Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 20, 2012

CHUYỆN GIÁO DỤC VÀ Y TẾ "ĐỜI XƯA" Ở HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân


Một trường làng thời Pháp thuộc

    Nói là chuyện đời xưa về đời sống của làng ta, nhưng rất gần đây thôi, nghĩa là trước 1945 chút ít mà tôi, đã thấy đã tham gia và đã sống. Bây giờ nhớ lại tôi hình dung như là chuyện cổ tích.
    
   Đời sống thì nhiều chuyện, ở đây tôi nói về sự học và chữa bệnh.

    1. Sự học

     Nhờ Mặt Trận Bình Dân ở Chính quốc (Pháp) mà năm 1936, bốn làng ta gồm Văn Quĩ, Hưng Nhơn, An Thơ, Phú Kinh mới có một trường gọi là Trường Tổng. Trường đặt tại làng Văn Quĩ, diện tích khoảng 60m2 làm hai phòng dạy cho học sinh 3 lớp (lớp năm, lớp tư, lớp ba). Lớp năm là lớp một, lớp tư là lớp hai và lớp ba là lớp ba bây giờ.

    Tên trường được viết chữ Tây: Ecole Elementaire Văn Quĩ nghĩa là Trường Sơ học (Lớp Ba) Văn Quĩ.

     Học trò niên khoá 1936-1937 khoảng 45-50 em, nói chung con gái chưa được đi học. Đặc biệt ở trường này may có ba gái: một là con thầy và hai con gái nhà giàu, có thế lực và nhà ở gần trường. Thầy dạy chỉ có một thầy Trợ Phức. Đến hai năm sau học sinh lên khoảng 55-60, cũng chỉ 3 gái. Thầy thêm một là thầy giáo Hồng.

   Trước đó chưa có trường nên con em bị thất học, do đó mà trong một lớp tuổi chênh lệch nhau. May mắn, 7 tuổi tôi được học lớp 1 (đúng tuổi quy định) còn nhiều bạn khác tuổi 8 hay 9, hay 10…có bạn như chú Lùng người An thơ 15 tuổi cùng học với tôi.

    Những năm 1937, 1938, 1939, học trò làng ta cả 3 lớp đếm đầu ngón tay: xóm Thượng: Thuỳ, Ấm; xóm Trung: Chiêu, Hối, Phu, Cung, Xá, Khuê;  xóm Hạ : Dương, Đệ, Cự, Ngạc, Xuân, Triều, Dũ, Chấn, Phấn…(còn sót), một số nhiều sinh sau năm 1932 học tiếp tôi không ghi vào đây. Một sổ trên lớn tuổi hơn như Dương (anh Triều), Phố (anh Xá), Toản (em trợ Phiên), Bảy (con Ông Phó Diệu); một số lớn hơn nữa sinh trước 1920 như anh Lãm tôi, chú Quế (Lang) thầy trợ Phiên, trợ Phước, tuổi trước 1910 có lẽ chỉ ông Trần Văn Lý…tất cả trước học đâu tôi không rõ.

    Học sinh Trường Tổng :

                             Văn Quĩ khoảng 20-25 học sinh
                             Hưng Nhơn khoảng 17-23
                             An Thơ khoảng  8 – 12hs
                             Phú kinh khoảng 1 – 3hs

   Học ngày hai buổi, nghỉ thứ năm và chủ nhật /tuần. Học xong chương trình 3 năm được đi thi lấy giấy chứng nhận tốt nghiệp Sơ học Yếu lược. Dân làng thường gọi là “bằng Yếu lược”. Các gia đình có con đậu Yếu lược lấy làm hãnh diện lắm.

   Thi Yếu lược phải ra tại phủ lỵ Hải Lăng đóng ở Diên Sanh. Gia đình chuẩn bị vất vã lắm. Phải đi thuyền từ ngày hôm trước, đêm nghỉ lại Càng, sáng hôm sau chèo ra Diên Sanh sớm để kịp vào trường thi. Không những thế, mỗi học trò đi thi trong nhà phải có hai ba người đi theo để giữ cho khỏi lạc đường…vì còn quá nhỏ.

   Đậu Yếu lược xong, ai có điều kiện sang thi tại Trường Huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Sự học được mở rộng hơn trước.

   2.  Chữa bệnh 

      Học còn có trường Tổng, chữa bệnh không có Trạm Y tế. Ai có bệnh tự chữa. Nhà nào giàu có, bệnh thật nặng mới dám mời thầy lang (thầy bốc thuốc Bắc).

    Tôi kể một chuyện, có lẽ từ đó hiểu ra mọi vấn đề:
Ví dụ: Ai đó không may bị xước ở bắp chân, lấy tay quệt máu rửa qua loa nước lạnh, hôm sau tấy lên, rịt vài cái lá vớ vẩn, nó tấy đỏ lên nữa rồi loét, giữa có mủ vàng, chung quanh dày lên một vòng màu tím đỏ. Mụt đó có tên rất đáng sợ là: Mụt Ghẻ Hờm.  Người ta cho con Đỉa cắn vào chung quanh nơi có màu tím đỏ, bởi cho đó là máu độc. Khi ghẻ hờm đang tấy lên vùng quanh đó rất nóng. Đưa con đỉa vào đó nó trườn ra không chịu cắn. Con người khôn ngoan bèn cho con đỉa vào ống thu đủ, dí ống vào chổ cần cho cắn, đỉa lựa mãi rồi đành phải cắn chỗ chỉ định nút lượng máu trong mụt ghẻ hờm ra. Tuỳ ghẻ hờm to nhỏ mà cho mấy con đỉa to nhỏ bu cắn hút máu. Nhìn dễ sợ! Những con đỉa no tròn máu, chúng tôi chơi trò nghịch mới là đem chúng ra sân, xếp nằm thẳng hàng ngay đơ, rắc muối lên lưng, đỉa phun máu ra tia dài trông rất vui, sau đó vất đỉa đã xẹp vào đống tro cho chết.

    Người nông dân dù đang bị ghẻ hờm đau nhức cũng phải ra đồng cày, nước bùn ngâm cả ngày, miệng ghẻ toe toét nhợt nhạt trông rất đau rất tội. Chẳng có thuốc gì, có mụt kéo dài một hai năm rồi để lại vết sẹo nhăn nhúm đen sẹm dài ngoằng.

    Cũng có người đau đầu người nóng, khó chịu, xâm xẩy mặt mày, thường dùng kim chích, nặn ra bớt máu, cũng có người nhờ mấy con đỉa đậu trên trán nút máu độc. Ôi khiếp quá!

   Đời sống nghèo túng, ăn đói mặc rách, nắng đổ lửa, rét cắt da…làm nặng nhọc, sức người có hạn vì vậy bệnh tật gây chết người hàng loạt ngày càng nhiều như thương hàn, kiết lị …Chêt hàng loạt như vậy người ta cho là “chết trùng” chứ không phải do không thuốc men chữa trị.

   Bây giờ sẵn thuốc, sẵn Y, bác sĩ  và ta biết cách phòng bệnh, cảnh tượng trên sẽ đi vào cổ tích.

READ MORE - CHUYỆN GIÁO DỤC VÀ Y TẾ "ĐỜI XƯA" Ở HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

Tuesday, June 19, 2012

CHÙM TỨ TUYỆT - Nguyễn Nguyên An





1/ THIỀN

Tâm động phướn động
Vốn là cuộc sống
Bước vào thiền tông
Tâm phướn bất động


2/ YÊN

Một ngày một niệm
Cố giữ tịnh yên
Khởi công làm thiện
Rủ sạch ưu phiền


3/ VỀ

 Lớn lên bàn tay trơn
Vịn lời dạy Thánh, Phật
Vén dọn mình cho tròn
Trước khi về với đất


4/ LÀNH

Gắng trồng cây lành
Tròn trịa lòng thành
Chung quy hữu báo
Dù chỉ mầm xanh


5/ TÁT

Thời gian sắp cạn
Ngoảnh lại hư không
Chắp tay ta tát
Cạn sạch biển lòng


6/ NGÚN

Bức ảnh khoả thân
Người chụp rất thần
Trong tay bọn trẻ
Ngún cháy âm thầm


7/ CHÁY

Em thời bùng cháy
Anh rơm đượm vàng
Sau cuộc tro than
Ngún mầm sinh tử


8 / SI

Tôi thắp đuốc đi
Giữa cuộc chia ly
Lửa không sáng nổi
Dạ người cuồng si


9 / CỔ TÍCH

Tìm đâu đường đất
Chân trâu soi trời
Bùn vương mép nón
Bụi vói đọt tơi


10 / VÔ THƯỜNG

Không hương không sắc
Không màu không thật
Một đoá vô thường
Nở từ ngộ giác


11 / PHỤC SINH

Ngôn ngữ tử sinh
Cúi nhặt phục sinh
Con chữ chết chìm
Léo sáng bình minh


12 / ĐÔNG THIỀN

Lạc vào Đông Thiền
Một cõi tịnh yên
Xưa đã vô duyên
Nay xin đảnh lễ


13 / MẸ ỐM

Mẹ về bệnh viện
Cháu chắc về theo
Tuổi già đón tiễn
Nửa mảnh trăng treo


14 / CHA MẤT

Cha thọ tám hai
Không làm phiền ai
Mấy ngày nằm viện
Rũ bụi trần ai


15 / HẠNH PHÚC

Trên mái tóc mẹ già
Vắng bốn mùa mây trắng
Em cười như hoa nắng
Nở dưới giàn bí ngô


16 / MẶT ĐẤT

Mặt đất bao dung
Vô ngôn sinh nở
Nằm ở tận cùng
Cho người hít thở


17 / SÁNG & CHÁY

Đêm cong như một sợi cung 
Bắn tôi vun vút sang khung cửa ngày
Ngu ngơ vốc ngọn lửa
Đi miết mải vào đêm sáng và cháy!


18 / MƯA THỜI GIAN

Tóc chín màu thời gian của tuổi
Mắt chớm buồn bịn rịn nhân gian
Em cô giáo – giang vòng tay đợi
Mưa thời gian bàng bạc tóc chiều


19 / THẮP TỊNH ĐỘ

Một mình đối diện với đêm
Được nghe lòng lắng bên thềm thế nhân
Đêm xanh nhen biếc nụ mầm
Ta thắp tịnh độ cho tâm rạng ngời


20 / CHUNG THỦY

Áo rách vai có kim chỉ vá
Rách tấm lòng ai vá được chăng?
Lòng chung thuỷ một đời không ngã
Trĩu cây đời hạnh phúc trăm năm


21 / CHUÔNG

Chùa xưa ngủ dưới thông ngàn
Sương mai tụ cánh hoa vàng điểm trang
Chuông đồng tiểu giộng ngân vang
Con chim sâu nhỏ bàng hoàng đứng im


22 / NHÂN NGHĨA

Nỗi buồn làm chín cả chiều
Niềm vui nhen một chút phiêu diêu ngày
Chỉ lòng nhân nghĩa trao tay
Thế gian quẫy một gánh đầy an vui


23 / VÔ DUYÊN


Em đi tím cả chiều rồi
Chơ vơ anh biết đứng ngồi sao yên
Cúi xin nhặt hết ưu phiền
Dành đan chiếc áo vô duyên cho mình

N.N.A

  

Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH (NNA) - 50 Trần Thái Tông, Huế -Tel: 01688971486
READ MORE - CHÙM TỨ TUYỆT - Nguyễn Nguyên An

Sunday, June 17, 2012

ANH NHỚ EM - Nhạc Lê Hoàng - Thơ Thy Lệ Trang

Anh nhớ em






Lê Hoàng
lehoang49@ymail.com
READ MORE - ANH NHỚ EM - Nhạc Lê Hoàng - Thơ Thy Lệ Trang

LÃNG MẠN SÔNG CẦU - Đình Thu

Chiều ở chân Đèo Cù Mông. Ảnh từ trang otofun.net




Viết tặng Phụng Kết & những người bạn Sông Cầu



Tìm về Sông Cầu theo câu hát
Hồn nhiên lãng mạn giữa trời xanh
Núi ôm biển bốn mùa tình tự
Đèo Cù Mông lãng đãng nắng chiều lên


Mới gặp nhau lần đầu
Chưa kịp …
“Trách giọng người xứ nẫu” sao mà lạ
Quen rồi lại thấy thèm nghe …


Vịnh Xuân Đài như nàng tiên
Làm say hồn lữ khách
Vô tình nghe biển gọi tên em
Cúi xuống !
Nhặt trên mạn thuyền ngược gió
Dòng cảm xúc ai đó để quên
Mượn con sóng viết lời tình tự
Ta ngỏ lời cầu hôn 


Sông Cầu ơi !
Sông Cầu ơi !
Đừng hỏi vì sao ?
Khi chia xa lòng quay quắt
Để em tựa lưng ...
                      vào núi đợi
Và ...
           biển ngàn năm sóng rì rào

                                        Đình Thu
dinhthubank@yahoo.con.vn
READ MORE - LÃNG MẠN SÔNG CẦU - Đình Thu

KHUNG TRỜI KỶ NIỆM* - Hoàng Yên Lynh


Đông Hà - Ảnh của .duyht86 từ Flickr


(* Đông Hà sau 40 năm trở lại ...)

Tôi trở thành khách lạ giữa quê tôi
Chẳng ai biết chẳng ai quen thuở ấy
Chỉ còn đây con sông thời tuổi dại
Soi bóng tôi về tóc ngã màu mây .


Nói khẻ thôi cây phượng già đứng bóng
Có nhớ tôi năm tháng tuổi học trò
Và gió nữa ngậm ngùi ơi gió thổi
Của một thời đẹp áo trắng mộng mơ .


Tôi lặng ngóng sân ga buồn mắt đỏ
Nơi hẹn hò chia biệt tuổi đôi mươi
Khúc hát ru ngọt ngào theo nỗi nhớ
Đêm ngập tràn khuôn mặt bạn bè tôi .


Tôi khách lạ , lạ tên đường tên phố
Vầng trăng nay như trăng tự thuở nào
Đời dâu bể ngược xuôi đường cơm áo
Đất quê mình sao cứ ngỡ chiêm bao .





Đông Hà 02.2011
HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - KHUNG TRỜI KỶ NIỆM* - Hoàng Yên Lynh

SÔNG HOA THÀNH CỔ - Hồ Sĩ Bình

Hình từ trang dulich.quangtri.gov.vn

Nhiều năm qua, những ngày lễ lớn như kỷ niệm ngày giải phóng Thành cổ, ngày thương binh liệt sĩ, tôi có dịp trở lại Quảng Trị, nơi từng được nhân loại vinh danh là thành phố tuẫn đạo (ville martyr).

Mấy ngày trước khi diễn ra lễ hội, đông đảo các cựu chiến binh trở về. Họ quần tụ bên nhau, thậm chí ăn bờ ngủ bụi (vì cả thị xã chỉ có hai nhà nghỉ đã xuống cấp không đủ đáp ứng nhu cầu nghỉ lại). Các anh chị ấy bây giờ mỗi người mỗi công việc, mỗi địa vị khác nhau nhưng gặp lại đều bình dị. Lạ ở chỗ, ai cũng làm thơ, viết nhạc về mảnh đất Thành cổ.

Họ thay nhau hát, đọc thơ gần như liên tu bất tận suốt cả đêm không ngủ về một chủ đề rất cũ. Nhiều người ở tận những miền quê xa, nhưng khi được hỏi về quê quán không ngần ngại trả lời: Thành cổ. Cỏ lau Thành cổ đã sinh thành những chiến binh làm thơ, viết nhạc. Như thể không làm khác đi được, cho dù đó là những dòng thơ nhạc dung dị, mộc mạc, đôi khi còn dễ dãi trong câu chữ, nhưng khi ai đọc lên đều bằng một rung cảm lạ thường đủ sức lay động tâm hồn người khác, chí ít trong không gian giữa ngàn lau Thành cổ.

Bởi đó là nỗi ám ảnh kinh khủng của cả đời người về chiến tranh, niềm nhớ thương chưa bao giờ quên lãng với đồng đội, sự gian khổ của một thời tuổi trẻ, sự bầm tím tâm can để tiếp tục sống trong khắc khoải, nên chỉ có nghệ thuật mới cơ may giải thoát nỗi niềm uẩn khúc của người chiến sĩ...

Chuyện kể hằng năm trong những ngày này ai cũng biết. Những chiến sĩ năm xưa mang hoa huệ trắng thả đầy trên dòng sông Thạch Hãn để tỏ lòng tiếc thương đồng đội. Điều muốn nói thêm là chuyện của người dân thị xã. Bao nhiêu năm đã sống trên đất huân chương khó đủ từng viên gạch (thơ Trần Bạch Đằng), nên trong tâm tưởng của người dân luôn cảm nhận đây là vùng đất tâm linh.

Họ sống bằng tâm thức của sự ngưỡng vọng và niềm tri ân, nên chính họ đã tự mình dâng hoa thả trắng cả dòng sông tưởng niệm. Những đêm lễ hội hoa đăng cũng thế, không chỉ của ban tổ chức lễ hội, của cựu chiến binh mà còn có hoa đăng của người dân đôi bờ đã góp phần tăng thêm sự huyền ảo, trang nghiêm cho dòng sông sử thi Thạch Hãn.

Cũng trong những ngày lễ, khói hương không chỉ nghi ngút ở đài tưởng niệm mà còn ngào ngạt giữa dân gian trong niềm xác tín rằng đây là ngày lễ trọng. Tất cả đều tự nguyện. Không có nghi ngờ gì nữa, họ đã chọn thái độ sống của cả một đời dân bằng trách nhiệm và sự tôn trọng với quá khứ. Cách hành xử ấy đã tạo nên không khí của nền văn hóa tâm linh của người dân thị xã Quảng Trị, để có thể gọi tên đó là bảo tàng sống của văn hóa chiến tranh Thành cổ.

Và di tích lịch sử quốc gia Thành cổ cần được viết thêm vào bia đá những nét đẹp văn hóa rất đáng được tôn vinh và trân trọng của ngày hôm nay.





Hồ Sĩ Bình
hosibinh@gmail.com
READ MORE - SÔNG HOA THÀNH CỔ - Hồ Sĩ Bình

Saturday, June 16, 2012

LỜI VỌNG CHÂN MÂY - La Thuỵ

  


     LỜI VỌNG CHÂN MÂY
    (Cảm đề “ Hát giữa rừng chiều “ của ĐHT )

       Non thiền lắng bợn sắc không
 Su
ối nguồn lờ lững một dòng chân như
       H
ương Tây phương giũ phù hư
 Thoát trùng b
ể khổ Thuyền Từ phiêu diêu
       Hòa mình cùng ch
ốn tịch liêu
  Chuông mai Su
ối Đó , kinh chiều Chùa Đây
       Thì th
ầm lời vọng chân mây
  R
ừng chiều ai hát riêng tây vô thường
                                               LA THU
Ỵ
          
READ MORE - LỜI VỌNG CHÂN MÂY - La Thuỵ

CHÙM THƠ XƯỚNG HOẠ - Sông Thu,Thanh Trương, Võ Làng Trâm, Lương Thế Hùng, Hoài Hương, Thu Vân


Chùm thơ xướng họa nhiều tác giả


               XƯỚNG

                 TUỔI GIÀ
Thời gian vùn vụt thoắt trôi qua
Phút chốc giờ đây tuổi đã già
Gối mỏi khớp mòn, đi loạng choạng
Mắt mờ mi nặng, ngó lòa nhòa 
Răng long, chẳng thiết cơm hay phở
Lực kiệt, không màng bướm với hoa
Đời có gì vui mà sống tiếp
May còn lại được thú thi ca !
                                   Sông Thu

                     HOẠ

                   VUI MÃI
 Sống thời trai trẻ bao năm qua
Thoắt cái đời ta đến tuổi già
Mỏi gối, chuyện xưa còn nhớ mãi
Mắt mờ, tình cũ vẫn chưa nhòa
Lưng còng, ham muốn trò vờn bướm
Sức kiệt, say mê thú ngắm hoa
Cõi thế tràn đầy bầu rượu ngọt
Vui cùng bạn hữu với thơ ca.
                   Thanh Trương

             NGÁN NGẪM !
Mới đó mà nay tuổi trẻ qua
Bao năm lăn lộn quả mau già
Chân đi gậy chống còn run rẩy
Mắt ngắm kính đeo cũng nhạt nhòa
Mưa lạnh tay đơ thêm họng rát
Nắng hanh ngực tức lại đầu hoa 
Ham vui cũng muốn chơi đây đó
Nhưng ngặt đêm về bị vợ "ca "...
                           Võ Làng Trâm

                  VÔ TƯ
 Một kiếp phong trần cũng sắp qua
Tổn hao trí lực thấy mau già.
Th
ắng thua mấy bận không phai nhạt
Thành b
ại bao phen chẳng dễ nhòa
Đ
ộ lượng cho đời tươi sắc lá
V
ị tha để sống thắm màu hoa.
Yêu ng
ười sẽ được người yêu lại
Đ
ứng tuổi vẫn còn say hát ca.
                       Lương Thế Hùng

               TU
ỔI BUỒN
Quê người bao độ gió đông qua
Thấm thoắt thoi đưa tuổi đã già
Tóc bi
ếc chưa chi đà bạc thếch
Môi h
ồng mới đó đã phai nhòa
Ch
ẳng còn ngơ ngẩn nhìn mây nước
Không thi
ết mơ màng ngắm bướm hoa
L
ưu lạc tha hương đời sóng gió
Ng
ậm ngùi trao hết bạn thơ ca
                               
Hoài Hương 

         CA KHÚC ĐỜI NGƯỜI
Nắng xuyên trần thế lướt trôi qua  
Mưa dội nhân gian thấm tuổi già
Một thuở gấm nhung thời sáng chói
Qua hồi tuổi hạc vận phai nhòa
Tiếc thầm chưa thỏa kỳ trai trẻ
Ngẫm lại còn say độ nguyệt hoa
Tơ tưởng cầm thi Chinh phụ khúc
Mơ hồ suối nhạc Dạ lang ca
                                 Thu Vân

 Biên tập: Sông Thu



READ MORE - CHÙM THƠ XƯỚNG HOẠ - Sông Thu,Thanh Trương, Võ Làng Trâm, Lương Thế Hùng, Hoài Hương, Thu Vân

Friday, June 15, 2012

KỶ NIỆM BUỒN - Thơ Châu Thạch, nhạc Lê Hoàng

READ MORE - KỶ NIỆM BUỒN - Thơ Châu Thạch, nhạc Lê Hoàng

Nguyễn Thanh Xuân - HAI LẦN ĐI, VỀ

Đồng làng Hưng Nhơn. Ảnh Nguyễn Như Khoa

            Lần Đi
      
        Tôi có nhật ký thơ:

Đêm tập kết

     Năm tư tháng bảy canh ba
Đất mình hồi hộp vượt qua đất mình
     Hải Lăng, Bến Hải, Vĩnh Linh
Quê hương Quảng Trị một tình chia đôi
    Chân đi lòng những bồi hồi
Gửi về cha mẹ sáng ngời niềm tin
                                                    31-8 1954

      Tiểu dẫn: Sau hiệp định đình chiến 21-7-1954, xã tôi xã Hải Phong (Hải Tân, Hải Hoà hiện nay) đưa một số người ra miền Bắc, gọi là đi “tập kết”. Đoàn khoảng 20 người, phần lớn người Câu Nhi. Thôn Hưng Nhơn chỉ có tôi. Trưởng đoàn: Nguyễn Ngôn, người Hà lỗ. Lên đường, người đi đầu cầm lá cờ mầu xanh, biểu tượng của hoà bình (qui định trong hiệp định đình chiến).

     Thế nhưng không đi qua tỉnh lỵ Quảng Trị mà lên Như Lệ rồi theo giao liên đi “đường tắt” đến thượng nguồn sông Bến Hải. Khoảng 01h ngày 29-7-1954 chúng tôi “vượt” từ bờ khe phía Nam sang bờ khe phía Bắc mươi bước chân . Thật là hồi hộp!!

    Đoàn đi sớm vươt cả thời gian chuẩn bị đón tiếp của Chính phủ. Đi quá một buổi đường, phải quay lại nơi đón tiếp của Trung ương do ông Trần Hữu Dực làm Trưởng Ban Đón Tiếp.

    Số người dự mét tin còn ít, bởi đây là mấy đoàn đi sớm nhất. Lần đầu tiên được nghe cán bộ Trung ương trực tiếp truyền đạt chủ trương của nhà nước, những khó khăn thuận lợi, đặc biệt là trách nhiệm hai năm, mỗi người nắm cho được kiến thức tiên tiến của thế giới, để sau đó trở về xây dựng quê hương.

    Ngày đi đêm nghỉ, có đêm được xem biểu diễn văn nghệ, khi thì của tỉnh khi thì của huyện khi thì của xã. Tiền trạm bổ trí tối ngủ nhà dân. Nhìn chung đời sống người dân còn khổ hơn trong ta.

     Tạm dừng chân ở xã Nam Bình huyện Nam Đàn để chỉnh huấn. Chương trình là học chủ trương đường lối mới và chính là làm lại lý lịch cá nhân. Viết lý lịch thì có chi quan trọng mà bài giảng cứ nhắc đi nhắc lại. Tôi viết một lần là xong. Tôi tự hào là kê khai trung thực đến trên trăm phần trăm (>100%), nghĩa là có chuyện chưa biết sai đúng nhưng cứ kê khai để khỏi áy náy như trường hợp anh ruột tôi là Nguyễn Như Lãm ra ở thị xã Quảng Trị nơi địch chiếm đóng. Tôi khai là có người anh ruột theo địch. Tôi định khai chuyện bà mẹ, (đây là bà cả, đẻ ra tôi là bà hai) nhưng sau tôi không khai cho rằng bà già rồi. Chuyện là thế này: Tôi đang là HĐND xã phụ trách thu thuế nông nghiệp thôn Hưng Nhơn. Một hôm bà gọi tôi đến bà nói: Nè Xuân rứa chơ cái chữ nông cũng ác hè! Tôi hỏi mẹ nói sao? Ca nông giặc bắn về làm chết nhiều người không ác à!. Ác, đúng thế, tôi trả lời. Bà thủng thẳng nói: còn bên ta thu thuế nông nghiệp cao quá lại còn bắt dân gánh lên rừng nữa không ác à. Mạ! tôi tái mặt. Mạ tôi, gan ruột rứa đó. Lúc đó tôi cho là mạ tôi có thái độ chống bên ta.

   Hôm sau ban chỉnh huấn, đọc cho tôi nghe lời ghi trong lý lịch: Coi thường của cải, gây mất đoàn kết nội bộ.Nóng mặt lên tôi hỏi: Tôi làm gì mà gây mất đoàn kết? Ban chỉnh huấn trả lời: chiếc Printania đắt tiền không cất cẩn thận mà  để quanh giếng tắm đông người bị mất. Nghi ngờ người này người khác thành ra mất đoàn kết trong tập thể. Không, không phải thế. Của tôi vô ý tôi để quên, chứ không tôi đem của ra để gây mất đoàn kết. Tôi cương quyết: tôi không ký vào lý lịch có lời nhận xét như thế.  Họ nhìn nhau: Sẽ trao đổi lại với Đ/c sau.

     Ấn tượng đẹp với tổ chức cấp trên đã bị xấu đi trong buổi đầu nhận biết.

     Sau chỉnh huấn được nghỉ ngơi rồi tiếp tục theo guồng máy xã hội.

     Loay hoay thế nào đó, nhất là việc được cho đi học khoá nầy rồi khoá khác, cọng lại dễ chừng hơn chín năm trời (bổ túc văn hoá, hai khoá chính quy Trung Đại học, mấy lớp bổ túc chuyên ngành…).

    Một hôm về Bộ Lâm Nghiệp (Hà Nội) họp gặp bạn công tác ở Vụ tổ chức hỏi tôi sao không về Nam. Văn bản Bộ điều tháng trước.Tôi ngạc nhiên: mình chưa nghe nói gì Bạn đưa cho tôi xem quyết định.

    Về Hà Tĩnh gặp Giám đốc Sở, Giám đốc Sở cười cười trả lời: Bộ điều thì dễ còn ở địa phương thực hiện đôi khi hơi khó. - Tôi chưa hiểu, xin ông nói rỏ hơn. –Này nhé, tôi chưa tìm được người thay ghế cho cậu, thứ nửa tôi biết trong đó kỷ sư Lâm nghiêp chưa có “đất hoạt động”, ở đây đang cần hơn. Tôi đã có báo cáo với Bộ, ông Xuân bị thấp khớp không đi bộ được. Ông hạ giọng: cậu tạm thời đồng ý với mình. Ông à lên ! sao cậu biết Bộ điều? – Bạn tôi ở Vụ Tổ chức, tôi vừa trả lời vừa bước ra cửa.

   Hai mươi mốt năm, từ tuổi 25 đến 46, có thể nói là thời gian sung mãn nhất của đời người, đáng lẽ khá hơn nhưng chỉ có thế, chỉ có thế. Giá sử bây giờ đang là tuổi 25 bắt đầu lại sự nghiệp (đã có tiền sử (kinh nghiệm) 21 năm trước, e rồi tôi cũng chỉ có thế, chỉ có thế)
   
    Lần Về

    30-4-1975, đếm lại đã hơn 21 năm. Cuộc họp Ban Giám đốc Lâm trường ngay ngày hôm sau đã dành cho tôi tất cả tình cảm và sắp xếp cho tôi về thăm quê hương.

    Ở Lâm trường có Nguyễn Uẩn người làng An thơ cùng về.

    Chuẩn bị đi mới thấy thiếu một thứ quan trọng là giấy đi đường. 21 năm ở Bắc tôi chưa có chứng minh thư (xem ra quản lý vô cùng lỏng mà không mất dân, trong lúc đó ở miền Nam năm 1958 chế độ Ông Diệm đã có căn cước, chụp ảnh cả Tam gia liên báo, Ngủ gia liên báo, cho từng người từng gia đình thế mà mất dân không biết).

    Làm xong căn cước (không có ảnh) tôi với Uẩn bàn nhau nên đem theo bằng tốt nghiệp Đại học (có ảnh) đề phòng bất trắc. Mỗi đứa một xe đạp hai bộ áo quần đẹp nhất và mo cơm nếp. Từ Lâm trường về đến cầu Hiền Lương là 300 km xem là nhẹ nhàng (bởi trong những năm học ở Quảng Ninh về nghỉ hè ở Lâm trường, đoạn đường hơn 800km vẫn guồng xe đạp ban đêm thành thạo).

    Dừng chân ở Lâm trường Bến Hải do bạn chúng tôi là Thái Triêm làm Giám Đốc. Được biết chưa có chủ trương cho người miền Nam tập kết về thăm quê. Đi quan sát thấy dọc đường người nằm la liệt. Thái Triêm bàn cách phân lẻ. Tôi được giao cho mấy cán bộ của Lâm trường đưa về mạn dưới để đêmlội sang sông. Cán bộ Lâm trường cùng với dân quân du kích địa phương vừa canh gác vừa lách đường đưa tôi ra bờ sông (chiếc xe đạp, tài sản lớn nhất của gia đình để lại trong nhà dân không biết là ai). Đến bờ sông, nhìn sang bên kia mù mịt không thấy gì. Một anh bảo: cỡi hết quần áo buộc trong tấm ni lông (ở trần không vướng), khi cần dùng nó làm phao. Chú ý là đừng nhìn dưới nước hay nhìn bờ mà nhìn thẳng ngôi sao chụm ba, chụm hai cạnh nhau đó thấy chưa, thấy chưa?. Tay anh nắm tay tôi hướng lên ngôi sao đó. Có chút lo lo nhưng tin mình làm được và không còn nghỉ gì khác. Bắt tay tạm biệt trong đêm không biết già hay trẻ và các anh tên gì. Vục người xuống nước mới biết đây là nước lợ, gần cửa biển, có lẽ sông rộng. Lòng tự tin, tấm thân trần truồng với bọc ni lông mắt hướng vào hai ngôi sao chụm ba chụm hai mà ngoáy tới, ngoáy đến lúc thấy mệt, tựa vào bọc ni lông xem ra cũng nhẹ đôi phần, rồi tiếp ngữa khoát, sấp khoát, kiên nhẫn chân ngoáy tay quào… còn xa nữa không, miệng lọt vào ngụm nước mặn, ngữa mặt phì ra yếu ớt. Lơ mơ ta bất lực chăng? Nằm im rồi nằm ngữa rồi dựng thỏng chân, A ! chân chạm đất. Tự nhiên người tôi, tôi không điều khiển được, nó như mểm ra . Nước còn ngang cổ, ngang cổ. Gói ni lông làm phao đã phát huy tác dụng. Phút xúc động đi qua, tôi lần mò vào bờ. Qua màn sương mỏng, nhìn thấy mấy cụm tre thưa thớt, tôi như trườn đến đó, mặc vội áo quần và nằm dài ra cho đến khi mặt trời chói vào mắt cay sè.

---***---***---***---
    Một sự trùng hợp lạ lùng:

    + Khi ra đi, lên thượng nguồn con sông này “đất mình hồi hộp vượt qua đất mình”

    + Khi trở về, xuống hạ lưu con sông này “sông mình hồi hộp vượt qua sông mình”

    Cuộc gặp chỉ cách nhau hơn 21 năm thôi.Thật là thú vị!

Nguyễn Như Xuân
Hà Nội
READ MORE - Nguyễn Thanh Xuân - HAI LẦN ĐI, VỀ