Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 27, 2017

CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ KHOA TRƯƠNG TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA - TS. Nguyễn Ngọc Kiên


    

       CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ KHOA TRƯƠNG
       TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA
                                               TS. Nguyễn Ngọc Kiên

Như ở bài trước chúng tôi đã nói, khoa trương trong “Huynh đệ” của Dư Hoa không phong phú và phức tạp như khoa trương trong tác phẩm của Mạc Ngôn. Trong bài này chúng tôi tiếp tục giới thiệu các phương tiện biểu thị khoa trương trong tác phẩm “Huynh đệ”.
1. Khoa trương ở cấp độ từ / ngữ
1.1. Sử dụng động từ biểu thị khoa trương
Ví dụ:
(1) “我的屁股从来只让你一个人看,现在让这个小流氓偷看了,这世上见过我屁股就有两个人啦,我可怎么办呀?你快抽他呀!抽他脸上的眼睛!”
(- Mông em xưa nay chỉ để một mình anh nhìn, bây giờ đã để thằng nhóc lưu manh này nó nhòm trộm, vậy là đã có hai người nhìn thấy mông em, em biết làm thế nào anh ơi, anh hãy mau tát vào mặt nó! Móc mắt nó đi!)
Như vậy, động từ khoa trương có thể đem lại những giá trị thẩm mĩ nhất định, nhưng bản thân động từ không thể đơn độc thực hiện khoa trương, mà là kết quả của sự kết hợp giữa động từ và tân ngữ. Nhưng động từ là điều kiện để cấu thành khoa trương, đồng thời cũng là tiêu chí khoa trương ngoại tại. Nó không chỉ từ ngoại tại trên thị giác kích thích độc giả mà còn thông qua sự phối hợp ý nghĩa của các hình tượng khác để nói quá sự thật, tạo nên sức hấp dẫn thẩm mĩ của tâm lí. Đối với một số động từ nội động, nó phải được đặt trong ngữ cảnh thì mới có thể thực hiện khoa trương. Chẳng hạn, Dư Hoa dùng các động từ mạnh để diễn tả hành vi đe dọa đối phương:
(2) 小关剪刀和余拔牙也狠狠地发誓了,小关剪刀发誓要剪掉李光头的屌,剪掉李光头鼻子耳朵,剪掉李光头的手指脚趾;余拔牙发誓要拔光李光头嘴里的牙齿,拔掉李光头身体里的骨头。就是这样他们仍然不能解气,他们又剪又拔地继续发誓,发誓要把李光头剪拔成一个残疾大全。
(Tiểu Quan và ông Dư cũng hằm hằm thề độc. Tiểu Quan mài kéo thề phải cắt dái Lý Trọc, cắt mũi cắt tai Lý Trọc, cắt ngón tay ngón chân Lý Trọc. Ông Dư nhổ răng thề phải nhổ răng trong mõm Lý Trọc, phải rút xương trong thân thể Lý Trọc. Cho dù đã thề như vậy, các ông vẫn không hả giận, các ông tiếp tục thề độc lại cắt lại nhổ, phải cắt phải nhổ Lý Trọc thành một một quyển đại từ điển tàn tật.)
(3)  “不割下他的脑袋,”小关剪刀喊叫起来,“也要割下他的两个蛋子。”
(    - Không nhất thiết phải cắt đầu hắn. 
     - Không cắt được đầu hắn - Tiểu Quan mài kéo nói to - cũng phải cắt hai hòn dái hắn.)
 Có người cho rằng, nếu như Mạc Ngôn là một “chuyên gia” viết về ngực phụ nữ thì Dư Hoa là một “chuyên gia” viết về mông đàn bà. Để diễn tả ý, ngày nay nhìn đâu cũng thấy mông đàn bà, Dư Hoa đã sử dụng các cụm động từ “dụi mắt”, “hắt hơi”, rẽ ngoặt” thật là đắt:
(4) 现在 女人的光屁股不值钱,揉一揉眼睛就会看到,打一个喷题就会撞上,走路拐个弯就会踩着。
(Mông của đàn bà thời nay đã mất giá, dụi mắt một cái là trông thấy, hắt hơi một cái là đụng phải, rẽ ngoặt một cái là dẵm phải)
Hay khi Dư Hoa dùng hình ảnh “thịt mọc lấn vào óc” để miêu tả một kẻ “hữu dũng vô mưu”:
 (5) 刘作家趁势骂了李逵几句,说那是个有勇无谋的马大哈,浑身的肌肉都长到脑子里去了。
(Nhân thể, nhà văn Lưu toang toác chửi Lý Đạt mấy câu. Anh ta bảo thằng cha ấy là chúa tể qua loa đại khái, hữu dũng vô mưu, khắp người toàn cơ bắp, nung núc những thịt là thịt, thịt mọc lấn cả vào óc)
1.2. Sử dụng đại từ biểu thị khoa trương
Trong tiếng Trung Quốc, những đại từ có thể biểu thị khoa trương chủ yếu là đại từ nghi vấn dùng với nghĩa mở rộng. 
Đại từ几 (mấy, vài) trong tiếng Hán được dùng trong câu nghi vấn, chỉ số ước lượng thường là nhỏ hơn mười. Khi kết hợp với danh từ để tạo ra đoản ngữ danh từ bắt buộc phải có sự tham gia của lượng từ, trừ những danh từ có tính chất như lượng từ (danh từ kiêm lượng từ). 
Cũng với ý nghĩa nhỏ hơn mười, đại từ 几còn được dùng trong câu khẳng định biểu thị một con số bất định. Ngoài ra, 几 còn có thể được dùng để biểu thị khoa trương. Chẳng hạn, Dư Hoa viết:
(6) 这个老地主卧床不起,几天才吃下几口米饭,喝下几口水,瘦得只剩下一把骨头。(余华《兄弟》)
(Lão địa chủ nằm liệt giường, mấy ngày mới húp vài hớp cháo, uống vài ngụm nước, gầy chỉ còn da bọc xương.)
Trong câu trên, 几口米饭 (vài hớp cháo),几口水 (vài ngụm nước) là số ước lượng chỉ số lượng rất ít.
1.3. Sử dụng số từ biểu thị khoa trương
 Ví dụ:
(7) 现在童铁匠气得脸比铁还要青了,他扬起了他打铁用的大手掌  ,打铁似的“啪”地一声揍在李光头的脸上,让他一头栽倒在地,让他当场掉了两颗牙,让他眼睛里火星飞溅,让他半个脸呼呼肿了起来,让他耳朵里的响声嗡嗡叫了一百八十天。
(Bây giờ thợ rèn Đồng tức giận đến nỗi mặt xám ngoét, hơn một thỏi sắt nguội, anh vung bàn tay hộ pháp vẫn để rèn sắt, tát vào mặt Lí Trọc “bốp” một cái như búa bổ, khiến cậu bé ngã dúi đầu xuống đất, rụng hai cái răng, mắt mũi cậu nẩy đom đóm tối sầm lại, nửa mặt cậu sưng húp lên, tai kêu ong ong một trăm tám mươi ngày)
Cũng cần khẳng định rằng, ý nghĩa của các con số có mối quan hệ không thể tách rời với văn hóa của mỗi dân tộc. Các dân tộc khác nhau ưa chuộng sử dụng những con số khác nhau. Chẳng hạn, người Hi Lạp thích dùng số “60” và bội số của “60”. Trong văn hóa Hi Lạp, con số “360” được sử dụng với ý nghĩa “nhiều”; ở đây, “360” đã mất đi ý nghĩa gốc của số từ, mà chỉ còn mang nội hàm văn hóa nhất định. Chẳng hạn: The number of students in the hall is only 360 (lots) (Số sinh viên trong hội trường này rất nhiều [360]).
Trong khi đó, người phương Đông lại thích dùng con số “10” và những số “gấp mười” 10, 100, 1000 v.v… Đặc biệt là trong văn học, các tác giả thường sử dụng các số từ “trăm”, “nghìn”, “vạn” với nghĩa “nhiều” làm cho tác phẩm thêm phần hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng của độc giả. Ví dụ:
(8) 刘作家很高兴,酒逢知己千杯少。
(Nhà văn Lưu rất vui, rượu tri kỉ nghìn chén vẫn còn ít)
 (9)李光头呜咽地唱了起来:“天大地大不如党和你们的恩情大,爹亲娘亲不如毛主席和你们亲,千好万好不如社会主义和你们好,河深海深不如你们的阶级友爱深……”
(- Lý Trọc nghẹn ngào cất tiếng hát - Trời to đất to không to bằng ân tình của Đảng và bà con, bố thân mẹ thân không thân bằng Mao chủ tịch và bà con, ngàn tốt vạn tốt không tốt bằng chủ nghĩa xã hội và bà con, sông sâu biển sâu không sâu bằng tinh hữu ái giai cấp có bà con)
Tuy nhiên, điều này cũng không thật tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào thói quen của người sử dụng ngôn ngữ trong từng trường hợp cụ thể. 
Chẳng hạn, số 7, theo nhà Phật có ý nghĩa là quyền năng mạnh nhất của mặt trời. Những người theo đạo Phật tin rằng trong suốt tháng 7 (âm lịch) tất cả linh hồn trên thiên đường và địa ngục sẽ trở lại dương gian. Con số 7 còn tượng trưng cho sự thành tựu sinh hóa cả vũ trụ không gian là đông,tây, nam, bắc; thời gian là quá khứ, hiện tại, tương lai. Thất bảo (Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Trân châu, Mã não). Thời cổ cho rằng có 7 mặt trời hoạt động xung quanh và chiếu sáng cho trái đất, loài người nhận thức có 7 tầng trời khác nhau, cùng với 7 sắc cầu vồng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ của số 7. Số 7 đem lại sức sống cho vạn vật, đem lại ánh sáng và hy vọng cho loài người.
Còn từ xưa tới nay, số 9 luôn được coi như là biểu trưng của sự quyền uy và sức mạnh: Ngai vua thường đặt trên 9 bậc, vua chúa thường cho đúc cửu đỉnh (9 cái đỉnh) để minh họa cho quyền lực của mình. 
Chẳng hạn, Dư Hoa viết:
(10) “来日方长呢,谁是落水狗还难说: “老子以后弄一辆超大型永久牌,前面坐西施,后面载貂蝉,怀里抱个王昭君背上驮个杨贵妃。老子带着这古代四大美人骑上他妈的七七四十九天,从当代骑到古代去,再从古代骑到当代来,老子高兴了还要骑未来去。。。”
(- Sau này ông sẽ sắm một chiếc xe mác Vĩnh Cửu siêu hạng, đằng trước ngồi Tây Thi, đằng sau chở Điêu Thuyền, trong lòng ôm Vương Chiêu Quân, lưng cõng Dương Qúy Phi. Đem theo “tứ đại mỹ nhân” cổ đại, đ. mẹ, ông sẽ cưỡi bảy bảy bốn mươi chín ngày, từ đương đại cưỡi đến cổ đại, lại từ cổ đại cưỡi đến đương đại, khoái quá ông còn phải cưỡi đến tương lai cho chúng mày trắng mắt ra)
1.4. Sử dụng thành ngữ khoa trương
“Thành ngữ là một cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu tạo thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu”. [6, tr.271]
Xét về vai trò ngữ pháp trong câu, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ; vì vậy chúng tôi đã xếp thành ngữ vào mục này. Ví dụ:
(11) 接下去第三个女人来了,手里拉着一个四五岁的小男孩,她倒是没哭,她比前两个都冷静,她义正词严地控诉李光头,说李光头当初山盟海誓,要和她结婚要和她白 头到老,她才上了李光头的贼床,才有了这个李光头的孽种。
(Rồi cô gái thứ ba. Tay cô dắt một cậu bé bốn năm tuổi. Cô này không khóc, bình tĩnh hơn hai cô trước. Cô thẳng thắn tố cáo Lý Trọc. Cô bảo, dạo ấy Lý Trọc chỉ non thề biển, hứa sẽ lấy cô, sẽ sống đến bạc đầu, cô mới leo lên cái giường chết rấp của Lý Trọc, mới có cái giống lạc loài Lý Trọc.)
Trong câu trên, 山盟海誓 (thề non hẹn biển) là một thành ngữ khoa trương.
1) Thành ngữ có chứa các con số
(12) 我们刘镇的男群众个个百感交集。
(Cánh nam giới thị trấn Lưu chúng tôi anh nào anh nấy ngổn ngang trăm mối tơ vò)
(13) 不管是刮风下雨,还是雪花飘飘,他的永久牌都是一尘不染,比他的身体还干净,他一个月也就是洗澡四次,可他的永久牌天天都要擦。
(Mặc dù mưa gió hay bão tuyết, xe của Tống Cương vẫn không bám một hạt bụi, còn sạch hơn cơ thể anh. Mỗi tháng anh cũng chỉ tắm gội bốn lần, nhưng xe đạp Vĩnh Cửu của anh ngày nào cũng phải lau chùi)
2) Thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể
(14) 李光头把两个爱情的炒作者揍得刻骨铭心,从此不敢追求林红了,
(Lý Trọc đánh cho hai kẻ xào xáo tình yêu một trận thập tử nhất sinh khắc cốt ghi xương, từ đó không dám theo đuổi Lâm Hồng.)
3) Các trường hợp khác
(15) 一个星期以后,李光头求婚之心又死灰复燃,重新兴致勃勃得追求起了林红。
(Sau bảy ngày, trái tim cầu hôn của Lí Trọc như tro tàn bùng cháy, lại hăng hái theo đuổi Lâm Hồng)
 (16) 宋钢从此春风得意,他骑着永久牌风驰电掣,在我们刘镇的大街小巷神出鬼没,亮闪闪的自行车///群众眼花缭乱
(Cưỡi xe đạp Tống Cương phóng vù vù, xuất quỉ nhập thần trên phố lớn ngõ nhỏ thị trấn Lưu)
 (17) 李光头没有见过他的亲生父亲,在他出生的那一天,他的父亲臭气熏天地离开了人世。
(Lý Trọc không biết mặt bố đẻ, ngày Lý Trọc chào đời, bố cậu ra đi với tiếng xấu ngút trời) 
(18) 每走一步都让她感觉到噩耗的临近,当她水深火热般地走出汽车站时,两个像是在垃圾里埋了几天的肮脏男孩对着她哇哇大哭。
(Khi bước ra khỏi bến xe với tâm trạng nước sôi lửa bỏng, hai đứa con nhem nhuốc như chôn trong đống rác đã hai hôm…) 295
2. Khoa trương ở cấp độ câu
2.1. Sử dụng bổ ngữ trình độ biểu thị khoa trương
Bổ ngữ trình độ trong tiếng Hán là loại bổ ngữ nói lên mức độ đạt được của hành vi, động tác hoặc cảm giác, trạng thái . Ví dụ:
(19) 李光头气得胸膛里像拉风箱一样呼哧呼哧得响。
(Lí Trọc tức đến nỗi cứ thở hổn hà hổn hển, như kéo bễ trong lồng ngực)
1) Bổ ngữ có sự tham gia của trợ từ 得 (de)
+ Sau 得 có thể là một cụm chủ vị
Biểu thức: 得 S - P
(20) 他们馋得都快昏过去了,把瓜子豆子和硬糖一口气放进了嘴里,把自己的嘴巴一下子赛满了,塞得像屁股一样园鼓鼓的嘴巴都不能动了,他们才发现自己还是什么都没吃着。
(Chúng thèm đến nỗi sắp ngất đi, nhét ráo hạt dưa hạt đậu và kẹo cứng vào đầy mồm, nhét tới mức mồm căng phồng như mông đít, không nhai nổi, chúng mới nhận ra mình chưa ăn được gì)
+ Sau得 là kết cấu động từ 
Biểu thức: 得 V – O
(21) 林红是我们刘镇美人中的美人,上了年纪的男人和年轻的男人,还有正在发育的男人,见了她都是目不转睛一脸痴呆,流口水的比比皆是,还有人见了她一阵激动得流出了鼻血。
(Lâm Hồng là một người đẹp trong những người đẹp của thị trấn chúng tôi. Những người đàn ông luống tuổi và đàn ông trẻ, có cả loại đàn ông choai choai đang phát dục gặp Lâm Hông, ai ai cũng chăm chắm thuỗn mặt ra nhìn, thèm đến nhỏ dãi, có kẻ nhìn thấy Lâm Hồng còn xúc động đến hộc máu mũi nữa là đằng khác)
(22) 那个医院的门房已经认出李兰了,他一个上午都在奇怪地看着这个天亮前把他吓得尿了裤子的女人。
(Ông già gác cổng đã nhận ra Lí Lan, cả một buổi sáng, ông cứ ngạc nhiên nhìn người đàn bà đã từng khiến ông sợ vãi đái trước lúc rạng đông)
+ Sau là 得một thành ngữ
(23) 宋钢让他们羡慕得死去活来。
(Anh chàng Tống Cương số đỏ khiến họ hâm mộ đến nỗi muốn chết đi sống lại)
Trong câu trên, 死去活来 (chết đi sống lại) là một thành ngữ.
2) Bổ ngữ không có sự tham gia của trợ từ 得 (de)
(24) “忙死啦,”李光头晃着脑袋说,“我在上海忙死啦,理发的时间都没有。”
(- Bận sắp chết bà ạ - Lý Trọc lắc lư cái đầu nói - Ở Thượng Hải cháu bận sắp chết, không có thời gian cắt tóc)
2.2. Sử  dụng cấu trúc cường điệu “连…也/都...” (ngay cả … cũng…) biểu thị khoa trương
Trong tiếng Hán, người ta thường dùng cấu trúc “连…也/都...” để nhấn mạnh một hành vi, động tác hoặc một đối tượng nào đó. Bộ phận đặt giữa “连…也/都...” có thể là danh từ (ngữ danh từ), động từ (ngữ động từ) hoặc đại từ tạo thành đoản ngữ giới tân. Chức năng của 连 (ngay cả) là ngầm đưa ra tiêu điểm so sánh của chủ đề. Tân ngữ của连 (ngay cả), tức là tiêu điểm so sánh, nêu một ví dụ nổi bật, chẳng hạn như tốt nhất, xấu nhất, to nhất, nhỏ nhất, cần thiết nhất…, sau đó nói rõ một tình huống hoặc một kết luận thông thường. Hay nói cách khác là đưa ra một tình huống cực đoan nhất để nói rõ một sự thực, một lí lẽ, một tình huống. Cái ý ngầm so sánh của cấu trúc này là: đối tượng được nhấn mạnh mà còn như vậy thì những cái khác đừng nói làm gì.
(1) Thành phần nhấn mạnh (sau 连) là chủ ngữ:
(25) 其他女工也站主了脚,她们嬉笑着说林红真是美名远扬,连穿开裆裤的孩子都知道她。 
(Các cô cười khúc khích trêu Lâm Hồng đúng là tên đẹp vang xa, ngay đến trẻ con mặc quần thủng đít cũng biết)
(26) 只要是棵树,上面肯定挂着树叶;只要是个刘镇的人,这人的嘴边就会挂着那句口头禅。连吃奶的婴儿呀呀学语时,也学起了这句拗口的文言文。
(Chỉ cần là cây thế nào cũng có lá, chỉ cần là người của thị trấn Lưu, thì ai cũng có câu thiền ấy ở cửa miệng. Ngay đến trẻ con còn bú, khi i a tập nói, cũng học được câu văn ngôn trục trặc này)
  (2) Thành phần nhấn mạnh (sau 连) là tân ngữ:
Trong trường hợp nhấn mạnh tân ngữ, 连được đặt sau chủ ngữ, trước động từ vị ngữ. Ví dụ:
 (27) 塔站了很长时间,夜晚静得连针掉在地上的声音都没有,后来有两只猫蹿到屋顶上。
(Đêm đã về khuya, tĩnh lặng đến mức ngay cả cái kim rơi cũng nghe thấy, sau đó có hai con mèo nhảy lên nóc nhà, chúng đuổi nhau kêu thảm thiết)
 (28) 此后李光头学聪明了,他不再供应免费的午餐,在那些假装亲热的男群众面前,李光头守口如瓶,连根阴毛的影子都不会透露。
(….trước lũ đàn ông giả vờ tỏ ra thân thiết, cậu đã giữ kín như bưng, ngay đến một cái lông mao cũng không tiết lộ)
- Trong cấu trúc này ta có thể dùng 就是 để thay thế cho 连 với ý nghĩa  即使 (dù/ dù rằng/ dù… có đi chăng nữa), 哪怕 (dù là/ dẫu là/ dù cho), biểu thị giả thiết hoặc nhượng bộ. Ví dụ:
(29) 刘作家幸福得眼睛眯成了一条缝,他清脆地一口一口咬着苹果,清脆地在嘴里嚼着苹果,就是往肚子里吞的声音都是清脆的。
(Nhà văn Lưu sung sướng đến nỗi mắt híp lại thành đường chỉ, anh ta cắn từng miếng táo giòn tan, nhai rau ráu, ngay đến tiếng nuốt vào bụng cũng thơm ngon)
(30) 那时候的公共厕所和现在的不一样,现在的公共厕所里就是用潜望镜也看不见女人的屁股了。
(Nhà vệ sinh công cộng bây giờ có dùng đến kính tiềm vọng cũng chịu chết, không sao nhìn thấy mông đàn bà)
                (Còn nữa, kì sau đăng tiếp)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb   Giaó dục.
5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. 黄伯荣,廖序东 (2002)“现代汉语”,高等教育出版社。
8. 王希杰 (2007)“汉语修辞学”,商务印书馆。
9.张挥之(2002)“现代汉语” 高等教育出版社。
10.   余华 - 兄弟  - 小说在线阅读- 努努书坊

READ MORE - CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ KHOA TRƯƠNG TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA - TS. Nguyễn Ngọc Kiên

Thursday, January 26, 2017

GỬI BẠN THƠ NGUYỄN THỊ VINH - Thơ Nguyễn Khôi

  
                       Nhà thơ Nguyễn Khôi

READ MORE - GỬI BẠN THƠ NGUYỄN THỊ VINH - Thơ Nguyễn Khôi

BÊN BỜ SÔNG - thơ Nguyễn Khắc Phước




BÊN BỜ SÔNG

Đi thong dong
Ra bờ sông
Ngó mông lung
Vào vô cùng

Mây đang trôi
Trăng đang trôi
Ngày đang vơi
Thời gian vơi

Không vấn vương
Không chán chường
Cõi vô thường
Cõi vô lường

Chiếc lá vàng
Trôi trên sông
Nó không màng
Đến thiên đàng

Ai đưa tôi
Vào vực sâu
Thả tôi rơi
Để xem chơi

Tôi đang rơi
Tôi đang bơi
Vào cõi trời
Cõi không lời

Trong nguyên sơ
Không bến bờ
Bay vô tư

Đám bụi mờ... 

         
            Nguyễn Khắc Phước

READ MORE - BÊN BỜ SÔNG - thơ Nguyễn Khắc Phước

NHÀ - Nguyễn Đức Tùng


Tác giả Nguyễn Đức Tùng


NHÀ 

Nguyễn Đức Tùng


Một người hàng xóm mới dọn vào. Đó là một người đàn ông da trắng, cao, rắn chắc, khoảng ngoài bốn mươi nhưng tóc đã bạc, hàm râu không cạo lốm đốm. Trò chuyện làm quen qua mấy bụi sơn trà, anh hỏi: đằng ấy đã ở đây bao lâu? Khi biết tôi ở một chỗ gần mười năm, anh tròn mắt ngạc nhiên: lâu thế kia à? Trong cuộc sống nhiều thay đổi hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn, người ta ít khi nào cư ngụ lâu một nơi: mười năm đối với nhiều người là lâu lắm. 

Mỗi khi về nước, tôi thường đi dọc đường Trương Minh Giảng, ghé đại học Vạn Hạnh, tức đại học Sư Phạm ngày nay, trước tôi có một người bạn gái học ở đó, hay đi trên con đường trước bệnh viện Biên Hoà, gần căn nhà quen thuộc của nàng, thấy mỗi năm hay vài năm các tên đường, tên hẻm, lại bị đổi một lần. Đổi tên xoành xoạch nhiều như thế thì trẻ em lớn lên làm sao có ký ức bền vững? Thanh niên làm sao có tuổi thơ thơ mộng? Chúng yêu nước ra sao?

Có lẽ một phần vì vậy mặc dù nhu cầu gia đình mỗi ngày một lớn, khi nhiều người cùng lúc đến thăm không có phòng riêng để ngủ, phải nằm lăn trên sàn nhà, mà bạn bè của tôi thì đông, tôi vẫn ngoan cố không chịu đổi nhà. Bạn có bao giờ nghĩ đến việc lập một danh sách những ngôi nhà mà mình đã từng sống qua?

Bảy năm đầu tiên của đời mình, ngôi nhà của cha mẹ tôi là nhà tranh vách đất sau hòa bình lập lại, chia đôi đất nước. Sau đó chúng tôi chuyển qua nhà mới khang trang hơn, cha tôi xây mất ba năm ở trên khu vườn rộng mới mua gần đó. Đổi nhà nhưng vườn vẫn giữ, tôi thường chạy qua chạy lại để hái trái cây, mùa hè suốt ngày ngồi vắt vẻo trên những cành ổi la đà trong khu vườn cũ thuở trời đất thanh bình đầu những năm sáu mươi. Vì vậy mà chẳng có nhiều thay đổi. Rồi tôi đi xa, ở trọ nơi này nơi khác. Tôi đã từng đếm và nhớ được mười hai địa chỉ khác nhau ở Việt Nam và mười địa chỉ rải rác trong tám thành phố Canada mà tôi đã từng ở, trước khi mua một ngôi nhà nhỏ bên bờ Ngũ Đại Hồ, gần khu vực một ngàn hòn đảo. Rồi lại bán nhà, sau một cuộc tình tan vỡ, cay đắng nhưng không bất ngờ, rồi lại mua nhà, rồi lại bán nhà, sau một cuộc tình tan vỡ khác, bất ngờ nhưng không cay đắng, rồi lại mua nhà. Giữa hai lần mua và bán là hai lần thuê nhà hay thuê phòng tạm trong các chung cư.

Những căn phòng và ngôi nhà tôi thuê có thể gọi là nhà được chăng? Năm 1996, suốt nửa năm trời tôi đã từng sống trong căn lều của người đi săn, cũng gọi là cabin mùa hè, bên bờ hồ, gần chân núi. Ở đó tôi đã gặp một con gấu hiện ra ngay trước mặt, sau một khúc quanh, khi chạy bộ trong rừng. Buổi sáng thức dậy trời mù sương, một con hươu nhỏ kê đầu lên cửa sổ tò mò nhìn vào mặt tôi đang ngủ. Mặt nước ngoài xa xanh biếc lăn tăn gợn sóng. Những ngày vô cùng buồn, những ngày vô cùng vui, những ngày muốn tự tử, hay muốn thay đổi thế giới, những ngày tự do với những ý tưởng trong suốt như pha lê, như ánh phản chiếu của những cây thông dưới đáy hồ lặng lẽ, tưởng vẫn còn thơm mùi trái thông tươi. Chúng đứng im lìm như những ý tưởng minh triết đã hoá thành cây cối.

Sáu tháng sau khi người hàng xóm của tôi mới dọn vào, anh ta lại dọn đi cùng với vợ và đứa con gái ba tuổi tên Natasha, một cái tên rất Nga, mặc dù cha mẹ không phải là người Nga. Tôi định bụng sẽ hỏi vì sao họ đặt cái tên đó nhưng chưa có dịp. Một hôm tôi đang đứng trong vườn sau nhìn qua nhà hàng xóm, vắng vẻ chưa có người thuê mới, ngẩn ngơ nhớ người hàng xóm nói giọng Pháp gốc Quebec vui tính mới quen đã vội chia tay, nhớ con bé Natasha nhí nhảnh, tóc hung đỏ, có cái nốt ruồi rất đậm trên má, hay trò chuyện với tôi qua hàng rào, thì một người khách lạ đến đẩy cổng xin phép vào vườn ngồi một lát. Đó là một ông già bảy mươi hay tám mươi tuổi, cao, ốm yếu, chòm râu bạc lưa thưa.

Tôi ngạc nhiên hỏi chuyện rồi miễn cưỡng mời ông vào. Ở cuối vườn sau nhà tôi có một cây sồi nhiều tuổi, cao vút tỏa bóng mát rộng lớn. Buổi sáng tinh mơ, một loài chim biết hót, lông vàng, có lẽ là họa mi, thường về đậu trên ngọn cao, hót từng tiếng gióng đôi suốt nhiều giờ, mùa hè này đến mùa hè khác. Thấp hơn, ở giữa chừng, một con chim bách thanh chuyên nhái giọng các loài chim khác. Có hôm nó nhái được cả tiếng dế kêu. Gần gốc cây, dưới thấp, đôi khi một con chim gõ kiến thoăn thoắt mổ như người thợ tận tụy công việc. Ông lão kể rằng, lúc lên mười hai tuổi chính tay ông đã trồng cây sồi này. Nay vừa đúng sáu mươi năm. Nhà cũ đã bị phá đi làm lại, đổi chủ nhiều lần, nhà mới mọc lên trên nền cũ, cây cối và cảnh vật hoàn toàn thay đổi, nhưng riêng cây sồi vẫn còn đây. Tôi cảm động, rút lui, để ông ngồi một mình sau khi mang cho ông ly nước trà nóng và một cái ghế nhỏ. 

Suốt buổi, từ cửa sổ phòng làm việc thỉnh thoảng tôi nhìn ra, người đàn ông vẫn ngồi trong bóng mờ cho đến khi hoàng hôn chập choạng. Tôi không kịp hỏi hiện nay ông ở đâu, gia đình con cái ra sao, chỉ qua câu chuyện trước đó biết rằng ông rời khỏi căn nhà mà tôi đang ở gần năm mươi năm về trước lúc tình nguyện nhập ngũ và ngay sau đó được gửi qua châu Âu tham gia trận đánh nổi tiếng ở Normandie. Và đây là lần đầu tiên ông trở lại khu vườn cũ của mình. Tôi đi xuống nhà bếp pha ấm trà mới, sắp ra dĩa một ít bánh ngọt, định bụng mời ông vào nhà nghỉ ngơi một lát. Khi tôi ra vườn, thì người khách lạ đã đi mất. Tôi nhìn quanh, trên chiếc ghế ông ngồi chỉ còn lại chiếc tách đã uống cạn và một cuốn sách không có bìa, kiểu bỏ túi, giấy vàng cũ. Đó là một cuốn tiểu thuyết tôi không biết nhan đề, không rõ tác giả là ai, vì mất cả bìa trước lẫn bìa sau. Tôi cũng không biết ông tình cờ bỏ lại hay cố tình. Cuốn sách ấy ông mua trong một hiệu sách cũ như tôi vẫn thường làm, hay nhặt được dọc đường, chẳng có giá trị gì cả mà nhiều khi chúng ta tiện tay thì cầm lên rồi bỏ lại? Hay đó là một cuốn sách quan trọng đối với cuộc đời một con người mà ông quyết định để lại bên thân cây sồi già như lời từ biệt sau cùng đối với người bạn cũ?

Một kỷ vật, một món nợ ân tình trầm trọng mà sau bao nhiêu năm đeo đẳng đến nay ông không còn cần phải mang theo nữa?

Trên trang thứ hai, ở dưới hàng chữ đề tên nhà xuất bản, có một dòng chữ bằng tay mực đã nhoè nhưng vẫn còn đọc được khá rõ ràng: cho Mary Howe thân yêu, mùa Giáng Sinh 1939.

Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - NHÀ - Nguyễn Đức Tùng

LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA - TS. Nguyễn Ngọc Kiên


          


LỐI NÓI  KHOA TRƯƠNG  TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA
                                                TS. Nguyễn Ngọc Kiên

Về tác giả Dư Hoa 
Dư Hoa sinh năm 1960. Tác phẩm của ông gồm có bốn truyện dài, sáu tập truyện ngắn, ba tập tiểu luận. Tác phẩm của ông được dịch ra hơn hai mươi ngôn ngữ. Năm 2002, ông là tác giả Hoa Lục đầu tiên được trao giải thưởng James Joyce. Truyện dài “Brothers (Anh Em)” tên tiếng Trung Quốc là “Huynh Đệ” được vào chung kết của giải thưởng Văn học Man Asian và được trao giải thưởng Prix Courrier International của Pháp. Truyện dài “To Live (Muốn Sống)” được trao giải Premio Grinzane Cavour của Ý. Truyện dài “Muốn Sống” và “Chronicle of a Blood Merchant (Nhật Ký của người Bán Máu)” được Wen Hui Bao, nhật báo lớn nhất của Thượng Hải, đánh giá là hai trong mười quyển sách có ảnh hưởng rộng lớn nhất ở Hoa Lục trong mười năm gần đây. Bản Anh ngữ của dịch giả Allan H. Barr.
Về tác giả Dư Hoa ở Việt Nam có nhiều ý kiến trái chiều khác nhau, có thể do lí do chính trị. Chúng tôi, những người viết bài này, không quan tâm tới những ý kến đó mà chỉ quan tâm tới giá trị của tác phẩm theo những đánh giá dưới đây.
1.Khái niệm về khoa trương
Khi cần nhấn mạnh làm nổi bật đặc trưng, tính chất của đối tượng, người ta cố tình nói quá sự thật; việc nói quá ở đây có thể là phóng to hoặc thu nhỏ đối tượng cần miêu tả. Lối  nói này được gọi là khoa trương. Khoa trương không phải là nói khoác hay nói dối để đánh lừa người nghe. Tác giả Đào Thản cho rằng, nó không làm cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên [2, tr.1].
Theo chúng tôi, khoa trương là cường điệu quy mô, tính chất, mức độ của những sự vật, hiện tượng miêu tả. Tuy nói quá nhưng vẫn phản ánh được và đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Khoa trương luôn mang đậm phong cách và dấu ấn của cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong “Huynh đệ”,  Dư Hoa viết:
(1) 刘作家很高兴,酒逢知已千杯少,只要碰上了宋钢就会说个没完没了,有一次两个人在厕所里撒完尿,刘作家拉住宋钢,站在尿池旁说了两个多小时。全然不顾厕所里臭气熏天,也全然不顾坐在那里拉屎的人啊啊喊叫和哼哼低吟
(Nhà văn Lưu khoái lắm. Uống rượu gặp bạn tri kỷ, ngàn chén cũng còn ít. Chỉ cần gặp Tống Cương, là nhà văn Lưu cứ con cà con kê, nói dài nói dai, nói suốt ngày suốt buổi. Có lần, hai người ra nhà vệ sinh tiểu tiện. Tiểu tiện xong, nhà văn Lưu kéo Tống Cương đứng cạnh hố nước tiểu, nói hơn hai tiếng đồng hồ, hoàn toàn phớt lờ hơi thối trong nhà vệ sinh xông lên nồng nặc, cũng không thèm đếm xỉa gì đến tiếng động bên trong)
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, lối nói khoa trương trong tác phẩm của Dư Hoa không phong phú như lối nói khoa trương trong tác phẩm của Mạc Ngôn. Và chúng tôi tạm phân chia khoa trương trong “Huynh Đệ” của Dư Hoa thành mấy loại như sau:
2. Phân loại khoa trương trong tác phẩm “Huynh đệ”
2.1. Phân loại khoa trương theo ý nghĩa
Căn cứ vào nghĩa, lối nói khoa trương được chia thành hai loại như sau:
 (1) Khoa trương phóng to 
Khoa trương phóng to là cố ý làm cho sự vật to ra, đem đặc trưng, số lượng, trạng thái, tính chất, đặc trưng của sự vật làm cho nhiều lên, nhanh hơn, cao lên, dài ra, mạnh hơn. Ví dụ:
(2) 李光头自问自答:“因为我们是兄弟,就是天翻地覆慨而慷了,我们还是兄弟。”
(Lý Trọc tự hỏi tự trả lời - Bởi vì chúng ta là anh em, cho dù trời sập đất lở, chúng ta vẫn là anh em)
(3) 说这个李光头就是一架B—52轰 炸机,对我们美丽的刘镇进行地毯式轰炸。我们刘镇的一些有识之士更是痛心疾首,说《三国演义》里有一个故事发生在刘镇、《西游记》里有一个半故事发生在刘 镇、《水浒传》里有两个故事发生在刘镇,现在都被李光头拆掉了。
(Họ bảo tay Lý Trọc là một chiếc máy bay ném bom B52, đã ném bom rải thảm xuống thị trấn Lưu xinh đẹp của chúng tôi. Một số người có học hành càng đau đau xót ruột: Họ bảo trong "Tam Quốc diễn nghĩa" có một câu chuyện xảy ra ở thị trấn Lưu. Trong "Tây du ký" có một nửa câu chuyện xảy ra ở thị trấn Lưu. Trong "Thuỷ hử" có hai câu chuyện xảy ra ở thị trấn Lưu. Bây giờ đều bị Lý Trọc dỡ bỏ sạch)
(4) 说李光头的良心被狗叼了,被狼吃了,被老虎嚼烂了,被狮子当屎拉出去了。
(Cô bảo lương tâm của Lý Trọc bị chó nó tha, bị sói nó xơi, bị hổ nó cắn nát, bị sư tử nó ỉa ra thành cứt)
(2) Khoa trương thu nhỏ)
Khoa trương thu nhỏ là thu nhỏ sự vật; tức là cố ý đem số lượng, đặc trưng, tác dụng, mức độ của sự vật làm cho nhỏ đi, ít đi, chậm lại, thấp đi, ngắn lại hoặc yếu đi. Ví dụ:
(5) 塔站了很长时间,夜晚静得连针掉在地上的声音都没有,后来有两只猫蹿到屋顶上。
(Đêm đã về khuya, tĩnh lặng đến mức ngay cả cái kim rơi cũng nghe thấy, sau đó có hai con mèo nhảy lên nóc nhà, chúng đuổi nhau kêu thảm thiết)
(6) 小时候看着别人打喷嚏心里十分好奇,以为鼻子也会放屁。
(Thuở nhỏ thấy người khác hắt xì hơi, trong lòng hết sức hiếu kỳ, cứ tưởng lỗ mũi cũng biết đánh rắm)
Trong tiếng Hán, những từ ngữ 芝麻 (hạt vừng),绿豆 (đậu xanh), 鸡毛 (lông gà), 蒜皮 (vỏ hành), 巴掌 (nắm tay), 屁股 (mông đít) thường được dùng để so sánh thực hiện khoa trương thu nhỏ. Chẳng hạn, người Trung Quốc hay khoa trương: 你也太爱管 闲事,芝麻大的事你都要管!(Cậu cũng thật lắm chuyện, việc bé bằng hạt vừng mà cũng xen vào). Hoặc:  这是屁股大的地方 (Đó là nơi bé bằng cái mông đít)
Tuy nhiên, trong tác phẩm “Huynh đệ”. 屁股 (mông đít) được sử dụng để khoa trương phóng to; điều đó phụ thuộc vào ngữ cảnh. Ví dụ:
(7) 他们馋得都快昏过去了,把瓜子豆子和硬糖一口气放进了嘴里,把自己的嘴巴一下子赛满了,塞得像屁股一样园鼓鼓的嘴巴都不能动了,他们才发现自己还是什么都没吃着。
(Chúng thèm đến nỗi sắp ngất đi, nhét ráo hạt dưa hạt đậu và kẹo cứng vào đầy mồm, nhét tới mức mồm căng phồng như cái mông đít, không nhai nổi, chúng mới nhận ra mình chưa ăn được gì)
(3) Phân loại khoa trương theo thời gian
Khoa trương thời gian theo trật tự nghịch là đem sự việc xuất hiện sau nói thành việc xuất hiện trước hoặc đồng thời xuất hiện. Ý nghĩa của câu là “chưa thế này thì đã thế kia” hoặc “vừa mới thế này đã thế kia”. Chẳng hạn người Hán rất hay khoa trương kiểu:  李医生给人看病,药方没开,病就好了三分 (Bác sĩ Lí khám cho bệnh nhân, đơn thuốc chưa kê bệnh đã khỏi được ba phần). Tương tự như người Việt nói “chưa ăn đã hết”, “rượu chưa uống đã say”. Tuy nhiên khi khảo sát “Huynh đệ” chúng tôi không thấy kiểu khoa trương này. Dư Hoa chỉ dùng các từ ngữ: 一会儿 / 一下 (trong chốc lát), 一转眼/ 眨眼间/ 眨眼功夫 (trong chớp mắt/ trong nháy mắt),) để khoa trương chỉ thời gian diễn ra quá nhanh. Ví dụ:
(8) 他们觉得在外面只站了一会儿,夏天的毒太阳就快把他们烤干了。
(Chúng cảm thấy chỉ đứng ở ngoài một chút xíu đã bị ánh nắng gay gắt của mùa hè hong khô) 
Ngoài ra, nhà văn còn sáng tạo ra các từ ngữ khi khoa trương kiểu này. Ví dụ:
 (9) 他们吃虾的手就像是树上伸出来的树枝那么多,也就是眨了几下眼睛,打了几个喷嚏,他们就把煎虾吃了个精光。
(Tay ăn tôm của chúng giơ ra tua tủa như cành cây, chỉ trong vài chớp mắt, mấy cái hắt xì hơi, bọn chúng đã lỉm sạch bát tôm rán)   
Trong ví dụ trên, các cụm từ “眨了几下眼睛” (trong vài nháy mắt), “打了几个喷嚏” (vài cái hắt xì hơi) là sáng tạo của Dư Hoa.
Thời gian còn có thể đảo lộn, không theo trình tự logic trước sau. Chẳng hạn, đoạn văn sau nói về tâm trạng của anh chàng Lí Trọc thất tình, anh ta mơ ước có được những người đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” để báo thù những người đã bỏ rơi mình, bất chấp cả không gian và thời gian:
(10) 他自言自语的说: “来日方长呢,谁是落水狗还难说: “老子以后弄一辆超大型永久牌,前面坐西施,后面载貂蝉,怀里抱个王昭君背上驮个杨贵妃。老子带着这古代四大美人骑上他妈的七七四十九天,从当代骑到古代去,再从古代骑到当代来,老子高兴了还要骑未来去。
(Rồi tự động viên khích lệ mình, anh ta nói sùi bọt mép: - Sau này ông sẽ sắm một chiếc xe mác Vĩnh Cửu siêu hạng, đằng trước ngồi Tây Thi, đằng sau chở Điêu Thuyền, trong lòng ôm Vương Chiêu Quân, lưng cõng Dương Qúy Phi. Đem theo “tứ đại mỹ nhân” cổ đại, đ. mẹ, ông sẽ cưỡi bảy bảy bốn mươi chín ngày, từ đương đại cưỡi đến cổ đại, lại từ cổ đại cưỡi đến đương đại, khoái quá ông còn phải cưỡi đến tương lai cho chúng mày trắng mắt ra.)
2.2. Phân loại khoa trương theo hình thức
Căn cứ vào hình thức có thể chia khoa trương thành hai loại: khoa trương trực tiếp và khoa trương gián tiếp.
(1) Khoa trương trực tiếp:
Khoa trương trực tiếp là khoa trương không sử dụng bất cứ biện pháp tu từ nào, còn được gọi là khoa trương thuần túy. Ví dụ:
(11) 刘作家趁势骂了李逵几句,说那是个有勇无谋的马大哈,浑身的肌肉都长到脑子里去了
(Nhân thể, nhà văn Lưu toang toác chửi Lý Đạt mấy câu. Anh ta bảo thằng cha ấy là chúa tể qua loa đại khái, hữu dũng vô mưu, khắp người toàn cơ bắp, nung núc những thịt là thịt, thịt mọc lấn cả vào óc.)
(12) 那时候的公共厕所和现在的不一样,现在的公共厕所里就是用潜望镜也看不见女人的屁股了。
(Nhà vệ sinh công cộng bây giờ có dùng đến kính tiềm vọng cũng chịu chết, không sao nhìn thấy mông đàn bà)
(13) 李光头心想那天桥上和街上的人实在是太多了,要是深更半夜街上和桥上都是空无一人,林红肯定会站住脚,肯定会含情脉脉地把他看了又看,把他脸上皮肉里的血管神经,一根根看进眼里,铭刻到心里去。
(Lý Trọc nghĩ, hôm ấy trên cầu và trên đường phố đông người quá. Nếu là đêm khuya thanh vắng không một bóng người, chắc chắn Lâm Hồng sẽ dừng chân, chắc chắn Lâm Hồng sẽ âu yếm nhìn kỹ mình, thu hết vào mắt, khắc vào trái tim từng sợi thần kinh, từng mạch máu trong da trong thịt, trên mặt Lý Trọc)
Trong (11), (12) và (13) đều là khoa trương trực tiếp, không sử dụng bất kì biện pháp tu từ nào khác.
(2) Khoa trương gián tiếp 
Là khoa trương phải sử dụng các biện pháp tu từ khác để thực hiện, còn được gọi là khoa trương dung hợp. Chẳng hạn:
+ so sánh có từ so sánh. Ví dụ:
(14) 读书好啊,一天不读书,比一个月不拉屎还难受。读书好啊,可以一个月不吃饭,不能一天不读书。
(Đọc sách rất tốt, một ngày không đọc sách còn khó chịu hơn một tháng không đi đại tiện. Đọc sách rất tốt, có thể một tháng không ăn cơm chứ không thể một ngày không đọc sách)
(15) 别看这两小子的嘴巴比充足了气的皮球还园,照样还能赛进去的。
(Đừng thấy mồm hai cậu bé còn tròn hơn quả bóng bơm căng hơi, vẫn còn nhét thức ăn vào được đấy)
(16) 守候在外面的李光头看到宋钢脸色惨白地跑了出来,那模样像是死里逃生
(Lý Trọc đứng chờ bên ngoài thấy Tống Cương chạy ra mặt tái mét, như trở về trong cõi chết)
(17) 那一刻宋钢突然觉得林红犹如云上的仙女.
(Trong giây phút ấy, Tống Cương đột nhiên cảm thấy Lâm Hồng như nàng tiên trong mây)
+ so sánh không có từ so sánh
(18) 花傻子被摁倒在地后,嘴里发出了屠宰场里杀猪般的喊叫“妹妹,抱抱。。。”
(Sau khi anh chàng dở hơi máu gái bị ấn ngã ra đất, mồm cứ kêu như lợn bị chọc tiết)
Trong (18), 屠宰场里杀猪般的 (lợn bị chọc tiết) là định ngữ  cho 喊叫 (tiếng  kêu).
(còn nữa)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb   Giaó dục.
5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. 黄伯荣,廖序东 (2002)“现代汉语”,高等教育出版社。
7. 王希杰 (2007)“汉语修辞学”,商务印书馆。
8.张挥之(2002)“现代汉语” 高等教育出版社。
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
       余华 - 兄弟  - 小说在线阅读- 努努书坊

READ MORE - LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG TÁC PHẨM “HUYNH ĐỆ” CỦA DƯ HOA - TS. Nguyễn Ngọc Kiên

Wednesday, January 25, 2017

HÀ NỘI, NGÀY 28 TẾT ĐINH DẬU - Thơ Nguyễn Khôi

  
                       Nhà thơ Nguyễn Khôi

READ MORE - HÀ NỘI, NGÀY 28 TẾT ĐINH DẬU - Thơ Nguyễn Khôi

NƠI NÀY CÓ MỘT NGÀY XƯA - chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tác giả Lê Thanh Hùng

Nơi này có một ngày xưa

Rất xưa rồi những khúc tráng ca
Nghe em hát sao bồi hồi nhớ
Một chiều trong – Người đi, kẻ ở
Cánh rừng thưa xao xác, lần qua ...
                       *
Những gương mặt này của ngày xưa
Mỗi năm, đội hình thưa trông thấy
Sao se thắt lòng ta đến vậy!
Nắng cũ bên đường, cứ đong đưa
                      *
Đâu ... “Đưa anh đi hái măng rừng”...
Dốc mờ xa, rừng xưa trống vắng
Nắng khô cong cả chiều phẳng lặng
Ai về đây, sao mắt rưng rưng ...
                     *
Em hát đi ... “Chiếc gậy Trường sơn” ...
Giờ lụm cụm, quanh co, khúc mắc
Đất bằng thôi, nỗi niềm thưa nhặt
Nắng xế, chiều tan, khói bếp vờn ...
                     *
Em có hứa ... “Đưa anh về thăm” ...
Một lời hẹn, trôi bờ suối vắng
Mây cuốn mờ xa, mưa trĩu nặng
Đã rối lòng anh, bốn mươi năm ...
                     *
Em hát đi, ... “Gửi người phương xa” ...
Nghe sâu thẳm, quảng đời chống chếnh
Dẫu đã biết, tình treo lơ đểnh
... Một ngày xưa, không thể xóa nhòa.
Lê Thanh Hùng
_________
Trong dấu “ ...”: Lời của những bài hát.




Bỏ quên hoa cuối liếp

Đêm đắm đuối
Bài tình ca lỗi nhịp
Khập khểnh ru
Tình muộn
Bên đời
Khoảng lặng
Trắng
Đời hoa cuối liếp
Người bỏ quên
Bừng nở
Rạng ngời ...
Lê Thanh Hùng



Em về thăm quê

Nhập nhòe vệt nắng, em qua
Đường quanh, lối cũ mờ xa quê nhà
Đắn đo giấu, ngón tay ngà
Bâng quơ trầm giọng, thiệt thà nhớ anh ...
Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - NƠI NÀY CÓ MỘT NGÀY XƯA - chùm thơ Lê Thanh Hùng