Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, February 7, 2012

MẠCH NGUỒN THƠ TỪ NHỮNG CHUYẾN ĐI - Nguyễn Khắc Phước đọc thơ Võ Văn Hoa




    Võ VĂN  HOA là một trong  những cán bộ lãnh đạo ngành giáo dục của huyện Hải Lăng, và cũng là  một nhà báo-nhà thơ nổi tiếng. Anh đã đoạt  nhiều giải thưởng cao về văn học và báo chí . Ngoài các tác phẩm in chung với các tác giả khác, anh có riêng cho mình ba tập thơ, một tài sản không nhỏ so với nhiều cây bút miền Trung khác.

    Thơ của anh được nhiều người hâm mộ tìm đọc, được các tạp chí trân trọng  và được các nhà phê bình đánh giá rất cao. Anh Mai văn Hoan viết: " Thơ Võ Văn Hoa nhẹ nhàng đôn hậu như hoa Dã thảo-loại hoa mà anh yêu thích". Anh Phùng Ngọc Diễn nhận xét: " Ở Võ Văn Hoa, tôi đã thấy anh trải dài kí ức của vài chục năm lăn lộn với nghề, với người...". Anh Trương Đức Minh Tứ, cho rằng thơ Võ Văn Hoa " không điệu đàng, đánh bóng câu chữ; không triết lý rối rắm, đánh đố bạn đọc"; thơ anh " cứ hồn nhiên tuôn chảy, lắng câu trong lòng bạn đọc với một chữ tình: tình yêu gia đình, bạn hữu đồng nghiệp; tình yêu quê hương đất nước...".  Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu bình luận: " Thơ Võ Văn Hoa có cảnh thực, tình thực; và đã có được câu thơ mang được vẻ đẹp, chất men say của ý nghĩ, cảm xúc..."

     Khi đọc thơ Võ văn Hoa, hình như ai cũng tìm thấy  bóng dáng mình , kỷ niệm của mình, hình ảnh của bạn bè thân thương, làng quê trìu mến của mình trong thơ anh.

    Một tập thơ  là một hạt kim cương đa diện, lấp lánh nhiều màu sắc,  mỗi người chỉ thấy được một góc cạnh, thường đã lọc qua lăng kính của tâm hồn mình, nên đôi khi  có những khám phá, thậm chí trái chiều,  mà tác giả không ngờ đến.     
                
    Trước mắt tôi, thơ Võ văn Hoa  dày đặc những chuyến đi-về, trước và sau xe anh là những chiếc giỏ, không phải chở đầy hoa phượng, mà chất đầy bộn bề những cảm xúc, những tấm lòng,  để đêm về trên Tri âm các, anh trải ra trang giấy thành thơ.

  
     Anh Võ văn Hoa thường xuyên có những chuyến đi vì nhiều mục đích khác nhau mà nghề nghiệp đòi hỏi: đi học tập, tham quan; đi hội thảo, họp hành, giao lưu khắp mọi miền tổ quốc. Nhưng có lẽ những chuyến đi quan trọng nhất của anh là những chuyến đi  về nguồn để tỏ lòng nhớ ơn chiến sĩ đã hy sinh cho tổ quốc, để tỏ lòng ngưỡng mộ những vị anh hùng đã đưa đất nước  vựơt qua bão giông. 

" ...đi dọc Trường Sơn / Tìm lại dấu son những ngày khói lửa / Đồng đội em ngả xuống nơi nao ?"   ( Có một nơi nào)

Và anh cũng không quên về Hải Khê thăm quê của nữ Anh hùng liệt sĩ Trần Thị Tâm.


"Hôm qua về thăm chị / Trời hải Khê nắng vàng / Dấu chân ai trên cát / Gió biển lộng thổi tràn!"  (Ở một chân trời quê hương)

    Dù dấu chân chị từng in dấu trên bãi cát nầy đã bị sóng biển xóa nhòa từ lâu nhưng chiến công, sự can đảm, tấm lòng yêu thương đồng đội đồng chí của chị đã ghi vào lịch sử và được người dân Hải Khê nói riêng và dân Quảng Trị nói chung đời đời ngưỡng mộ.

    Sau những chuyến đi về nguồn,  anh bắt đầu những chuyến đi  thăm huyện nhà.

" Tôi đưa em về huyện trủng Hải Lăng / Qua Hải Tân, Hải Hòa, qua Ô Lâu trong xanh...
Tôi sẽ đưa em về La vang, về trằm Trà Lộc.../ Ăn cháo bột Diên Sanh / Về biển trời bao la Mỷ Thủy trong lành...
Tôi sẽ đưa em lên vùng đồi Hải Lâm, Hải Lệ / Bạt ngàn rừng xanh.
Ngược dòng Thác Ma, qua Vực kè , Tân Lý..."

    Trên huyện nhà Hải Lăng không có nơi nào mà anh chưa đến, một việc tưởng giản đơn nhưng ít ai làm được. Bài thơ đã giới thiệu được hầu hết địa danh và phong cảnh hữu tình của huyện nhà. Anh yêu mến  và nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên quê mình, đặc biệt không khí trong lành, đời sống  thanh bình, con người giàu nhân nghĩa, tình cảm nồng nàn.

    Tôi nhớ mang máng trong một truyện ngắn nước ngoài,  chủ nhân  ngôi nhà sau khi đọc bài  quảng cáo rao bán ngôi nhà trong đó người môi giới đã mô tả căn nhà có nhiều vẻ đẹp mà bấy lâu nay họ không nhận ra. Thế rồi sau khi cân nhắc, chủ nhân ngôi nhà quyết định không bán nhà mình nữa và ở lại đó mãi mãi.

    Người dân huyện Hải Lăng có lẽ cũng như thế . Sau khi đọc thơ Võ Văn Hoa,  họ sẽ không ngờ quê mình đẹp thế và  chắc chắn sẽ yêu quê mình nhiều hơn.

    Qua dòng Ô Lâu, anh không quên giai thoại chuyện tình Cây Đa Bến Cộ và bất chợt thốt lên  những vần thơ  có giai điệu mượt mà nhất, duyên dáng nhất, mênh mang nhất.

" Dòng sông Ô Lâu - dòng sông đi về đâu?/ Em đưa tôi chiều tà xế bóng/ Để lòng ai xao động!/ Để lòng ai bâng khuâng!"

    Nhà thơ Hoài Quang Phương khi đọc thơ Võ Văn Hoa đã hình dung một bức tranh có "đôi cánh thơ bay trong bầu trời thất tình với sự phản chiếu của dòng Ô Lâu cô đơn trên nền trời vô định". Hình ảnh  đó giúp ta cảm nhận được " tình yêu của thi nhân ảo huyền, xót xa mà vẫn nuôi hy vọng". Chính giai điệu có sẵn trong bài thơ đã lôi cuốn Phan Thạch Hùng  chọn bài thơ này để phổ nhạc. 

    Qua thơ anh, chúng ta được gặp những  người hết sức dễ  thương.                                                                              

    Thường xuyên là những thầy cô giáo giàu lòng mến trẻ công tác ở vùng xa, có người phải  lội bùn đến lớp như một nông dân.

" Về Càng mới thấy càng khổ nhọc / Lội bùn cô giáo đến trường xa / Yêu thương con trẻ đâu còn nhọc / Những mầm, chồi, nụ biến thành hoa"  (Về Càng)

    Mặc dù phải chịu đựng khó khăn nhưng không phải không có những giờ dạy tốt.

" Giờ học hôm nay, học sinh ngoan hơn / Đã lớn lên từ lời em giảng / Môn sinh vật tưởng chừng khô lắm / Qua lòng em nghe hạt lêm mầm" ( Bông hoa đỏ)
    Ta gặp  được những người bạn  nghèo nhưng vô cùng hiếu khách mừng rỡ tiếp đón anh.

"Lâu lắm anh mới về thăm Càng/ Trong mùa nước nổi vượt đò sang / Bạn đem chai rượu ra mừng đón / Mồi sẵn chung quanh diệc với ngàn..."   ( Về Càng)

                                                         
    Bà con nông dân  cũng sẵn sàng thết đãi anh bằng những món dân dã.
" Người dân làng Rào / Chân chất thật thà , bến quê neo đậu / Lươn, ốc , chuột đồng ... thơm mùi xào nấu / Thết khách miền xa"   ( Làng Rào)

    Bà con ai cũng mến anh, ngay cả chú bé chăn trâu, cứ thấy chú về là vui.

" Lâu chú mới về thăm làng / Gặp cháu nghêu ngao gõ sừng / Tan học, chăn trâu giúp mẹ /  Chú về vui đến sau lưng"                          (Đứa bé chăn trâu đồng làng)

    Nơi anh đến là quê nhà, người anh gặp là bạn bè, đồng nghiệp,  bà con, không ai xa lạ , do đó hạnh phúc của họ cũng chính là hạnh phúc của anh.

" Con đi trên hai bờ kênh êm / Nắng dạt dào nở hoa sóng nước...
Nước đã về rồi - bao nỗi hân hoan...
Con muốn bơi giữa dòng đời đẹp thế!/ Báo tin vui - Ngày-nước-đến  muôn làng"
             ( Nước đã về trên cánh đồng Triệu Hải, mẹ ơi!)

    Vất vả của họ cũng là vất vả của anh.

" Gánh cá chiều chạy từ biển lên / Đòn gánh cong đời mẹ / Người phu già khuân miền dâu bể / Điếu thuốc lào phả khói hoàng hôn"   (Chợ hôm)

    Đi và về đôi khi không khác nhau là mấy, nhưng thường thường, đi có nghĩa là đến nơi mình chưa đến bao giờ, còn về là trở lại nơi mình đã từng ở, do đó người ta thường nói về quê, không ai nói đi quê.

    Quê anh cách nhà không xa lắm, nhưng vì bận công tác, anh không về  thường xuyên. 

    Mỗi lần về đối với anh là trở lại với những kỷ niệm của thời niên thiếu, những mối tình học trò vụng dại.
"Bi chừ ta bỏ cuộc chơi / Ngàn năm thương nhớ về nơi chốn này / Một thời ta đã mê say / Gió xuôi trảng cát cầm tay ru tình"         (Gió về miền xuôi)

    Nói đến trảng cát người ta biết ngay là truông cát Cu Hoan, ngày xưa,  bên kia rú chắn cát là những cồn cát, nơi trẻ con thường leo lên chơi, người trước cầm tay người sau, la ó cười vang, vui hết chỗ nói. Và một lần tình cờ anh được cầm tay một người con gái nào đó, và chỉ thế thôi, mà vẫn để lại nỗi niềm thương nhớ "ngàn năm".

    Thế nhưng rồi người bạn gái thời niên thiếu ấy chẳng biết theo chồng về đâu, chỉ có con bướm vàng ngày nào vẫn  nhởn nhơ bay lượn như cố tình trêu người.

"Về quê cải đã ra ngồng / Có con bướm trắng lượn vồng khoai non / Nhỡ ai tính chuyện vuông tròn / Tháng giêng hoa cải vẫn còn ra hoa"     ( Cải đã ra ngồng)

    Đi-về nói trên theo nghĩa thông thường, tức là phải chuyển dịch từ nơi này đến nơi khác. Tuy nhiên, đôi khi người ta chỉ cần ngồi một chỗ mà cũng có thể đi về. Đó là về với nội tâm để chiêm nghiệm cuộc đời.

" Nửa đêm dậy điểm trà / Điếu đóm cùng lá hoa / Nhận ra mình lão thực / Trong những mùa xuân qua"
....
" Nhận ra đời muôn mặt / Dâu bể cuộc tương phùng"

    Nhận ra không phải để chán chường, mà :" Ta thấy mình vui vậy / Cuộc đời dài có mấy / ‘ Tri túc' bốn mùa xuân"                                             (Độc thoại ở tri âm các)

     Minh Tứ đã viết: Võ Văn Hoa " không thích triết lý rối rắm" . Có lẽ anh không mấy thích ngồi "độc thoại" , mà thích đối thoại, thích giao tiếp , thích những chuyến đi về để gặp gỡ,  giao lưu, trò chuyện. Sống có ý nghĩa là sống cùng, sống với, bởi vì sống thui thủi một mình thì chẳng ai biết mình đang sống. 

    Đi-về với Võ văn Hoa như một nghiệp dĩ, một định mệnh, một cách để làm thăng hoa cuộc sống. Đi về với giỏ xe chất đầy  những tứ thơ mới nảy thơm như những nụ hồng mới nhú là những chuyến đi về nhẹ nhàng như mây; những chuyến đi về trong hạnh phúc không phải chỉ cho mình mà cho biết bao người xung quanh.

    Nếu vì một lý do nào đó mà anh không thể đi được thì lòng anh nóng như lửa đốt, trăn trở như hổ nhớ rừng.

" Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên / Có một người trong tim bão nổi / Tôi đi ngược phía chiều gió thổi / Cõi lòng ơi! Sao dứt thuở đi về!"   ( Bão)

    Đi-về, gặp gỡ , giao lưu, sẻ chia , với anh là cuộc sống, là thơ. Không đi về, không có thơ. Thế nên đừng "dại" mà khuyên can anh, bởi chính vợ anh cũng không can anh nổi.

" Vợ bảo một mai mây trôi bèo dạt / Trong anh còn maĩ nẻo đi về!"
                                                   ( Tản mạn đêm thị trấn)

    Chúng ta chỉ mong anh khỏe  để làm tròn công tác, khỏe để đi-về, để chúng ta còn được mãi đọc những vần thơ "đa mang cảm xúc trữ tình", " chắc mộc, giản dị mà thấm thía" , "nhẹ nhàng đôn hậu như hoa Dã thảo- loại hoa mà anh yêu thích" như các nhà thơ,  nhà văn đồng hương của anh đã nhận xét.



Nguyễn Khắc Phước
ngkhacphuoc@gmail.com


READ MORE - MẠCH NGUỒN THƠ TỪ NHỮNG CHUYẾN ĐI - Nguyễn Khắc Phước đọc thơ Võ Văn Hoa

Monday, February 6, 2012

Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC



Nếu món cá tràu kho khô là đặc sản của vùng đất này thì món bánh đúc là đặc sản của riêng quê tôi. Bởi vì nhiều nơi làm bánh đúc ngon, thậm chí nổi tiếng khắp nước nhưng bánh đúc quê tôi là đặc sản của riêng mỗi người dân ở vùng này. Dù già hay trẻ, dù đang ở trong làng hay xa quê hương vị bánh đúc ấy vẫn mãi không quên.

Dù là loại bánh dân dã nhưng chỉ đến khi có giỗ chạy, cúng kỵ mới được ăn bánh đúc. Mỗi lần trong nhà có việc, khi gà gáy canh ba bác gái trở dậy để nấu nướng. Bếp thổi rơm đỏ hừng hực. Gạo chọn để làm bánh là loại gạo mới, vừa thơm vừa dẻo, được đánh tơi, nấu nhuyễn. Phải thật khéo trông và giữ lửa, nước sao cho không được khô mà không ướt nhảo nhoét. Phần cơm nhuyễn được trộn thêm đậu phụng. Đôi khi bác còn thêm da heo hoặc tóp mỡ heo gia tăng thêm vị béo cho bánh. Sau đó, đổ ra mâm hoặc cái mẹt có trải lá chuối. Bác dùng vá múc cơm có thấm mỡ heo vừa chầy vừa nén cho cái bánh thật chặt săn nhưng vẫn dẽo dai. Tiếp theo là một lớp mè rang được rải lên bề mặt. Các chị dùng dao nhỏ cắt bánh thành những miếng nhỏ hình bình hành, sắp lên đĩa. Tôi lúc nào cũng muốn tự tay mình bưng đĩa bánh đúc đặt lên mâm cúng.
Bánh đúc phải ăn với nước lèo. Nước lèo quyết định độ ngon của bánh. Nước lèo phải được chế biến thật khéo vừa ngọt ngọt, chua chua, béo béo. Tôi chỉ nhớ là các chị thường giã nhỏ gan heo hay gan vịt với đậu phụng làm nước lèo. 

Sau này đi ăn bánh đúc nhiều nơi, thấy người ta xay gạo thành bột rồi đúc thành bánh nên khi ăn không cảm giác cái lộm cộm của gạo, không thấy mùi gạo thơm quyện mùi lá chuối, vị mặn béo ngầy ngậy của mỡ heo lẫn trong bánh. Với bánh đúc quê tôi có những cảm nhận riêng. Bánh đúc như sự kết tinh của trời và đất, một sản vật từ bùn đất quê hương, từ công lao vất vả của những cuộc đời gian khổ. Bánh đúc cũng là thể hiện lòng thảo hiếu của con cháu với tổ tiên, là văn hoá, là hồn quê, là văn minh nhỏ trong nền văn minh lúa nước.

Cáp Xuân Tú
capxuantu@gmail.com
READ MORE - Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC

CÂY MAI LẺ BẠN - Trương Nguyễn


Sáng xôn xao
Nắng tràn vào khung cửa
Con đường nhà tôi mới mở
Mà những người bạn cũ
Không còn đi qua đây
  
Bóng chiều nhẹ
Chầm chậm xuống mỗi ngày
Giọng nói cười thật khẽ
Không gian bây giờ vẫn thế
Lá rũ buồn quanh sân
  
Cây mai già...
Xơ xác trầm ngâm
Đứng nhìn ngày qua cô quạnh
Chiếc lá vàng rơi…
                     Trơ cành
                                    khô nhánh
Hỏi ai còn…
                        Tha thiết mùa Xuân ?


TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn

READ MORE - CÂY MAI LẺ BẠN - Trương Nguyễn

TÌNH SẦU - Võ Làng Trâm




(Cảm tác qua bài NGANG TRÁI của anh Châu Thạch )




Thời gian dẫu có trôi qua

Mối tình chưa kịp nở hoa nhớ đời

Tiếng lòng chưa nói thành lời

Tình cờ gặp lại rụng rời tay chân !




Chia tay chưa gặp một lần

Nhớ hoài hình ảnh kết thân buổi đầu

Thư tay ghi vội mấy câu

Luồn trong tập vở lo âu - rụt rè !

Một phần sợ mẹ cha nghe

Thầy cô quở trách bạn bè xôn xao

Yêu thầm chẳng biết làm sao

Cõi lòng ngây dại em nào thấu chăng ! ?

Hè về chưa kịp nói năng

Cuốn vào quân ngũ làm thằng chiến binh

Đạn bom thật quá vô tình

Biết bao nhân mạng hy sinh Nam Lào

Một hôm tang lễ cấp cao

Gặp người góa bụa hao hao giống nàng

Ôm quan lệ chảy thành hàng

Giật mình trông thấy ngỡ ngàng ngó nhau !




Rồi từ dịp đó về sau

Tôi theo nghiệp lính trông mau ngày về

Có đêm nửa tỉnh nửa mê

Thấy nàng áo trắng hịên về hờn ghen

Cuộc chiến kết thúc một phen

Theo đoàn “ học tập” tôi len xuống tàu

Chẳng kịp trông trước nhìn sau

Đến cô bán nước mua mau lọ  dầu

Hữu duyên thiên lý đụng đầu

Tha phương hội ngộ mặc dầu trớ trêu

Ngẫm mình số phận rong rêu

Theo dòng nước cuốn lều bều nổi trôi !

Vội vàng em gửi gói xôi

Kèm theo hộp bánh tiển tôi lên đường




Nỗi lòng lại tiếp vấn vương

Mười năm “ lao động” ngẫm thương phận nàng !

Hôm nay được trở về làng

Tìm em nối lại “ bẻ bàng” duyên xưa

Nén nhang khói thoảng hương đua

Vấn vương di ảnh còn lưa bàn thờ

Bao năm ly biệt nào ngờ

Giờ đây gặp lai trang thơ não lòng

Than ơi ! một kiếp chờ mong

Nụ hoa chẳng nở để dòng lệ rơi

Em ơi ! em ở bên trời

Khóc em anh nhỏ mấy lời từ tâm !
                     

Võ Làng Trâm
volangtram@yahoo.com.vn
READ MORE - TÌNH SẦU - Võ Làng Trâm

MA RỪNG - Truyện ngắn của Trương Huỳnh Như Trân


Truyn ngn đt gii ba (không có gii nht)
trong cuc thi sáng tác văn h
do Hi VHNT tnh Bình Phước tổ chức
ln th 3 năm 2011.




      Vĩnh và Sao Khuê ngồi đối diện nhau qua ánh lửa bập bùng. Gương mặt Sao Khuê biến dạng đi từng lúc theo điệu vũ của lửa. Sao Khuê ngồi bó gối nhìn vô định ra cánh rừng đen tối ngoài kia. Ánh mắt đó không còn trong veo không gợn chút đời như ngày anh mới gặp. Vĩnh ao ước thời gian ngừng lại ở khoảnh khắc này, không có lo lắng, không có mâu thuẫn, không có những ước mong đối lập nhau.  Và không có sự chia xa phía trước. Mãi mãi anh ngồi nhìn cô như thế này. Sáu tháng trôi qua, mà mọi thứ xảy ra như của cả đời người. Cả hai đều quá mệt mỏi và sợ hãi với trò chơi sắp đặt của ông trời.

Trước khi gặp Sao Khuê, trước khi đặt chân đến xứ sở này, Vĩnh còn chưa biết được mục đích của đời mình là gì. Ra trường với bằng kỹ sư, cũng bôn ba một vài công ty như những người đồng thời, nhưng Vĩnh không tìm thấy chỗ đứng của mình ở đâu cả. Anh bước những bước đi mơ hồ trong đời, bồng bềnh không chạm đất. Rồi một ngày Vĩnh làm chấn động tất thảy mọi người khi tuyên bố sẽ bỏ phố về rừng. Nhưng không có gì để níu kéo Vĩnh ở lại, từ bỏ ý định “điên rồ” đó. Cha mẹ đã mất, một mình anh làm đủ thứ nghề để tồn tại với đời tới giờ phút này. Họ hàng anh ở quanh quanh đâu đó, nhưng sợi dây ràng buộc như bị chùng giãn, hết đát. Người yêu rời xa vì quá chán nản cái gã hoang đường, những ý nghĩ lạ lùng trong đầu anh mà cô không bao giờ nắm bắt được. 

Ngày cuối cùng nằm trong căn phòng trọ quạnh hiu, Vĩnh ngơ ngác buồn. Tại sao anh sống ở nơi này hơn hai mươi năm, mà thấy vô cùng xa lạ? Một câu hỏi như từ vạn cổ lại trỗi dậy: anh là ai, ký ức anh ở đâu? Không có! Hoàn toàn không có!

Tivi đang phát sóng chuyên đề gì đó về vùng núi. Nơi anh đến cũng sẽ như thế này, núi rừng và cây xanh, những mặt người xa lạ. Dù sao thì ở đâu với anh, mặt người cũng xa lạ. Lời bình của đoạn phim hơi khiến anh giật mình, vì nó nhắc đến một địa danh đúng với cái nơi anh sẽ đến. Trùng hợp ngẫu nhiên thật. Nhưng nó cũng không gây sự chú ý bằng một ánh mắt! Ánh mắt lẩn khuất giữa núi rừng, và nó không phải là nhân vật của đoạn phim, vì tiếng người đọc lời bình đều đều vang lên, không hề nhắc đến ánh mắt vừa lướt qua khung hình, cứ như không ai thấy cô, cứ như cô là sơn nữ lơ ngơ nào đó tình cờ lọt vào ống kính ngoài dự kiến của đạo diễn, người quay phim, của tất tần tật những ai ở đó, trừ anh, một khán giả truyền hình.  Ánh mắt đó chỉ loáng qua, rồi tan lẫn vào những vòm cây, mà sao ám ảnh Vĩnh kỳ lạ, như dòng điện giật làm rung chuyển cái tâm thức đang ngủ yên của anh.

Vĩnh lắc đầu tự nhạo mình. Tưởng như vô cảm cho chuyến đi này, mà anh lại suy nghĩ quá nhiều, sinh hoang tưởng. 

***

Lần đầu tiên trong đời, Vĩnh thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa khi chạm những ánh nhìn ngây thơ, khát khao cuộc sống nơi “thế giới của anh”. Với những đứa trẻ của núi rừng này, anh đến từ một thế giới hào nhoáng, đáng mong ước. Kiến thức của anh là những điều hoàn toàn mới mẻ và cuốn hút, giữ chân những cô cậu bé lam lũ hàng giờ liền trong lớp học, tạm quên đi những trưa nắng cháy dang lưng trên đồng, những chiều cắt ngang con suối lũ về nhà, những đêm mưa dầm phả hơi lạnh buốt vào nhà qua khe vách hớ hênh.

Anh sống say sưa như chưa bao giờ được sống. Bọn trẻ say sưa theo từng bài giảng của anh, và truyền cảm hứng cho anh mạnh mẽ với những cặp mắt mở to, những cái miệng há hốc ra nghe anh nói. Nói một cách lý thuyết thì anh tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của mình nơi đây, sau đằng đẵng hai mươi mấy năm trời tìm kiếm.

Nhưng sao anh vẫn thấy thiếu vắng điều gì.

Rồi điều đó đã đến. Ánh mắt ấy đã vụt hiện bên ngoài cửa lớp, rồi cũng nhanh chóng biến mất sau khi chạm cái nhìn của anh. “Chắc mình có vấn đề gì đó về phân tâm học thật!” Anh nhiều lần nghĩ như thế.

Nhưng anh không thể không tin vào thị giác của mình khi bắt gặp thêm đôi lần ánh mắt ấy len lén ghé qua ô cửa sổ. Ánh mắt thăm thẳm như chứa cả đại ngàn, không thể lẫn vào đâu được. Anh ớn lạnh khi nhận ra đó chính là ánh mắt, nét mày anh đã nhìn thoáng qua trong chương trình trên tivi dạo nọ.

Tiếng gọi ngây thơ của học trò khiến anh trở về thực tại: “Thầy ơi! Thầy ơi! Thầy có sao không!”

Anh bắt đầu hành trình tìm kiếm đôi mắt đó vào những buổi không lên lớp, những giờ nghỉ trưa. Tất nhiên anh phải giấu hành vi bất thường của mình. Đất và người nơi này đang tin tưởng anh, không thể để niềm tin đó lay động.

Những lối mòn trong rừng dần trở nên quen thuộc với anh, cũng như anh đã thuộc tên từng món lá thuốc, từng cái hoa rừng, từng tiếng chim hót mà những người dân bản địa đáng mến đã chỉ cho anh. Lâu dần, thú vui lang thang trong rừng đã trở thành một thói quen, và anh cũng quên mất mục tiêu ban đầu là đi tìm ánh mắt lạc loài nào đó.

Không bao lâu mà Vĩnh dường như quên mất phố xá. Chốn rừng núi này anh cảm thấy được yên ổn, kỳ lạ hơn, anh thấy thân quen như đã ở đó từ bao giờ.

Một ngày nọ, cả buôn làng rúng động vì một cái tang ma không bình thường. Đó là đám tang một bà cụ mà theo lời của già làng là đã mất tích từ lâu lắm, từ cái ngày con ma rừng xuất hiện. Con “ma rừng” đó vốn là một đứa bé không cha. Mẹ nó là người miền xuôi, bị “trời bắt tội” mà bụng mang dạ chửa lưu lạc tới buôn làng rồi sinh ra nó. Sản phụ vừa sinh con xong thì cũng qua đời, theo luật tục của dân làng, đứa bé phải được chôn theo mẹ để con ma rừng bị đuổi vào rừng sâu, không ở lại phá phách dân làng. Kỳ lạ là trong lúc làm ma chay cho sản phụ xấu số, đứa bé đó đã biến mất, cùng với một người phụ nữ không chồng con là bà H-mú.

Từ đó biền biệt 17 năm trời không thấy H-mú quay trở về, ai cũng chắc mẩm bà đã bị con ma rừng làm hại. Nào ngờ đâu nay bà đã quay lại với bản làng, trong hình dạng một nắm xương tàn.

Vĩnh ngồi yên như tượng khi nghe xong câu chuyện. Một câu chuyện quá bi thảm cho số phận của những người trong cuộc, và cho cái luật tục khắc nghiệt của chốn rừng sâu núi thẳm này. 

Dân bản xôn xao trước sự xuất hiện đột ngột của H-mú:

-         Thì ra lâu nay bà ấy vẫn còn sống ở trong rừng.

-         Vì sao suốt bao nhiêu mùa rẫy rồi bà không quay về?

Già làng chép miệng:

-         Hầy! Cọp chết quay đầu về núi! 

Một người bỗng dưng buột miệng:

-         Còn ma rừng thì sao?

-         Chúng ta có nên tìm nó, đánh đuổi nó?

-         Chắc gì nó còn sống chứ?

-         Chắc phải cúng Yàng để xua đuổi hồn ma của nó!

Vĩnh như bừng tỉnh. Không dưng anh thấy lo lắng tột cùng cho con ma rừng xa lạ nào đó.

Lễ tang cho H-mú diễn ra có phần lặng lẽ. Trong khi dân bản đang lần lượt chờ đến phiên mình tắm nước cây ngải pha máu gà để cắt đứt sợi dây kết nối với hồn ma H-mú, Vĩnh biến mất. Dân bản còn xôn xao hơn cả khi H-mú xuất hiện:

-         Thầy giáo biến mất rồi!

-         Hay nó bị ma rừng bắt rồi? Nó chưa kịp rửa nước ngải…

-         Tội nó! Cái bụng thầy giáo tốt mà!

Vĩnh không biết mình đi đâu. Anh cứ đi mãi trên con đường mòn. Những ý nghĩ hỗn loạn trong đầu anh. Những con người anh từng yêu thương, những con người vô cùng tử tế, với cái hủ tục ác nghiệt đang ở phía sau. Anh hiểu gì về họ, khi đã cùng chung sống suốt một năm qua? Một đứa bé sơ sinh bị ép đem chôn cùng mẹ… Anh rùng mình. Dù những câu chuyện như vậy anh vẫn đọc được, nghe được, nhưng nó ở đâu đó trong những buôn làng xa xôi, giờ đây nó diễn ra chính ở nơi anh đang sống. Sắp tới anh sẽ làm gì, nếu câu chuyện đó lặp lại một lần nữa? Anh đứng nhìn một sinh linh bị chôn sống? Hay anh có đủ sức ngăn cản đám đông? Lần đầu tiên anh tự chất vấn mình về chuyện đúng sai khi đặt chân đến nơi đèo heo hút gió này.

Vĩnh cứ đi như thế, đêm tối xuống và trăng lên. Anh nhận ra mình đã lạc đường, và đói khát đến lả người. Vĩnh hoang mang tột độ, cứ phía trước mà dấn bước. Chợt anh trông thấy một làn sương mờ mỏng trước mặt, như một bức màn chắn ngang anh và một thế giới khác. Như bị thôi miên, Vĩnh vẫn bước tới, ấn mình vào màn sương đó. Mát rượi. Và ngay lập tức Vĩnh như lọt vào một cảnh giới khác. Một khung cảnh rừng đêm đẹp tuyệt với đồi cây thưa, để ánh trăng chiếu sáng mọi ngóc ngách.  Một dòng suối êm đềm chảy ngang qua, với đủ loài kỳ hoa dị thảo vẫn nở trong đêm một cách yên bình, như không biết đến sự tồn tại của đời thực khắc nghiệt bên ngoài.

Vĩnh nhào tới dòng suối, uống lấy uống để. Nước ngọt và thơm như pha mật. Vĩnh ngả người trên phiến đá và lập tức đối diện mặt trăng tròn vạnh và bầu trời đêm trong vắt. Dòng suối trăng chảy trên người anh. Vĩnh rùng mình vì mơ hồ nhận ra anh vừa tìm thấy mình, tìm thấy nơi chốn thân quen của mình. Vì sao anh lại có cảm giác quá đỗi thân thuộc và dễ chịu như thế? Vĩnh thiếp đi.

Tiếng chim hót trên cành và tiếng suối chảy róc rách đánh thức Vĩnh dậy. Anh mở mắt và giật bắn cả mình khi thấy một cô sơn nữ đang đứng nhìn chằm chằm vào anh. Anh như bị hút vào đôi mắt ấy! Chính đôi mắt ấy, đôi mắt anh đã tìm kiếm một cách có chủ đích và vô định lâu nay.

Vĩnh choàng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Cảnh vật xung quanh anh đã chuyển từ đêm sang ngày, nhưng vẫn không đánh mất vẻ lung linh kỳ ảo của nó. Vậy tất cả không phải là một giấc mơ. Nhưng mình đang ở đâu đây? – Vĩnh hoang mang nghĩ.  Cô gái này chắc không phải là nàng tiên, và thế giới anh đang ngồi không phải là thế giới cổ tích.

***

Sáu tháng đã trôi qua kể từ lần gặp gỡ kỳ lạ đó của Vĩnh và Sao Khuê.

Cô sơn nữ có cái tên của người miền xuôi là Sao Khuê, do bà mẹ nuôi H-mú đặt theo lời căn dặn của người mẹ đã mất. Bà đã liều mình bế Sao Khuê chạy trốn khỏi cuộc chôn sống, từ đó hai người biệt tích trong rừng, không một lần dám quay lại. Mẹ H-mú tuy không sinh ra Sao Khuê nhưng Sao Khuê chỉ biết có bà là mẹ, chỉ đến khi H-mú biết mệnh mình không qua khỏi, bà quyết định ra đi và nói cho Sao Khuê biết về thân phận thật của mình. Tình thương đứa con không máu mủ ruột rà không đủ lớn bằng một thứ tình thiêng liêng khác.

H-mú nhớ cái nương rẫy, nhớ buôn làng, nhớ nơi H-mú sinh ra. Vào phút cuối của cuộc đời mình, sợi dây nối với mảnh đất của riêng mình nó mới thắt chặt, mới bùng lên, thôi thúc mãnh liệt “cọp quay đầu về núi”. H-mú chưa một lần dám đưa Sao Khuê trở lại buôn làng, vì cô chính là một con ma rừng ám ảnh bao thế hệ dân bản chốn này.

Vĩnh chắp nối dữ kiện và đau xót khi đọc được đầu đuôi của một câu chuyện dài 17 năm: đôi mắt ám ảnh giữa đại ngàn, đứa bé sơ sinh mất tích cùng một phụ nữ, H-mú trở về để chết trong lòng dân bản…

Nhưng Vĩnh đã có một thời gian đẹp nhất của đời mình ở khu rừng kỳ lạ, với người sơn nữ kỳ lạ mà cuộc đời mang đầy biến cố đó.

Sao Khuê như nàng Bạch Tuyết giữa núi rừng, bản năng và hồn nhiên, như có một sức mạnh nội tại nào đó mà không thế lực nào xâm hại được. Thú rừng thân thiện cô, gió núi ve vuốt cô, những bông hoa nở thơm làm đẹp lòng cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, Sao Khuê là vị thần nữ của nơi này, nơi cô thuộc về.

Trong khu rừng đó với Sao Khuê, không có nghi kỵ, không có tổn thương, không có những cuộc đua khốc liệt để dành vị trí, cũng không có hủ tục man rợ nào đe dọa… Vĩnh bàng hoàng nhận ra đây chính là cuộc sống mà mình tìm kiếm, một nơi thuộc về anh, anh thuộc về nó.

Sao Khuê đón nhận Vĩnh hồn nhiên như một đứa trẻ tìm thấy bạn, tha thiết như con chim rừng tìm thấy bạn tình, đằm thắm như con trai con gái yêu nhau.

Vĩnh quên hết những lạc loài quá khứ, quên hết những vết thương xưa cũ, quên những con người đời thường anh gặp, quên cả quê hương bản quán, vì dường như chính nơi này mới là quê hương bản quán của anh.

Nhưng có vẻ như tạo hóa đã sắp đặt sẵn, để người mơ ngủ luôn thức dậy vào lúc giấc mơ đang đẹp.

Bên trong Vĩnh có một con người thứ hai đang phán xét. Những con người chờ đợi anh, cuộc sống bên ngoài chờ đợi anh. Dù sao đi nữa, anh cũng là con người của thế giới đầy bon chen ngoài kia. Anh không thể phủ nhận nguồn gốc thực thể của mình. Vĩnh nhớ tiếng con người.

Như kết cuộc của một câu chuyện phải như vậy, Vĩnh muốn đưa Sao Khuê trở về. Điều đó đồng nghĩa với việc kết thúc giấc mơ cổ tích, kết thúc mọi thứ an nhiên và tự tại nơi này, để đón nhận một nơi trần trụi, gian nan, bất trắc nhưng bình thường, theo soi chiếu của số đông. Nàng Bạch Tuyết cuối cùng cũng phải về cung vua. 

Nhưng nàng công chúa Sao Khuê đã ngủ quá lâu trong rừng. Mặt khác nàng đang là một con ma rừng đáng sợ. Một con ma rừng sắc nước hương trời khiến đàn ông trong bản thèm muốn lớn hơn cả sợ hãi, khiến phụ nữ căm ghét lớn hơn cả sợ hãi.

Cho nên, dù hủ tục không còn, dù niềm tin ma rừng đã phai phôi theo thời gian mà sự giao thoa văn hóa đã mài mòn, thì Sao Khuê vẫn là một con ma rừng đáng sợ với sắc đẹp và sự sống bản năng quá mạnh trong cô.

Vĩnh và Sao Khuê trở thành tấm bia cho những thịnh nộ trần tục mà không bao giờ Sao Khuê hiểu được.

Một lần nữa, già làng lại chép miệng: “Cọp quay đầu về núi” khi Sao Khuê như con thú bị thương bỏ chạy tuốt vào rừng già, mãi mãi không bao giờ dám quay lại thế giới loài người.

Sao Khuê, ngôi sao chỉ sáng và hùng cứ ở đại ngàn sâu thẳm.

***

Sao Khuê đẩy thêm củi vào bếp lửa đang bập bùng. Họ đã ngồi như vậy gần suốt đêm. Đêm tàn cũng là lúc Vĩnh kiệt sức. Hai con người giằng xé trong anh cũng thấm mệt, để yên cho anh ngủ một giấc sâu, có lẽ là cuối cùng.

***

Vĩnh thức dậy ngay trên bàn giáo viên trong căn lớp lụp xụp. Học trò ngơ ngác nhìn anh. Anh cũng ngơ ngác không kém:

-         Thầy đã ngủ sao?

-         Dạ. Thầy ngủ lâu lắm rồi. Gọi Thầy không được…

***

Người thầy giáo trẻ đầy nhiệt huyết của buôn làng vùng cao, một ngày nọ bỏ đi vào núi và không còn ai biết tung tích.

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say… (*)

Trương Huỳnh Như Trân
(Bình Phước)


Chú thích: (*) Thơ Phạm Thiên Thư.

*****


Trương Huỳnh Như Trân là ái nữ của nhà văn Trương Đình Tuấn
- hội viên hội VHNT tỉnh Bình Phước
truonghuynhtth@gmail.com


Hình minh họa: Thiếu nữ Ê-Đê,  ảnh của Đào Thọ

***
READ MORE - MA RỪNG - Truyện ngắn của Trương Huỳnh Như Trân

Sunday, February 5, 2012

Châu Thạch - NGANG TRÁI


(Viết cho một mối tình buồn)     
                                      
Thời gian dầu lạnh lùng trôi qua
Nhưng những mối tình thành búp chẳng thành hoa
Vẫn còn nụ tươi hoài năm tháng
Rồi một buổi gặp nhau buồn vô hạn
Hai cuộc đời đã khác biệt từ lâu.

Tôi vẫn nhớ em, một mối tình đầu
Trong lớp học thư tay luồn qua vở
Tình rất vụng vì lòng còn lo sợ          
Dấu bạn bè, cha mẹ, cô thầy
Mắt chỉ nhìn nhau hồn đã ngất ngây
Yêu tha thiết cả con tim khờ dại
Rồi một mùa hè chia tay mãi mãi
Đời bôn ba đâu có dịp chung tình
Tôi bước vào đời theo nghiệp chiến binh
Mang cấp hiệu tầm thường trên cổ áo.

Một buổi sáng trời giăng mây ảo não
Tôi hầu quan tài một vị cấp cao
Mới hôm qua tử trận Nam lào
Thấy người vợ khóc tha sướt mướt
Ô! Nhìn kỷ chính là em thuở trước
Là người tôi yêu thứ nhất trên đời
Chưa hỏi em một câu chưa an ủi một lời
Tôi được lệnh lên đường ra mặt trận
Và cuộc chiến chia đôi dòng số phận
Tôi và em lại cách biệt phương trời
Đêm từng đêm nhìn ánh hỏa châu rơi
Nhớ đôi mắt sau vành khăn sô trắng
Người quả phụ trong nỗi sầu cay đắng
Ngước nhìn tôi còn lặng những thân thương
Đôi mắt nàng theo tôi bốn phương
Ấp ũ trong lòng tôi mãi mãi .

Rồi có một ngày chúng tôi gặp lại
Ngỡ ngàng thay hai đứa lặng nhìn nhau
Nàng là cô bán quán cạnh ga tàu
Tôi mặc áo tù binh đi cải tạo
Nàng lập cập tay run run gói vội
Món quà nôn gói kẹo, cặp đường
Trao cho tôi kèm giọt lệ yêu thương
Và ánh mắt nhìn theo chan chứa
Tôi lận đận tấm thân mười năm nữa
Ở chốn rừng sâu vẫn nhớ đến nàng
Mong đến ngày trút bỏ mối gian nan
Về nối lại mối tình xưa dang dở.

Ngày tôi trở về đứa con nàng bở ngỡ
Đưa tôi đến cạnh bàn thờ
Sau bát nhang ảnh nàng chơ vơ
Mắt nàng nhìn tôi ảm đạm
Và từ đó lòng tôi luôn sầu thảm
Nên tìm về những kỷ niệm thân thương

Một ngày kia tôi quay lại mái trường
Trên đất cũ giờ đây vôi gạch mới
Nhưng than ôi xa ngoài tầm tay với
Mái trường xưa cũng thay đổi tên trường
Những thầy cô tứ tán khắp muôn phương
Và người mới nhìn tôi vô cảm
Tôi quay bước giữa chiều rơi ảm đạm
Bóng cổ thành xám ngắt những rêu phong ./.
                                                                        
Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com



READ MORE - Châu Thạch - NGANG TRÁI

Saturday, February 4, 2012

LÀ CON GÌ ? - Thơ mời họa - Nguyễn Thanh Xuân


LÀ CON GÌ ?

Con gì, mời bạn đoán đầu xuân
Cũng rất xa, mà cũng thật gần
Vị thứ thấp cao, tuỳ kẻ muốn
Hình hài lớn bé, mặc người cần
Chầu nàng Nguyệt, múa cùng nàng Phượng
Thương chú Rùa, yêu mãi chú Lân
Nay được giao làm vai "chủ sự"
Dòng Tiên, chắc hẳn hiểu lòng dân!
                

Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - LÀ CON GÌ ? - Thơ mời họa - Nguyễn Thanh Xuân