Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 1, 2011

LÊ QUANG THÁI – TÍNH CHẤT QUẢNG TRỊ THỂ HIỆN TRONG “VÈ THẤT THỦ KINH ĐÔ”




Thời niên thiếu, chúng tôi thường nghe các bà mẹ quê nói chuyện một cách hồn nhiên “Trung can nghĩa khí chí sĩ bao sơn” để ca ngợi, tán thán người hiền tài có công với làng nước. Nhân tài do địa khí mà đúc nên, địa khí có nhân tài mới phát lộ; lời người xưa đã dạy như thế.

Từ cơ sở lý luận ấy đã giúp cho chúng tôi hiểu được một phần thâm hậu của bốn chữ NÚI MAI SÔNG HÃN, tạo thành thành ngữ nói lên bản chất của các cộng đồng chung sống, yêu chuộng hồn non nước làm lẽ sống đầy lý tưởng Thành ngữ thể hiện tính cách cao sang mà dung dị ấy được giảm trừ và thâu tóm bằng 4 con chữ lung linh: QUẢNG TRỊ BÂN BÂN. Theo chiết tự, chữ bân gồm hai thành tố: Chữ VĂN* có nghĩa là “vẻ đẹp”, và VÕ* có nghĩa là dũng mãnh và thao lược. BÂN BÂN là từ ghép vừa là từ láy, tỏ ý người Quảng Trị có tính khí không phô trương, không an phận, không tỵ hiềm mà luôn có ý chí vươn lên để cầu tiến bằng tự thân nội lực là chính, ngoại lực chỉ trợ duyên, trợ lực mà thôi.

I./ Vì vậy mà từ buổi ban sơ hình thành địa cuộc phên dậu của triều đình Đại Việt mấy trăm năm, người Quảng Trị mang hồn đất Vĩnh Linh với tiền thân là châu Minh Linh có từ năm 1069, Triệu Phong có tiền thân là huyện Võ Xương và huyện Hải Lăng đều lấy thời điểm từ 1037 làm điểm đầu lịch sử phát sinh cơ nghiệp lâu dài.

1000 năm văn hóa Thăng Long, gần 400 năm văn hóa Phú Xuân đã truyền chuyển sớm vào đất Minh Linh, đất Ô Châu để làm khơi sáng và tỏa rạng tình tự dân tộc cho một vùng đất nổi tiếng với gió Lào và nắng cháy mà tình người đôn hậu, sáng trong như lời thơ của Chế Lan Viên: “Trời xanh, xanh một màu xanh Quảng Trị”.

Đia danh Quảng Trị nghiểm nhiên đi vào quốc sử kể từ năm Tân Dậu 1801, dưới thời đất nước đại định, thu tóm giang sơn thành một mối. Vào thời trung cận đại, Quảng Trị có nhiều thủ phủ và kinh đô nào là Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát; cuối thể kỷ 19 lại có kinh đô ngắn ngày Tân Sở ở huyện Thành Hóa thuộc phủ Cam Lộ. Thiết tưởng, đó chính là địa mạch và phong hóa diệu kỳ của xứ “non Mai sông Hãn”.

Chúng tôi rất đồng tình về lời mở đầu Tổng luận Mục Quan chế, phần Nhân vật, các tác giả cùng người nhuận sắc và bổ di sách Ô Châu cận lục cho quyển 6 đã đưa nhận định:

“Ô LÝ là cương vực Chiêm Thành, đời Hồ, đời Lê trở về sau là quận huyện của triều đình, nhưng từ sau khi nhà Trần, nhà Hồ cho di dân đến thì tiếng nói hơi giống miền Hoan Diễn, phong tục có khác người Chiêm Thành, mực tiến hóa có cơ ngang với Thượng Quốc”(1).

Thượng Quốc ở đây chỉ trung tâm văn hóa Thăng Long của nước Đại Việt. Về sau, triều đình Huế đánh giá phong tục tỉnh Quảng Trị cách Phú Xuân một ngày đường có nhiều nét tương đồng với kinh đô Huế. Sử gọi tính cách của người Quảng Trị bằng hai từ đáng nhớ: THUẦN LƯƠNG. Thuần Lương là tính chất của cư dân Quảng Trị.

Và sau cùng một nét son đáng ghi nhớ nữa là Quảng Trị có nhiều sản vật quý giá thì nhân tài phải hay giỏi như lời nhận định của người xưa. Ân tổ quốc là ân trọng hàng đầu. Năm 1946, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, chưa từng một lần có duyên được ra thăm Hà Nội 36 phố phường mà đã viết nên bài thơ “Nhớ Bắc”, mở đầu bằng 4 câu với nỗi lòng thấm thía:

Ai về Bắc ta đi với,

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng,

Từ độ mang gươm đi mở cõi,

Trời Nam thương nhớ đất Thăng long. (2)

Có cổ kính Thăng Long mới có thủ phủ Ái tử, kinh đô phú Xuân, địa danh Quảng Trị mang hồn các cựu dinh xưa của nước Việt hùng anh trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của dân tộc trên con đường phát triển.

II./ Có những giờ giấc tự tại đọc lại địa bộ làng xã, gia phả dòng tộc người các tỉnh phía Nam mới tìm được quê hương cố quận ở đất Bắc Hà hay miền Ái Châu, Hoan Diễn (vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh). Ý thức trở về nguồn lại dâng trào, như thấy được hình bóng của Tổ Tiên đã phải nhọc nhằn vất vả trong bước hành trình đi khai canh, khai khẩn lập thành làng nước. Nếu xứ Thanh có nhiều vua chúa thì đất Ô Châu có nhiều thủ phủ, kinh đô hoặc thủ đô trong quá trình mở cõi và giữ nước, đánh trả quân thù xâm lược xưa nay.

1. Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Bùi Lương dịch, Nxb Văn Hóa Á Châu. Sài Gòn, 1961, tr.112.

2. Huỳnh Văn nghệ, Nhớ Bắc, Tạp chí Nhà Báo Huế, Hội Nhà Báo Thừa Thiên Huế, th. 6-2010, tr.22.

Tháng 12 năm Quý Mùi (1883), vua Kiến Phúc và các triều thần nhà Nguyễn đã sai phái và ban lệnh cho quân dân cùng thần dân tỉnh Quảng Trị xây dựng thành Tân Sở ở làng Bảng Sơn, huyện Thành Hóa thuộc phủ Cam Lộ làm hậu thân cho kinh thành Huế.

Sau ngày mất của vua Tự Đức 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19/7/1883), tình hình triều chính rối ren trăm bề về đối nội lẫn đối ngoại. Thực dân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An dưới quyền điều binh của Đô đốc Courbet. Buổi đầu quân nhà Nguyễn chiến đấu anh dũng nhưng vì vận nước điêu linh do nội bộ bất hòa, để cho kẻ thù lợi dụng, cho nên Tây thắng mình thua... Trước tình thế bất an, triều thần đã tính chuyện lo xa, dồn sức dân quân và tiền của để xây dựng chiến khu Tân Sở ở xứ Cùa với tên chữ Long Cầu do cuộc đất và địa thế hình thành một con rồng có ngà.

Đại Nam thực lục, đệ ngũ ký, quyển II ghi rõ sự kiện lịch sử rọng đại ấy vào tháng 12 năm Quý Mùi (1883) (1).

Di chuyển nha đóng ở Sơn Phòng Quảng Trị cùng với nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên nha Sơn Phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Động Ngang, huyện Thành Hóa. Quan Cơ mật viện tâu rằng: “Sơn Phòng của Quảng Trị, địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo xét được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở phía trên xã Bảng Sơn. Vua chuẩn y" (2).

Tưởng cũng cần trích dẫn thêm đoạn kế tiếp nói về việc dời xa, nâng cấp và sửa sang trấn Lao Bảo để thấy và biết tầm nhìn của triều thần và thần dân của Quảng Trị lúc bấy giờ. Đến lúc ấy, bèn chuẩn cho đắp thành, đào hào, xây cất nha thự, kho súng, nhà lính, cùng với các tòa kỳ đài, pháo đài, chọn nơi di chuyển trấn Lao Bảo (Bảo nguyên là nơi giáp giới ba phường Tân Mỹ, An Mỹ, Linh Xuân ở biên giới Man, nay chuyển đến châu Na Bôn, cách (Lao) Bảo hai ngày đường thổ chướng (ở đây) hơi nhẹ. Thiết lập nhà ở và làm việc cho các quan văn võ, đặt kho thuốc, nhà lính, xưởng voi (3).

Nhân đây, cũng cần rà soát lại và kịp thời đính chính một vài bài viết nhân kỷ niệm 125 năm ngày thất thủ kinh đô cho rằng thành Tân Sở được xây trên một cao nguyên. Tiến xa một bước, trong sách Huế - Mùa Lễ Hội xuất bản tháng 4 năm 2010, trang 8, đã giải thích bất ổn, rồi minh họa bằng bốn câu vè liên quan:

1. Do lỗi dịch thuật và in ấn sai, ghi nhầm năm Quý Tỵ, xin đính chính.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, đại Nam thực lục, Tập 9, Viện Sử Học dịch, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr. 44.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 9, Sđd, tr. 44.

_______________________________________________________________________

Lưu linh trong chốn rừng già

Mọi, Mường, các Mán vào ra rùng rùng

Thâm sơn cùng cốc lạ lùng

Các người đương thế vào sơn trung làm gì?

Bất ổn ở lời phân tích rằng: “Trong thời gian ấy, Thuyết và một số quan quân phò vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, lên Tân Sở, trên đường đi, vua tôi vừa trải bao gian nguy, khốn khó, ‘Ra đi chẳng quản đường trường. Lên đèo xuống hố, thảm thương chẳng là’, vừa bị Mọi, Mường cản trở, tra vấn.”

Tiếc thay! Người đọc vè chưa hết ý theo mạch văn cho nên cứ trách Mọi, Mường cản trở tra vấn. Các câu tiếp theo bốn câu minh họa: “Ông huyện, ông tổng tâu quỳ / Dương thế nói thiệt vậy thì cho Mọi hay / Nói cho có Mán bây hay / Quốc vương thủy thổ xưa nay của mình”...

Các dân tộc miền Thượng xưa nay có cách lập ngôn hồn nhiên, thấy sự kiện ‘lạ thường’ thì thì lại hỏi một cahcs thường tình theo lối phiếm định. Hỏi người mà cũng tự hỏi lại chính mình. Phân tích như thế việc vua và đoàn tùy tùng “bị cản trở tra vấn” là chưa hiểu và nắm bắt được tính chất của các cộng đồng cư dân chung sống ở vùng núi đồi Quảng Trị.

III./Vua Tự Đức hay chữ, coi trọng tác dụng của hò vè. Vè là thể tài văn học thịnh hành đương thời từ chốn cung đình cho đến tận ngoài dân gian. Hiện tượng có nhiều dị bản vè là điều lạc quan cho việc tìm hiểu tình hình văn học và xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Tuy Vè Thất thủ Kinh đô có nhiều dị bản nhưng đều thống nhất nội dung nói lên thực trạng đầy rối ren trong triều đình đẩy đưa đất nước chóng đến cảnh suy vong, rồi nước mất nhà tan. Vè Thất thủ Kinh đô là bản trường ca hơn 1200 câu lục bát biến thể; tác gải vô danh nhưng hữu vị, bao gồm mọi thành phần và đẳng cấp xã hội sáng tác mang tính chất vừa bình dân vừa bác học để bổ sung cho quốc sử mà cụ thể là Đại Nam thực lục, đệ ngũ ký, Quyển III, ở phần ghi chép về HÀM NGHI ĐẾ (PHỤ) vào thời điểm từ tháng 5, mùa hạ, năm Ất Dâu, 1885 trở đi.

Về chính biến đên 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (4-5/7/1885) tại kinh thành Huế, chính sử ghi chép hạn hữu mang tính cách hạn chế của thời buổi lúc bấy giờ vì lịch sử đã sang trang khác rồi. Có 4 tình tiết đáng lưu ý:

1) Ngày Ất Mão (23/5), Kinh thành có việc, Tôn Thất thuyết kèm vua vâng mệnh 3 cung, ngự giá chạy ra miền Bắc

2) Văn Tường vâng ý chỉ của Thái hoàng Thái hậu Từ Dụ và lưu lại giảng hòa tức thì đi tắt vào nhà thờ Kim Long. Thuyết ra sau gặp giá, bèn một mình hộ chuyển đi đén Trường Thi (ở xã La Chữ) nhân kèm đi ra ngoài Bắc.

3) Ngaỳ Bính Thìn (ngày 24), vua cùng với xa giá 3 cung đến tỉnh Quảng Trị, dừng nghỉ ở hành cung (tỉnh thành Quảng Trị).

4) Văn Tường lại ủy Thị lang Bộ binh là Phạm Hữu Dụng thân hành đến hành tại, đem sự tình bàn với Thuyết tâu vua biết, định xin rước xe vua về, Hữu Dụng đến bị Thuyết ngăn cản... Thuyết tức thì lấy ngày 27 Kỷ Mùi, ép vua lên xe đi ra Sơn phòng tỉnh Quảng Trị (5)

Căn cứ theo lời chú giải của sử thần, chúng tôi được biết vua Hàm Nghi rời hành cung Quangrtrij vào giờ Sửu (khoảng 3-5 giờ sáng hôm sau). Như vậy, sáng ngày Canh Thân, 28 tháng 5 năm Ất Dậu (10-7-1885), vua đến Tân Sở.

Cuộc xuất bôn của vua Hàm Nghi đầy gian lao diễn ra trong 6 ngày do Tôn Thất Thuyết lên kế sách, nhà vua và đoàn phó giá đã đến kinh đô mới. Thế thì làm sao mà người viết (đã nói ở trên) lại giải thích “trên đường đi vua bị Mọi Mường cản trở tra vấn”?

Trong quá khứ dài lâu, các vua khởi nghiệp nhà Nguyễn đã từng áp dụng chính sách cởi thoáng trong đối đãi với các dân tộc anh em miền núi sác huyện Thành Hóa (Cam Lộ), Hướng Hóa và Cửu Châu gồm: Mường Vang, Na Bôn, Thượng Kế, Tâm Bổn, Mường Bổng, Ba Lan, Tả Bang, Xương Thịnh, Làng Thìn. Sử gọi quốc sách ấy là chính sách “Cơ my” (còn gọi là Ky my).

Các dân tộc miền cao ở vùng núi rừng Cam Lộ, Hướng Hóa, Gio Linh, Vĩnh Linh đã từng được các vua Nguyễn ban chức tước, bổng lộc, thậm chí được lấy “Họ” mới do vua Minh Mạng ban cho. Ân mưa móc được chia đều và thấm sâu trong long người Kinh, người Thượng mà xưa gợi lag các Mán, Mọi hoặc Mường.

4. Vè Thất thủ Kinh đô là bản trường ca dài trên 1200 câu mà từ câu 765 đến 1218 gồm 453 câu nói đến cuộc bôn tẩu và việc nương náu của nhà vua và đoàn phò giá hơn 100 người, trong đó có cả mẹ già của Tôn Thất Thuyết là bà Văn Thị Phu. Đặc biệt đếm được 50 câu nhắc đến các địa danh như Sơn Phòng, Cửu Châu, Mai Lĩnh…, các dân tộc an hem như Mán, Mọi, Mường và cảnh tượng núi đồi, khe suối, rừng xanh, rừng già, nguồn cao nước độc. Kể sao cho hết nghĩa tình sâu nặng của các cộng đồng dân cư bao gồm cả người Kinh và các Mán, Mọi, Mường ở vùng núi đồi Cửu Châu và đồng bào ở vùng cao hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh nữa. Nhân đay xin trưng dẫn vài câu tiêu biểu:

Tạ từ tại chốn Trường Thi

Băng nhiều tức dặm ra đi Sơn Phòng. (Câu 767 -768 )

Hoặc :

Lần lần đã tới Cửu Châu,

Lão bà lâm bệnh đau đầu ủ ê. ( Câu 849-850)

Hoặc:

Rùng rùng binh mã đều đi

Tới đầu Mai Lĩnh, ngự đi qua Lào.

Bốn bề khe suối rừng cao,

Ngài ngự qua Lào có Mọi đưa sang. (Câu 1021-1024)

Về mặt tình cảm của cư dân vùng núi cao rừng thẳm với quan Hữu quân Đô thống Hồ Văn Hiển, một cận thần trung nghĩa theo phò vua Hàm nghi đã vì bệnh nặng phaỉ gởi thân giữa chốn sơn lâm cùng cốc:

Vong hồn Hồ Hiển đêm thanh

Đương khi bản bộ sao đành lúc nguy.

Lúc nguy ngài bỏ sao đành,

Ai phò Ấu Chúa một mình khổ tôi.

Ngài đã an phận ngài rồi,

Truyền quan mai táng vậy thời ở đây.

Dặn cho các Mán bay hay,

Mỗi rằm mồng một nhớ ngày khói hương.

Trung thần hết sức phò vương,

Chứ ngài bạc phận giữa đường không ai. (Câu 895-904)

Người Mán giàu lòng nhân ái, thủy chung với quan quân nhà Nguyễn. Ở núi rừng Quảng Trị lúc lâm nguy mới thấu tỏ tấm lòng của Mọi Mường:

Các Mán cất hết vào tai,

Nghe lời mấy tiếng chẳng ai thẻ đề.

Hai hang nước mắt dầm dề,

Ra đi chưa biết đi về nước mô.

Thảm thương quan lớn Hữu Hồ,

Đời mô ngó thấy kinh đô nước nhà. (Câu 909-914)

Có một tấm lòng như thế và gìn giữ âm thầm cho đến ngày trời yên bể lặng sáng trong mà trợ lực, trợ duyên cho hậu duệ của Hữu quân Đô thống Hồ Văn Hiển đi tìm phần mộ, cho con cháu Tôn Thất Thuyết đi tìm dấu tích nơi bà Văn Thị Thu (mẹ Tôn Thất Thuyết) đồng cảnh ngộ bị bệnh mất ở chốn rừng già Quảng Trị là điều thực quá hy hữu. Người Kinh khó lòng mà theo kịp người Mán.

*

Nay đọc chính sử và đọc vè Thất thủ Kinh đô Huế năm Ất Dậu 1885, càng đọc và phân tích, đối chiếu lại tìm ra những điều hay, điều lý thú tuyệt diệu về nhân tình và làng nước Quảng Trị trước đại nghĩa dân tộc.

Trung hiếu, tiết liệt, nhân nghĩa, tự chủ, sáng tạo và bất khuất là những phẩm chất cao quý đã được giảm trừ và thâu tóm trong các thuật ngữ “BÂN BÂN” và “THUẦN LƯƠNG”.

Trên đường xuất bôn của vua Hàm Nghi từ kinh thành Huế ra tỉnh thành Quảng Trị, cận thần Tôn Thất Thuyết đã cùng với triều phân trung nghĩa dâng lên nhà vua “THÔNG BÁO CẦN VƯƠNG” như Đại Nam thực lục chính biên đã ghi chép. Và tại kinh đô ngắn ngày Tân Sở, vua Hàm Nghi đã ban dụ CẦN VƯƠNG.

Nghiên cứu về NGHĨA CẦN VƯƠNG, năm 1969 nhà nghiên cứu Nguyễn Thiệu Lâu cho rằng theo “Chính sử in trong thời đô hộ đã rất dè dặt…, cũng có nhiều đoạn xuyên tạc…nhưng cũng có nhiều đoạn rất tế nhị…ai hiểu thời hiểu”. (1)

Hội thào khoa học hôm nay chửng tỏ giới sử học đã đặc biệt quan tâm xới lên một việc quan trọng và cần thiết. Tỉnh Quảng Trị là nơi đăng cai bước đầu khơi sáng chuyện lớn lao 125 năm về trước mà sử sách, tư liệu về chính sử có, dã sử có, đã thất tán, thất tung một phần lớn. Trong 20 năm qua, tỉnh Quảng Trị đã góp phần nhỏ trong việc đánh giá lại nhân vật Nguyễn Văn Tường và đã đạt được thành tựu. Bản thân chúng tôi ao ước việc nghiên cứu các nhân vật Nguyễn Tự Như, Trương Đình Hội, Võ Tử Văn là những nhân vật tiên phong đã từng hưởng ứng nghĩa Cần Vương tại tỉnh nhà được sáng tỏ thêm lên. Trước mắt không để di tích Tân Sở, trấn Bao Bảo (ngày xưa) trở thành mất dần hết dấu tích biểu hiện tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của dân quân trước họa giặc Pháp xâm lược 125 năm về trước ./.

(1) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc Sử Tạp Lục, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr. 245.


Hình trên trang này: Tân Sở ngày xưa và Tân Sở ngày nay

Cáo lỗi của admin trang VNQT:

Bài này được Nguyễn Khắc Phước đánh máy lại từ tài liệu dưới dạng hình ảnh jpeg khá mờ của Hội thảo : Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương do UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức năm 2010, nên có chỗ không rõ. Nếu có gì sơ suất, xin tác giả và bạn đọc lượng thứ.

Các ghi chú của tác giả nằm dưới từng trang gốc, khi đánh máy lại đã giữ nguyên vị trí.

READ MORE - LÊ QUANG THÁI – TÍNH CHẤT QUẢNG TRỊ THỂ HIỆN TRONG “VÈ THẤT THỦ KINH ĐÔ”

MAI THANH TỊNH - MƯA ĐẦU MÙA









mưa đầu mùa

trả nợ ngày khô hạn

gió đêm

ướt nỗi nhớ đi hoang

ta mái tình dột hoang tàn

hồn phiêu lãng gọi bời bời con nắng

em mù xa ...

ưng ửng một vầng dương...


mưa đầu mùa

ngập lụt ngày yêu đương

phù sa chan nồng nàn hò hẹn

hạt mùa nhau ủ chín sương mơ

lóng lánh bình minh nụ đợi chờ

nhúm nắng gầy bỡ ngỡ

quà em trao chút hương đời cứu trợ

đủ cầm hơi qua ngày tháng vật vờ...


mưa đầu mùa

day dứt vần thơ

ươn ướt nhớ...

thâm nỗi buồn cắc cớ...

10/2010

READ MORE - MAI THANH TỊNH - MƯA ĐẦU MÙA

NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH – MƯA BONG BÓNG


"Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai"

(Ca dao)


Cũng là MƯA BONG BÓNG nhưng dưới góc nhìn của cô giáo trẻ dạy âm nhạc trường tiểu học Hải Hòa, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH cảm thức viết theo hướng khác: Thơ tình yêu lứa đôi.


Xin giới thiệu với bạn bè!

(Giới thiệu của Võ Văn Hoa từ Tri Âm Các)



Chiều thật buồn mưa nhỏ lệ khóc thương
Bong bóng nổi vấn vương thời con gái
Thương nụ hồng mong manh ai chưa hái
Bị mưa vùi cô gái thấy lòng đau



Sợ duyên mình theo bong bóng tan mau
Cô chợt khóc: Thôi đừng mưa bong bóng
Chiều mưa buồn cô một mình trông ngóng
Ngóng-chờ-trông hình bóng của người ta



Càng đợi chờ người ấy lại càng xa
Theo bong bóng tan vào mưa gió lạnh
Rồi một mình đi về trong hiu quạnh
Khóc một mình mưa bong bóng tình yêu.


NTHO


READ MORE - NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH – MƯA BONG BÓNG

PHAN KHÂM - CHIỀU MƯA BONG BÓNG




Chiều mưa bong bóng
Trước hiên nhà xưa
Em nhờ mắc võng
Mắc vào dây dưa
Chiều mưa bong bóng
Trước hiên nhà xưa
Em nhờ mắc võng
Mắc vào dây mơ
Chiều mưa bong bóng
Trước hiên nhà xưa
Em nhờ mắc võng
Mắc vào tương tư
Chiều mưa bong bóng
Giao mùa yêu thương
Chiều mưa bong bóng
Một trời tơ vương
Hàng cây ngôn ngữ
Thướt tha tình tự
Bên bờ du dương
Chiều mưa bong bóng
Bong bóng trời cho
Chiều mưa bong bóng
Bong bóng vòng vo
Sông dài bể rộng
Sao đời quanh co
Ôm hoài âu lo
Đong đầy tâm thức
Trôi vào ký ức
Cánh buồm nhấp nhô
PHAN KHÂM(Maryland)



MỜI NGHE:
ƯỚC MƠ - 14 tình khúc phổ thơ Phan Khâm BẤM VÀO ĐÂY
READ MORE - PHAN KHÂM - CHIỀU MƯA BONG BÓNG

Tuesday, May 31, 2011

NGUYỄN THỊ LAI - ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: BÃO



BÃO
Thơ Võ Văn Hoa

Vắng âm thanh của chú ếch đồng
Những giun dế, côn trùng muôn thuở
Đêm thị trấn mùa mưa đầu khó ngủ
Sao nhớ hoài da diết một vùng quê!

Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội
Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng
Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối
Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn.

Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên
Có một người trong tim bão nổi
Tôi đi ngược phía chiều gió thổi
Cõi lòng ơi! Sao dứt thuở đi về!





Cô giáo Nguyễn Thị Lai

Quảng Trị, một miền quê nghèo đầy gió lào cát trắng, một miền quê đầy bão lũ, cơm tám ngày ba, nhưng những ai đi xa, dù không cách núi ngăn sông, không trèo đèo, lội suối, dù chỉ trong gang tấc, nhưng vẫn day dứt nhớ về. Võ Văn Hoa cũng không là ngoại lệ - bởi anh là một người con của đồng quê chân chất, của ngọn khói lam chiều, của bữa cơm xum vầy sau một ngày làm việc, nên khi:

“Vắng âm thanh những chú ếch đồng
Những giun dế, côn trùng muôn thuở”

Anh trở nên khó ngủ ngay trong lòng thị trấn thơ mộng, bởi:

“Sao nhớ hoài da diết một vùng quê!”

Vâng, là người, ai cũng có nỗi nhớ, với người này là nỗi nhớ gia đình, với người kia là nỗi nhớ bè bạn, với người nọ là nỗi nhớ người yêu, với một ai đó, cũng có thể là nỗi nhớ - “nhơ, nhớ cái hôn đầu tiên”*, nhưng với anh, đó là nỗi nhớ làng, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ nơi mình đã từng dứt áo ra đi, dù:

“Nhập cư đã ba năm
Khôn nguôi nhớ mảnh hồn làng
Dẫu khóm mới nắng hồng cánh phượng
Chén bạn chén mình đêm gọi ngày sang”**

Tôi biết, anh là người tếu táo, thích đùa, anh thường nói:”Phải biết hòa nhập, chứ đừng nên hòa tan”, nhưng anh cũng là một con người đa mang, sâu nặng ân tình, nên chính anh - mà có thể cũng là chính chúng ta, cũng phải nghĩ suy, trăn trỡ khi nghe:

“Vợ bảo một mai mây trôi bèo dạt
Trong Anh còn mãi nẻo đi về!”**

Chính vì còn mãi nẻo đi về, nên cơn bão thiên nhiên không làm sao lấn át được cơn bão lòng, nó dằn vặt anh, những câu chữ ngỗn ngang, dồn nén tự dưng trổi dậy, ùa ra, kết thành nỗi nhớ:

“Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội
Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng
Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối
Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn”

Vâng, sau những nỗi niềm sẻ chia, sau những bôn ba ngày tháng, sau những lần xa cách, và cũng có thể, sau những lần sống thật, đối diện với chính mình để đo chiều dài nỗi nhớ, nỗi chờ mong, anh đã có một lời khẳng định thật nhẹ nhàng mà sâu lắng:

“Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên
Có một người trong tim bão nổi
Tôi đi ngược phía chiều gió thổi
Cõi lòng ơi! Sao dứt thuở đi về!”

Bài thơ đã khép lại, nhưng những gì anh viết cứ hiện diện, cứ lắng đọng mãi như sợ đời không hiểu mình, người không hiểu mình. Đó phải chăng, cũng là một phong cách rất riêng, rất chi là Võ Văn Hoa mà người đọc, người viết cảm nhận về anh vậy.

Hải Chánh, ngày 20 tháng 08 năm 2008.

NGUYỄN THỊ LAI

*: Lời một bài hát.
**: Tản mạn đêm thị trấn - Thơ: Võ Văn Hoa.
READ MORE - NGUYỄN THỊ LAI - ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: BÃO

Saturday, May 28, 2011

LÊ NGỌC PHÁI - BÓNG NẮNG



Mình ta ngồi ở bên song
Lắng nghe bóng nắng chiều xuân xuống thềm
Nhớ em tóc xõa vai mềm

Hai bàn tay ngọc lướt trên phím ngà
Một thời con gái đã qua

Mấy mưới năm trước bỗng là giấc mơ
Yêu em với những vần thơ

Ngọt ngào âu yếm như bờ môi em
Ngỡ ngàng trăng khuyết chờ đêm

Lâng lâng cơn gió ru êm cuối trời
Ô hay bóng nắng đi rồi
Mà ta ngồi mãi với người ta yêu!


LNP
READ MORE - LÊ NGỌC PHÁI - BÓNG NẮNG

NGUYỄN ĐẶNG KỲ - QUẢNG TRỊ: LỊCH SỬ VÀ CON NGƯỜI

Phần 1 Lịch sử


Đất Quảng Trị ngày nay được sáp nhập vào nước ta vào hai thời kỳ cách nhau trên 200 năm.

Năm 1069 vua Lý thánh Tông đem quân đánh Chiêm thành bắt được vua Chiêm là Chế Củ.Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: "Mùa xuân tháng 2, vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Trận này, vua đánh Chiêm Thành mãi không được, đem quân về đến châu Cự Liên, nghe tin Nguyên phi (Nguyên phi Ỷ Lan) giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá, vui vẻ ,trong cõi bình yên, tôn sùng Phật giáo, nhân dân gọi là bà Quan Âm .Vua nói: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông thì không được việc gì”, lần đi đánh nữa, lần này đánh đươc.”.

Đến năm thứ 4 niên hiệu Thái Ninh ( Ất mão) 1075 vua Lý Nhân Tông sai ông Lý Thường Kiệt đi tuần hành biên cương và phác hoa. bản đồ hình thế núi sông . Vua Lý đặt ba châu ấy làm phủ Tân bình. Lại dổi châu Địa lý làm châu Lâm bình và châu Ma Linh làm châu Minh Linh ,đồng thời xuống chiếu chiêu mộ dân chúng đến khai phá vùng đất ấy và sắp xếp lại viêc cai trị..

Hai châu Bố Chính va Địa Lý nay là tỉnh Quảng Bình và châu Ma Linh (Minh Linh ) nay là các huyên Vĩnh Linh và Gio Linh ,tỉnh Quảng Trị

Đáp ứng chiếu ấy, dân chúng các vùng phía Bắc, đông nhât là vùng Nghệ An vào khai khẩn lập nên làng xã.Theo Phan Khoang trong Việt Sử Xứ Đàng Trong cho rằng:Trong số di dân ấy những người cùng một họ cùng tụ tập một nơi lập thành một làng (xã)nên có các làng Ngô Xá, Hoàng Xá, Phan Xá, Vũ Xá …v.v.

Năm 1306 vua Trần Anh Tông gã Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm thành là Chế Mân, Chế Mân dâng 2 châu Ô và Rí làm sính lễ .Năm 1307 đổi 2 châu này thành châu Thuận và châu Hoá sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên nhân dân.

Thuân Châu nay là vùng đất các huyên Triêu Phong và Hải Lăng tỉnh Quảng Trị và các huyên Phong Điền, Quảng Điên và Hương Trà tỉnh Thừa Thiên và Hóa châu nay là các huyên Phú Vang và Phu lộc tỉnh Thừa Thiên và các huyên Hòa Vang, Điện Bàn Đại Lộc, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam hiện nay

Mặc dầu vùng đất này đã thuộc về Đại Việt, nhưng người Chiêm vẫn không chấp nhận nên họ cứ đem quân đến gây hấn, đánh phá để mong chiếm lai vùng này.Nhất là giai đoạn từ năm 1360 đến năm 1390 khi nước Chiêm có một vị vua anh hùng là Chế Bông Nga . Trong cuộc nam tiến của người Việt Vùng Thuân Hóa là vung chịu nhiều đau thương nhất vì việc gianh qua gianh lại giữa hai nước Chiêm_ Việt,

Trong thời thuộc Minh, Thuân Hóa cũng bi nhà Minh chiếm đong Theo sách Minh Chí được Lê Quý Đôn dẫn lại trong Phủ Biên Tap Luc thì thời ấy phủ Tân Binh có 37 xã, 2.132 hộ và 4238 nhân khẩu .Phủ Thuân Hóa co 79 xã, 1407 hộ và 3663 nhân khẩu

Phủ Tân Bình có 2 huyện trực thuộc là huyên Nha Nghi và huyên Phước Khang.

Phủ Tân Bình còn kiêm lãnh thêm hai châu là Chánh Binh và Nam Lĩnh và huyên Tả Bình

Phủ Thuân Hoa có 2 châu là : Thuận Châu có 4 huyên là Lợi Điền, Phi Lao, Ba lan , Yên Nhân. Hóa châu có 7 huyện là Trà Kệ , Lợi Bồng, Sá Lịnh, Tư Dung, Bố Đài, Bồ Lãng và Sĩ Vinh .

Sau khi Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi đươc quân Minh lên ngôi vua là Lê Thái Tổ, Thuận Hóa cũng đươc thu hồi. Nhà Vua nhận thấy đây là một vùng đất quan trọng nên luôn sai các trọng thần vào trấn nhậm. Tuy vậy người Chiêm vẫn thường xuyên cho quân đến cướp phá, nhưng cũng chỉ dừng lại ở những cuộc cướp bóc mà thôi.

Năm Quang Thuận thứ 7(1466),Vua Lê Thánh Tôn cho thành lập chức Thừa tuyên tại 13 đạo. Đó là các đạo Thanh Hoa ,Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, Yên Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Ninh Sóc. Trong đó thừa tuyên Thuận Hóa gòm 2 phủ Tân Bình và Triệu phong. Phủ Tân Bình có 2 huyện là Khang Lộc, Lệ Thủy và 2 châu Minh Linh và Bố Chính. Phủ Triệu Phong có 6 huyện là Kim Trà, Đan Điền, Hải Lăng,Vũ Xương, Tư Vinh, Điện Bàn, và hai châu là Thuận Bình và Sa Bôi… Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) vua Lê Thánh Tông cho đổi Đạo thành Xứ, Đồng thời cho định lại bản đồ toàn quốc.

Suốt mấy trăm năm, mặc dầu luôn luôn có sự tranh giành của người Chiêm, nhưng Thuận Hóa vẫn càng ngày càng phát triển. Dân chúng từ phía Bắc đã vào lập nghiêp tại vùng đất mới ngày càng đông. Họ lập nên làng (xã) biến vùng đất mới thành nơi trù phú.

Theo Ô Châu Cận Lục của Tiến sĩ Dương Văn An viết vào thời nhà Mạc thì ngay từ thời đó, đất Quảng Trị của ta hiện nay đã là môt vùng đất trù phú và các làng (xã) đã được thành lập khá nhiều vào thời đó.Tên các làng tại tỉnh Quảng Trị hiện nay đã có từ thời đó cụ thể như sau :


Châu Minh Linh có 65 xã

1. Tùng Công

2. Tân Sài

3. Minh Ái

4. Lân Trì

5. Cổ Trai

6. Tùng Luật

7. Đan Duệ

8. Tang Ma

9. Lâm Sài

10. Sa Lung

11. Hàm Hòa

12. Hồ Xá

13. An Điền

14. Thượng Lộc

15. Trung lập

16. Lai Cách

17. Xuân Mỵ

18. Bắc Bạn

19. Mô Nham

20. Thạch Ma

21. Cổ Hiền

22. Tiên Trạo

23. Vũ Tá

24. Phan Xá

25. HoàngCác Thượng

26. Hoàng Các Hạ

27. Tân Manh

28. Nguyễn Xá

29. Lâm Cao

30. Tứ Lại

31. Đặng Xá

32. Duy Viễn

33. Lại Xá

34. Thủy Ba Thượng

35. Thủy Ba Hạ

36. Vũ Xá

37. Kinh Môn

38. Bùi Xá

39. Lệ Môn

40. Cao Xá

41. Gia Môn

42. Hương Gia

43. Lại Phúc

44. Phúc Thị

45. Hà Lạc Thượng

46. Hà Lạc Hạ

47. Hy Nguyễn

48. Trí Tuyền

49. Trúc Lâm

50. Sùng Hoa Thượng

51. Sùng Hoa Hạ

52. Mai xá

53. Diêm Hà Thượng

54. Diêm Hà Hạ

55. Lâm Ngang

56. Duy Phiên

57. Thần Thái

58. Xuân Lôi

59. Hải Chữ

60. An Bạch

61. Bảo Phố

62. Thụy Khê

63. Nhĩ Thượng

64. Nhĩ Hạ

65. NhĩTrung

Huyện Vũ Xương có 59 xã

1 Hoa vi

2 Đông Dương

3 Diên Cát

4 An Nghi

5 Cổ Lũy

6 Toàn Giao

7 Đan Quế

8 Phương Lang

9 Cổ Kính

10 Trung Đan

11 Tiểu Khê

12 Văn Phong

13 Linh Vũ

14 Linh Chiểu

15 Đạo Đầu

16 Hội Khánh

17 Đại Hòa

18 Hòa Điểu

19 Vân Đóa

20 Vân Động

21 Hướng Ngao

22 Thượng Đô

23 Hạ Đô

24 Lang Gia

25 Nhan Qua

26 Ôn Tuyền

27 Ái Tử

28 Trung Chỉ

29 Thượng Đô

30 Hà Đô

31 Nghĩa Đoan

32 Chính Lộ

33 Thượng Nguyên

34 Trà Bát

35 Vĩnh Phúc

36 Thiên Áng

37 Lai Cách

38 Thanh Đằng

39 Trâm Hốt

40 Truc Giang

41 Kỳ Trúc

42 Bích Đàm

43 An Cư

44 An Việt

45 Truc Liêu

46 Bố Liêu

47 Lâm Gia

48 Trương Xá

49 Chính Đường

50 Kim Đâu

51 Trúc Kinh

52 Trúc Giang

53 Tiểu Áng

54 Tam Vô

55 Liên Trì

56 Tài Lương

57 Phù Ba

58 An Nhân

59 An Nghiệp

Huyện Hải lăng có 49 xã

1 An Thư

2 Vĩnh Hưng

3 Văn Quỹ

4 Câu Nhi

5 Hà Lộ

6 Lãng Uyên

7 Đoan Trang

8 Diên Sinh

9 Câu Hoan

10 Trà Trì Thượng

11 Trà Trì Hạ

12 Lam Thủy

13 Mai Đàn

14 Hương Lan

15 Hương Liêu

16 Long Đôi

17 Thái Nại

18 An Khang

19 Hoàng Xá

20 Xuân Lâm

21 Tích Tường

22 Như Lệ

23 Thạch Hãn

24 Cỗ Thành

25 Thượng Mang

26 Hoa Ngạn

27 Phù Lưu

28 Nha Nghị

29 Hữu Điểu

30 Hoa La

31 An Lộng

32 Hà Mi

33 Nại Cửu

34 Dương Lệ

35 Dương Chiếu

36 An Toàn

37 Động Giám

38 Dã Độ

39 An Dã

40 Quảng Đâu

41 Dâu Động

42 Phúc Lộc

43 Đại Bối

44 Tiểu Bối

45 Đại Bị

46 Tiểu Bị

47 An Hưng

48 Hà Bá

49 Đâu Knh


Xem bảng liệt kê các làng có từ thời nhà Lê ở trên ta thấy : Số lượng làng (xã) được thành lập trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa khá nhiều. Các làng không có tên trong danh sách này có lẽ được thành lập sau này qua nhiều thời kỳ. Hai huyên Hải Lăng và Vũ Xương - sau này đổi thành Đăng Xương từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát do phạm húy-không trùng với 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng bây giờ. Huyện Cam Lộ bây giờ, thời đó chưa có, phải sau một thời gian nũa mới có xã Cam Lộ và sau đó đổi thành Đạo Cam Lộ. Rất nhiều làng đổi tên khác.

Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa ,vùng đất này không thay đổi nhiều .Chỉ từ khi chúa Nguyễn ra mặt chống đối họ Trịnh mới có những thay đổi, như năm 1604 lấy huyện Điên Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Chúa Nguyễn Phuc Khoát chia phần đất do chúa Nguyễn cai trị từ Quảng Bình trở vào thành 12 Dinh, Đát Quảng Trị ngày nay gọi là Cựu Dinh với các huyện Hải Lăng, Đăng Xương và Minh Linh với 2 châu miền thượng du là Thuận Binh và Sa Bôi.

Năm Ất dậu (1765), Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi, lúc này Chúa mới 12 tuổi, quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan. Công việc nội trị ngày càng rối ren. Nhân cơ hội này, năm 1773, anh em nhà Tây Sơn nổi lên chiếm phủ thành Quy Nhơn. Ở phía Bắc chúa Trịnh nghe tin phía Nam có loạn nên tháng 5/1774 sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào đánh chúa Nguyễn lấy cớ là để giúp trừ Trương Phúc Loan va dẹp “loạn” Tây Sơn. Quan binh chúa Nguyễn lúc này tinh thần không còn nên gặp quân Trịnh kẻ thì đầu hàng kẻ thì bỏ chạy nên đến tháng 12 quân Trịnh đã chiếm dược Thuận Hóa. Chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam, sau đó tiếp tục chạy vào Gia Định.

Theo truyền ngôn để lại. Đây là một giai đoạn rất đau khổ của dân Thuân Hóa .Tài sản tích góp mấy trăm năm bị quân Trịnh đốt phá sạch đến nổi Đại Nam Thực Lục chép như sau “Mùa đông tháng 10 Thuận Hóa bị đói to, mỗi lẽ gạo trị giá một tiền, ngoài đường có xác chết đói, người nhà có khi ăn thịt lẫn nhau”. Ngay trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn - là người lãnh đạo chính quyên chiếm đóng do chúa Trịnh cử vào - cũng phải viết rằng: “Lúc bấy giờ quân binh và nhân dân đang ở lẫn lộn với nhau. Các tỳ tướng và quân hiệu thì ỷ lại thế lực, họ lấy trộm các vật liệu và triệt hạ các chốn quân phòng cũ để làm những đồn mới. Họ lại còn chuyên quyền, bắt bớ và giam cầm và khám xét những người khác nữa.

Đồng tiền kẽm không được lưu hành, giá lúa gạo ngày càng nhảy vọt. Những nhà làm muối đều phải bỏ nghề nghiệp của mình … .Vì vậy mà những kẻ hung hãn, bạo tàn, càng ngày càng điêu ngoa đắc chí, còn những kẻ yếu hèn cô thế càng ngày càng sinh lòng phẩn uất, oán hờn”.

Đúng 200 năm sau, với cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, nhân dân Thuận Hóa mà nhất là dân Quảng Trị cũng đã mất tất cả những gi dành dụm không biết bao đời do bom đạn. Hy vọng từ đây về sau sẽ không còn những mất mát đau thương như đã xảy ra trong quá khứ.

Đến năm Bính ngọ (1786) quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, chỉ trong vòng mấy ngày đã đuổi dược quân Trịnh và chiếm được Thuận Hóa.

Năm 1801 sau khi chiếm lại được Thuận Hóa. Vua Gia Long cho lấy các huyện Hương Trà , Quảng Điền, Phú Vang thuộc phủ Triệu Phong làm dinh Quảng Đức. Lấy hai huyện thuộc phủ Triệu Phong là Đăng Xương và Hải Lăng, một huyện thuộc phủ Quảng Binh là huyện Minh Linh làm thành dinh Quảng Trị. Địa danh Quảng Trị bắt đầu xuất hiên từ đây. Đặt các ông Hậu quân Đinh Văn Dụ làm Lưu thủ. Ngô Triệu Cao làm Cai bạ. Nguyễn Viết Ưng làm ký lục, lãnh đạo dinh Quảng Trị.

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), lấy đất 4 sách Viễn Kiều, Tầm Linh, Lang Tổng và Làng Liên đặt thành châu Hướng Hóa thuộc đạo Cam Lộ. Năm sau cải dinh Quảng Trị làm trấn và đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830) đổi trấn thành tỉnh đồng thời cải đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), cải châu Hướng Hóa thành huyện Hướng Hóa. Năm Minh Mạng thứ 17(1846) cắt đất 2 huyện Đăng Xương và Minh Linh thành lập một huyên mới gọi là huyện Địa Linh. Như vậy đến cuối đời Minh Mạng, tỉnh Quảng Trị có 2 phủ, 5 huyện, 9 châu như sau:

Phủ Triêụ Phong có

1 Huyện Minh Linh

2 Huyện Đăng Xương (do Phủ kiêm trị)

3 Huyện Địa Linh

4 Huyện Hải Lăng

Phủ Cam Lộ có

1 Huyện Hướng Hóa

2 Châu Mường Vang

3 Châu Na Bí

4 Châu Thượng Kế

5 Châu Tá Bang

6 Châu Xương Thạnh

7 Châu Tầm Bồn

8 Châu Ba Lan

9 Châu Mường Bổng

10 Châu Lăng Thìn

Năm Tự Đức thứ 6 bỏ tinh, đổi thành đạo Quảng Trị trực thuộc phủ Thừa Thiên .Nhưng đén năm Tự Đức thứ 29 lại đổi thành tỉnh Quảng trị như cũ.

Năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) đổi tên huyện Đăng Xương thành huyện Thuận Xương.Năm Ất dậu (1885) đổi huyện Minh Linh thành huyện Chiêu Linh. Năm Đồng Khánh nguyên niên (1886) đổi tên huyện Địa Linh thành huyện Gio Linh. Năm Thành Thái nguyên niên (1889) lại đổi huyện Chiêu Linh thành huyện Vĩnh Linh .Từ đây địa danh của tỉnh Quảng Trị ít có sự thay đổi.

Theo thống kê năm 1914 tỉnh Quảng Trị có 2 phủ, 4 huyện, 33 tổng và 570 xã,thôn. Chia ra như sau .

1. Phủ Vĩnh Linh có 5 tổng 129 làng

2. Phủ Triệu Phong có 5 tổng 93 làng

3. Huyện Hải Lăng có 4 tổng 81 làng

4. Huyện Gio Linh có 5 tổng 87 làng

5. Huyện Cam Lộ có 3 tổng 84 làng

6. Huyện Hướng Hóa có 11 tổng 96 làng

Sau Hiệp định Genève ngày 20/7/1954 phần lớn địa bàn quận Vĩnh Linh thuộc về Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và được gọi là khu vực Vĩnh Linh ngang với cấp tỉnh. Phần đất còn lại của quân Vĩnh Linh thuộc tổng Xuân Hòa nằm ở bờ nam sông Bến Hải thuộc về Việt Nam Cộng Hòa, cùng với 2 làng An Xá và An Lộc của quận Gio Linh chính quyền Miền Nam cho thành lập quận Trung Lương.

Sau năm 1975, Chính quyền cũng đã nhiều lần chia cắt và sáp nhập, nhưng nói chung cũng không thay đổi nhiêu . Chỉ đặc biệt là lập thêm 2 huyện là huyện Đa Krông và huyện đảo Cồn Cỏ. Hiện nay (2010), tỉnh Quảng Trị có 1 thành phố là Đông Hà, 1 thị xã là Quảng Trị và 8 huyện là Haỉ Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh,Vĩnh Linh, Hướng Hóa, Đa krông và huyện Cồn Cỏ

Nguyễn Đặng Kỳ

Tài liệu tham khảo:

- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

- Đại Nam Thực Lục

- Đaị Nam Nhất Thống Chí

- Phủ Biên Tạp Lục cua Lê Quý Đôn

- Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An

- Việt Sử Xứ Đàng Trong của Phan Khoang

- Non Nước Quảng Trị của Nguyễn Đình Tư (bản photocopy)

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG KỲ - QUẢNG TRỊ: LỊCH SỬ VÀ CON NGƯỜI