là Động Chè, tất cả bọc lấy khu Mai Lĩnh” 4).

Trong tập bản thảo “Tên những đường phố Đông Hà”, tác giả Hoàng Hữu Phong cũng định vị núi Mai Lĩnh một cách khá cụ thể nhưng đầy cảm tính: “Mai Lĩnh có đỉnh cao 118m so với mặt thuỷ hải chuẩn, nơi đó có một diện tích 38 ha là kho đá quý. Dưới chân vùng núi Mai Lĩnh có khe Động Chè, bắt nguồn từ Động Chè phía nam núi Mai Lĩnh, thường có nước quanh năm đổ về nguồn Hàn. Mai Lĩnh ở về phía tây nam và cách huyện lỵ Đakrông khoảng 3km” 5).

Công cuộc lần tìm về với Mai Lĩnh trên thực địa đã được các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Quảng Trị (cả một số người yêu mến và tò mò về Mai Lĩnh của Trung Tâm Bảo tồn DT&DT) dưới sự hỗ trợ thông tin của những bậc cao niên và sự hướng dẫn của người những người thợ rừng, thợ sơn tràng làng Xuân Lâm, Na Nẫm (Triệu Nguyên) trong 2 đợt:

 

+ Đợt 1: Ngày 20 tháng 10 năm 2004 6). 

+ Đợt 2: Ngày 15 tháng 8 năm 2010 7).

Tìm về với núi Mai Lĩnh/Non Mai đối với những người nghiên cứu thuộc thế hệ hiện nay tuy là sự mò mẫm nhưng không có gì khó khăn nếu người muốn tìm chịu khó leo núi và chịu khó định hướng trước lối tư duy của mình. Điều này không có gì phức tạp và cũng không thể là gì khác hơn ngoài việc căn cứ vào cả hai nguồn tư liệu: văn tự và hồi cố. 

Về mặt văn tự, các nhà địa chí triều Nguyễn tuy không mô tả cụ thể về Mai Lĩnh sơn mà chỉ ghi lại một dòng ngắn ngũi, vắn tắt: “Núi Mai Lĩnh ở phía tây huyện Thành Hoá” 8) vì có lẽ không ai có điều kiện để lên đến núi này khi mà núi cao, rừng rậm, lắm thú dữ; còn nhìn từ dưới lên thì không thể dễ dàng xác định. Nhưng các bản đồ vẽ về thế sông, hình núi của từng vùng trong địa hạt Quảng Trị thì được cước chú khá rõ về địa điểm.

Bản “Thừa Thiên toàn đồ” 9) lập thời Tự Đức là tài liệu được coi là cổ nhất hiện biết có chú bằng chữ Hán khá nhiều các ngọn núi trên khắp địa hạt Quảng Trị như: Tá Linh sơn, Hắc Thạch sơn, Mang sơn, Mai Đàn sơn, An Thái sơn...; trong đó có Mai Lĩnh sơn (枚嶺山). Địa điểm của Mai Lĩnh sơn nằm về phía nam Mang sơn 芒山 (tức Động Ngài - núi thiêng của người Vân Kiều, nằm trên hữu ngạn của sông Đakrông) và về phía tây bắc của An Thái sơn 安泰山; bên hữu ngạn của Thạch Hãn giang nhưng cách một quảng khá xa chứ không sát bờ sông. Phía đông núi Mai Lĩnh là sông Thạch Hãn; hai phía bắc và tây là sông Đakrông lượn vòng.




Bản đồ “Đăng Xương, Hải Lăng nhị huyện hạt” lập thời Đồng Khánh tuy không cước chú núi Mai Lĩnh khi vẽ ngọn núi ở thượng nguồn sông Thạch Hãn, được coi là nơi phát nguyên của con sông này; nhưng trong khu vực của núi có chú Mai Lĩnh phường 枚嶺坊 nằm trên sông Thạch Hãn cùng với Trinh Thạch phường 貞石坊 - hai làng Việt hình thành sớm nhất trên vùng thung lũng Ba Lòng. Bản đồ này cho thấy núi Mai Lĩnh nằm ở thượng nguồn sông Thạch Hãn. Và vì có núi Mai Lĩnh nên một phường hiệu của người Việt trong quá trình chuyển đổi tên gọi đã mang tên ngọn núi. Điều này cũng cho thấy tên Mai Lĩnh sơn hầu như chỉ được các nhà địa chí triều Nguyễn (hoặc những người biết chữ Hán) đặt cho từ thế kỷ XIX (cụ thể là thời Tự Đức) với một hàm ý rất Hán; còn trước đó, núi hoặc không có tên hoặc chỉ mang một danh xưng nào đó theo cách gọi của dân gian như: Động Trăn, Động Chấn, hay động Ché. Bởi vì, trước khi được đổi thành phường Mai Lĩnh thì từ thế kỷ XVIII, đơn vị hành chính này đã mang tên phường Mai Hoa 枚花坊. Có phường Mai Hoa nhưng không có núi Mai Hoa. Vậy là cơ sở để có thể tiếp cận danh xưng của Mai Lĩnh là từ Mai Hoa. Khi có được tên núi Mai Lĩnh thì tên phường Mai Hoa cũng thay đổi theo tên núi. Hành trình ngoạn mục này chỉ xảy ra từ thời Tự Đức (vì các nhà địa chí thời Gia Long mặc nhiên đã không nói gì đến tên núi hay phường Mai Lĩnh) và do những nhà địa chí, những trí thức Hán học người Việt dựng đặt, vinh danh làm cho tên cục mịch, quê mùa dân gian Động Ché, Động Trăn... trở thành tên kiêu sa, đài các của một ngọn núi được chọn làm biểu trưng: Mai Lĩnh sơn, xứng đôi với một dòng sông vốn cũng được Hán hóa rất cao độ: Thạch Hãn giang. Điều này cũng lý giải tại sao Tá Linh sơn còn có tên là Động Voi Mẹp; Linh sơn còn có tên là Động Lòi Reng; còn Mai lĩnh sơn thì chỉ gọi là non Mai - một danh từ được đánh bóng đầy tính biểu tượng. 

“Thừa Thiên toàn đồ” và “Đăng Xương, Hải Lăng nhị huyện hạt đồ” (cùng với các bản đồ về đạo Quảng Trị trong “Đồng Khánh địa dư chí”) có thể nói là những cơ sở đáng tin cậy để đi tìm địa điểm toạ lạc của núi Mai Lĩnh. 

Hai bản sơ đồ của 2 tác giả người Pháp là Delvaux và H. Pirey khi dựng lại kiến trúc thành Tân Sở vào năm 1914 và 1942 10) có cước chú đường đi Mai Lĩnh từ Cam Lộ lên băng qua khu vực thành hướng về phía nam theo đỉnh động Ho để vượt đèo 365 vào Ba Lòng, xuống Na Nẫm, Xuân Lâm.

Động Ho nằm về phía nam thành Tân Sở và cũng là phía nam làng Lộc An (Cam Chính) vùng Cùa. Về phía nam Động Ho (Động Mặt Nạ) cũng là làng Na Nẫm, Xuân Lâm (Triệu Nguyên) nằm bên tả ngạn Thạch Hãn. Đường từ Cùa băng qua Tân Sở, vượt đèo 365 đến Bình Trị có một nhánh xuống Na Nẫm, một nhánh xuống Ba Lòng. Nhánh xuống Ba Lòng ở khu vực Làng Hạ. Nhánh xuống Na Nẫm qua sông Thạch Hãn ở làng Xuân Lâm rồi theo khe Làng An lên Mai Lĩnh đến Trại Cá (phía tây núi Mai Lĩnh, bên sông Đakrông). Con đường này từ khi có đường nối từ Quốc lộ 9 ở KM 41 vào vùng Ba Lòng thì không còn được phát huy vai trò đầy đủ của nó. Nhưng từ xa xưa và nhất là thời Pháp thì đây cũng chính là một tuyến quan trọng của con đường thượng đạo xuyên sơn. 

Đường từ Cùa vượt đèo 365 qua Ba Lòng lên Mai Lĩnh theo khe Làng An đến Trại cá do tỉnh trưởng Quảng Trị là Nguyễn Văn Đông cho mở và xây các cầu cống vượt khe vào những năm 1958 - 1959. Nguyễn Văn Đông có một đồn điền ở vùng Cùa; nay vẫn còn dấu tích một ngôi biệt thự cũ của gia đình Tỉnh Đông nằm bên trái đường đèo Cùa. Để thuận lợi cho việc khai thác gỗ, các loại lâm đặc sản từ vùng núi rừng phía tây bao la, Nguyễn Văn Đông đã cho đầu tư mở mang và thiết lập nên một con đường nối Cam Lộ với Cùa và Ba Lòng lên thượng nguồn sông Đakrông. Con đường này được hoạch định dựa trên cơ sở con đường mòn từ Cùa lên Mai Lĩnh đã hình thành từ trước đó. Đây chính là con đường thượng đạo - con đường mà ngự đoàn Hàm Nghi đã đi khi rời khỏi thành Tân Sở qua thung lũng Ba Lòng (Xuân Lâm), lên Mai Lĩnh vượt sông Đakrông sang Trại Cá (Tà Long) để lên Lao Bảo, qua Lào sau ngày 26-7-1885. 

Con đường này người dân vùng Ba Lòng quen gọi là đường Bà Cả (chị cả của Tỉnh Đông). Tuy nhiên, việc mở con đường từ Làng An đi Trại Cá thực hiện nửa chừng thì bỏ dỡ do chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Ngày nay, những người thợ rừng vùng Ba Lòng vẫn sử dụng để đi lên Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh để khai thác gỗ. Dấu tích để lại của con đường này là 4 mố cầu xây bằng đá và xi măng vượt khe còn có các tên là Cầu 1, Cầu 2, Cầu 3, Cầu 4.

_________________________________________

(1)Lương An. Non Mai sông Hãn. Tuyển tập Lương An. Nxb Thuận Hoá, Huế 2004, tr. 552.

(2)Đinh Xuân Vịnh. Sổ tay địa danh Việt Nam. Nxb Lao Động, 1996. tr. 332.

(3)Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Sđd, tr. 134.

(4)Xuân Đức. Một số ý kiến có tính chất đề dẫn tại Hội thảo về địa chỉ khu Mai Lĩnh và đề án xây dựng khu văn

(5) Hoàng Hữu Phong. Tên những đường phố Đông Hà. Hội người cao tuổi Đông Hà. Bản thảo, 2006, tr. 64.

(6) Tham gia đợt khảo sát lần này có: Lê Đức Thọ - Lê Đình Hùng - Nguyễn Quang Chức - Lê Chí Tài - Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Duy Hùng; với sự cung cấp thông tin của ông Đỗ Văn Dược, 75 tuổi và sự dẫn đường của anh Đỗ Việt Hà, 40 tuổi, người thôn Xuân Lâm.

(7) Tham gia đợt khảo sát này có: Lê Đức Thọ - Cái Thị Vượng - Nguyễn Cường - Hoàng Ngọc Thiệp - Nguyễn Thị Cẩm Lệ; với sự dẫn đường của Nguyễn Văn Quỳnh  và  Trần Văn Kỷ.

 

(Còn tiếp) 


READ MORE - NON MAI (Kỳ 1/2) - Yến Thọ

Sunday, August 11, 2024

VÌ SAO GỌI LÀ “MƯA NGÂU, ÔNG NGÂU BÀ NGÂU.. ? – La Thụy

             

6 cách viết NGÂU theo tự dạng chữ Nôm trong quyển “Tự Điển Tiếng Nôm” của Lê Văn Kính

Hôm nọ, anh em khi trà dư tửu hậu có người thắc mắc vì sao gọi là “mưa ngâu”, vì sao gọi là “ông ngâu bà ngâu”. Tất nhiên, truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ được đưa ra để giải thích. Người thắc mắc lại hỏi vậy sao không gọi là “mưa ngưu”, “ông ngưu bà ngưu”. Một ông bạn cho rằng “ngâu” là cách đọc chệch chữ Ngưu. Thế là một ông bạn khác cười chế nhạo: “mưa ngưu” là “mưa trâu” “ông ngưu bà ngưu” là “ông trâu bà trâu” à !?!  Vì sao có sự đọc chệch như thế ? Mà vì sao không đọc chệch theo cách khác đi ? 

Ông bạn khác lại cho rằng:

Gọi là “mưa ngâu”, “ông Ngâu bà Ngâu” vì loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu.  Nhưng ông bạn lại không nêu được sự liên quan giữa Ngưu Lang Chức Nữ và hoa ngâu như thế nào trong truyền thuyết. 

Tôi nghĩ ông bà của ta xưa gọi là “mưa ngâu”, “ông ngâu bà ngâu” chắc có lý do, mình thử tra tìm tiếng “NGÂU” trong chữ Nôm (chữ viết của ông bà ta hồi xưa) xem sao! Chữ Nôm vốn mượn âm và chữ của Hán Tự mà, nên chắc chắn có liên quan về cách viết, cách đọc thôi.

Hỏi thăm những bậc tiền bối về Hán Nôm, họ cho biết có tới 6 cách viết NGÂU theo chữ Nôm. Đó là âm đọc chữ Hán “ngưu” (trâu); kế tiếp là: chữ “ngưu” bộ mộc, chữ “ngưu” bộ thảo; chữ “ngô” bộ mộc; chữ “ngô” bộ thảo; chữ “ngao” bộ mộc.

Tra từ điển Hán Nôm trên mạng, tôi tìm ra chỉ có 4 cách viết. 


        

Vẫn còn thiếu 2 cách viết sau:
- NGÂU là âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngưu” có bộ mộc: Hoa ngâu.
- NGÂU là âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngao” có bộ mộc: Hoa ngâu.
 
Tiếp tục tìm tòi tra cứu, tôi hết sức mừng rỡ khi bắt gặp đầy đủ cả 6 cách viết tiếng NGÂU theo tự dạng chữ Nôm trong quyển “Tự Điển Tiếng Nôm” của Lê Văn Kính, gồm có:
 
1/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu” 牛
    NGƯU 牛 chữ  Hán, còn có nghĩa là con bò, là sao Ngưu hay là họ Ngưu.
2/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu” có bộ thảo 䒜 : hoa ngâu.       
3/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ thảo 䓊 : hoa ngâu.      
4/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ mộc  𫉎 : hoa ngâu.
5/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngưu” có bộ mộc: Hoa ngâu.  Hoa ngâu còn có tên là “mộc ngưu” (木 牛)
6/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngao” có bộ mộc: Hoa ngâu
*
Xét 6 cách viết tiếng NGÂU theo tự dạng chữ Nôm, ta có:
 
1/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu”  牛
 
NGƯU 牛 chữ Hán, còn có nghĩa là con bò, là sao Ngưu hay là họ Ngưu.
 
- NGÂU 牛 (bộ ngưu) có đến 5 cách đọc theo âm Nôm: ngâu, ngõ, ngưu, ngọ, ngỏ.
  Các từ ngữ “Ông Ngâu bà Ngâu, cửa ngõ, giờ ngọ, ngỏ ý, ngưu (trâu, bò); sao ngưu” được viết theo dạng chữ 牛 này.)
  NGƯU LANG là “Chàng trai chăn trâu” chớ không có nghĩa là “Anh chàng Trâu”.
  Con trâu còn được gọi với nhiều tên khác nhau trong tiếng Việt: trâu, tru, sửu, ngưu, ngâu, nghé (trâu con)…
 Đàn bà hư bị dư luận rủa xả: “Cái thứ lăng loàn đó nên để ngâu vầy”
 
Ậm Nôm của người Việt chúng ta đọc NGƯU 牛 thành “Ngâu”.
Người Quảng Đông đọc chữ NGƯU 牛 thành “Ngầu”.  Cái món ăn cường dương bổ thận nhiều người biết dưới cái tên NGẦU PÍN.
 
NGẦU PÍN có âm Hán Việt là NGƯU TIÊN 牛鞭 : dương vật bò, trâu.
 
Trong truyện kiếm hiệp ‘Lục Tiểu Phụng’ của Cổ Long có nhân vật Ngưu Nhục Thang nghĩa nôm na là ‘canh thịt bò’.
 
Chữ Hán, Ngưu vừa là trâu, vừa là bò. Để phân biệt cho rõ ràng, người ta gọi bò là hoàng ngưu, trâu là thủy ngưu, bò Tây Tạng là mao ngưu, tê là tê ngưu, tê giác. Tuy nhiên, trong Hán cổ, ngưu là trâu chứ không phải bò. Ngưu manh là con mòng trâu; ngưu điệt là con đỉa trâu; ngưu đầu mã diện là đầu trâu mặt ngựa; đối ngưu đàn cầm là đàn gảy tai trâu.
 
2/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu” có bộ thảo  䒜 : hoa ngâu.       
3/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ thảo  䓊 : hoa ngâu.        
4/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngô” có bộ mộc  𫉎 : hoa ngâu.
5/ NGÂU là  âm Nôm đọc chữ đọc chữ Hán “ngưu” có bộ mộc: Hoa ngâu.
Hoa ngâu còn có tên là “mộc ngưu” (木牛)                           
 
Ảnh chụp chữ Nôm NGÂU (“ngưu” có bộ mộc)
  
6/ NGÂU là âm Nôm đọc chữ Hán “ngao” có bộ mộc: Hoa ngâu
 
Ảnh chụp chữ Nôm NGÂU (“ngao” có bộ mộc)
 
* Ta thấy “vợ chồng Ngâu”, “mưa ngâu” đều viết bằng tự dạng chữ Nôm là  牛 (âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu”)
- Riêng “hoa ngâu” đều được viết với âm Nôm có 5 tự dạng chữ Hán khác nhau: chữ “ngưu” bộ mộc, chữ “ngưu” bộ thảo; chữ “ngô” bộ mộc, chữ “ngô” bộ thảo; chữ “ngao” bộ mộc
(Bộ thảo, bộ mộc dùng để chỉ về cây cỏ, nên viết về hoa ngâu là đúng quá)
* Thế thì tại sao NGÂU trong tự dạng chữ Nôm không có cách viết với chữ “ngưu” với bộ thủy (để có thể chỉ cơn mưa ngâu)?
Theo tôi nghĩ, đơn giản “mưa ngâu” có nghĩa là “mưa của vợ chồng ngâu”. Mưa rơi bắt nguồn truyền thuyết những giọt nước mắt của “ông Ngâu bà Ngâu” rơi. Loại mưa này phụ thuộc về nhân vật trong truyền thuyết nên chữ viết phải theo tên nhân vật thôi. Và, Hán tự đã sẵn có chữ 水牛 (thủy ngưu) có nghĩa là con trâu (trâu nước) rồi, để phân biệt với hoàng ngưu là con bò.
Đã có chữ thủy ngưu là con trâu rồi thì mưa ngâu (‘chữ ngưu có bộ thủy’ làm chi có chỗ chen chân vào đây được!) khác với hoa ngâu viết với chữ “ngưu” bộ mộc, hơn nữa hoa ngâu có tên Hán Việt là mộc ngưu
*
Như thế, xét theo chữ Nôm thì “NGÂU” trong các từ ngữ “mưa ngâu” và “ông Ngâu bà Ngâu” là do nói theo âm Nôm của từ Hán “ngưu” về nhân vật “Ngưu Lang”, một trong hai nhân vật chính trong truyền thuyết Ngưu Lang - Chức Nữ. Hầu như ai cũng biết về truyền thuyết này - một chuyện tình cổ tích, trong đó, ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm là ngày họ gặp nhau (qua chiếc cầu Ô thước - do đàn quạ nối đuôi nhau tạo thành chiếc cầu cho 2 người đến với nhau). Thật ra, Ngưu Lang (牛郎) và Chức Nữ (織女) không phải là họ tên (họ Ngưu, tên Lang, họ Chức tên Nữ; cho dù trong xã hội có 2 họ này) mà là cách gọi căn cứ vào nghề nghiệp của họ. Ngưu Lang là chàng trai chăn trâu; Chức Nữ là cô gái dệt vải.
 
Nên, không phải như sự chế nhạo của ông bạn kia, “mưa ngâu” là “mưa trâu”, “ông ngâu bà ngâu” là “ông trâu bà trâu”. Vì Ngưu Lang là chàng chăn trâu (chứ không phải là “chàng trâu”) nên “ông ngâu bà ngâu” là ông bà nhà chăn trâu (chứ không phải là “ông trâu bà trâu”), “vợ chồng Ngâu” là “vợ chồng nhà Ngưu Lang”
 
MƯA NGÂU là một loại mưa xuất hiện vào đầu tháng 7 Âm lịch ở Việt Nam hàng năm. Trong dân gian Việt Nam có câu tục ngữ: “vào mùng 3, ra mùng 7”, nghĩa là mưa sẽ có vào các ngày mùng 3 đến mùng 7; 13 đến 17 và 23 đến 27 âm lịch. Các cơn mưa thường không liên tục, rả rích, do vậy mới có cụm từ “trời mưa sụt sùi” để chỉ mưa ngâu.
 
Theo truyền thuyết thì Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ gặp nhau một năm một lần vào ngày 7 tháng 7 Âm lịch. Vào ngày ấy, bao giờ cũng mưa dầm dề, đó là nước mắt của cả Ngưu Lang lẫn Chức Nữ, sau khi hàn huyên tâm sự, họ lại khóc cho nên các cơn mưa mới không liên tục, lúc mưa, lúc tạnh. Nước mắt của họ rơi xuống trần gian hoá thành cơn mưa, đó chính là “mưa Ngâu”. Do vậy, người ta còn gọi Ngưu Lang Chức Nữ là “ông Ngâu bà Ngâu”.
 
Với lời giải thích: Gọi là “mưa ngâu”, “ông Ngâu bà Ngâu” vì loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu. 
Tôi đã ra sức tìm trên mạng internet, tra cứu sách vở, thấy có lời giải thích giống như thế. Nội dung như sau:
 
“Hoa ngâu mang ý nghĩa về một tình yêu thủy chung, với khát vọng tự do trong tình yêu. Loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ từ xa xưa. Là biểu tượng của một tình yêu chân thành, vĩnh hằng hoa ngâu khiến người ta khó có thể quên.”
 
Tuy nhiên, tôi hoàn toàn chưa thấy tình tiết cụ thể nào cho biết loài hoa ngâu gắn liền với câu chuyện tình yêu chung thủy của Ngưu Lang – Chức Nữ cả. Ví dụ như giọt nước mắt của ông bà Ngâu thấm vào đất làm mọc lên loài hoa ngâu chẳng hạn...
 
Tra cứu tự dạng chữ Nôm về HOA NGÂU, thì có 2 cách viết chữ NGÂU có gốc Hán tự là “ngưu”. Đó là NGÂU có chữ “ngưu” bộ mộc và NGÂU có chữ “ngưu” bộ thảo. Không rõ với tự dạng hai chữ Nôm này thì hoa ngâu có liên quan với Ngưu Lang Chức Nữ thế nào?
 
TÓM LẠI:
 
Những giọt nước mắt của Ngưu Lang - Chức Nữ rơi xuống trần thế trong đêm Thất Tịch ấy, dân gian chúng ta gọi là mưa Ngâu.
 
NGÂU trong cụm từ “ông Ngâu bà Ngâu”, “mưa ngâu” được viết theo tự dạng chữ nôm là  牛 như NGƯU của Hán tự. Tiếng NGÂU này chính là âm Nôm đọc chữ Hán “ngưu” 牛 của nhân vật Ngưu Lang  (牛郎) mà ra.
Vì “mưa ngâu” có nghĩa là “mưa của vợ chồng ngâu”. Mưa rơi bắt nguồn truyền thuyết những giọt nước mắt của “ông Ngâu bà Ngâu” rơi. Loại mưa này phụ thuộc về nhân vật trong truyền thuyết nên chữ viết phải theo tên nhân vật thôi. Các cơn mưa ngâu thường là loại mưa nhỏ nhưng rả rích suốt trong vài ngày.
 
Mưa Ngâu đã đi vào thơ ca, âm nhạc Việt Nam với hình ảnh đẹp và buồn. Mưa Ngâu có trong ca dao Việt Nam như:
 
Tục truyền tháng bảy mưa ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền
...Tháng sáu lo chửa kịp tiền
Bước sang tháng bảy lại liền mưa Ngâu
Tháng bảy là tháng mưa Ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu...
 
Tháng năm tháng sáu mưa dài
Bước sang tháng bảy tiết trời mưa Ngâu
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần.
                                           (Ca dao)
 
Nhà thơ Trần Tế Xương có bài “Mưa tháng bảy” được làm theo thể thất ngôn bát cú:
 
Sang tuần tháng bảy tiết mưa ngâu
Nắng mãi thì mưa cũng phải lâu.
Vạc nọ cầm canh thay trống mõ,
Rồng kia phun nước tưới hoa màu.
Ỳ ào tiếng học nghe không rõ
Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu.
Ông lão nhà quê tang tảng dậy 
Bảo con mang đó chớ mang gầu.
 
Hay bài thơ song thất lục bát “Vợ chồng ngâu”
 
Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.
 
Một là duyên, hai thời là nợ,
Sợi xích thằng ai gỡ cho ra?
Vụng về cũng thể cung nga,
Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.
Hay là sợ muộn chồng chăng tá?
Hơi đâu mà kén cá chọn canh!
Lấy ai, ai lấy cũng đành,
Rể trời đâu cả đến anh áo buồm.
                           Trần Tế Xương
 
Nhà thơ Lưu Trọng Lư từng viết:
 
“Đây là dải ngân hà
Anh là chim Ô Thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Mỗi đêm một lần qua”

Trong tân nhạc, nhạc sĩ Lam Phương cũng mượn câu chuyện này để viết ca khúc “Thu Sầu”, ông viết “Người từ nghìn dặm về mang nỗi sầu, nhịp cầu Ô Thước tìm đến mai sau...”
 
Nhạc sĩ Đặng Thế Phong cũng nhắc tới “mưa ngâu” trong nhạc phẩm nổi tiếng “Giọt mưa thu”:
 
“Đến bao năm nữa trời, vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu...”
 
Mưa Ngâu cũng đã được lấy làm tên cho một bài hát của nhạc sĩ Thanh Tùng, bài Mưa Ngâu: “...giọt mưa Ngâu hay là nước mắt ai nhớ nhau...”
 
Cũng giống như ngày lễ Valentine của Phương Tây, ngày Thất tịch (mồng 7 tháng 7) cũng là ngày dành cho những người yêu nhau ở một số nước Á Đông
 
Tuy nhiên, đi kèm theo đó là nhiều lễ hội mang ý nghĩa tâm linh nhiều hơn. Ngày này tại Việt Nam được gọi là ngày “ông Ngâu bà Ngâu”.
 
Đêm Thất tịch, chòm sao Chức Nữ sẽ sáng vô cùng và người ta tin rằng hai người yêu nhau nếu cùng ngắm sao Ngưu Lang-Chức Nữ trong đêm 7/7 âm lịch thì sẽ mãi ở bên nhau.
Thông tin trên báo Thanh Niên cho biết, ngày 7/7 âm lịch hàng năm tại các nước Châu Á được chọn làm ngày Tình Yêu.
 
Tại Trung Quốc, ngày này được gọi là Lễ hội Qixi, Nhật Bản có Tanabata, Lễ hội Chilseok ở Hàn Quốc thì khi du nhập vào Việt Nam nó thành Ngày Thất tịch.
 
Nhiều người thắc mắc về cách gọi “mưa Ngâu”, “ông Ngâu bà Ngâu”, tôi thử viết ra đôi dòng lạm bàn, nếu có gì chưa chuẩn mong quý bạn đọc góp ý và bổ sung thêm.                                                    
                                                         La Thụy
READ MORE - VÌ SAO GỌI LÀ “MƯA NGÂU, ÔNG NGÂU BÀ NGÂU.. ? – La Thụy

Khaly Chàm - THƠ TA ÂM MƯU MANG MẶT NẠ

 


thơ ta âm mưu mang mặt nạ


bí tích lan tỏa trong nội tại  

với đức tin chẳng có gì ngoài hơi thở

ánh trăng diệu ngân hòa tan trong máu 

chiêm nghiệm hạnh phúc chẳng lẽ mình ta thụ hưởng


bầu trời đêm xanh sắc biếc  

có thể, gió thiếp ngủ trong quy luật vòng xoay

những hiện thể mơ hồ nụ hôn huyễn mộng 

ảo hình em đẫm màu trăng linh động

dưới chân những rễ cây nhoi lên uốn lượn chào mừng


âm vị của lá ẩm mục reo vui

lửa ma trơi thản nhiên vờn bay cháy sáng lập lòe


lực hấp dẫn từ trăng bàn tay em uyển chuyển 

thần hồn ta ngiêng theo bóng em lung linh

mèo động dục trên mái rêu ngơ ngẩn

trượt chân rơi khẽ khàng tiếng động   


hỡi mây đen, đừng bay ngang qua nhé!

thơ ta âm mưu mang mặt nạ nhập tràng 

múa may theo hiệu ứng đom đóm sao trời nhấp nháy


thế nào thơ cũng choàng ôm ta vỗ về

cần biết chi lịch sử sang trang đang khóc thầm rấm rứt


(đêm một mình uống rượu nhìn trăng)

ttcuchi 8/2024

 khalycham1954@gmail.com



READ MORE - Khaly Chàm - THƠ TA ÂM MƯU MANG MẶT NẠ

TRANG THƠ VỀ THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - Nguyễn Văn Trình

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình


 

Đông Hà khát vọng bay lên

           Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI

 

Đông Hà khát vọng bay cao

đất lửa hồi sinh ước ao đổi mới

thành phố vươn mình đi tới

đón nắng hồng, thêm phơi phới niềm tin

 

Miền đất địa linh, nhân kiệt

và tình người mãi ấm nồng, thân thiết

phố phường phát triển, đổi thay

thêm niềm vui, và tự đến mỗi ngày

 

Đông Hà khát vọng bay lên

đang đổi mới từng ngày trên đất mẹ

con đường rợp bóng cây che

cây xanh tỏa bóng, trưa hè xôn xao

 

Đông Hà khát vọng bay cao

thỏa lòng mong ước đón chào ngày mai

từ trong gian khó, ngày dài

từ nay đổi mới, hương nhài thơm danh

 

Đất này, mãi đất hùng anh

xứng tầm tỉnh lỵ, ghi danh Đông Hà…

                                           NVT



Thành phố ngã ba sông

           Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI


Đông Hà - Thành phố ngã ba sông
Hiếu giang xanh, tắm mình trong nắng mới
Khách sạn Sài Gòn vời vợi những tầng cao
Chợ Đông Hà vui, xôn xao phố thị
Hưng Đạo con đường rộn ràng xe cộ qua
Nhịp sống phồn hoa, đùn lên gương mặt phố
Đông Hà ơi ! Phấp phới ngọn cờ hồng
(1)


Đông Hà - Thành phố ngã ba sông
Em biết không
Thành phố mình đáng yêu là vậy
Chỉ bảy năm
(2) thôi, mà biết bao thay đổi
Đại lộ Hùng Vương vươn dài từng con phố
Những tòa nhà nối nhau san sát
Tầng thấp, tầng cao tạo dáng phố phường
Có ngôi chùa, cổ kính thân thương
Tiếng chuông ngân mỗi sớm, mỗi chiều
Đông Hà phố, gợi niềm yêu quê da diết
Phương trời nào, cũng nhớ một ngã ba sông

 


Đông Hà - Thành phố ngã ba sông
Dòng Hiếu đẹp lụa là mền mại
Như một khúc tình ca, thời con gái
(3)
Huyền Trân
(4). Con đường mang tên người mở cõi
Trận Bạch Đằng trên Sông Hiếu
(5) còn vang
Thạch Hãn thi ca, trầm tư xuôi Cửa Việt
Chở nặng phù sa văn hóa đắp bồi
Hai dòng sông, một ngã ba thương nhớ
(6)
Ôm trọn Đông Hà, thành phố trẻ bên sông
Có dấu ấn Đông Hà trong ký ức
Đẹp xiết bao, thành phố ngã ba này
Nơi bắt đầu con đường xuyên Á
(7)
Rồi tỏa đi, bốn bể năm châu
Nối những nhịp cầu, chung tình bè bạn
Để  Đông Hà, chắp cánh mãi bay xa…!

                                         NVT                                  

-----------------------------------------------------------------------

(1). Đông Hà mới giải phóng ở lô cốt biểu tượng Đông Hà xưa, có
treo lá cờ đỏ sao vàng của Cách mạng và đề 4 câu thơ:
“Xuân về trên đồi cũ,
Phấp phới ngọn cờ hồng
Cả hai tên xâm lược
Chôn một nấm mồ chung”
(2). Chỉ 7 năm: TP Đông Hà thành lập năm 2009, tính đến 2016
được 7 năm.
(3). Nhắc đến mối tình của Huyền Trân công chúa và Trần Khắc
Chung, gắn liền với sự tích trên dòng sông Hiếu Giang và Cửa Việt.
(4). Huyền Trân Công Chúa: Tên một con đường đẹp trước mặt
UBND Thành phố Đông Hà ngày nay.
(5). Trận đánh của quân và dân ta đánh chìm tàu Mỹ trên sông Hiếu.

(6) Đông Hà được ôm trọn giữa hai con sông quê mẹ: Hiếu Giang và Thạch Hãn.
(7). Con đường 9 anh hùng nối với các nước anh em, trên con
đường xuyên Á.



Đông Hà ngày mới  

     Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI

            

Bên em,  Đông Hà ngày mới

Phơi phới cây xanh, gió hát lời ru

Đường phố thanh thang, ríu rít tiếng chim gù

Trời thu, như  xanh màu cây trái

 

                 

Tôi yêu Đông Hà, tự thuở nào thơ dại 

Thành phố nhớ hoài, ngự trị trong tim 

Từ buổi cấp hai, cấp ba mình còn đi học 

Kỷ niệm nào, lưu dấu tuổi học đường 

 

                 

Hiếu Giang xanh, yêu thương biết mấy

Tắm mát tuổi học trò, sông Cái sông Con (*)

Tuổi thơ qua đi, dòng sông còn ở lại

Miệt mài chảy mãi tháng năm trôi

 

                 

Đông Hà quê tôi - thành phố trẻ

Nhịp sống, bừng lên bao hè phố 

Hưng Đạo con đường xưa lá đổ

Dập dìu tài tử, giai nhân

                 

 

Bên em, lang thang bước chân phố thị

Chợ Đông Hà, đông người nói cười rã rích 

Nào bán, nào mua tất bật rộn ràng 

Khách đến, khách đi mang mang xao xuyến 

 

                 

Bên em, Đông Hà thêm lưu luyến 

Bao đổi thay, chuyển mình thời đổi mới

Náo nức, xô bồ Đông Hà đang vươn tới

Vận hội mới, Đông Hà ơi ! đổi mới

Vút bay tầm nhìn, đón gió trùng khơi ... 

 

                                        NVT  

nguyenvantrinh58@gmail.com

(*) Sông Hiếu đi qua chợ Đông Hà có cái Bãi nổi ở giữa sông chia con sông  ra làm 2 nhánh: Nhánh lớn gọi là sông Cái, nhánh nhỏ gọi là sông con .

       






READ MORE - TRANG THƠ VỀ THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - Nguyễn Văn Trình