Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 7, 2016

THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT - TS. Nguyễn Ngọc Kiên


          

     THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
                                                               TS. Nguyễn Ngọc Kiên

1.     Khái niệm thành ngữ tục ngữ. Theo nhóm các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc / và gợi cảm.” [1, tr.157]

Theo “Từ điển giải thích ngôn ngữ học” thì: “Thành ngữ là cụm từ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.” [12, tr.237]
Phân biệt thành ngữ với tục ngữ tác, giả Vũ Ngọc Phan cho rằng:  “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét của  kinh nghiệm, một luân lý, một công lí, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn.  Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh.”
[9, tr. 31]
Tuy nhiên, trong tiếng Việt có những câu thật khó phân biệt chúng là thành ngữ hay tục ngữ. Chẳng hạn, xét “trong ấm ngoài êm”; nếu nói: “anh ta sống trong cảnh trong ấm, ngoài êm”, tức hai vế là ngữ đẳng lập, thì rõ ràng đây là thành ngữ. Nhưng nếu nói: “Phải sống sao cho trong ấm thì ngoài êm”, tức là vế sau là hậu / kết quả của vế trước,  thì đây là câu tục ngữ.
Như vậy, nghĩa của thành ngữ rất hàm súc và biểu cảm. Trong bài viết này chúng tôi chỉ bàn đến thành ngữ khoa trương trong tiếng Việt. Trong văn học khi nhà văn sử dụng thành ngữ khoa trương làm cho câu văn càng trở nên sinh động và biểu cảm, có giá trị thẩm mĩ cao. Ví dụ :
(1) Khai được chuyện này ra, bao nhiêu chuyện khác sẽ gỡ ra được, chồng mụ không phải bị buộc oan, không phải “ngàn cân treo sợi tóc” như bây giờ.
(2) Phải năm chìm bảy nổi mới được như bây giờ! Nhỡ có mệnh hệ nào,công lao đổ xuống sông xuống biển hết. Vì con mà mẹ phải lên thác xuống ghềnh, mẹ đâu có quản ngại.
(3) Trong lúc cả làng sôi sục chạy đuổi “nhét cứt vào mồm con Xuyến”, làm con bé xanh xám mặt mũi, cắt không còn hột máu, thằng Hiếu đứng ra chặn mọi người ôm lấy vợ bảo: - Em cứ bình tĩnh, đừng sợ.
                                     ( Lê Lựu – Chuyện Làng Cuội)
Trong (1) (2) (3), nhà văn Lê Lựu sử dụng các thành ngữ ngàn cân treo sợi tóc, lên thác xuống ghềnh, mặt cắt không còn hạt máu. Trong tác phẩm tác giả còn dùng biến tấu các thành ngữ. Chẳng hạn, thành ngữ long trời lở đất được tác giả biến thành rung chuyển cả trời đất:
(4) Khi bần cố đã vùng lên thì sức mạnh kinh hoàng khủng khiếp của nó sẽ làm rung chuyển cả trời đất, không có gì có thể cản nổi.
Hoặc:
(5) Trơ như đá vững như đồng
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời
                             (Nguyễn Du – Truyện Kiều)
2. Khái niệm về khoa trương
Trong tiếng Việt, khi cần nhấn mạnh làm nổi bật đặc trưng, tính chất của đối tượng, người ta cố tình nói quá sự thật; việc nói quá ở đây có thể là phóng to hoặc thu nhỏ đối tượng cần miêu tả. Lối  nói này được gọi là khoa trương. Khoa trương không phải là nói khoác hay nói dối để đánh lừa người nghe. Tác giả Đào Thản cho rằng, nó không làm cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên [9, tr.1].
Theo chúng tôi, khoa trương là cường điệu quy mô, tính chất, mức độ của những sự vật, hiện tượng miêu tả. Tuy nói quá nhưng vẫn phản ánh được và đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Khoa trương luôn mang đậm phong cách và dấu ấn của cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ.
Ví dụ: Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm tuyết nhường màu da.
                                         (Nguyễn Du – Truyện Kiều)
3. Khoa trương trong thành ngữ tiếng Việt
Người Việt rất thích nói khoa trương, điều này có thể được chứng minh qua kho tàng thành ngữ tiếng Việt. Khoa trương trong thành ngữ tiếng Việt hết sức đa dạng và phong phú; căn cứ vào các tiêu chí về ngữ nghĩa, hình thức, thời gian… có thể chia thành các loại như sau:
3.1. Phân loại khoa trương theo ngữ nghĩa
Căn cứ vào nghĩa có ba loại: khoa trương phóng to và khoa trương thu nhỏ, khoa trương thời gian.
3.1.1. Khoa trương phóng to
Là cố ý làm cho sự vật to ra, đem đặc trưng, số lượng, trạng thái, tính chất, đặc trưng của sự vật làm cho nhiều lên, nhanh hơn, cao lên, dài ra, mạnh hơn. Ví dụ: tức bầm gan tím ruột; tức lộn tiết; giận sôi máu; tiếc đứt ruột; gan cùng mình; nộ khí xung thiên; nở từng khúc ruột;
3.1.2. Khoa trương thu nhỏ
Là cố ý đem số lượng, đặc trưng, tác dụng, mức độ của sự vật làm cho nhỏ đi, ít đi, chậm lại, thấp đi, ngắn lại, yếu đi.
Ví dụ:  Bé bằng mắt muỗi;  nhẹ tựa lông hồng; gầy gió thổi bay; lấy chỉbuộc chân voi; chẻ sợi tóc làm tư.
3.1.3. Khoa trương thời gian
Là đem sự viếc xuất hiện sau nói thành sự việc xuất hiện trước hoặc cả hai cùng xuất hiện. Chẳng hạn: Chưa ăn đã hết
- Chưa đỗ ông nghè  đã đe hàng tổng.
- Chưa đến chợ đã hết tiền.
3.2. Phân loại khoa trương theo hình thức
Căn cứ vào hình thức có mấy loại sau:
 3.2.1. Khoa trương trực tiếp
Là khoa trương mà không sử dụng bất cứ hình thức tu từ nào, còn gọi là khoa trương “thuần túy”. Ví dụ:  chuyện động trời; tin sét đánh ngang tai; quỷ tha ma bắt; đất bằng dậy sóng; lấy vải thưa che mắt thánh; vắt  cổ chày ra nước; rán sành ra mỡ; ruột để  ngoài da; chân cứng đá mềm;
3.2.2. Khoa trương gián tiếp
Là khoa trương có sử dụng các thủ pháp tu từ khác, chẳng hạn so sánh, ẩn dụ, nhân cách hóa, vật cách hóa v.v. . . ; còn được gọi là khoa trương “dung hợp”.
Chẳng hạn, sử dụng so sánh tu từ để khoa trương: rách như tổ đỉa; cứng như thép, vững như đồng; trắng như trứng gà bóc; đẹp như tiên giáng trần; xấu như ma mút; vững như  bàn thạch.
Sử dụng nhân cách hóa để khoa trương: chim sa cá lặn ; hoa nhường nguyệt thẹn; thần hồn nát thần tính.
Căn cứ vào mức độ, có thể chia khoa trương thành mấy loại sau:
3.3.1.Khoa tương ở mức độ thấp
Khoa trương ở mức độ thấp là cách nói quá đi so với cái có thật trong thực tế; tuy có thể nhân lên tới hàng trăm hàng nghìn lần, thậm chí hàng vạn lần, nhưng vẫn chưa đến mức phi lí, vẫn có thể chấp nhận được. Sở dĩ như vậy là vì nghe mãi thành quen tai, cả người nói và người nghe chẳng ai nghĩ mình đang khoa trương. Chẳng hạn, các cụm từ sau thường được sử dụng trong khẩu ngữ: trăm công nghìn việc, phục sát đất, một mất mười ngờ,  một chữ bẻ đôi cũng không biết,
Khoa trương ở mức độ cao là nói quá sự thật một cách quá đáng, đến độ phi lí không thể tin được. Trong giao tiếp người Việt hay sử dụng các thành ngữ khoa trương: không cánh mà bay, một bước lên giời, ngàn cân treo sợi tóc, trăm đắng ngàn cay ; nghiêng nước nghiêng thành.
4. Một số cách biểu thị khoa trương trong thành ngữ, tục ngữ
Cách biểu đạt khoa trương trong ca dao của người Việt rất phong phú. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số cách phổ biến sau :
4.1. Sử dụng số từ
Mỗi con số đều mang trong mình cả những nghĩa tốt và những nghĩa xấu. Trong khi số học phương Tây (hay còn được gọi là hệ thống Pytago) kết nối những con số với tính chất cốt rễ của nó thì số học phương Đông lại dựa trên âm thanh của con số (theo tiếng Trung Quốc) khi ta phát âm. Nếu một con số phát âm giống một từ được cho là tiêu cực hay thiếu may mắn, con số đó cũng được xem là tiêu cực hay thiếu may mắn. Tuy nhiên, may mắn lại là một khái niệm không đóng vai trò gì trong số học phương Tây. Thay vào đó, mỗi con số đều mang trong mình cả những nghĩa tốt và những nghĩa xấu. Tùy với mỗi người mà năng lượng mạnh nhất của con số sẽ được phát huy.
 Nói ngoa bằng cách dùng những con số lớn hơn hay ít hơn nhiều lần để  nói lên sự hơn kém về sự việc hiện tượng. Những con số này chỉ là ước lệ, có tính chất ngụ ý. Chẳng hạn: ba chân bốn cẳng; ba chìm bảy nổi; năm thê bảy thiếp; ba đầu sáu tay; ba cọc ba đồng; ba chân bốn cẳng; ba chìm bảy nổi chín lênh đênh; ba máu sáu cơn ; trăm tay không bằng tay quen; ăn nồi bảy quăng ra, nồi ba quăng vào;; biết rõ mười mươi; năm cha ba mẹ;  gấp trăm nghìn lần; trăm người bán vạn người mua; gấp năm gấp mười ; một vốn bốn lời;  uốn ba tấc lưỡi; trăm voi không được bát xáo ; trăm sông nghìn núi;bách chiến bách thắng; bách phát bách trúng; mồm năm miệng mười;cơ hội ngàn năm có một; muôn hình vạn trạng; muôn hồng ngàn tía…
4.2. Sử dụng động từ khoa trương
Ví dụ: Bới lông tìm vết; ăn tươi nuốt sống; bán mặt cho đất, bán lưng cho trời; băng ngàn vượt bể; được voi đòi tiên; lên thác xuống ghềnh; phun châu nhả ngọc; ruột để ngoài da; vắt cổ chày ra nước; vượt suối băng ngàn; xẻ núi lấp sông; xoay trời chuyển đất…
           Trong tiếng Việt, động từ biểu thị khoa trương cũng tuân thủ theo nguyên tắc: động từ kết hợp với tân ngữ.
Ngoài ra, có một số cụm động từ có kết cấu tương tự như nghĩ nát óc,cười vỡ bụng. Tác giả tác giả Huỳnh Ái Nguyên cho rằng, chúng “là những quán ngữ đa dạng về mặt ý nghĩa, chúng có thể mang tính nhấn mạnh về mặt thông tin mệnh đề, thông tin tình thái, mang màu sắc biểu cảm, mang tính phóng đại hoặc là sự kết hợp của tất cả các yếu tố trên”.
Chẳng hạn: no vỡ bụng; lo sốt vó; rụng rời chân tay; nghĩ bể đầu; nói đến gãy lưỡi; ruột thắt gan bào; vắt tim óc; cười bể bụng; làm mửa mật; đổ mồ hôi hột; tiếc đứt ruột; tức nổ mắt…
Qua các ví dụ trên có thể thấy, động từ biểu thị khoa trương có thể đem lại những giá trị thẩm mĩ nhất định, nhưng bản thân động từ không thể đơn độc thực hiện khoa trương, mà là kết quả của sự kết hợp giữa động từ và tân ngữ. Nhưng động từ là điều kiện để cấu thành khoa trương, đồng thời cũng là tiêu chí khoa trương ngoại tại. Nó không chỉ từ ngoại tại trên thị giác kích thích độc giả mà còn thông qua sự phối hợp ý nghĩa của các hình tượng khác để nói quá sự thật, tạo nên sức hấp dẫn thẩm mĩ của tâm lí độc giả. Tuy nhiên, đối với một số động từ nội động, nó phải được đặt trong ngữ cảnh, hoặc trong những điều kiện sự việc không thể xảy ra, thì mới có thể thực hiện khoa trương.
Chẳng hạn: Chó ăn đá gà ăn sỏi; vật đổi sao dời ; nước chảy đá mòn;  xương tan thịt nát; trời rung đất lở; trời tru đất diệt; tiếc cay tiếc đắng; nếm mật nằm gai; sống dở chết dở; vùi liễu dập hoa; vượt suối băng ngàn; xẻ núi lấp sông; xoay trời chuyển đất; đội đá vá trời; rán sành ra mỡ; tầm ngầm đấm chết voi; thèm chảy nước miếng; trời đánh không chết; trứng chọi với đá.
4.2. Sử dụng tính từ biểu thị khoa trương
Có hai loại chính:
-         Tính từ + bổ ngữ = tính từ + (cụm) danh từ
Trong loại này, thực tế chúng là các tính ngữ biểu thị khoa trương. Chẳng hạn: gan cóc tía; gan liền tướng quân; mát mặt; ngứa mắt; ngứa mồm; ngứa tai; tối mắt; tối mặt; bở hơi  tai; cứng cổ; cứng họng; mềm lòng; trơ mắt ếch; trơ thổ địa; sạch nước cản; mát tay; thẳng ruột ngựa ; thừa sống thiếu chết; trên trời dưới bể; to gan lớn mật; trên đe dưới búa; trong ngọc  trắng ngà; nghiêng nước nghiêng thành;  ngang cành bứa; mênh mông bể Sở;
-         Tính từ + bổ ngữ =  tính từ + (cụm) động từ hoặc tính từ + cụm chủ vị
Trong loại này, chúng cũng là các tính ngữ biểu thị khoa trương . Ví dụ: giầu nứt đố đổ vách; nghèo rớt mồng tơi; đẹp chim sa cá lặn.
Chúng còn có thể là những tính từ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm tạo thành đoản ngữ danh từ biểu thị khoa trương.
Ngữ danh từ = danh từ + tính từ
Chẳng hạn: đất rộng trời cao; mẹ tròn con vuông; sông cạn đá mòn;  lá ngọc cành vàng; trời cao đất dày; rừng thiêng nước độc; nghĩa nặng tình sâu.
Nhất là, những tính từ có xuất xứ từ tiếng Hán.
Chẳng hạn: non xanh nước biếc [ sơn thanh thủy tú]; sơn cùng  thủy tận [sơn cùng thủy tận]; trời cao đất dày [thiên cao địa hậu]; thâm sơn cùng cốc [thâm sơn cùng cốc]….
4.3. Sử dụng danh từ để biểu thị khoa trương
Ta có mô hình: đoản ngữ : danh từ + danh từ
Loại này chủ yếu gồm  hai  tiểu loại:
- Thành ngữ ẩn dụ đối xứngChẳng hạn:
chân cò tay vượn; mình đồng da sắt; khẩu phật tâm xà; miệng hùm gan sứa; gạo châu củi quế;  góc bể chân trời; thiên la địa võng; nem công chả phượng; sơn hào hải vị; tiền rừng bạc bể; quyền rơm vạ đá; cá bể chim ngàn;màn trời chiếu đất  .
-         Thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng:
Miệng nam mô bụng bồ dao găm; nước mắt cá sấu; màu mỡ riêu cua; lưới trời lồng lộng….
4.4. Sử dụng so sánh tu từ biểu thị khoa trương
Theo các tác giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú thì: “So sánh tu từ là sự đối chiếu về hai sự vật (về tính chất, trạng thái sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đó giống nhau. A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A. So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí”. (Dẫn theo[7, tr. 84])
Tác giả Hoàng Kim Ngọc [7, tr. 84] lại cho rằng, cả hai quan niệm trên về cơ bản là đúng nhưng chưa đủ vì chưa chỉ ra được cơ sở của sự so sánh và những hệ quả của sự so sánh ấy.   
Chúng tôi đồng ý với ý kiến của Hoàng Kim Ngọc.    
Cách nói khoa trương hay còn gọi nói ngoa tiện nhất là so sánh, lấy điều gì đã biết để dẫn dụ cho dễ hiểu. Cách so sánh là gây ấn tượng mạnh cho người nghe và người đọc. Nói cách khác, đó là những thành ngữ so sánh có từ so sánh.
Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: Lạnh như tiền; rách như tổ đỉa.
Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:
- A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, cònss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt,...
Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các kiểu: tội tày đình; gan tày liếp; phúc như Đông Hải, thọ tựa Nam Sơn .
A ss B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh.
Chẳng hạn: đắt như tôm tươi; nhẹ tựa lông hồng; lạnh như tiền; nổ như sấm;nhanh như gió / chớp /; ngủ  như chết; ngáy như sấm; ngáy như kéo gỗ; chạy như ma đuổi; đẹp như tiên  giáng trần; nhanh như máy; đoán như thần; nhẹ như bấc; nặng như chì; ngủ như chó con say sữa; dai như đỉa đói
- (A) ss B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (rẻ) như bèo;  (chắc) như đinh đóng cột; (vui) như mở cờ trong bụng; (to) như bồ tuột cạp; (khinh) như rác; (khinh) như mẻ; (chậm) như rùa / sên...
- ss B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ:
Ăn ở với nhau
Xử sự với nhau
Giữ ý giữ tứ với nhau
...
như chó với mèo
Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: như tằm ăn rỗi; như vịt nghe sấm; như con chó ba tiền; như gà mắc tóc; như đỉa phải vôi; như ngậm hột thị.
Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt nói chung và thành ngữ so sánh khoa trương nói riêng, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:
·         Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được "nhận ra". A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành động,... nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác.
·         Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày,... Chẳng hạn: gương tày liếp, tội tày đình, cưới không bằng lại mặtthọ tựa Thái Sơn chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.
·         Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thông qua A. Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền chỉ bộ lộ trong lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ nợ như chúa Chổm, rách như tổ đỉa, say như điếu đổ, say khướt cò bợ,... cũng tương tự như vậy.
Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,... được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó.
·         Như trên đã nói, vế B có cấu trúc không thuần nhất:
·         B có thể là một từ. Ví dụ: lạnh như tiền, rách như tổ đỉa, nợ như chúa Chổm; đắng như bồ hòn; rẻ như bèo; khinh như mẻ,...
·         B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ: như đỉa phải vôi, như chó nhai giẻ rách, lừ đừ như ông từ vào đền, như thầy bói xem voi, như xẩm sờ vợ,...
4.4.1. So sánh với những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể con người
Chúng ta dùng những tên bộ phận cơ thể  người để ngoa ngữ, trên thực tế không có như vậy:
 Chẳng hạn: bầm gan tím ruột ; tức lộn ruột/ tiết ;  tức ứa máu ; tiếc đứt ruột; gan cùng mình; Ruột thắt gan bào; vắt tim óc;cười bể bụng;làm mửa mật; đổ mồ hôi hột; no vỡ bụng; lo sốt vó;  rụng rời chân tay; nghĩ nát óc; nghĩ bể đầu; cứng họng; nói đến gãy/ đứt lưỡi; coi người bằng nửa con mắt....
 Nhưng những cách diễn đạt sau đây đúng với tình trạng sinh lý của người bệnh: mệt mờ mắt ; mệt bở hơi tai; lạnh nổi da gà; run bắn người; mồ hôi vã ra như tắm; trái tim sắt đá; còn da bọc xương; uống máu người không tanh...
4.4.2.So sánh với những từ ngữ chỉ động vật
Chẳng hạn: run như cầy sấy; khỏe như voi; chân như chân voi; ranh như cáo; nhanh như sóc; giết người như ngóe;  ăn như heo; lẩn như chạch; ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo; ghét nhau như chó với mèo; chân to như chân voi; dai như đỉa đói.
4.5. Sử dụng ẩn dụ biểu thị khoa trương
Theo tác giả Hữu Đạt [3, tr.302] thì Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra. Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản. Như vậy, thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc 
Như vậy theo chúng tôi, ẩn dụ là so sánh mà không có từ so sánh.
Chẳng hạn: chỉ mành treo chuông; ngàn cân treo  sợi tóc. Ở đây ta phải hiểu là (như ) chỉ mành treo chuông;( như) ngàn cân treo  sợi tóc 
Theo các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, chúng là những ngữ cố định định danh.  Chúng tôi vẫn xếp chúng vào mục thành ngữ, vì tính cố định vì nghĩa biểu trưng của chúng.
 Chẳng hạn: mắt ốc nhồi; mắt bồ câu; mắt lươn; mắt phượng, mày ngài, mũi sư tử; mũi diều hâu; răng bàn cuốc; răng cải mả; nhẩy chân sáo; khăn mỏ quạ; miệng cá ngão; mặt lưỡi cày; ngón tay chuối mắn; ngón tay búp măng; chân voi; chân cột đình....
4.6. Sử dụng thủ pháp nhân cách hóa, vật cách hóa biểu thị khoa trương
Nhân cách hóa là một biện pháp tu từ lấy vật bao gồm vật thể, động vật, tư tưởng hoặc khái niệm trừu tượng làm cho chúng có diện mạo, cá tính, tính cách, hoặc tình cảm.
Nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư thái độ của mình. Có mấy loại sau:
-                     Nhân cách hóa động vật
Ví dụ: Chim sa cá lặn; ma chê quỷ hờn ; chó chê mèo lắm lông; khỉ ho cò gáy;  ai mà biết được măn cỗ ; chim ca vượn hátrồng đến nhà tôm; lươn ngắn chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
-Nhân cách hóa thực vật
Ví dụ: Hoa nhường nguyệt thẹn ; hoa cười ngọc thốt; lòng vả cũng như lòng sung ; quýt làm cam chịu ; cây ngay không chịu chết đứng; say hoa đắm nguyệt.
- Nhân cách hóa sự vật và các hiện tượng tự nhiên
Ví dụ: Mưa thảm gió sầu; thiên sầu địa thảm;  hồn xiêu phách lạc ; trời không dung đất không tha; bụng làm dạ chịu; bụng bảo dạ; thần hồn nát thần tính.
5. Sử dụng hiện tượng thiên nhiên, trời phật, thần thánh để khoa trương
Trong văn hóa của người Việt, trong các thành ngữ, người ta rất hay sử dụng các hình tượng Trời, Phật,  và các hiện tượng thiên nhiên để biểu thị khoa trương.
Trong cuộc sống, người ta thường hay nói đến các hiện tượng thiên nhiên, thần thánh. Tín ngưỡng Viêt Nam có thờ hiện tượng thiên nhiên, như núi đá, sấm chớp, cây cao, thờ trời thờ đất, thần thánh, ma quái. Cho nên đề cập đến những gì to lớn, vĩ đại, sự việc gây  ngạc nhiên, chúng ta thường đưa ra để so sánh ví von, khoa trương.
 Chẳng hạn : chuyện tày trời, tin sét đánh ngang tai ; nổ như sấm; quỷ tha ma bắt;  lấy vải thưa che mắt thánh; khác nhau một trời một vực; công ơn trời biển; đòn trời giáng; trời đánh thánh vật; trời đánh  không chết; dìm xuống đất đen; đến thánh cũng bó tay; ngồi như bụt mọc; ngây như phỗng đá; ngáy như sấm.
Kết luận
Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó. Nó được hình thành và phát triển nhờ quá trình tích lũy lâu dài trong cuộc sống của người Việt. Người Việt rất thích khoa trương. Điều đó có thể thấy trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt. Không thể tìm hiểu văn hóa Việt Nam mà không nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt. Không thể nghiên cứu tiếng Việt mà bỏ qua kho tàng thành ngữ  – một vốn quý trong kho tàng tiếng Việt.

                                                          TS. Nguyễn Ngọc Kiên
............................
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
   1. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Gíao Dục
2. Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh (1972), Văn học dân gian, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
3.Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học Quốc Gia HN.
4. Hoàng Văn Hành (2001), Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội.
5. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục.
 6. Đinh Trọn g Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục.
7. Hoàng Kim Ngọc (2009), So sánh & ẩn dụ trong ca dao trữ tình, NXB Khoa học.
8. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ ca dao dân ca, NXB Văn học.
9. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
10. Cù  Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục.
11.Viện Ngôn ngữ học (1997), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
12. Nguyễn Như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, NXB Gi áo dục.

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
1. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học.
2. Đào Thản (2005), Ca dao hài hước, NXB Đà Nẵng.

READ MORE - THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT - TS. Nguyễn Ngọc Kiên

ĐÒ ĐI CÓ VỀ - Thơ Đại Ngàn


                          Tác giả Đại Ngàn


ĐÒ ĐI CÓ VỀ

Đò chiều bỏ bến đi đâu
Bến đau tình bến biệt sầu chia ly
Mười hai bến nước xuân thì
Bến nào trong đục đò đi có về

Đò đi bỏ lại câu thề
Trăng soi vỡ bóng mải mê cuộc tình
Bến đau ôm trọn bóng hình
Lục bình trôi dạt một mình bể dâu

Bến chiều rụng trắng hoa cau
Trầu không nhạt nắng têm màu nhớ thương
Đò đi xa cách dặm trường
Biết đâu sóng gió để thương lấy đò

Mười hai bến nước so đo
Rủi đi lỡ chuyến xót đò bến đau
Đò đi có biết nông sâu
Sông dài rộng lắm biết đâu hạ nguồn

Phù sa lạc bến đỏ buồn
Bến chờ ở phía thượng nguồn gió mưa
Bao giờ cho đến ngày xưa
Đò đi dầu dãi nắng mưa lại về.

                               Đại Ngàn

READ MORE - ĐÒ ĐI CÓ VỀ - Thơ Đại Ngàn

SAO EM CÚI MẶT - Thơ Thủy Điền





SAO EM CÚI MẶT

Sao không muốn nhìn anh em nhỉ ?
Như ngày đầu mình mới quen nhau
Dẫu bây giờ tình có lao đao
Nhưng kỷ niệm vẫn còn trơ đó

Sao cúi mặt, mắt không chịu ngó
Giận cái gì mà lắm thế em
Hờn cái chi mà chẳng chịu thèm
Nhìn thẳng mặt khi người đối diện

Sao không nói một lời, một tiếng
Để cùng nhau gỡ mối tơ sầu
Cứ im lìm rồi được gì đâu
Cúi mặt xuống giấu che, thầm lặng

Nầy em hỡi, ngước lên nhìn thẳng
Hãy nói gì đi chứ, lặng câm
Ai biết đâu mà bảo với rằng
Chiếc nón lá cản ngăn bao thứ

Hãy ngước lên nhìn anh đi chứ
Dù một lần rồi có xa nhau
Thì lòng anh cũng thấy bớt đau
Hơn khi ngắm người đang cúi mặt.

                                Thủy Điền
                             04-11-2016

READ MORE - SAO EM CÚI MẶT - Thơ Thủy Điền

QUÂN - SƯ - PHỤ... AI TRỌNG HƠN AI? - Hoàng Đằng



                               Tác giả Hoàng Đằng



        QUÂN - SƯ - PHỤ... AI TRỌNG HƠN AI?

Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11/2016, tôi muốn cùng bạn đọc suy ngẫm về đề tài: “Quân – Sư – Phụ. Ai trọng hơn ai?”. Mời các bạn đọc và góp ý.

Giữa 3 bậc trên, người xưa, kể cả những trí thức lớn và những người giữ quyền cao chức trọng, vẫn còn mù mờ, lưỡng lự, chưa biết ai trọng hơn ai.
Giai thoại kể rằng năm 1308, vua Trần Anh Tông cử đại thần Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 – 1346) cầm đầu phái bộ Đại Việt (Việt Nam) đi sứ sang Tàu, chúc mừng vua Nguyên Vũ Tông vừa lên ngôi. Trên đường đi đến gặp vua Nguyên, Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi nghỉ lại nhiều trạm, tỏ ra thông minh, nổi tiếng ứng đối giỏi. Trước khi về, Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi được vua Nguyên thử tài lần cuối; vua ra chuyện đố:
Có một chiếc thuyền trong đó chở 3 người: vua, thầy và cha (quân, sư, phụ), ra giữa dòng sông; không may, thuyền bị lật chìm; ngươi là người đứng trên bờ, thấy vậy, ngươi phải bơi ra để cứu, lẽ dĩ nhiên, mỗi lần chỉ cứu được một người, thì ngươi cứu ai trước?
Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi trả lời ngay không cần suy nghĩ:
Thần bơi ra, thấy ai trước cứu trước, tuy nhiên, phải gắng hết sức cho công việc nhanh để còn cơ hội lần lượt cứu hai người kia.
Vua Nguyên Vũ Tông phục tài, phong cho danh hiệu “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” (Trạng Nguyên cả ở nước ta lẫn ở nước Tàu).
Cũng với tình huống đó, trong dân gian, lại có câu đố:
“Quân – Sư – Phụ: tam cang giả,
Qua chuyến đò, đò ngã, cứu ai?”
Và câu trả lời là:
Thầy – Cha thì khoác hai vai,
Lưng thời cõng Chúa. Bỏ ai cũng không đành!”.
Xin mở ngoặc chỗ này: Tam cang (tam cương) là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ - ba mối liên hệ quan trọng trong đời người, nhắc nhở mọi người phải giữ tròn ba đạo: trung – hiếu – nghĩa, còn Quân – Sư – Phụ chỉ là ba bậc mà mỗi người phải tôn trọng, yêu thương, quan tâm đến.
Giai thoại và câu đố trên cho thấy về mức tôn trọng, yêu thương, quan tâm đến, ba bậc ngang nhau; tuy nhiên, Quân – Sư – Phụ không thể nói cùng một lúc mà phải có từ trước từ sau.

Nhiều người hiểu rằng mức tôn trọng giảm dần theo thứ tự sắp xếp xuôi của các từ, nghĩa là vua là bậc được tôn trọng, yêu thương và quan tâm đến nhất, kế đến là thầy rồi cuối cùng mới đến cha. Hiểu như vậy cũng phải thôi!
Ngày xưa, vua là con trời phái xuống (thiên tử) cai trị muôn dân; vua không còn là người trần tục mà là một đấng thiêng liêng; vua lại nắm quyền sinh sát trong tay, “vua bảo tôi chết, tôi không chết là không trung” (quân sử thần tử, thần bất tử bất trung); không đặt vua lên vị trí cao nhất trong thế gian, không chừng mang tội “xem thường vua” (khi quân) , có lúc phải bị mất mạng.
Thầy là bậc dạy dỗ ta nên người; có thể là thầy dạy văn hoá, có thể là thầy dạy nghề nghiệp; “không thầy đố mày làm nên”, quan trọng! Thầy không cùng huyết thống với ta, nhưng sẵn sàng truyền đạt cho ta những gì cần trong cuộc sống. Ngày xưa, dạy văn hoá cũng như dạy nghề, nhất là dạy văn hoá, thầy không thu học phí như bây giờ; phụ huynh học trò lo chỗ ở, nơi ăn cho thầy, đến dịp lễ tết lo quà cáp lộ phí cho thầy về thăm nhà. Nghề đi dạy giống như nghề đi truyền đạo – đạo đây là luân lý, đạo đức, phong tục, tập quán, cách đối nhân xử thế. Nghề đi dạy dành cho các khoá sinh chờ thi cử, các nho sĩ thất cơ lỡ vận và các hưu quan. Qua việc dạy học (ngôn giáo), qua cách sống (thân giáo), họ góp phần thiết lập trật tự tôn ti trong xã hội bên cạnh luật pháp do vua ban; thiên chức của họ là góp phần ổn định xã hội và nuôi dưỡng lòng trung quân ái quốc nơi dân chúng. Thành thử, nhắc đến “quân” (vua) xong là nhớ đến “sư” (thầy).
Còn phụ (cha) là người sinh, dưỡng, dạy dỗ - dạy dỗ nhiều thứ: tập tành nghề nghiệp, đường ăn lối ở, trong nhiều trường hợp còn dạy văn hoá; vì thế, cha ở nhiều vùng còn gọi là thầy. Tuy nhiên, công lao của cha chỉ thu gọn trong phạm vi gia đình, cùng lắm là dòng tộc; vì vậy, phụ (cha) được nhắc đến sau cùng; như thế, ngoài thứ tự sắp xếp xuôi theo từ, “quân – sư – phụ” còn được sắp xếp từ phạm vi rộng đến hẹp: quốc gia – xã hội – gia đình.
Tác giả bài này thì nghĩ khác, cho rằng “quân – sư – phụ” phải được hiểu ngược lại mới sát thực tế.
Trong Hán văn, nhiều trường hợp được giải nghĩa ngược với thứ tự các từ; thí dụ: “bạch mã” là ngựa trắng chứ không phải “trắng ngựa”; “nhân tâm” là lòng người chứ không phải là “người lòng”; chúng ta nói “nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, nhưng dịch ra Hán văn thì phải là “Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Hoà Quốc”. Và tập viết, sách in bằng chữ Hán ngày xưa phải được đọc từ sau ra trước.
Tương tự như vậy, 3 từ mà nhiều nhà treo là “Phúc – Lộc – Thọ” để nói lên những ước nguyện trong đời cũng phải được hiểu ngược với thứ tự sắp xếp từ mới hợp lý.
Xin tạm hiểu: “Phúc” là điều may mắn, tốt lành không sờ nắm được, không thấy được tức thời mà chúng ta gặp, ví dụ: một gia đình mà anh em con cháu hoà thuận, ấy là nhà có phúc. “Lộc” là chuyện may mắn, tốt lành sờ nắm được, thấy được tức thời mà chúng ta có, ví dụ: một người nào đó bỗng nhiên nhận được một món quà do bạn bè từ xa gởi đến - người ấy gặp lộc; xong một lễ tế ở đình làng, dọn xôi thịt cúng xong mời dân làng ăn, ấy gọi là dân hưởng “lộc” của thần linh. “Thọ” là sự kéo dài của đời sống. Theo quy định hiện hành của xã hội ta, 60 tuổi trở lên mới được gọi là “hưởng thọ”. Con người có sống lâu (thọ) mới biết mình có “lộc”, có “phúc”; chết sớm thì làm sao mà hưởng được “lộc” và “phúc”, nghĩa là viết xuôi là “Phúc – Lộc – Thọ”, về tầm quan trọng, vẫn phải được hiểu là: “Thọ - Lộc – Phúc”.
Trở lại ba bậc “quân – sư – phụ”; không có “phụ” (cha) thì không ai sinh mình ra; như thế mình có đâu để đến học với “sư” (thầy), rồi thành đạt, ra phụng sự “quân” (vua).
Còn xét về lòng tôn kính, thương yêu, quan tâm đến, không ai bỏ cha mình mà ưu tiên cho thầy, chứ khoan nói ưu tiên cho vua; “hiếu vi tiên” mà!. Lòng tôn kính, thương yêu, quan tâm đến cha thể hiện hàng ngày, hàng giờ; lòng tôn kính, thương yêu, quan tâm đến thầy, nếu có, chỉ thể hiện thỉnh thoảng; còn đối với vua thì “tôn kính nhưng xa xôi quá”(kính nhi viễn chi).
Và muốn biết sự quan tâm đến ai hơn ai, xem ai trọng hơn ai, cứ xem cách thọ tang ngày xưa thì rõ. Cha mất chịu đại tang (3 năm, trong thực tế, hiện nay chỉ còn 24 tháng tròn); thầy mất, nếu muốn, chỉ chịu tang tình cảm (tang không quy định thời gian, tuỳ tấm lòng); vua băng hà, cả nước chỉ chịu tang bằng cách treo cờ rủ một thời gian ngắn, trường hợp vua Bhumibol Adulyadej của Thái Lan vừa mất (13/10/2016) là đặc biệt – chính phủ Thái Lan quyết định 1 năm vì trong thời gian 70 năm trị vì, Ngài được xem như trụ cột cho sự ổn định, thống nhất của đất nước.
Vậy nên dù về mặt sắp xếp các từ là “quân – sư – phụ”,tác giả bài này hiểu, về mặt nghĩa, là “cha – thầy – vua”.
Dù được hiểu theo cách nào đi nữa – ai trọng hơn ai, “thuyết chính danh” trong Nho giáo phải được áp dụng triệt để. Theo “thuyết chính danh”, vua cho ra vua, thầy cho ra thầy, cha cho ra cha.
Vua phải hết lòng vì dân vì nước, biết lo trước khi thiên hạ lo, còn sung sướng, phải hưởng sau thiên hạ (tiên ưu thiên hạ ưu, hậu lạc thiên hạ lạc).
Thầy, trong dạy dỗ học trò, phải tận tuỵ; người xưa quan niệm trong lúc dạy dỗ người thầy phải nghiêm túc, nếu không, thầy không tròn trách nhiệm (giáo bất nghiêm sư chi đoạ - Tam Tự Kinh), thầy phải truyền đạt kiến thức, đạo đức không chút tính toán thiệt hơn; thầy không bao giờ giấu chữ, không bao giờ sợ học trò sau này giỏi hơn mình, thầy luôn vui mừng theo bước tiến của học trò.
Cha, ngoài công sinh, phải nuôi nấng, dạy dỗ con nên người, dựng vợ gả chồng, tạo lập gia thất.
Không phải vua nào, thầy nào, cha nào cũng hoàn thành các thiên chức, nghĩa vụ vừa kể.
Trong lịch sử, không thiếu các ông vua chỉ lo vun quén cho gia đình, gia tộc riêng của mình, sống truỵ lạc, ham chơi, tàn ác với quần thần, với nhân dân.
Có nhiều người thầy dạy dỗ không nghiêm túc, vòi vĩnh học trò, dụ dỗ đưa học trò vào con đường hư hỏng, thầy giáo hiệu trưởng Sầm Đức Xương (1) ở tỉnh Hà Giang cách đây mấy năm là một ví dụ.
Cũng có nhiều người cha sinh con ra, không lo nuôi dạy, ngày đêm rượu chè say sỉn, gái gú tùm lum, hành hạ vợ con ...
Người không may mới phải làm dân của vua như thế, làm trò của thầy như thế, làm con của cha như thế.
Đối với “vua không ra vua”, Nho giáo dẫn lời hỏi đáp giữa Tuyên Vương nước Tề - một chư hầu nhà Chu bên Tàu ngày xưa – với Mạnh Tử (372 – 289 TCN), một lý thuyết gia Nho giáo. Tề Tuyên Vương hỏi Mạnh Tử:
Làm tôi giết vua của mình, được không? (thần thí kỳ quân, khả hồ?)
Mạnh Tử đáp:
- Tôi có nghe chuyện giết một thằng tên Trụ (2), chứ chưa hề nghe chuyện giết vua. (Văn tru nhất phu Trụ hỷ, vị văn thí quân dã)
Tuân Tử (313 – 283 TCN), cũng là một lý thuyết gia Nho Giáo, nói: “Giết ông vua bạo ngược trong nước, cũng ví như giết thằng độc ác” (tru bạo quốc chi quân nhược tru độc phu).
Đối với “thầy không ra thầy”, có lẽ trò chỉ đi tìm thầy khác mà học, hoặc bỏ học ở nhà; chưa nghe ai dạy, sách nào dạy phải hỗn láo với thầy, hành hung thầy.
Đối với “cha không ra cha”, sách Nho có dạy: Cha làm điều trái, làm con phải can ngăn để cha khỏi lầm lỗi, chỉ có điều phải giữ lễ phép khi can ngăn.
Như thế, chúng ta biết rằng chỉ có “vua không ra vua” là bị khử. Vua không phải muốn làm gì thì làm; việc của vua luôn được Trời giám sát; vua bất xứng, Trời sẽ cảnh cáo bằng cách gieo thiên tai (bão lũ, hạn hán), nhân tai (dịch bệnh, hoả hoạn, giặc giã) đẩy nhân dân vào cảnh khốn cùng khiến nhân dân nổi dậy lật đổ vua. Chừng đó chứng tỏ ngày xưa làm vua cũng khó và nguy hiểm; Mạnh Tử lại còn nói: “Trong một nước, quý nhất là nhân dân, quý nhì là đất đai, quý chót là vua” (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh)
Thế thì cách hiểu ý ngược với thứ tự sắp xếp các từ “Quân – Sư – Phụ” theo tác giả bài này là cha – thầy - vua mới đúng, phải không bạn đọc?

                                  16/10/2016 (16/9/ Bính Thân)
                                               Hoàng Đằng

------------------------------------------------------------

(1) Sầm Đức Xương, hiệu trưởng một trường phổ thông trung học ở huyện Bắc Giang, tỉnh Hà Giang, từ tháng 7/2008 đến lúc bị bắt (tháng 9/2009) đã dụ dỗ nhiều nữ học sinh vị thành niên để mua dâm và dùng dâm đãi khách.

(2) Trụ là vị vua cuối cùng nhà Thương bên Tàu, nổi tiếng dâm ô, bạo ngược

READ MORE - QUÂN - SƯ - PHỤ... AI TRỌNG HƠN AI? - Hoàng Đằng

Sunday, November 6, 2016

CON NẮNG LAO XAO - thơ Trương Thị Thanh Tâm


Ảnh tác giả


CON NẮNG LAO XAO 
                
Anh về phố thị thăm em 
Nắng xuân rực rỡ, dương rèm đợi ai 
Anh về tình vẫn chưa phai 
Chút tình yêu muộn, tuổi đời chông chênh 

Mỹ Tho ngày tháng lênh đênh 
Bốn mươi lăm lẻ, còn trên đỉnh sầu 
Anh về nắng cũng nhạt mầu 
Chiều buông tóc rối, tình sâu chín muồi 

Anh còn bương bãi ngược xuôi 
Quên rồi kỷ niệm, mờ rồi bước chân 
Đêm về vọng nhớ cố nhân 
Đường xa quan lộ, phân trần được đâu!

Cuộc đời còn lắm phong trần 
Làm sao níu lại bước chân người về 
Ai quên lời nói hẹn thề?
Trăm năm vẫn giữ tình quê ngọt ngào 

Giờ nhìn con nắng lao xao 
Mới hay tình đã bay cao khoảng trời 
Tay buông tình đã rã rời 
Chôn sâu kỷ niệm một đời yêu ai!

          Trương Thị Thanh Tâm 
                  Mỹ Tho 


READ MORE - CON NẮNG LAO XAO - thơ Trương Thị Thanh Tâm

UỐNG RƯỢU VỚI BẠN HIỀN - Thơ Kha Tiệm Ly



UỐNG RƯỢU VỚI BẠN HIỀN

Chẳng đủ tiền xe nên lâu lâu gặp lại,
Rượu rót xoay vòng, cứ hai đứa cưa hai
Đừng ham nhậu mà mần nguyên một cái
Thì mấy tua sẽ hộc máu Anh Đài!

Bọn chúng ta không thằng nào là tiến sĩ,
Nên chẳng dám ba hoa nói chuyện trời ơi.
Mà bày đặt búa xua bằng tiếng Tây tiếng Mỹ, 
Thỉnh thoảng giận đời tức khí "xổ nho" chơi!

Cũng chẳng thằng nào là quan to, quan nhỏ.
Nên chẳng quan tâm xây tiền tỷ một tượng đài.
Cũng chẳng thèm làm những công trình quy mô rồi bỏ xó, 
Lỗ tỷ tỷ đồng bèn kiếm cách gút bai! (good bye)

Bọn chúng ta cũng chẳng thằng nào là văn sĩ, 
Nên không sợ người coi, rồi hả miệng hả răng cười,
Và chẳng sợ ai mướn làm bút bồi, bút đĩ,
Chỉ lúc ngà ngà hứng chí viết chơi thôi.

Bọn chúng ta cũng chẳng ai được gọi là... "sĩ sĩ"
Nên chẳng ra gì dưới mắt các danh gia.
Mình chẳng sợ ai lầm thiên thần thành ác quỷ.
Giữa cuộc đời Phật Phật ma ma!

Bọn chúng ta chỉ là phường cơm rau, áo vá,
Uống nước mắt quê hương, xỉn xỉn vỗ bình ca.
Vậy mà biết thương đồng bào miền trung đói lả,
Đau đáu cõi lòng khi tổ quốc mất Hoàng Sa!

Thôi bỏ đi, chuyện đời, chuyện nước,
Rót nữa đi, đêm vẫn còn dài.
Giờ tới quận tôi, tôi đây làm trước,
Tâm sự còn nhiều, mình hãy nhấp lai rai!

                                         Kha Tiệm Ly

READ MORE - UỐNG RƯỢU VỚI BẠN HIỀN - Thơ Kha Tiệm Ly

LŨ QUÊ - thơ Phan Minh Châu



LŨ QUÊ

Tỉnh đã nghèo phố cũng rớt mồng tơi
Dăm sào ruộng chỉ đủ vừa đắp bữa
Trời không thương tháng mười mưa xối xả
Những con đường mới đó đã thành sông
Nước đòng đòng chỉ mấy bữa nước dâng
Trời bắt tội hay tội người xả lũ
Chỉ thương quê nghèo nàn không chỗ trú
Đêm dầm mình chống chọi với tai ương
Rẻo đất nghèo chiếc eo nhỏ đáng thương
Cứ vài ba năm lại thành sông thành suối
Nhà lớp lớp lại chìm trong biển nước
Và ruộng vườn trăm thứ bỗng tan hoang
Nhìn đàn em thơ dại bỗng thêm thương
Mai đến lớp! khi nào em đến lớp?
Trường đã ngập cửa nhà trơ cảnh bếp
Chén cơm buồn chưa hết những ngày sau
Nhìn quê mình ngập lụt thấy mà đau
Đã khốn khó lại chồng thêm khốn khổ
Chung tay lại giúp em vài tập vở
Khi ngoài trời đâu đó vẫn còn giông
Phú Yên nghèo vài trận lụt mỗi năm
Người ở phố nhờ nhà cao cửa rộng
Chỉ cánh dân quê đi khơi về lộng
Khi lũ cuồng mới thấm nỗi niềm quê

Phan Minh Châu


READ MORE - LŨ QUÊ - thơ Phan Minh Châu

VÌ EM HỜN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - VÌ EM HỜN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Đông Nguyễn

GIỌT NƯỚC MẮT / chùm thơ Võ Quốc Tuấn

 
Ảnh tác giả


Giọt Nước Mắt

Suốt cuộc đời
Ta khóc được mấy lần?
Mấy lần ta làm người khóc?
Trong những lần khóc ấy
mấy lần vì hạnh phúc
hay chỉ là khổ đau?

Ngày chào đời, ta đã khóc vì lạ lẫm
Cha mẹ cũng lệ rơi vì hạnh phúc.
Tuổi thơ ta lớn lên trong tiếng cười
Trong khi Người lại khóc thầm trong cảnh khổ.

Lớn thêm…
Người lại khóc khi ta gây lỗi lầm
khi ta biết nhận lỗi, có trách nhiệm
khi thấy ta đỗ đạt nên người
khi ta yên bề gia thất...

Ngày cuối đời…
Ta khóc tiễn đưa Người
lệ thành dòng.
Người lại khóc
Sao không còn nước mắt…

Trà Vinh: 02/8/2016
VQT

***

Buồn…

Buồn…
Ra phố lang thang
Đi tìm thú vui riêng.
Dạo chơi…
Uống cà phê, ngắm hoa, nghe nhạc.
Uống cốc bia,
Lòng nguôi ngoai
Ra về trong men say…
Bắt gặp
Vợ buồn, lấy ảnh cưới ra xem
Cười gượng.
Ngồi may gối, áo cho con,
Ủi áo cho chồng
Mãn nguyện.
Nhìn mâm cơm đợi chồng
Lo lắng…

Mới hay
Lòng buồn gấp bội!
Trách mình
Phải chi đừng ra phố!...

Trà Vinh: 06/8/2016
Võ Quốc Tuấn



READ MORE - GIỌT NƯỚC MẮT / chùm thơ Võ Quốc Tuấn