Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, August 11, 2023

ĐỌC TẬP “THƠ ZULU DC”, PHẦN I - Châu Thạch



Nhà thơ ZuLu DC tên thật Cao Duyến, sinh quán Trà Liên, Triệu Phong, Quảng Trị, tốt nghiệp Hàng Hải Thương Thuyền, Đại học bách Khoa Phú Thọ - Sài Gòn, hiện trú tại California, Hoa Kỳ. 
  
Thật tình, tôi không hiểu vì sao nhà thơ dùng bút hiệu là ZuLu DC. DC có thể Là Cao Duyến tên ông, còn ZuLu nghĩa là gì? Tra cứu trên goole tôi thấy ZuLu là một dân tộc ở Nam Phi. ZuLu theo ngôn ngữ bản xứ có nghĩa là một Thiên Đường. Người ZuLu xem quê hương mình như một Thiên Đường trên trái đất, họ xem trọng trinh tiết cả nam và nữ. Như vậy có thể phỏng đoán Cao Duyến lấy bút hiệu của mình là ZuLu DC để bày tỏ một hoài bảo về những điều tốt đẹp xảy ra trên trái đất nầy, cũng như bày tỏ cả tấm lòng trinh nguyên của ông luôn trung thành với lý tưởng đó.
  
Theo nhà thơ Nguyễn Đại Hoàng thì “ZuLu – trong tiếng Anh có nghĩa là Sky – Bầu trời”. Vậy từ đó cung có thể phỏng đoán Cao Duyên lấy bút hiệu ZuLu DC để bày tỏ một tâm hồn phóng khoáng, tự do, bày tỏ một tình yêu bao la rộng lớn cho tha nhân và cho đất nước quê hương.    
Khi tôi còn ở trong quân đội, lệnh truyền qua máy truyền tin cho những lần khởi hành là ZuLu (đi, di chuyển). Nhà thơ ZuLu DC từng ở trong quân đội, cũng có thể chữ ZuLu ám ảnh, khiến ông đem nó vào đời mình, một cuộc đời luôn đi xa xứ!
   
Zulu DC và Châu Thạch 

Rồi một hôm được nghe bài hát “Bên Đời Có Nhau” phổ nhạc từ thơ ZuLu DC, tôi tìm đọc bài thơ ấy và tôi khẳng định được suy nghĩ của mình về bút hiệu của Cao Duyến có thể đúng. Bài thơ viêt về “Sau CoVid tình người thắm lại/Dân tộc bừng lên từ hồn quê” như một bài hịch. Bài hịch “Bên Đời Có Nhau” với lời thơ êm đềm nhưng sâu sắc, chặt chẽ, sắc bén, khích lệ tình cảm, tinh thần con người đã bệ rạc, bi thiết trong cơn đại dịch. Bài thơ khiến tôi liên nghĩ đến tiếng kèn khi Chúa tái lâm trong Kinh Thánh. Sau tiếng kèn đó, nhân loại có 1000 năm hạnh phúc, loài người với loài người, loài người với loài vật, loài vật với loài vật sống hoà bình, thân ái bên nhau.
  
Bài thơ “Bên Đời Có Nhau” như một khải tượng, một mơ ước, một tiên tri, một lời khuyên cho “tình người thắm lại/ Dân tộc bừng lên từ hồn quê!”. “Bên Đời Có Nhau” kỳ vọng “Chữ nghĩa giờ đây thay áo mới” như là sự đổi mới nền văn hoá trì trệ, kỳ vọng “Mặt giả lâu nay hiện mặt người” như là con người từ bỏ tội lỗi, quay về chân thiện mỹ. Đây là một bài thơ chan chứa, thể hiện niềm ước mơ tươi đẹp của chính mình cho bạn bè, cho anh em và cho cả dân tộc. Bài thơ như tặng mỗi người chúng ta một bông hoa thắm. Nếu mỗi chúng ta cầm bông hoa đó đi trên đường đời thì hạnh phúc sẽ đến với ta và những người lân cận! Tất nhiên thơ chỉ là ước mơ, nhưng những ước mơ thánh thiện đem tâm hồn thanh khiết của nhà thơ làm ngọn gió yêu thương xoa dịu nỗi đau đang xảy ra trên trần thế. 
   
Nhà thơ ZuLu DC sinh ra tại Quảng Trị, nơi biên cương của hai chế độ, nơi có dòng sông Bến Hải giới tuyến của cuộc chiến tranh, nơi có Đại Lộ Kinh Hoàng, có Cổ Thành Quảng Trị mà bom đạn biến thành núi xương sông máu. Nhà thơ ZuLu DC theo học tại Huế, nơi cố đô có hoàng thành, lăng tẩm trầm mặt, mốc meo, có sông Hương núi Ngự nên thơ nhưng buồn hiu hắt. Ra đời, nhà thơ ZuLu DC làm thuỷ thủ lênh đênh trên biển cả. Cuối cùng nhà thơ ZuLu DC đánh mất quê hương, định cư nơi xứ người. Tất cả đã vào thơ, khiến thơ của ZuLu DC có nhiều cung bậc trăn trở, trăn trở ngay trong những lúc có niềm vui.

Nhà thơ Zulu DC 
   Thật vậy, hãy đi vào nơi quê hương mà đất đã hoá tâm hồn tác giả:
 
Quê hương tôi có dòng sông Thạch Hãn
… Đất nước chia hai một nhịp cầu
Từng vết chém thơ rướm máu
Nhìn mặt anh em lòng đau
          (Biết Nói Sao Hơn) 
 
về Quảng Trị
Sông Bến Hải
Như người con gái
Thất tiết trước khi lấy chồng
Thạch Hãn
Dòng sông không phải dòng sông
Nước cạn nguồn đau lòng với đá
(Từ Đàn Nam Giao Đến Sông Thạch Hãn)
 
Cổ Thành dù tan nát 
Vẫn lưu những bóng hình 
… Quảng Trị này Quảng Trị 
Ta là thằng trôi sông 
… Đã bao lần ta gọi 
Quảng Trị - Quảng Trị ơi 
Ta là thằng đi lạc 
Lạc mất quê hương rồi 
                    (Lạc Đời)      

Lấy một ít câu thơ trong nhiều bài thơ mà ZuLu DC viết cho quê hương sinh ra mình làm dẩn chứng, ta đủ hiểu nối đau âm ỉ, tiềm tàng, bất tận trong lòng thi nhân. Nỗi đau ấy đã thành thơ, thơ không có nước mắt, thơ không có tiếng rên, chỉ có lời tâm sự gởi vào tứ thơ ẩn chứa “Từng vết chém thơ rớm máu ”! 
   
Thế rồi nhà thơ đi học xa làng, tuổi thư sinh là tuổi mộng mơ, ghi dấu biết bao nhiêu kỷ niệm trong dòng sông ký ức của đời người. Không thể không nói đến những bài thơ về Huế của ZuLu DC, vì nơi đó có “màu xanh của đất”, “màu xanh của trời” và “Xanh trong lòng tôi” tức là trong lòng nhà thơ ZuLu DC mãi mãi!:
 
Huế ơi Huế ơi
… Huế giữ giùm tôi
Nắng mai đỉnh Ngự
Gió chiều sông Hương
Và những con đường
Có em sóng bước.
               (Kỷ Niệm) 
 
Sông Hương vẫn cứ sông Hương ấy
Nước chảy tang thương đã mấy dòng
Chẳng lẽ về đây ta nín khóc
Là vui là Huế của ta không.
                     (Huế Của Ta)  
 
Anh nhớ vô cùng, anh nhớ Huế ơi
Hương Giang, con nước trôi ngày tháng
Thành quách rêu phong lưu dấu xưa
Chỉ thiếu tình em cùng với Huế
Để anh nhìn em đã HUẾ chưa!
                                 (Lời Hẹn)
  
Nhà thơ ZuLu DC vào đời, trải qua vô vàn biến cố của đất nước làm ảnh hưởng cuộc sống của mình. Ông từng chạy nạn chiến tranh, từng là một thuỷ thủ lênh đênh trên biển, rồi từng là một người lên rừng đốn củi bứt mây, rồi lại lưu lạc xứ người. Cuộc đời nhà thơ trải qua nhiều biến chuyển, nên thơ ông sáng tác là loại thơ trường đời, trăn trở những mất mát xảy ra. Đọc bài thơ “Động Đền” của ông, lòng ta không khỏi cảm hoài những kỷ niệm đẹp không còn nữa ngày nhà thơ quay lại. Động Đền một vùng đất làm dinh điền ở Hàm Tân, Bình Thuận, nơi định cư mới cho những gia đình chạy nạn chiến tranh, cửa nhà và quê hương bị chìm trong khói lửa. Nhà thơ đã định cư ở đây một thời gian, ra đi rồi quay lại để thấy mình không tìm lại được những gì mà ngày trước mình cho là “như đất hứa”. Bài thơ như tiếng thở ra đầy ưu tư của đứa con quay lại mà chốn xưa không còn nhận ra mình. Bài thơ làm rát lòng ta như “dây gàu ba đoạn nối/Quay hoài quay mãi rát bàn tay”:
 
Xưa ta ở cạnh người hàng xóm 
Gặp gỡ đôi lần chẳng nói chi
…Trở lại Động Đền sau cuộc thế
Dốc dài cát bỏng chân ta đau 
 
…Ngụm nước dây gàu ba đoạn nối
Quay hoài quay mãi rát bàn tay
…Động Đền thuở trước như đất hứa
Bây giờ trong ta là nhánh sông
 
…Có một hồi chuông đâu vọng tới 
Mơ hồ nòi giống của ta xưa 
Đớn đau như thể dòng nước mắt 
Buồn như lịch sử trút cơn mưa 
(Động Đền: 34 câu, rút còn 12 câu)
   
Động đền là bài thơ hay tuyệt vời, là bài thơ tường thuật một phần đời ZuLu DC, cũng là một phần đời của hàng vạn con người trong thế hệ của ông phải chịu cảnh “Buồn như lịch sử trút cơn mưa”!
   
Sinh ra và lớn lên giữa thời tao loạn, ZuLu DC cũng như bao chàng trai trong thế hệ của ông, phải đầu quân nhập ngũ. Nhà thơ nhớ đến quân trường xưa và nhớ đến những ngày hành quân gian khổ. Thơ về lính của ZuLu DC đậm chất lãng mạn hơn là khí thế hào hùng, không có bom đạn và hoả châu, chỉ có yêu thương dáng kiều, yêu thương cả khi nhìn người nữ chiến binh phe địch:
 
Đã có một thời tuổi trẻ của chúng ta 
đượm chất thơ bi tráng 
của một thời vói mộng trời cao,
… thời của binh lửa có nhau, 
của dáng kiều thơm mộng mị, 
của những chén rượu sa trường 
hùng khí, 
                (Quân Trường Xưa)
 
Thương quá đôi mắt U-Minh Hạ
Nửa thế kỷ vẫn như hôm qua
Cô gái nhìn ta bằng uất hận 
Ta nhìn cô gái như em ta
        (Đôi Mắt U-Minh-Hạ)
    
Trên đây chỉ đề cập đến một vài bài thơ về một phần đời bôn ba của tác giả. Thơ ZuLu DC còn chất chứa bao nỗi niềm, tạo nên bao vết hằn trong tâm khảm ông. Những nỗi niềm đó đã biến thành thơ nói về mẹ, về em, về tình yêu trai gái, về bạn bè và về những vui buồn đến trong cuộc sống. 
      
Nói về mẹ và em, bài thơ “Trăng Vu Lan” của ZuLu DC có thể làm thành suối lệ trong những tâm hồn nhạy cảm với thơ:
 
TRĂNG VU LAN
 
Đọc bài thơ em viết
Anh thành ra đứa bé
Ở một góc trời lạ
Thương mẹ và nhớ em
… Bao nhiêu là cây xanh
Bao nhiêu là hoa lá
Là bấy nhiêu lòng anh
Là yêu thương nhớ mẹ
…Mẹ giờ thân hoá đá
Em giờ hiu hắt thêm
(Bài thơ 25 câu, rút còn 10 câu)
   
“Đọc bài thơ em viết/ Anh thành ra đứa bé” cho ta hiểu rằng nước mắt đã chảy thành dòng trên những trang thơ. Không có đứa bé nào “Thương mẹ và nhớ em” mà không khóc thành tiếng, không khóc nức nở, không có dòng lệ trôi dài trên đôi gò má. Nhà thơ ZuLu DC chắc chắn cũng vậy khi ông nói rằng ông thành ra đứa bé. Trăng mùa Vu Lan cũng là trăng mùa Mưa Ngâu. Khác một chút là mưa ngâu ở trăng thượng tuần, nước mắt của Ngưu Lang - Chức Nữ đổ xuống trần gian. Bài thơ “Trăng Vu Lan” nhà thơ nhắc đến mẹ và em, cho ta một liên tưởng đau lòng đến sự chia ly cách trở trong mùa Mưa Ngâu. Sự chia ly cách trở của xưa và nay đều đau khổ như nhau.
 
(CÒN TIẾP, VÌ BÀI DÀI NÊN XIN MỜI ĐỌC PHẦN II ĐĂNG SAU. CẢM ƠN QUÝ VỊ ĐÃ XEM!)
 
 Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC TẬP “THƠ ZULU DC”, PHẦN I - Châu Thạch

Thursday, August 10, 2023

47 RONIN - KHÚC BI TRÁNG TRONG LỊCH SỬ NHẬT BẢN - Nguyễn Khắc Phước


Tiểu thuyết “47 Ronin” của Ichikawa




Câu chuyện cảm động về lòng trung thành dưới đây là một câu chuyện có thực trong xã hội Nhật Bản dưới thời Edo và dần dần nó trở thành một câu chuyện anh hùng trong nhân dân Nhật Bản, được các nhà biên kịch viết lại dưới dạng Kabuki (một loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản) và các tiểu thuyết gia đưa vào trong tập sách “Chushin Gura” (kho tàng các truyện trung nghĩa). Chuyện này đã được đạo diễn thiên tài Akira Kurosawa dựng thành phim và bộ phim này đã được trình chiếu một lần ở VN.

Vào năm 1701, nước Nhật được Tướng quân (Shogun) Tokugawa Tsunayoshi cai trị từ lâu đài Edo (Thiên Hoàng chỉ có hư vị). Mặc dù có tính lập dị, nhưng ông khuyến khích chủ thuyết Tân khổng giáo và có biện pháp kềm chế bạo lực của giới quân nhân Samurai.

Hằng năm vào dịp Năm Mới, các Tướng Quân có lệ cho phái đoàn mang lễ vật đến biếu Hoàng Đế ở Kyoto, và vào mùa xuân, Hoàng đế lại cho phái đoàn của mình mang quà đến biếu các Tướng Quân

Lâu đài Edo




Năm 1701, Tướng Quân Tokugawa chọn hai lãnh chúa trẻ: Asano Naganori từ lâu đài Ako, tỉnh Harima và Date từ tỉnh Sendai để tiếp phái đoàn của Hoàng Đế. Để bảo đảm các nghi thức được tuân thủ và sợ rằng sự thiếu kinh nghiệm của hai lãnh chúa sẽ gây khó khăn, Tướng Quân chọn một vị quan cao cấp hơn tên là Kira Yoshinaka để cố vấn giúp đỡ.

Theo truyền thuyết, Kira là một tay vô lại, tham lam và hách dịch. Ông ta thường xuyên gây sự với Asano, buộc người này tội vô lễ (vì không nộp đủ quà cáp cho ông ta). Sau hai tháng bị công khai lăng mạ và sĩ nhục, Asano không thể chịu đựng được nữa. Ngày 14 tháng Ba, trong lâu đài Edo, Asano phẫn nộ rút kiếm đánh Kira làm ông này bị thương nhẹ.

Đối với Tướng Quân Tokugawa, tai nạn này không thể chịu đựng được. Bao lâu nay nghiêm khắc áp dụng luật để ngăn ngừa bạo lực trong giới Samurai, nay lại phải đối mặt với việc chính người đại diện cho mình bị vi phạm, lại vi phạm ngay trong lâu đài Edo là một điều cấm kị. Quyết định được đưa ra ngay lập tức: Asano phải mổ bụng tự sát hoặc bị treo cổ. (Kira không bị trừng phạt, và sau khi lành vết thương, ông ta lại tiếp tục nhiệm vụ.)

Một quân nhân Samurai trẻ, hầu cận của Asano được gởi về lâu đài ở Harima báo tin dữ. Theo luật, nếu một lãnh chúa bị tội chết, lâu đài và lãnh địa ông ta sẽ bị tịch thu. Asano có 312 Samurai dưới quyền và tất cả họ đều sẽ bị mất nhà cửa, đất đai và lợi tức. Họ trở thành những võ sĩ vô chủ, thất nghiệp.

Chủ tịch hội đồng của tỉnh Hirama tên là Oishi Kuranosuka tức giận vì những trò đốn mạt của Kira và vì ông này không bị trừng trị, đồng thời Oishi phải đối diện với tương lai đen tối và bất an, quyết định tìm cách thỉnh nguyện với Tướng Quân. Ý tưởng của Oishi là xin Tướng Quân cho phép Anaso Daigaku (em trai của Asano Naganori) được thay anh lãnh đạo gia đình (bao gồm cả 312 võ sĩ) với cấp bậc lãnh chúa. Có 60 võ sĩ không đồng ý với việc thỉnh nguyện và rời lâu đài.

Lâu đài Ako.




Kế họach này thất bại. Asano Daigaku (lúc đó đang ở Kyoto) gởi thư cho Oishi yêu cầu giao lâu đài lại cho đại diện củaTướng Quân và tuân thủ luật pháp để khỏi làm cho dòng họ Asano bị tiêu vong.

Trước khi rời lâu đài, Oishi và 59 người khác cùng thỏa hiệp quyết báo thù và khôi phục danh dự cho lãnh chúa của họ.

Lo sợ đang có âm mưu báo thù, Kira không dám rời lâu đài Edo nửa bước, đồng thời Asano Daigasu cũng bị Tướng Quân quản thúc chặt trong lâu đài.

Trong khi các võ sĩ vô chủ mỗi người tản mát một nơi, Oishi tìm đến Kyoto và chẳng bao lâu ông ta trở thành tay bài bạc, nghiện ngập, thường xuyên có mặt ở quán Ichiriki để thưởng thức gái đẹp, rượu ngon, thực ra là để đánh lừa. Đồng nghiệp của Oishi cũng tìm cách để Kira tưởng rằng họ đã từ bỏ việc báo thù bằng cách làm nghề thương lái hoặc bán dạo (những công việc không đáng để một võ sĩ thất nghiệp làm) và các hoạt động vô hại khác. Từng người một, giấu nhẹm hành tung, bí mật tìm đến Kyoto và tiếp cận lâu đài Edo.

Sau một thời gian, Kira bớt lo lắng, bắt đầu rời lâu đài ngày một thường xuyên hơn và thường đến quán Ichiriki tổ chức tiệc tùng. Các võ sĩ bắt đầu thu thập về đường đi, chỗ đến và thói quen của Kira.

Tụ họp các võ sĩ lại, Oishi quyết định cùng 46 người sẽ tham gia vào cuộc tấn công.

Ngày 14 tháng 12, 1702, sau khi nhận được thông tin Kira sẽ tổ chức tiệc trà tại quán Ichiriki, 47 võ sĩ vô chủ núp dưới trời mưa tuyết bất ngờ tấn công vào chỗ của Kira.

Trận đánh khốc liệt giữa các võ sĩ và thuộc hạ của Kira diễn ra chừng một tiếng rưỡi, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Tất cả thuộc hạ của Kira đều bị giết hoặc bị bắt. Riêng Kira thì mất tăm. Họ lục lọi tìm kiếm mọi ngõ ngách cho đến khi tìm thấy Kira trong một nhà tiêu bên ngoài. Bị lôi ra giữa sân, ông ta được cho cơ hội chuộc lỗi bằng các tự mổ bụng. Ông ta không chịu và bị chặt đầu. Các võ sĩ tìm đường đến nghĩa trang ở Sengaku-ji, đặt đầu Kira trước mộ của Asano Nagonuri.

Giết một vị quan, cho dù là để báo thù cũng phạm tội treo cổ. Họ biết rõ số phận đang chờ mình. Thế nên, thay vì bỏ trốn, Oishi cho hai võ sĩ đến liên lạc với quan tòa của Tướng Quân và đợi ông ta đến bắt.

Đền thờ 47 Ronin ở Sengaku-ji, Tokyo





Hành động ấy khiến cho Tướng Quân Tokugawa rất khó xử. Ông ta có cảm tình với các võ sĩ vì lòng tận tụy trung thành của họ, chứng tỏ họ tin tưởng vào thuyết tân khổng giáo do ông đề xướng. Cho đến lúc bấy giờ, ông đã biết rõ căn nguyên sự xung đột giữa Asano và Kira và ông cũng biết được sự ủng hộ của dân chúng ở khắp nước, đặc biệt ở Kyoto và Hirami và của nhiều thuộc hạ của ông dành cho các võ sĩ.

Treo cổ các võ sĩ phạm tội là đúng luật. Không thực hiện luật là làm nó mất tác dụng.

Rốt cục, Tướng Quân dựa theo luật chiến tranh, thay vì treo cổ họ thì ông ra lệnh cho họ được mổ bụng tự sát . Họ không chết như tội phạm mà chết một cách danh dự như một quân nhân samurai. Tội của họ bị trừng phạt nhưng lòng trung thành của họ được ca ngợi.

Họ chia thành bốn nhóm và lần lượt tự mổ bụng trước sự chứng kiến của bốn lãnh chúa. Hôm đó là ngày 14 tháng Hai, 1703. Chỉ một trong số 47 người đó được tha mạng. Anh là người trẻ tuổi nhất trong nhóm và cũng chính là người đã quay trở lại Hirami để báo tin về cái chết của Asano. Bốn mươi sáu Ronin còn lại được chôn bên cạnh nhau quanh mộ Asano Nagonori.

Khói hương nghi ngút trước mộ của các Ronin.



Ronin trong tranh khắc gỗ Nhật Bản.





NGUYỄN KHẮC PHƯỚC

Tổng hợp và dịch từ báo chí nước ngoài.

* Ronin, tức những võ sĩ đạo không có người lãnh đạo, không có lãnh chúa hoặc người cầm đầu.

READ MORE - 47 RONIN - KHÚC BI TRÁNG TRONG LỊCH SỬ NHẬT BẢN - Nguyễn Khắc Phước

THU SANG - Thơ Đoàn Trung Phong

 

Nhà thơ Đoàn Trung Phong

THU SANG 


Sớm nay có mùi hương cốm
Vương theo vạt nắng hanh vàng
Quả thị trên cành lúc lỉu 
Mẹ ngồi nhẩm mấy thu sang.

Đồng quê gối đầu rơm rạ 
Bóng cha sấp ngửa luống cày
Trời thu cơn mưa cũng lạ
Thoắt buồn gợi gió heo may.

Con tìm tháng ngày xưa cũ
Lắng trong cổ tích của bà
Thu còn xạc xào ngõ nhỏ
Chăng còn kỷ niệm vời xa.

                         Đoàn Trung Phong 
     —————————————-


Họ tên: Đoàn Trung Phong 
Đc;  Xóm Quỳnh Khôi, xã Khánh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
READ MORE - THU SANG - Thơ Đoàn Trung Phong