Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, February 21, 2011

VĨNH PHÚC - TỔNG LƯỢC VÀ NHẬN XÉT KHẢO CỨU VỀ DÂN CA BÌNH-TRỊ-THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX

Sơ lược về tác giả:
Họ tên: Bùi Ngọc Phúc
Bút danh: Vĩnh Phúc
Thạc sĩ âm nhạc
Chuyên ngành: Sáng tác - lí luận âm nhạc. Học viện Âm nhạc Huế
Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam
Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc Thừa Thiên Huế, Trưởng ban Biên tập Tạp chí Âm nhạc Huế.

Qua hơn 30 bài nghiên cứu, giới thiệu về dân ca Việt Nam sưu tập theo tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 20 bài phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX... theo quan điểm riêng của mình.
Bình - Trị - Thiên là tên ghép của 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế nhưng cũng như Nghệ An, Hà Tĩnh (gọi ghép là Nghệ - Tĩnh), không hẳn chỉ vì trong quá khứ, do điều kiện lịch sử, địa lý đã nhiều lần là một đơn vị hành chính; mà sự gắn kết này, nổi trội lên là do tính chất tương đồng về văn hóa. Bởi vậy mà đôi lúc người ta thường gọi cả khu vực ba tỉnh Bình -Trị -Thiên là Xứ Huế. Tính chất đồng văn được biểu hiện rõ nhất trong hệ thống dân ca - nhạc cổ của xứ này. Đặc biệt là Quảng Trị và Thừa Thiên, được xem như chỉ là một. Nhìn chung, dân ca Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên trên cơ bản là đồng nhất. Với những đặc điểm về điều kiện, hoàn cảnh địa lý, lịch sử, cùng các yếu tố phong tục tập quán, ngữ âm giọng nói...đã tạo ra trong ngôn ngữ âm nhạc cổ truyền khu vực này nét độc đáo, đặc trưng, khu biệt khác hẳn với phong cách dân ca từ Đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào.
Giai đoạn trước năm 1975, bài viết mang tính chất bình luận, nghiên cứu về dân ca Bình - Trị - Thiên thật quá ít ỏi. Những bài được đăng tải trên các tạp chí, tập san sớm hơn cả có lẽ là của nhạc sĩ Nguyễn Viêm, Phạm Duy, Lê Văn Hảo...nhưng cũng mới chỉ là những bài viết sơ lược về một thể loại, hoặc một số thể loại dân ca của vùng đất này.
Hò là một trong số thể loại dân ca tiêu biểu Bình-Trị-Thiên được các tác giả nghiên cứu khá nhiều.
Trong bài "Dân ca Việt Nam" [1] đăng trên Nguyệt san Văn Hữu năm 1960 của Phạm Duy, sau khi đề cập sơ bộ về sự san định dân ca, thì phần chủ yếu là giới thiệu những điệu hò Trị-Thiên như Hò ru con, Hò hụi, Hò ô, Hò mái nhì, mái xấp v.v...Tác giả bài viết đã đưa ra một số nhận xét bước đầu về các loại Hò đáng lưu ý, chẳng hạn: "Hò mái xấp và Hò mái nhì đã quy định rõ ràng là người Hò Con phải Xô hai lần Lớp Mái. (Chữ "xấp" nghĩa là "xấp đôi, xấp hai" ; chữ "nhì" cũng nghĩa là "hai" ; "hò mái xấp" và "hò mái nhì" nghĩa là "hai lần lớp mái"); và: "Hò Đưa Linh đã đóng vai trò trung gian giữa hai loại dân ca và lễ ca của miền Trung...phần hơi Nam thì còn lưu luyến hương vị Hò, phần hơi Bắc thì đã bị ảnh hưởng Nhạc Cúng, Nhạc Lễ, Nhạc Lên Đồng, mang đủ hai tính cách âm dương của nhạc miền Trung... Có những vấn đề lại đầy tính khẳng định, chủ quan: Nét nhạc xây dựng trên âm giai lơ lớ của người Chàm đem từ Nam Dương vào miền Trung.
Những điệu Hò giới thiệu trong bài viết được tác giả gọi là Những điệu hò miền Trung, thực chất chỉ là các điệu hò Trị - Thiên và mặc dù có một vài nhận xét về âm nhạc: "Với nét nhạc lượn quanh 4 nốt: rè sol do ré (nốt la chênh chỉ phớt qua) và với nhịp điệu theo nhịp thơ, HÒ THAI lững lơ, đợi chờ” nhưng chủ yếu vẫn là "bình giảng" các lời hò như cách thức trong "văn học bình dân" mà thôi. Phần đầu bài viết, tác giả Phạm Duy có đặt vấn đề việc san định dân ca, nhưng lại tỏ ra lúng túng khi phân loại, sắp đặt các điệu hò miền Trung trong bài viết của mình. Ông lại càng sai lầm hơn khi xếp thể loại Lý vào hệ thống Hò, và còn khẳng định lại trong phần kết luận: "HÒ MIỀN TRUNG với những bài RU, HÁT LÝ, NGÂM, HÒ NỆN, HÒ Ô, HÒ MÁI XẤP, HÒ MÁI NHÌ, HÒ GIÃ GẠO, HÒ THAI, HÒ ĐƯA LINH...một thời qua đã cắm rễ vào đời sống thực của người dân”.
Lê Văn Hảo là một tác giả có bài nghiên cứu ở hầu hết các thể loại dân ca tiêu biểu của Việt Nam. Cố nhiên, là trên góc độ dân tộc văn hóa học, nhưng đối với những thời kỳ mà đội ngũ nghiên cứu âm nhạc quá ít ỏi, thưa thớt, thì những khảo cứu của ông cũng đã tỏ ra xứng đáng để lấp đầy những chổ thiếu hụt trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc cổ truyền. Với thể loại Hò Bình - Trị - Thiên, từ năm 1963 ông đã đề cập đến trong bài "Vài nét về Hò - dân ca miền Trung và miền Nam”, năm 1978 lại có "Góp phần tìm hiểu Hò Binh-Trị-Thiên” và năm 1979 là "Hò Bình-Trị-Thiên” [2]. Có thể nói đây là một khảo cứu đầy đủ về hệ thống hò Bình-Trị-Thiên không những về mặt sinh hoạt, môi trường diễn xướng...mà bước đầu đã có sự phân loại, hệ thống hóa các nhóm Hò tương quan như hệ thống Hò hụi, Hò khoan, Hò đưa linh, mái nhì... cũng như những dẫn chứng, thí dụ bằng nốt nhạc. Tuy vậy, khảo cứu cả một hệ thống Hò vốn rất phong phú của khu vực Bình-Trị-Thiên bằng một bài báo, thì không thể tránh được tình trạng “tổng quan”, phiến diện; sử dụng, nhắc lại các nhận xét, kết quả nghiên cứu của người khác nhưng không dẫn giải, đào sâu thêm mà chỉ đưa vào nghiên cứu của mình như thành phần "đại biểu danh dự” để trấn an độc giả về mặt âm nhạc học. Điều này không chỉ riêng ở tác giả Lê Văn Hảo, mà còn thấy ở nhiều tác giả khác. Bài "Chung quanh một số phát hiện khảo cổ - Dân tộc học và Nghệ thuật học lớn: Từ đàn đá Khánh Sơn đến Hò mái nhì, mái đẩy Bình-Trị-Thiên” [3] của ông lại tỏ ra là một bài viết nghiên cứu âm nhạc khi so sánh thang âm của bộ đàn đá Khánh Sơn, thang âm bộ đàn đá Ndut Lieng Krak với thang âm Hò mái nhì, mái đẩy, khơi sâu thêm vấn đề mà Gs Trần Văn Khê đề xuất trong luận án tiến sĩ của mình: thang âm pelog (Indonesia) gần gũi với thang âm Hò mái nhì, mái đẩy.
Tiến sĩ Tôn Thất Bình, cũng là người có nhiều nghiên cứu về thể loại này, như: "Hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên”, "Thử tìm hiểu nguồn gốc làn điệu Hò mái nhì” [2] và "Tìm hiểu Hò Bình Trị Thiên” [4]. Mặc dù đây là những khảo cứu văn hóa dân gian nhưng đã viện dẫn đến nhiều nhận xét của các nhà âm nhạc học như Trần Văn Khê về thang âm Hò mái nhì, mái đẩy, Phạm Duy về thang âm "hơi nam giọng ai" có nguồn gốc Chàm trong hầu hết các điệu Hò Bình-Trị-Thiên. Về cách gọi tên các điệu Hò, Tôn Thất Bình không nhất trí với Lê Văn Hảo gọi "mái nhì" là mái chèo sau, mái chèo thứ hai, mà thống nhất với ý kiến của các nhà âm nhạc học giải thích: mái là lớp mái. Hò mái nhì là loại hò phải xô hai lần lớp mái. Ông cũng không đồng nhất quan điểm với một số người dùng danh xưng "Hò Huế" để chỉ các làn điệu hò có mặt tại Huế. Bởi vì nó không phải là sản phẩm của giới quý tộc và trí thức ở Huế như Ca Huế, mà là sản phẩm chung của Trị Thiên, nên phải gọi là Hò Trị-Thiên. Điều này là chính xác, nhưng nếu quan niệm không gian văn hóa của Xứ Huế là bao gồm cả Trị-Thiên, thì danh xưng Hò Huế chưa hẵn là không đúng.
Hò mái nhì là loại hò sông nước, trong quá trình phát triển, do không gian diễn xướng, do sắc thái của từng địa phương cụ thể mà làn điệu hò có những nét riêng. Tuy vậy, Hò mái nhì không chỉ là hò sông nước mà đã hình thành hệ thống Hò cạn: hò trong khi quay tơ dệt vải, khi cày ruộng trên đồng...Trường hợp điệu hò mái nhì ở Hải Thanh (Quảng Trị) đã rất phổ biến trong kháng chiến chống Pháp là loại Hò mái nhì trên cạn; chức năng thực hành và nội dung chủ yếu là kêu gọi ngụy quân về với Cách mạng, về với nhân dân nên cũng gọi là Hò địch vận. Làn điệu do đó cũng phát triển hơn cho phù hợp với chức năng thực hành mới...Nhưng không thể xem đấy là một thể loại dân ca mới: Hò Hải Thanh [5] như cách gọi của nhạc sĩ Nguyễn Viêm. Cùng trường hợp là một loại hò gọi là Hò đập bắp Thượng Xá (Quảng Trị) do Tôn Thất Bình và Nguyễn Hồng Trân giới thiệu [6]. Có thể đó là một loại hò mới, nhưng cũng có thể là một biến điệu của Hò mái nhì trên cạn rất phổ biến ở Quảng Trị. Do tính chất của một bài nghiên cứu văn hóa dân gian, các tác giả ít chú trọng về âm nhạc của làn điệu hò, nên không thể biết gì thêm về loại hò này.
Theo Dương Bích Hà trong Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế [7] thì thể loại đặc sắc nhất trong dân ca Bình-Trị-Thiên là Hò và Lý; trong hệ thống Hò Trị-Thiên thì tiêu biểu nhất là Hò mái nhì. Bởi trước hết, tính chất giai điệu của nó đã gợi lên được không gian thiên nhiên đặc hữu của Huế, của Núi Ngự Sông Hương và bóng dáng những con đò lững lờ xuôi dòng về với đầm phá mênh mông. Giai điệu Hò mái nhì trầm bổng mượt mà, với nhịp điệu dàn trải, chậm rãi khoan thai nhưng phóng khoáng vút lên lan tỏa giữa mênh mang sóng nước, rồi buông lơi bằng những bước phản hồi êm ái, như chùng xuống chìm vào tâm tư, tự sự. Mặc dù không phân tích cụ thể về âm nhạc nhưng tác giả đã nhận xét "cấu trúc âm nhạc của Hò mái nhì hoàn chỉnh trên bố cục của thể thơ song thất lục bát, mà 2 câu bảy như một vế dẫn gợi mở để vào vế chính là câu sáu tám mang nội dung chính của hò, nơi ký thác tâm sự, ân tình".
Một điệu hò cạn nổi tiếng và phổ biến ở Trị-Thiên là Hò giã gạo. Cũng theo Dương Bích hà [7], tuy gắn bó công việc lao động tập thể nhưng không chỉ đơn thuần là để giã gạo mà còn là nơi trai thanh gái lịch tìm hiểu, trao duyên và cũng đã từng quyến rũ cả giới văn nhân quý tộc Huế tham gia. Loại hò này đã có nhiều bài nghiên cứu, nhưng chỉ trên lĩnh vực văn học dân gian, còn nghiên cứu về âm nhạc thì hầu như chưa được quan tâm.
Bài viết Hò khoan Lệ Thủy - Dân ca Quảng Bình [8] của tác giả Thân Văn mang tính chất một chuyên khảo âm nhạc học về tổ hợp hò khoan sáu mái của vùng sông nước Lệ Thủy. Bài viết chỉ dài hơn 5 trang nhưng ngồn ngộn những vấn đề được chứa đựng trong 3 phần với gần 20 tiểu mục. Tác giả cho rằng Hò khoan Lệ Thủy bắt nguồn từ một loại Hò nhân nghĩa, một loại hò của nghĩa binh Lê Lợi có trên vùng đất này vào thế kỷ XV nhưng sự hình thành lối hò khoan thì gắn với sự ra đời của con sông Kiến Giang. Nhận xét về âm nhạc, tác giả cho rằng, cấu trúc âm nhạc Hò khoan dựa trên các điệu thức 5 âm bắc bộ, có ảnh hưởng tương đối về chất liệu đối với các làn điệu Hò và Ví, Giặm dân ca Thanh-Nghệ-Tỉnh, đặc biệt trong 3 mái hò cạn. Nhóm 3 mái Hò cạn (mái chè, mái nện, mái xắp) thuần túy lối hát nói (Récitativ); cấu trúc hình thức chung nhất là thể một đoạn gồm 2 câu, mỗi câu chứa 2 vế... Nhóm 3 mái Hò nước (mái ruổi, mái nhì, mái ba) điển hình là lối hát chuyện (Ballade); cấu trúc hình thức phức tạp hơn, nhất là trong hò mái nhì v.v... Nói chung, bài viết đã đặt ra được nhiều vấn đề, thậm chí vượt qua khuôn hạn của một bài báo 5 trang. Dù rằng, do dung lượng của tờ tạp chí, không thể đăng thêm các thí dụ, dẫn chứng bằng nốt nhạc, nhưng không vì thế mà giảm đi tính chất của một khảo cứu âm nhạc học, điều mà chỉ có được ở những bài viết nghiên cứu trên các tạp chí, từ 1990 trở về sau. Tuy nhiên, trong bài viết này của tác giả Thân Văn, với gần 20 tiểu mục đã gây ra sự dồn nén thông tin, nên ít có vấn đề được giải quyết một cách trọn vẹn. Có thể vì thế mà khi nhận xét ngôn ngữ âm nhạc trong Hò khoan Lệ Thủy, cảm giác rằng tác giả đã phân lập nó với môi trường văn hóa chung của khu vực Bình-Trị-Thiên - nơi mà phong tục và văn hóa, nghệ thuật tương đồng đến mức khó phân định. Bởi vậy không thể và không chỉ là dựa trên các loại điệu thức 5 âm Bắc Bộ và gần hơn với Hò, Ví, Giặm Thanh-Nghệ-Tĩnh mà không mang một nét chung nào với hệ thống Hò Trị -Thiên. Đúng hơn, như thường gọi là Hò Bình-Trị-Thiên. Ngoài ra, tác giả đã thật không cần thiết khi quy chiếu một số loại, thể âm nhạc châu Âu vào tính chất của một số lớp hò như récitativ, ballade; thể một đoạn 2 câu, 4 vế v.v...
Lý là một thể loại đặc sắc trong dân ca Bình-Trị-Thiên, chính xác hơn là Trị-Thiên. Nếu Hò là loại thể dân ca gắn bó với môi trường lao động, mang đậm yếu tố dân gian, thì Lý, trong âm nhạc cổ truyền "Xứ Huế", là một gạch nối giữa hai thành phần cổ truyền dân gian và cổ truyền chuyên nghiệp. Trong những năm 70, một số bài viết của một số tác giả có đề cập đến thể loại Lý Trị-Thiên, nhưng cũng chỉ nêu dẫn một cách chung chung trong tổng thể danh mục các thể loại dân ca Bình-Trị-Thiên, thông qua một số nghệ nhân, nghệ sĩ Trị-Thiên tập kết ra miền Bắc. Tuy vậy, cũng đã có những nhận xét về âm nhạc của một vài điệu Lý tiêu biểu: Điệu lý Hoài nam " dùng thủ pháp mô phỏng, không có những bước nhảy rộng trong giai điệu"; điệu lý Năm canh "có tốc độ chậm, dàn trải, với những bước nhảy lớn ở âm khu trầm, nghe càng rõ tính chất cô đơn, hiu quạnh...Các điệu lý phần nhiều được cấu trúc theo thể nhạc đơn giản - thể nhạc một đoạn - hợp với khổ thơ lục bát” trong bài nghiên cứu Dân ca Bình Trị Thiên [9] của Nguyễn Viêm. Phải từ những năm 80, thể Lý Trị-Thiên mới được xem xét một cách độc lập trong vài chuyên khảo đăng trên các tập san, tạp chí Văn hóa - nghệ thuật. Các tác giả đã xác định vị trí của Lý trong nền nhạc cổ truyền Trị-Thiên. Đặc biệt, bài Một làn điệu đặc sắc trong kho tàng dân ca Bình-Trị-Thiên [10], Lê Văn Hảo đã nêu lên giá trị nghệ thuật của một điệu lý Hoài xuân mà ông gọi là lý con sáo Huế 1 trong hệ thống 4 điệu lý con sáo Huế và vùng phụ cận Huế. Đồng thời, ông đã dè dặt khơi gợi về nguồn gốc, về một điệu lý con sáo cổ xưa khi so sánh các điệu lý con sáo có mặt trên ba miền đất nước. Nhưng rồi không rõ căn cứ vào đâu ông lại đột ngột, mạnh dạn, chủ quan cho cho là "Lý hoài xuân sẽ ảnh hưởng đến lý con sáo Bắc, lý con sáo Quảng và lý con sáo Nam. Mô típ "ơi người ơi" sẽ được chuyển thành "ơ mần răng", "ư làm răng" hay thành "ơi nàng ơ" trong lý con sáo Quan họ, lý con sáo Quảng, lý con sáo Gò Công”... Hoặc là, "Lý giang nam (lý con sáo Huế 3) sẽ ảnh hưởng đến lý con sáo Bắc, lý con sáo Thanh, lý con sáo Quảng và nhất là lý con sáo Nam. Bài lý con sáo Nam nổi tiếng (lý con sáo Nam 1), mà nhạc điệu gần gũi với những bài bản thuộc điệu nam hơi oán trong đờn tài tử, ca vọng cổ, hát cải lương có lẽ đã bắt nguồn từ lý giang nam". Tác giả thiếu phần dẫn chứng, căn cứ, cho nên khi nêu vấn đề thường sa vào cảm tính. Chẳng hạn việc ông xếp Lý hoài xuân là điệu Lý con sáo 1, trong số 4 điệu Lý con sáo Huế, và được xem như là điệu Lý con sáo chính thức mà không một lời dẫn giải, đã khiến nhạc sĩ Minh Phương bác bỏ một cách hợp lý trong bài Trở lại bài dân ca Lý Hoài Xuân [11]. Qua phân tích, so sánh những yếu tố âm nhạc của các điệu Lý con sáo cả 3 miền, nhạc sĩ Minh Phương không cho rằng điệu lý hoài xuân là Lý con sáo Huế như Lê Văn Hảo đã nêu. Bởi vì về âm nhạc, nó không có họ hàng gần gũi gì với hệ thống các điệu lý con sáo chung. Ông chỉ thừa nhận Lý giang nam mới thực sự là điệu lý con sáo Huế. Không hẳn nhận xét này đã hoàn toàn đúng. Nét nhạc kết rất đặc trưng của lý hoài xuân đều có mặt trong hầu hết các điệu lý con sáo nhiều địa phương khác, kể cả trong điệu lý giang nam của Trị-Thiên mà nhiều người đã từng dẫn chứng. [3] Nguyễn Hữu Ba trong tập Dân ca Việt Nam, không gọi là lý hoài xuân mà đã gọi hẳn là lý con sáo Huế. [4]
Phải đến năm 1997 thể loại này mới được nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn trong bài Kết cấu thể thức âm nhạc trong Lý Huế [12] và Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế [13] của Dương Bích Hà. Tác giả đã giới thiệu một số cấu trúc độc đáo của một số điệu lý tiêu biểu ở Huế qua 4 phương thức sáng tạo làn điệu trong truyền thống dân gian. Tuy vậy, khi dẫn giải cũng lại sa vào khuôn thước của thể thức âm nhạc châu Âu, như: " cấu trúc một đoạn 2 vế không nhắc lại; thể biến tấu, chủ đề và các biến khúc" v.v...Như thế, tác giả đã dẫm lại dấu chân của những người đi trước. Nói cho cùng thì việc làm này chẳng khác gì công việc tìm kiếm những điểm tương đồng giữa dân ca nhạc cổ Việt Nam và âm nhạc cổ điển phương Tây, mà chủ đích của bài nghiên cứu này không phải là thế ! Một điều nữa đáng cảnh báo đối với kiểu nghiên cứu "bói ra ma, quét nhà ra rác" này là, trong khi nhận xét, đề cao về yếu tố chuyên nghiệp trong thể tài dân gian như Lý, tác giả bài viết đã vô hình trung gán cho những nghệ sĩ dân gian nào đó như là những nhạc sĩ có kiến thức uyên bác về nhạc học phương Tây, cái lý thuyết âm nhạc mà người Việt Nam ở thành thị cũng chỉ mới biết đến đầu thế kỷ XX.
Phát triển vấn đề dân gian và bác học trong thể Lý Huế mà Dương Bích Hà nêu ra, tác giả Vĩnh Phúc đã tiếp tục làm rõ 2 đặc tố này một cách hệ thống hơn qua bài nghiên cứu Yếu tố dân gian và bác học trong thể Lý Huế [14]. Thông qua các phương tiện biểu hiện đặc trưng của mỗi một đặc tố, bài viết đã xác minh và thừa nhận những đặc trưng của yếu tố bác học thâm nhập vào thể loại dân gian này: " theo phân tích của một số nhà nghiên cứu âm nhạc, chúng (Lý Huế), đã được chuyên nghiệp, bác học hóa đi rất nhiều. Bởi trong quá trình phát triển, Lý đã được trau chuốt bằng các thủ pháp nhà nghề của giới cầm ca xứ Huê, bản thân thể loại này đã bao gồm cả 2 yếu tố: dân gian và bác học". Tuy nhiên, cái bác học này cũng là cái bác học chung chung. Không thể rằng, nhặt ra được một vài thủ pháp nào đó trong cấu trúc giai điệu, bố cục thể thức giống hoặc na ná công thức nhạc lý châu Âu cổ điển, thì đều quy vào yếu tố bác học. Các giá trị nghệ thuật của bản thân từng thể loại dân ca mà nhà nghiên cứu nêu ra do đó, cũng có thể méo mó, hiểu khác đi, thậm chí có tác dụng ngược lại. Bởi vậy, thang giá trị (hoặc tiêu chuẩn, tiêu chí) chuyên nghiệp - bác học trong truyền thống âm nhạc dân tộc nên được xác định, nhất là trong những nghiên cứu liên quan đến giá trị nghệ thuật của dân ca nhạc cổ.
Luận từ sử sách để suy ra, để giải mã những ngọn nguồn đã hình thành nên bản sắc trong âm nhạc dân gian Xứ Huế. Bài nghiên cứu Âm nhạc dân gian Xứ Huế, đặc điểm lịch sử trong quá trình hình thành [15], Dương Bích Hà đã phần nào giải thích được sự biến thái phát triển đột biến của các thể loại dân ca có lề lối thủ tục, có môi trường diễn xướng đặc hữu của miền Bắc cội nguồn trên vùng đất châu Ô, châu Rí xưa. Đó là các thể loại, các lối hát đặc trưng chỉ phát triển nhiều nhất là từ Trị-Thiên trở vào, như thể Lý và các lối hát, hò tín ngưỡng của cư dân vùng duyên hải: hát Bả trạo, hò Đưa linh v.v...
Nhạc sĩ Lê Quang Nghệ trong Đi tìm điệu Trống quân Quảng Trị [16], đã cho biết ở đây có điệu Trống Quân nhưng hoàn toàn khác với hát Trống quân phổ biến ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Trống Quân Quảng Trị là một tiết mục nghệ thuật dân gian mang hình thức biểu diễn sân khấu. Sở dĩ gọi Trống quân vì là tiết mục hòa tấu trống - kèn mà dàn trống đóng vai trò chi phối toàn bộ tiết mục. Nội dung chủ yếu ca ngợi chiến công và lòng yêu nước của quân sĩ được thể hiện trong các tiết đoạn có tiêu đề cụ thể như Quân đại, Quân tiểu, Mở cờ v.v...Tuy nhiên tác giả cho rằng “cũng như nhiều bản nhạc cổ thuộc loại hòa tấu khác, trống quân bắt đầu từ một bài dân ca có lời...Điệu hát trống quân gồm 8 câu, hai đoạn, cấu trúc chặt chẽ như một bài ca hoàn chỉnh. Giai điệu mang âm hưởng của điệu Đăng đàn cung”... thì không hẳn là vậy. Bởi những lời ca có nội dung mới như tác giả đã dẫn: " này này này quyết chí công nông binh” là do việc đặt lời mới theo điệu nhạc được coi là Trống Quân đó. Hơn nữa, bài Trống quân này có âm hưởng của điệu nhạc Đăng đàn cung, là một bản nhạc lễ cung đình, là bài bản thuộc hệ thống Đại nhạc mà vào hậu kỳ triều Nguyễn có lúc đã phổ lời vào để làm thành Quốc thiều với lời ca như sau:
Dân Hồng Lạc mình đây đã bốn ngàn năm
Gây non nước từ trước lâu dài
Ngọn cờ Hoa Lư ngời rạng
Đinh, Lê rồi lại Lý, Trần, Lê
Rày Nam Bắc rộng bước sơn hà
. . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Vậy nó khó có thể có nguồn gốc từ một bài dân ca như tác giả khẳng định. Vả lại, hình thức Trống quân Quảng Trị là hòa tấu trống - kèn (cổ xúy), chẳng dân gian chút nào. Nếu có, hẳn là đã dân gian hóa vốn âm nhạc cung đình; hoặc như một nghi vấn đang được đặt ra: Phải chăng Quảng Trị, mà cụ thể là làng Điếu Ngao, là nơi lưu giữ một bộ phận quan trọng của Nhạc Lễ cung đình triều Nguyễn ?[5]
Trong tất cả các bài viết về Hát ru thì bài Nghệ thuật điệu ru con Quảng Trị của nhạc sĩ Lê Quang Nghệ là bài độc nhất mang tính nghiên cứu âm nhạc [17]. Mặc dù gọi là ru con Quảng Trị nhưng tác giả cũng thừa nhận là của cả Bình-Trị-Thiên, nơi có cùng một sắc thái ngôn ngữ. "Trong lối nói bình thường, các từ có âm trắc mang các dấu thường gieo vào âm vực trầm; từ có âm bằng, mang dấu huyền ở âm vực trung; từ có âm bằng không mang dấu thường được đặt ở âm vực cao. Đó là đặc điểm của cách phát âm đã trực tiếp ảnh hưởng đến các thể loại dân ca trong vùng". Tác giả nhận xét: "điệu ru con Quảng Trị có quan hệ chặt chẽ với các điệu hò. Lời nào có thể hò được là đưa vào ru con được". Tuy nhiên, đề cập đến vấn đề thang âm thì tác giả đã tỏ ra hạn chế khi cho Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ là tên của 5 gam dân tộc, và kết luận : "cấu trúc giai điệu ru con Quảng Trị được thành lập trên gam 5 âm: Son Chủy". Về kết cấu thể thức, tác giả bài nghiên cứu nhận xét: " Nếu là thơ lục bát (2 câu) thì âm nhạc cũng gồm 2 câu hình thành một đoạn đơn kết ở âm chủ Son. Nếu là thơ song thất lục bát, cuối câu hai thường kết lững ở nốt Đô, để chuyển sang 2 câu lục bát sau một cách nguyên vẹn, kết trọn câu thứ tư ở âm chủ, hình thành một đoạn kép hoàn chỉnh". Là một bài nghiên cứu trong những năm sau 1975, lại là nghiên cứu về dân ca của một vùng được xem là nổi trội lên bởi màu sắc đặc trưng, mang đậm sắc thái địa phương như khu vực Trị-Thiên, mà xem xét hoàn toàn dựa trên chuẩn mực của Trung Hoa và phương Tây, hẳn là ít tìm được sự "đồng cảm" trong giới nghiên cứu. Bởi hệ quả của nó sẽ là sự quy đồng các sắc thái đặc trưng trong âm nhạc cổ truyền của các vùng, miền trên toàn quốc; thậm chí còn làm phát sinh thêm những "tương đồng giả" giữa các truyền thống âm nhạc khác nhau.
Các bài khảo cứu dân ca dân nhạc các dân tộc thiểu số Bình - Trị - Thiên trong giai đoạn này khá hiếm hoi. Chúng tôi chỉ nhặt ra được 3 bài để đưa vào tổng lược.
Với công việc của người sưu tầm văn hóa dân gian, Trần Hoàng đã có một cái nhìn tổng quan về sinh hoạt âm nhạc dân gian của hai tộc người Cơ Tu và Tà Ôi trong bài: Đôi nét về ca múa nhạc dân gian của người Cơ Tu và người Tà Ôi ở Thừa Thiên - Huế [18]. Mặc dù không xuất phát từ ý định phân loại nhạc cụ theo tiêu chí âm nhạc dân tộc học nhưng tác giả cũng đã sắp xếp một cách tương đối khi giới thiệu các chủng loại nhạc cụ theo các bộ: gõ, dây, hơi. Tiếc rằng trong mục giới thiệu các loại dân ca, tác giả không mô tả, dù là ít ỏi tính chất âm nhạc của các làn điệu mà chỉ nêu tên và tính chất qua nội dung lời ca.
Cũng viết về dân tộc Tà Ôi ở Thừa Thiên - Huế nhưng Dương Bích Hà với Âm nhạc trong lễ Cầu mùa của người Tà Ôi [19] và Vĩnh Phúc với Vài nét về sinh hoạt âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi [20] lại xem xét mô tả âm nhạc của tộc người này thông qua những sinh hoạt lễ nghi, tập tục cụ thể trong đời sống của người Tà Ôi. Mặc dù chỉ khảo sát âm nhạc như một bộ phận xuất hiện trong các lễ thức của một lễ Cầu mùa nhưng tác giả bài viết vẫn có những nhận xét tổng thể bước đầu về tính chất và đặc điểm trong âm nhạc của người Tà Ôi, như: “…Giai điệu tuy mộc mạc, đơn sơ thường hạn chế trong một âm vực hẹp, nhưng nhờ luyến láy, nhấn nhá tạo nên được phong cách đặc biệt. Âm hưởng thiên về sắc thái mềm, tối của điệu thứ nhưng không có sự ổn định về độ cao trong thang âm nên nghe lơ lớ...Về hòa tấu, ưa sử dụng loại nhịp chẵn có trọng âm rõ ràng, ít biến hóa, chỉ thỉnh thoảng có đảo phách”. Vĩnh Phúc có nêu lên một số hình thức diễn xướng và nhạc cụ xuất hiện trong trình thức của một đám cưới nhưng tiếc rằng chưa mô tả nhiều về âm nhạc trong các bài bản được diễn tấu, diễn xướng đó, mà nặng về trình thức và phong tục, tập tục đám cưới của người Tà Ôi.
Do điều kiện, hoàn cảnh của nước ta trong giai đoạn này, nhất là từ những năm 50 đến 70, đội ngũ nghiên cứu lý luận âm nhạc đang từ không có đến có với số lượng chỉ như đếm đầu ngón tay. Các bài viết về dân ca Việt Nam nói chung, dân ca Bình-Trị-Thiên nói riêng đa phần do các tác giả là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học sưu tầm nghiên cứu. Dù sâu sắc về lịch sử, tổ chức xã hội, đời sống vật chất và phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo...nhưng lại thiếu yếu tố âm nhạc học. Tuy vậy, các khảo cứu trên lĩnh vực này đã góp phần không nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc học (và sau này là dân tộc nhạc học). Đó là tạo tiền đề, cơ sở, tư liệu và kể cả cảm hứng, hứng thú cho các nghiên cứu âm nhạc học về sau; cũng như, trong điều kiện nghiên cứu liên ngành ở nước ta chưa có sự tổ chức đồng bộ nên những tư liệu về văn hóa học, dân tộc học đã bổ sung rất hữu ích cho các khảo cứu về âm nhạc.
Trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc học, ngoài một số nghiên cứu có giá trị nhưng khá hiếm hoi, còn lại phần nhiều là các bài viết nặng về sưu tầm, giới thiệu mang tính chất điểm mặt một số thể loại, hoặc như một báo cáo tư liệu điền dã nên yếu tố nghiên cứu tỏ ra khá bị mờ nhạt (ngoại lệ trường hợp một số bài nghiên cứu sau đó đã được tác giả hoàn thiện lại và in thành sách).
Mặc dù còn những tồn tại về phương hướng, phương pháp trong một số bài nhưng nhìn chung những khảo cứu dân ca khu vực Bình-Trị-Thiên trong thời kỳ này đã để lại một hệ thống, một kho tàng tư liệu quý giá các thể loại, giới thiệu cho công chúng biết được giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc, điều mà trước 1945 chưa biết đến và chưa làm được bao giờ. Điều quan trọng trong khoa học âm nhạc là đã giải quyết được một số vấn đề về dị bản, cải biên, ký âm, bảo tồn, phát triển… Chính những điều này đã tạo cơ sở, phương hướng mang ý nghĩa “mở lối, dẫn đường” cho các nhà nghiên cứu âm nhạc thế hệ kế tiếp của thế kỷ XXI.
DANH MỤC TÀI LIỆU
[1] Phạm Duy. Dân ca Việt Nam.
Nguyệt san Văn Hữu. Số 3/1960.
[2] Lê Văn Hảo. Hò Bình Trị Thiên.
T/c Âm nhạc số 2,3,4/1979.
[3] Nguyễn Viêm. Về một bài dân ca mới: Hò Hải Thanh.
T/c Âm nhạc số 1/1979.
[4] Lê Văn Hảo. Chung quanh một số phát hiện khảo cổ đến Hò mái nhì, mái đẩy Bình Trị Thiên.
T/c Dân tộc học số 4/1980.
[5] Tôn Thất Bình. Tìm hiểu Hò Bình Trị Thiên.
T/c sông Hương số 27/1987.
[6] Tôn Thất Bình, Nguyễn Hồng Trân. Hò Đập bắp Thượng Xá.
Văn hóa dân gian số 1/1993.
[7] Thân Văn. Hò khoan Lệ Thủy - Dân ca Quảng Bình.
T/c NCNT số 12/1999.
[8] Lê Văn Hảo. Một làn điệu đặc sắc trong kho tàng dân ca BTT.
Tập san Văn hóa BTT số Xuân Canh Thìn 1980.
[9] Minh Phương. Trở lại bài dân ca Lý Hoài Xuân.
Tập san Văn hóa BTT số 8/1980.
[10] Dương Bích Hà. Kết cấu thể thức âm nhạc trong Lý Huế.
T/c NCNT số 8/1997.
[11] Vĩnh Phúc. Yếu tố dân gian và bác học trong thể Lý Huế.
T/c NCNT số 6/1999.
[12] Lê Quang Nghệ. Đi tìm điệu Trống quân Quảng Trị.
T/c NCNT số 9/1995.
[13] Lê Quang Nghệ. Nghệ thuật Ru con Quảng Trị.
(trích trong “Âm nhạc - Tác giả, Tác phẩm”. Tập II)
[14] Nguyễn viêm. Dân ca Bình Trị Thiên.
T/c Âm nhạc số 1/1978.
[15] Dương Bích Hà. Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế.
Tập san Văn hóa Thừa Thiên Huế số Xuân Mậu Dần 1998.
[16] Dương Bích Hà. Âm nhạc dân gian xứ Huế, đặc điểm lịch sử trong quá trình hình thành.
T/c NCNT số 3/1999.
[17] Nguyễn Viêm. Từ những làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, Trị - Thiên và Liên khu 5.
T/c NCNT số 7/1974.
[18] Trần Hoàng. Đôi nét về ca múa nhạc dân gian của người Cơ-tu, và người Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế.
Văn hóa dân gian số 4/1994.
[19] Dương Bích Hà. Âm nhạc trong lễ cầu mùa của người Tà Ôi.
T/c VHNT số 8/2000.
[20] Vĩnh Phúc. Sinh họat âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi.
Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế số 12/2000.
[1] Dân ca trong khảo luận này xin hiểu chỉ là Hát, Hò dân gian. Chúng tôi không tập hợp các khảo cứu về âm nhạc tín ngưỡng dân gian (Hầu văn, Sắc bùa, hát Bả trạo..) và dòng âm nhạc dân gian chuyên nghiệp (Ca Huế, Xẩm Huế…)
[2] Tạp chí Sông Hương số 6/1984; T/c Dân tộc học số 2/1986
[3] Xem thêm tài liệu số [20]
[4] Dân ca Việt Nam .Tập 1,2, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Saigon, 1961
[5] Xem thêm Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị. Viện Âm nhạc - Hội VHNT Quảng Trị, 1996

Nguồn:  http://vietsciences.free.fr và http://vietsciences.org 


READ MORE - VĨNH PHÚC - TỔNG LƯỢC VÀ NHẬN XÉT KHẢO CỨU VỀ DÂN CA BÌNH-TRỊ-THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX

Sunday, February 20, 2011

TÔN THẤT BÌNH - HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ BÌNH TRỊ THIÊN


Đêm đã xuống và trăng rằm bắt đầu ló dạng. Sân đình đã đông nghẹt người. Dưới ánh sáng của cây đèn măng-xông treo trên mái hiên đình, một cái ghế dài và hai cây gậy đã để sẵn. Đó là sân khấu của đêm hò giã gạo và hò mái nhì thường diễn ra ở vùng quê Quảng Trị vào những thập niên '50, '60, thời còn thanh bình.




Sinh hoạt hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên được thể hiện trong lao động tập thể, trong các hình thức giải trí vui chơi, và ngay trong các ngày hội lễ, mặc dù tính chất trang nghiêm, nhưng không vì thế mà hò đối đáp không được sử dụng.
Hò giã gạo là trở loại hò thích hợp nhất cho lối hò đối đáp nam nữ. Với nhịp điệu, tiết tấu dồn dập, rộn ràng, hò giã gạo rất thích hợp với lao động tập thể, đồng thời cũng rất hấp dẫn lôi cuốn những người trong và ngoài cối hò say theo câu hát.
Tính chất đối đáp nam nữ đã thể hiện ngay trong bước đầu của tiến trình cuộc hò giã gạo. Bắt đầu cuộc hò là lối hò chào:
Túi (1) trời không biết bạn là ai.
Cho tui chào chung một tiếng rạng mai tới tìm.
Hoặc:
Chào chung chào chạ chào bậy chào bạ, chào cả và cươi (2)
Chào người ngang vế bằng vai
Có ai ân tình đạo hạnh lắng tai nghe chào
Sau lời chào hỏi, người gia nhập cuộc hò được mời cầm giã gạo. Lối hò mời được xướng lên để khởi đầu một cuộc hò:
Thiếu tay tui phải cầm chày
Khuyên cùng với bạn dở hay đừng cười.
Sau hò chào, hò mời (gọi là hò vào cuộc) là hò gần, để làm quen, gồm các câu trao đổi thăm hỏi nhau. Khi nhịp chày đã đều đặn, phần trung tâm cuộc hò đối đáp nam nữ mới thực sự khai diễn. Hò đâm bắt, hò đối, hò đố, hò ân tình liên tiếp nhau làm không khí cuộc hò giã gạo thêm rộn ràng. Để kết thúc cho cuộc hò này, các câu hò xa cách (hay từ tạ) đã để lại bao lưu luyến trong tâm tư những người trong cuộc.
Trong sinh hoạt hò giã gạo, hễ ai đã cầm chày là gia nhập vào thành phần cuộc hò. Mỗi cối hò gồm 4 người, cả nam lẫn nữ, cuộc hò có thể kéo dài từ tối đến sáng.
Trong cối hò đối đáp, hò đố mà không trả được thì phải buông chày ra về. Trường hợp này xảy ra không hiếm khi người cùng cối hò muốn chọc ghẹo nhau, hoặc không vừa ý, nên ra câu hắc búa để thử tài hoặc khỏi hò với nhau.
Hệ thống hò khoan Lệ Thủy ở Quảng Bình cũng theo một tiến trình tương tự như tiến trình của hò giã gạo. Mở đầu cuộc hò là hò mái chè sau đó là hò mái nện, hò mái ba, hò mái nhì, hò mái duỗi và hò mái xắp. Hò khoan Lệ Thủy có mặt khắp nơi trong sinh hoạt của nhân dân do nó có nhiều làn điệu phù hợp với tính chất công việc lao động: Đẵn củi, xay lúa, lùa trâu, cất nhà, đưa đò, dệt vải v.v… Đó thật là một hệ thống hò phổ biến, tiêu biểu cho lối hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên.
Hò mái nhì ở Huế là một loại hò vừa có thể dùng để hò đơn lẻ, lại vừa dùng trong khi đối đáp. Là một điệu hò trên sông nước, hò mái nhì vừa có chức năng phụ lực cho lao động, lại vừa đủ yếu tố để thể hiện tâm tình. Điệu hò man mác, trầm buồn, ngân nga và sâu lắng, êm đềm như mặt nước sông Hương. Âm điệu hò mái nhì có khả năng khơi động đến nơi cùng thẳm nhất của tâm hồn người: Đó là một điệu hò đầy tính trữ tình, rất phù hợp với sự thổ lộ tâm tình của những người sống trên sông nước.
Hò mái nhì bắt đầu bằng lời một người ướm hỏi một người. Nếu được đáp ứng, cuộc hò có thể kéo dài tùy theo quãng dài con sông và tùy theo tình cảm những người trong cuộc. Bắt đầu bằng lời chào hỏi, kéo dài bằng những lời trao đổi tâm tình và kết thúc bằng những câu hò hẹn. Hò mái nhì ở Huế có đầy đủ yếu tố để nam nữ đối đáp thổ lộ tâm tình.
Hò mái nhì Triệu Hải lại được dùng khi quay sợi dệt vải. Tiến trình một cuộc hò mái nhì ở Triệu Hải như hò giã gạo.
Tuy có nguồn gốc là các điệu hò trong lao động, hò giã gạo và hò mái nhì đã được đưa vào các cuộc vui chơi giải trí do lòng ham thích mến mộ của nhân dân. Sân nhà của các cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy ở Huế đã biến thành nơi tụ hội của các tay hò nổi tiếng ở Bình Trị Thiên vào những đêm trăng sáng. Các cối hò đựng trấu thay gạo, các tay hò chỉ cầm chày giã để lấy nhịp, tạo hứng khởi cho các câu hò đối đáp. Chủ nhân lại là “thầy gà” (3) cho cả hai phe đối đáp. Trong cuộc vui này, sự đóng góp của các nho sĩ đã là một nhân tố tích cực để phong phú hóa kho tàng văn học dân gian ở Bình Trị Thiên.
Do sự ham thích hò hát của nhân dân ngày càng mạnh mẽ, các hình thức sinh hoạt hò do chính quyền tổ chức cũng làm biến đổi phần nào tính chất đối đáp nam nữ. Đây là lối tranh tài đối đáp để ăn giải, các câu hò được sự tiếp tay sáng tạo của các nho sĩ nên nội dung không khỏi chịu ảnh hưởng của văn học bác học.
Mở đầu loại hò này là lời thách hò, mời đối thủ, tiếp đến là các tay hò đối đáp các điển cũ, tích xưa, hoặc các hiện tượng đang xảy ra trong xã hội đương thời. Kết thúc cuộc hò là câu kết của ban tổ chức. Ta hãy nghe lời mở đầu cuộc hò của lối hò giã gạo được tổ chức tại hội chợ Huế năm 1939.
Gái: Đêm hăm lăm tháng hai năm Mão
Quanh trường giã gạo giữa chốn ba quân
Bạn mày râu ai giỏi quốc văn
Về đây tranh giải với bạn thoa quần thử chơi
Trai: Gái Tây Thi chẳng ai bì bên nước Việt
Gái Văn Khương lại ở bên nước Tề
Nực cười cô gái nhà quê
Đến đây có dám trổ nghề văn chương
Trong các cuộc vui văn nghệ quần chúng, lối hò mái nhì, hò giã gạo cũng được nhân dân rất hâm mộ. Ngày nay có nhiều địa phương tổ chức các cuộc hò, mời các tay hò nổi tiếng hò đối đáp với nhau.
Hình thức hò đối đáp nam nữ cũng có mặt trong ngày “hội cầu mùa” tại làng Hà (xã Bảo Ninh - Bình Trị Thiên) trong ngày hội, dân làng Hà tổ chức “Hò khoan chèo cạn” và múa bông. Nội dung chủ yếu của các câu “hò khoan chèo cạn” là ca ngợi công đức của cá ông voi, nhưng xen kẽ có nhiều câu đề cập đến quê hương đất nước, phô diễn tâm tư tình cảm của người dân. Đoàn hát múa “hò khoan chèo cạn” toàn là nữ, xinh đẹp, chưa chồng xếp thành hai hàng đối nhau. Hai người hò cái, một nam một nữ (không kể đã có vợ hay chồng) cầm cặp sênh giữ nhịp, điều khiển. Tính chất trữ tình trong hát hội “hò khoan chèo cạn” được thể hiện qua câu hò đối đáp nhau giữa hai người hò cái nam và hò cái nữ, liên tục cho đến khi kết thúc buổi trình diễn.
“Mở hội hò khoan cho đẹp lòng eng ả (4)
Cho vui làng vui xã vui cả bạn hiền!”
Trong cuộc hò này, tính chất thế tục đã lẫn vào tính chất nghi lễ, tuy không lấn át hẳn nhưng đó cũng là một hiện tượng phản ảnh được yêu cầu ham thích văn nghệ của nhân dân, muốn lấy văn nghệ làm môi trường cho sự phát triển tâm tình, dù trong không khí của một buổi lễ trang trọng.
Cũng như trên mọi vùng đất nước, ý nghĩa nội dung hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên là tính chất trữ tình. Tình cảm được đề cập đến không chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ mà còn mở rộng sang tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, dân tộc. Trong các cuộc vui văn nghệ quần chúng, đề tài kháng chiến là một trong những đề tài làm sôi động không khí cuộc hò.
Qua hò đố và hò đối trong hò đối đáp, tri thức tự nhiên và xã hội của nhân dân Bình Trị Thiên được thể hiện rất phong phú. Ta có thể bắt gặp ở các câu giải kiến thức tổng quát của nhân dân về văn học, sử học, địa lý, nông nghiệp, khoa học tự nhiên…
Với nội dung phong phú, có thể nói hò đối đáp nam nữ là môi trường cho kiến thức tổng quát của nhân dân có dịp trao đổi, phát triển.
Tri thức ngôn ngữ cũng thể hiện thật phong phú trong hò đối đáp ở Bình Trị Thiên. Ta có thể thấy trong các câu đố, câu đối và giải, một số hiện tượng của ngôn ngữ đã được sử dụng.
* Hiện tượng cùng âm, khác nghĩa:
Nữ: Em hỏi anh trong trăm thứ dầu
Có dầu chi là dầu không thắp
Trong ngàn thứ bắp, bắp chi là bắp không rang
Trong vạn thứ than, than chi là than không quạt
Trong triệu thứ bạc, bạc chi là bạc không tiêu
Trai nam nhi anh đối được dải lụa điều em trao.
Nam: Trong trăm thứ dầu, có mưa gió dãi dầu là dầu không thắp
Trong ngàn thứ bắp, có lắp bắp mồm miệng là bắp không rang
Trong vạn thứ than, có than thở thở than là than không quạt
Trong triệu thứ bạc, có bạc tình bạc nghĩa là bạc không tiêu
Trai nam nhi anh đối được. Hỏi dải lụa điều em có chưa?
* Hiện tượng cùng nghĩa, khác âm:
Nữ: Em lên lưng voi em hỏi cái đường vạn tượng
Tay em lại dắt dê hỏi chốn lan dương
Đố anh mà đối đặng em cho soi gương vàng.
Nam: Dây bí ngô trèo trên cây trụ tàu
Cờ thượng mã phất sau đuôi ngựa
Anh đối đặng rồi lật ngửa gương ra.
Trong các câu đối đáp trên các từ cùng nghĩa khác âm được sử dụng là voi-tượng; dê-dương; ngô-tàu; mã-ngựa.
* Hiện tượng từ đối nghĩa:
Nữ: Quan Thừa Thiên thì mang áo địa
Lính đông Hải đội nón dầu sơn.
Trai nam nhi đối đặng, thiếp xin
Kết nghĩa tấn tần ngàn năm.
Nam: Gái nước Nam buôn hàng thuốc Bắc
Trai Đông sàng cảm động miền Tây
Anh đã đối đặng, em rày tính sao.
Hai câu hò trên đối nghĩa ở các từ: Thiên - địa; Hải - sơn; Nam - Bắc; Đông - Tây.
Ngoài ra còn có các hiện tượng từ trái nghĩa, nói lái, lối sử dụng lối chơi chữ Hán Việt và thuần Việt. Sử dụng các hiện tượng của ngôn ngữ trong hò đối đáp, nhân dân Bình Trị Thiên đã chứng tỏ trình độ văn hoá của mình. Phải là người có trình độ văn hoá, lại nhanh trí mới có thể đáp ngay được các câu đố hắc búa trên. Trong trường hợp này, các “thầy gà” giữ một nhiệm vụ khá quan trọng. Nếu không được mách bảo, người trong cuộc khó có thể ứng đối kịp thời. Phải buông chày ra về khi cuộc vui đang lúc hào hứng là một điều hổ thẹn khôn nguôi, cho nên hò đối đáp nam nữ buộc người trong cuộc phải thông minh nhanh nhẹn, hoạt bát mới đủ sức chống đỡ trước mọi tình huống khó khăn.
Qua hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên, ta có thể thấy được tâm hồn cùng trình độ tư duy, văn hoá của những con người sống trên mảnh đất kiên cường, nghèo khó nhưng đầy tính chất thơ của miền Trung, đó là những con người rất chân tình, trọng đạo nghĩa. Giai đoạn hò ân tình, trong tiến trình cuộc hò giã gạo đã để lại biết bao câu đầy tình nghĩa thiết tha:
Rồi mùa toóc rạ rơm khô
Bậu về quê bậu, biết nơi mô kiếm tìm
Hoặc:
Ra về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp kẻo ngọn gió tây lạnh lùng
Cần phải hiểu rằng, tuy hò đối đáp nam nữ là nhịp cầu thuận lợi cho sự giao duyên, cho tâm tình dễ dàng khai mở nhưng trường hợp các người đến hò vì nhu cầu văn nghệ đơn thuần cũng không ít. Biết bao người đã có gia đình mà vẫn còn say mê hò đối đáp nam nữ. Các cặp từ mình - ta, qua - bậu, anh - em, lê- lựu, chàng - thiếp, rồng - mây, loan - phụng v.v… có trong hò đối đáp tuy chỉ lứa đôi, nhưng nhiều khi chỉ là giả định. Đó là một hình thức đóng kịch nhất thời để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ. Tan cuộc, ai về nhà nấy, không còn vướng bận ở tâm tư như ý nghĩa câu hò chào:
Tới nơi đây ai có chồng dặn chồng đừng sợ
Ai có vợ dặn vợ chớ ghen
Vô đây hò hát để gá nghĩa làm quen
Rạng ngày mai ai mô về nấy chớ thả lòng ghen bạn cười.
Với ý nghĩa ấy, những người tham dự cuộc hò đối đáp nam nữ mặc sức bông lơn, trêu ghẹo nhau nhưng không vì vậy mà không giữ gìn ngôn ngữ, ý tứ. Do ảnh hưởng của nền văn hoá lâu đời chốn kinh đô, nhân dân Bình Trị Thiên vốn ưa sử dụng từ ngữ bóng bẩy ví von hơn là nói thẳng dù trong ý đồ trêu cợt. Để trả lời câu hỏi của phe con gái thôn Bao La chuyên đan thúng mủng:
Liệu mà đát đặng thì đan
Chứ đừng có gầy ra mà bỏ đó thế gian chê cười
Chàng trai Bình Trị Thiên đã dùng những tiếng nhà nghề rất hóm hỉnh mà ngắn gọn:
Anh đây đan cũng giỏi mà đát cũng tài
Lận thì nhún trên nhún xuống, nứt thì chui ngoài chui vô
Khác với chàng trai Quảng Nam xằng xớm, bộc trực đến thô sơ sỗ sàng:
Bớ các cô ơi, tui đây không phải trai hư
Tui đan đặng, tui đát được tui lận chừ cho cô coi
Lận rồi tui chặn lột hẳn hoi
Ở trên tui rấn xuống ở ngoài tui đè vô
Nói ra sợ mất lòng cô
Ngó trong cái mủng chỗ mô tui cũng dùi
Tuy người Bình Trị Thiên có giữ gìn ý tứ trong ngôn ngữ, lễ phép nhưng không quá chú trọng đến nghi thức kiểu cách như ở Hà Bắc. Trong hát Quan họ Hà Bắc, tiến trình nghi thức rất phức tạp: “Phía chủ nhà tổ chức phải sửa soạn bữa “cơm quan họ”, phía khách, trước khi đến nơi quy định, phải vào hát lễ Phật. Ban đầu Quan họ bạn đến cổng phải cất tiếng hát mừng bạn. Quan họ chủ đứng giữa sân hát “đón nhời” chúc lại làng bạn và chào bạn. Quan họ chủ giở nón, ô cho Quan họ bạn, đón bạn vào ngồi một giường (nếu là bố trí ngồi hai giường hát đối đáp) Quan họ chủ hát mời bạn xơi trầu, uống nước. Quan họ bạn hát đáp và cảm ơn bạn. Hầu như mọi hành động mọi tình tiết đều lấy câu hát làm đầu”(5). Lời hát thì thật duyên dáng, kiểu cách:
Nhất quế, nhì lan
Nhất xinh, nhất lịch khôn ngoan trăm bề
Người ngoan ai chẳng nâng niu
Hoa thơm ai chả chắt chiu trên cành
Là thú hữu tình
Vì huê nên phải lánh mình tìm huê,
Cho trọn một bề…
Dấu ấn của nền văn hoá cổ truyền còn in sâu đậm trong con người Hà Bắc tạo nên một phong cách riêng biệt mà những qui cách, lề lối, ngôn ngữ trong hát Quan họ đã phần nào thể hiện được. Con người Bình Trị Thiên tuy mộc mạc trong cách phô diễn tình cảm, nhưng nét thắm thiết trữ tình vẫn rất đậm đà, như âm điệu và ý nghĩa câu hò từ tạ trong hò đối đáp giao duyên:
Trăng đã lên cao, trời sao vằng vặc
Mỗi tiếng hò réo rắt lòng anh
Nhắn chừng đêm đã sang canh
Ta dừng chày giã gạo kẻo sương đọng trên cành quá khuya.
T.T.B
(6/4-84)
----------
1. Túi: tối, tiếng địa phương.
2. Cươi: sân, tiếng địa phương.
3. Là người chỉ dẫn, bày vẽ các câu hò đối đáp.
4. Anh, chị - tiếng địa phương.
5. Đặng Văn Lung và tác giả khác. Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1978 trang 36.
READ MORE - TÔN THẤT BÌNH - HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ BÌNH TRỊ THIÊN

Saturday, February 19, 2011

LỆ NHƯ - ĐIỆU HÒ BÊN DÒNG THẠCH HÃN


Thạch Hãn, con sông đẹp và dài nhất tỉnh Quảng Trị. Mùa mưa lũ đục ngầu nhưng khi mùa xuân về, sông lại hiền hòa, xanh thẳm. Dòng nước cứ mải miết chảy về với biển khơi, để lại những bãi bồi phù sa với những luống khoai, bãi ngô non xanh mướt. Vượt qua một quãng sông, cách Thành Cổ chừng 5 km, ông lão chèo thuyền chần chừ một lúc rồi bộc bạch: “Trước mặt là bến đò Như Lệ, nếu các cháu muốn nghe điệu hò Như Lệ thì xin mời ghé vô đây!”.


Đường vào làng Như Lệ

Thuyền chưa cập bến, bên tai chúng tôi đã vẳng nghe một điệu hò ấm áp, thiết tha, vút cao hòa quyện vào làn gió xuân cất lên bên sông:
Ai về Hải Lệ quê tôi
Nắng dòng Thạch Hãn bãi bồi dưa non
Đâu đây vọng tiếng ru con
Giọng hò Như Lệ vẫn còn vấn vương"
Điệu hò như có sức mạnh vô hình níu kéo bước chân bao khách lãng du.
Tôi chợt nhớ đến nhận xét của một bậc tiền bối khi nghiên cứu về văn học dân gian Quảng Trị, rằng văn nghệ dân gian là một chất liệu ngôn ngữ hòa tan trong tâm thức của mọi người, nó như mạch ngầm ẩn giấu đâu đó tưởng chừng quên lãng nhưng chỉ một giây lắng đọng khắc khoải sẽ bừng dậy những nỗi nhớ niềm thương da diết. Đó là một kho tàng vô tận tiềm ẩn trong mỗi người con Quảng Trị.


Bà Ngô Thị Huế, người “giữ lửa” cho điệu hò Như Lệ. Ảnh: L.N
Hò Như Lệ cũng vậy, nó chỉ tồn tại trong lòng những người dân sinh ra trên mảnh đất này như một thứ tài sản tinh thần vô giá mà dù đi nơi đâu họ vẫn nhớ về đất mẹ. Qua tìm hiểu của chúng tôi, những người biết điệu hò và sáng tác được lời mới cho hò Như Lệ bây giờ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Những nghệ nhân mà chúng tôi gặp hôm nay đã bước vào tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trong họ vẫn đầy ắp bầu nhiệt huyết, lòng đam mê sáng tạo chỉ với một ước mơ duy nhất: mang điệu hò quê nhà truyền lại cho thế hệ sau.
Bà Ngô Thị Huế là một trong số các nghệ nhân hò Như Lệ hiếm hoi còn lại ở Hải Lệ. Sau một ngày tất bật với cái quán nhỏ nằm bên bến đò Như Lệ, bà thường tranh thủ thời gian rảnh để nhẫm lại mấy bài hò. Niềm vui tuổi già của bà Huế chỉ giản đơn như vậy. Mỗi khi cất lên điệu hò, bà Huế thường nhớ về quá khứ, cái ngày bà còn tuổi mười lăm mười bảy theo các chị Ngô Thị Gái, Ngô Thị Khuyến, Phạm Thị Kính…tham gia hò địch vận:
Lòng đau xem lên chiến khu
Thấy anh em vệ quốc đoàn ở nơi sương mù cực khổ
Xem về đồng bằng thấy máu chiến sĩ lụy đổ lòng đau
Em trách anh không suy trước nghĩ sau
Cứ theo chân giặc Pháp để bắn nhau sao đành!
Trên cơ sở làn điệu, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, các chị trong đội hò địch vận tự đặt lời mới cho phù hợp. Ban ngày lao động, ban đêm các chị biết hò thường tập trung nhau lại ở một hầm bí mật gần bốt chiếm đóng của địch, hướng loa về phía địch và cất lên điệu hò Như Lệ. Chính chất giọng ngọt ngào, thiết tha của những người con gái Như Lệ ngày ấy đã có sức cảm hóa rất lớn. Binh lính trong bốt cứ im lặng lắng nghe. Qua nỗi niềm như vậy, sáng hôm sau lại có mấy người bỏ trốn khỏi đồn địch, về với cách mạng. Suốt những năm kháng chiến chống Pháp, đã có hàng trăm trường hợp từ bỏ hàng ngũ kẻ thù trở về với cách mạng, lập được nhiều chiến công góp phần giải phóng quê nhà.
Theo bà Huế, người hò Như Lệ phải thực sự có lòng đam mê, yêu quê hương đất nước thiết tha thì khi cất tiếng hò lên mới trong trẻo và có sức truyền cảm. Cũng như nhiều làn điệu khác, để chuẩn bị cho một cuộc hò, tâm hồn người hát trước hết phải trong sáng, không có bất cứ sự phân tâm nào để tập trung hoàn toàn vào mỗi ca từ. Các khâu phục trang như áo khăn chỉnh tề, đầu tóc gọn gàng cũng góp phần làm nên sự tự tin cho người hò. Chính vì vậy, điệu hò Như Lệ trở nên có sức lan tỏa lớn trong mọi đối tượng, kể cả những người ở bên kia chiến tuyến.
Nếu bà Huế ghi chép tỉ mỉ từng câu hò Như Lệ vào cuốn sổ tay với mong muốn giữ lại cho thế hệ sau vốn văn hóa quý báu của quê hương thì bà Ngô Thị Thời lại chọn cách hát và liên tục sáng tác thêm lời mới nhằm truyền điệu hò cho thế hệ trẻ. Được lớn lên trong lời ru ngọt ngào của mẹ bằng điệu hò Như Lệ, các con gái của bà Thời hôm nay đang tiếp tục “giữ lửa” để giọng hò quê hương không bị mai một theo thời gian. Chúng tôi tìm đến nhà bà Ngô Thị Thời, thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị. Ngôi nhà nhỏ nằm lấp sau mấy gốc mai vàng. Chưa gặp người nhưng chúng tôi đã nghe tiếng hò quen thuộc cất lên từ cuối hiên nhà:
Ai về Như Lệ quê tôi
Dừng chân ngắm cảnh đất trời đổi thay
Nhà xây mái ngói đủ đầy
Đường làng ngõ xóm toàn bêtông đường nhựa chẳng bùn lầy như xưa.
Sắp bước qua tuổi bảy mươi song bà Thời vẫn giữ được nét trẻ trung, tươi tắn của một thời con gái. Biết chúng tôi có ý định tìm hiểu về điệu hò Như Lệ, niềm vui hiện rõ trong đôi mắt của bà: “Rứa thì tốt quá rồi, trải qua bao năm tháng, điều mệ tâm huyết nhất là làm sao giữ lại điệu hò Như Lệ khỏi bị mai một. Bây chừ nếu các cháu muốn tìm hiểu thì ngồi xuống đây mệ kể cho nghe”.
Trong ánh nắng xuân ấm áp, têm miếng trầu khai vị cho làn môi thêm đỏ, bà Thời dần đưa chúng tôi vào thế giới nghệ thuật mang đậm dấu ấn dân gian- điệu hò Như Lệ. Từ năm l2 tuổi, cô bé Thời ngày ấy đã theo mấy chị trong làng đi hò khắp quận Mai Lĩnh (nay là thôn Như Lệ). Vừa hò, bà vừa tập đặt lời hò mới căn cứ theo bốn vế đối chỉnh bằng, trắc, có cùng số lượng âm tiết, phù hợp với hoàn cảnh và tình cảm của từng buổi hò.
Hò Như Lệ đã theo suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc bằng những làn điệu êm ái, trong trẻo như nước con sông Thạch Hãn chảy ngang qua làng. Những khi lao động sản xuất trên đồng, tiếng hò lại cất lên, quyện vào giữa mênh mông bờ bãi, xua đi sự nhọc nhằn giúp người dân Như Lệ lao động có hiệu quả hơn. Và từ đấy, niềm vui được mùa cũng hoá thành những câu hò tươi tắn, ngọt ngào:
Nhìn ra ngoài đồng lúa thơm ngào ngạt
Ở làng quê nghe giọng hò tiếng hát vang lên
Hỡi bà con ơi phải cố gắng làm ruộng làng thêm
Để cho được mùa dân no ấm, anh em nông dân chớ quên điều này
Vừa lao động sản xuất, những người dân Như Lệ vừa làm nhiệm vụ nuôi quân, liên lạc, tiếp tế, vận tải để phục vụ cho cách mạng. Dù trong hoàn cảnh nào, hò Như Lệ vẫn theo sát các chị, các mẹ như một thứ vũ khí tinh thần hữu ích phục vụ đắc lực cho cách mạng. Sau năm 1954, trong cảnh chồng Nam, vợ Bắc điệu hò Như Lệ đã chuyển nỗi nhớ thương tha thiết của người vợ vượt giới tuyến đến với chồng:
Bóng cây dừa năm xưa vẫn còn đó
Chiếc khăn thêu hoa hồng đỏ còn đây
Vì ai nên nỗi thế này
Én Nam nhạn Bắc tràn đầy nhớ thương
Ngoài tình cảm lứa đôi, điệu hò Như Lệ còn thể hiện được tinh thần kiên cường, sự kiên gan vững chí, niềm tin lạc quan của mỗi người con Hải Lệ đối với cách mạng. Ngày đất nước thống nhất, cả Hải Lệ như vỡ oà trong niềm vui tự do, độc lập, điệu hò Như Lệ lại tiếp tục cất vang những lời ca chiến thắng:
Niềm mơ ước bao ngày đã đến
Bốt đồn thù thành bụi tro bay
Quê mình giải phóng từ đây
Tiếng reo vang dội cờ bay khắp miền
Ngoài việc lưu giữ những câu hát ngày xưa, những nghệ nhân hò Như Lệ như bà Huế, bà Thời thường xuyên cùng nhau đặt thêm nhiều lời mới để ca ngợi sự đổi thay trên quê hương:
Thạch Hãn một dãy lượn vòng
Quê em Hải Lệ anh hùng xứng danh
Hải Lệ dậy sóng đấu tranh
Hai thời kháng chiến quân dân nghĩa tình
Đến nay, chưa có một nghiên cứu nào cho biết hò Như Lệ hình thành từ bao giờ. Trong kháng chiến chống Pháp, điệu hò này được phổ biến rộng rãi, lực lượng dân quân du kích xã Hải Lệ đã sử dụng điệu hò với những câu chữ chứa chan ân tình để thức tỉnh, cảm hoá những người bị ép buộc phải cầm súng theo giặc quay trở về với nhân dân. Đó là nguyên nhân để hò Như Lệ được mang thêm một tên gọi khác là “hò địch vận”.
Kể từ đó, hò Như Lệ trở thành di sản văn hoá phi vật thể của quê hương Quảng Trị. Xét về làn điệu, điệu hò này được bắt nguồn và phát triển từ hò mái nhì nên có nét tương đồng về giai điệu và cấu tạo lời ca. Tuy nhiên, hò Như Lệ không chỉ bó hẹp trong không gian của “hò sông nước” mà nó mở rộng phạm vi đề tài và cách thể hiện. Ra đời từ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, trong lao động sản xuất cũng như quá trình tái thiết quê hương nên cuộc sống sinh động, chân thực của người dân quê cũng đi vào từng lời ca của điệu hò Như Lệ.
Người nghệ sĩ của điệu hò này chủ yếu tự sáng tác lời, tự biến tấu nhạc cho phù hợp với hoàn cảnh dựa trên làn điệu sẵn có. Hò Như Lệ có chất giọng khoẻ khoắn, dài hơi và mang nhiều sắc thái cảm xúc hơn so với các điệu hò khác như hò giã gạo, hò mái nhì…Không man mác buồn như “hò đò dọc”, hò Như Lệ mang đa sắc thái tình cảm: hát trong lúc tiễn quân ra trận thì mang sắc thái cổ vũ, khích lệ mạnh mẽ; hát để khuyến khích binh lính về với cách mạng thì đầy tâm trạng của người lầm đường lạc lối; hát trong lao động, sản xuất thì trong sáng, tràn đầy niềm tin vào vụ mùa thắng lợi; hát cho người thân cách xa thì chan chứa tình yêu thương…Về cấu tạo lời ca, mỗi bài hò Như Lệ thường có bốn câu trở lên, viết theo thể song thất lục bát hoặc song thất lục bát biến thể. Do vậy, lời ca rất gọn gàng, cô đúc và khoẻ khoắn hơn so với hò mái nhì:
Bỏ súng về đi anh
Đồng xanh đang còn chờ đợi, thắng lợi vui chung
Về đây cho cha yên dạ, cho mẹ thoả lòng
Trước xứng đáng một người con yêu Tổ quốc
Sau lại xứng đáng một người chồng của em
Được một lần thưởng thức điệu hò Như Lệ giữa đất trời đang tràn ngập xuân sang, chúng tôi mới phần nào cảm nhận được hết cái tinh tuý, sự tài hoa của mảnh đất và con người nơi đây. Hò Như Lệ xứng đáng là một tài sản phi vật thể có giá trị và mang bản sắc riêng của vùng quê đã sản sinh ra nó, quê hương Hải Lệ anh hùng. Và trong lòng những người gần trọn cuộc đời gắn bó, chung thuỷ với điệu hò quê hương như bà Huế, bà Thời luôn dâng lên một niềm tự hào, bởi họ là lớp người giữ gìn một nét văn hóa đặc sắc, góp phần bồi đắp văn hoá cộng đồng trong quá trình xây dựng cuộc sống mới hôm nay.
Lệ Như
READ MORE - LỆ NHƯ - ĐIỆU HÒ BÊN DÒNG THẠCH HÃN

Friday, February 18, 2011

TRẦN HOÀNG TIẾN - HÒ SÔNG NƯỚC BẮC TRUNG BỘ



Theo hệ thống phân vùng địa lí Việt Nam, Bắc Trung Bộ là khu vực chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Lịch sử cho thấy cư dân nơi đây có nguồn gốc chủ yếu là người Thanh Nghệ thiên di vào Bình Trị Thiên từ thời Lý Trần, do đó có thể nói rằng mối quan hệ của người Việt nơi đây liên quan, gắn bó với các sinh hoạt văn hoá dân gian nói chung.

Lối sống quần tụ dọc theo nguồn nước tạo nên nhiều làng xóm liên hoàn rất thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi cùng chi lưu chảy theo trục từ phía tây Trường Sơn đổ ra biển Đông tạo nên mạng lưới tưới tiêu, đưa phù sa bồi đắp các tiểu vùng đồng bằng nhỏ, cuốn sách Quảng Bình qua các thời kì lịch sử trích dẫn từ Ô châu cận lục được Dương Văn An viết về Bình Trị Thiên như sau: “... sông hồ đầy nước, đi thuyền tiện lợi hơn đi bộ, đất quê màu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người...". Môi trường tự nhiên đó đã tạo điều kiện cho nhiều loại hình dân ca phát triển, một trong số đó là thể hò sông nước.

Hò sông nước Bắc Trung Bộ là sản phẩm tinh thần, biểu hiện sự cố kết của cộng đồng người Việt. Những làn điệu hò lan toả trên một không gian rộng lớn. ở mỗi vùng lại có lối hò riêng biệt. Hò sông Mã xứ Thanh in đậm dấu ấn chèo, chống, vác, lái do năm trai đò điều khiển với năm chặng hò: rời bến, sắng đò ngược, vác thuyền (khi đò bị mắc cạn vào bãi cát giữa sông), xuôi dòng, cập bến, phản ánh chân thực cuộc sống của người dân gắn bó với dòng sông. Hàng trăm câu hò vẫn còn lưu giữ đến ngày nay tiêu biểu cho hình thức lao động chèo thuyền. Hò sông nước xứ Nghệ đầy ân tình, biểu lộ nội tâm như muốn gửi gắm tình cảm cá nhân vào trong lời ca, do đó trên những con thuyền chở khách sông Lam, sông La luôn có nhịp điệu chậm mang tính chất kể lể tạo ra sự hoà nhập cùng đồng cảm giữa người hò và người nghe. Sự hoà nhập, pha trộn các lối hát giữa hò, ví, giặm trong môi trường sông nước cho thấy âm điệu vùng này nhất quán, chịu tác động sâu sắc của hệ thống năm thanh điệu (không có thanh ngã). Quảng Bình nổi trội với tổ hợp sáu mái hò khoan Lệ Thuỷ đầy đủ mọi cung bậc tình cảm, sắc thái khi thể hiện, từ thăm hỏi, tìm hiểu lúc mở đầu cuộc hò đến nhịp điệu sôi nổi, cuốn hút của hò nện, hò lệ hố. Hò sông nước Trị Thiên nghe mượt mà sâu lắng, ý tứ lời ca được trau chuốt tỉ mỉ đến từng chi tiết làm lay động tất cả những ai đã từng nghe một lần. Điển hình nhất là những làn điệu của hò mái đẩy, mái ruỗi của những người làm nghề chở hàng, đánh bắt cá trên đầm phá mênh mông, nhưng nổi bật nhất vẫn là hò mái nhì, làn điệu hò gây xúc cảm sâu sắc, tạo ra diện mạo riêng biệt khó trộn lẫn, đồng thời đi vào ca Huế như một thành phần không thể thiếu.

Để đạt tới lối hát định hình (đường nét âm điệu, nhịp điệu hài hoà), hò sông nước Bắc Trung Bộ tiếp nhận cũng như chịu ảnh hưởng chi phối từ môi trường sản sinh ra nó từ thói quen đi thuyền của người Việt Bắc Trung Bộ. Khi lập xóm làng, các cư dân đã đem theo những làn điệu dân ca trong đó có hò sông nước vào đây. Có thể nhận định hò sông nước hình thành sớm hơn thời điểm Dương Văn An nhắc tới.

Trong quá trình đó, di chuyển trên sông nước là hiện tượng phổ biến, một hình ảnh sinh hoạt quen thuộc ở nhiều nơi. Khi mọi người gặp nhau, từ thuyền này tới thuyền kia tiếng hát hò mau chóng trở thành hình thức giao tiếp hằng ngày bởi đây là môi trường trao đổi, thăm hỏi đầy giao cảm cộng sinh. Những nghệ nhân hò dần nổi bật lên bởi lối ca đặc sắc hình thành một lớp người tài năng nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng âm điệu, nhịp điệu khi hò có một số điểm bị biến đổi bởi dấu âm và giọng, mặt khác trong dân gian không quy định rõ ràng bài bản, chặt chẽ khi thể hiện, người ta chỉ nhớ chuỗi âm đặc trưng nhất của từng làn điệu và tự tuỳ hứng sáng tạo theo thẩm âm cá nhân, điều này đem lại cho hò những biến thể không đồng nhất về cấu trúc. Vậy điều gì tạo ra điệu hò này khác biệt (hoặc có hơi hướng gần giống) điệu hò kia mặc dù khi hát câu đầu mọi người có thể nhớ ngay giai điệu? Điều này phụ thuộc vào âm điệu và nhịp điệu từng điệu hò. Lối hát dân gian Việt Nam nói chung dùng phương thức truyền miệng, do đó tam sao thất bản sai lạc so với nguyên gốc từ một điệu ban đầu rất phổ biến, gây không ít khó khăn khi xác định nơi phát sinh. Hò mái nhì là một ví dụ, nhiều ý kiến cho rằng hò mái nhì là điệu hò thoát thai từ dòng sông Hương dựa trên các yếu tố mà hò thể hiện gắn bó chặt chẽ với môi trường này, nhưng ở Quảng Trị hò mái nhì là điệu hò cạn nổi tiếng được người dân yêu thích do tính chất dàn trải tự sự, trao đổi tâm tình. Lịch sử cho thấy thế kỉ XVI chúa Nguyễn lập dinh thự, thu hút nhân tài phía bắc vào sinh cơ lập nghiệp nơi đây trước và hát hò dân gian của người Việt tất nhiên được mang vào vùng đất này. Hò mái nhì Huế đặc sắc, nổi bật hơn hò mái nhì Quảng Trị. Tất nhiên không khó để nhận thấy hò mái nhì Quảng Trị và Huế là hai làn điệu giống về điệu thức, biến thể của nhau bằng âm điệu, nhịp điệu trong thể hiện. Tôn Thất Bình nhận xét: “... hò mái nhì trên sông nước Trị Thiên tuy chưa rõ nguồn gốc và thời điểm phát sinh, nhưng là tiêu biểu cho vùng đất này...”

Quảng Bình cũng có hò mái nhì nhưng qua tìm hiểu cho thấy đây là điệu hò trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ có cấu tạo giai điệu khác Trị Thiên, gần như là họ hàng xa về âm điệu do đó chỉ thấy bóng dáng nhịp điệu để lại khi diễn xướng.

Từ điệu hò gốc bằng nhiều cách lan truyền trong không gian sinh hoạt theo vùng cư trú, thậm chí biệt lập với nhau bởi hai nơi không liền kề như hò đò đưa sông Mã chẳng hạn là biến thể làn điệu xe chỉ luồn kim của dân ca quan họ Bắc Ninh, hò làn văn xuất phát từ hát chầu văn. Điều này cho thấy âm nhạc dân gian lưu chuyển không có quy luật nhất định. Có thể đưa ra dẫn chứng về điều này: Đồng bằng sông Hồng, cái nôi sản sinh dân ca Việt Nam, tại đây một số điệu đò đưa theo thời gian mờ dần đi thì nơi khác lại phát triển mạnh mẽ, những điệu hò ở Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang... mất dần môi trường sử dụng, thay vào đó là hát giao duyên, hát thờ, tế lễ, xu hướng phát triển hội hát theo vùng. Ngược lại, ở Bắc Trung Bộ, hò được ưa chuộng và phát triển khắp nơi do môi trường tự nhiên lại đáp ứng yêu cầu làm tăng sự cố kết cộng đồng, gắn bó với nhau trong niềm cộng cảm bền chặt.

Những biến thể hò sông nước mỗi nơi đều tương hợp lối vận âm điệu, nhịp điệu, điệu thức... theo đặc điểm nổi trội tại vùng đó. Lệ Thuỷ, Quảng Bình mau chóng trở thành trung tâm diễn xướng hò thu hút mọi người tới nghe, thưởng thức. Các cuộc thi hò luôn tạo không khí sôi nổi hấp dẫn, từng làn điệu khi diễn xướng đều được nâng cao hơn về âm điệu, nhịp điệu, hoàn thiện lối hát, những biến thể cũ được bổ sung giai điệu, cấu tứ lời ca... và từ đây lan toả khắp mọi nơi, tái tạo lại theo cách hiểu, cảm nhận của mỗi người bằng nhiều hình thức khác nhau và hình thành các biến thể mới. Quá trình đó lặp đi lặp lại, mỗi điệu hò từ lúc ban đầu với âm điệu, nhịp điệu giản đơn hoặc có đường nét giai điệu đẹp dần dần biến đổi, lồng ghép thành nhóm hò đầy đủ cung bậc, giọng điệu, xu hướng nối dài liên làn điệu hò vẫn còn tiếp tục. Hò sông Mã trong quá trình phát triển, tiếp nhận nhiều làn điệu biến đổi dưới dạng tổ khúc hò. Mặt khác cùng với cuộc đi đò tới nhiều miền quê, bãi sông, bến chợ trên toàn bộ lưu vực đồng bằng sông Mã nên ta không thấy gì lạ khi thấy mọi người dân xứ Thanh đều hò được.

Như vậy, hò Bắc Trung Bộ là hiện tượng phổ biến qua phương thức truyền miệng dân gian. Sự điều chỉnh các làn điệu hò theo điều kiện sống tự nhiên vẫn đang tiếp tục. Điều này cũng tương tự như hiện tượng dị bản trong ca dao như bài Lí con sáo là một ví dụ, đến nay chúng ta đã sưu tầm được khoảng 11 biến thể làn điệu tại các vùng dân ca, khác nhau về kiểu hát như: lối ngân hơi, các nốt luyến láy, vị trí cao độ, âm vực hoặc điệu chuyển theo hơi bắc, hơi nam... rất điển hình cho âm nhạc dân gian. Lí con sáo Nam Bộ có cách hát cuốn hút, nhớ thương; ở Nam và Trung Trung Bộ lại mang tính chất đung đưa và đằm thắm; con sáo Huế bay bổng, uốn lượn; sáo quan họ trữ tình lưu luyến... Mỗi nơi âm điệu lí lại biến đổi theo điệu thức của vùng miền đó, điều này lí giải tại sao từ một làn điệu con sáo ban đầu đã sinh sôi nảy nở thành nhiều làn điệu đông đúc đủ màu sắc trong dân ca Việt Nam.

Tuy vậy biến thể làn điệu cần phân biệt những dạng khác nhau như dạng gần, dạng xa và thay hình dạng qua cấu trúc. Biến thể dạng gần tạo ra biến đổi đường nét giai điệu tại một số vị trí không phải là trục âm cơ bản, hoặc thêm vào đó tiếng đệm hơi, luyến láy. Hò mái nhì và hò mái đẩy Trị Thiên thuộc dạng gần, khi hát giai điệu hò mái đẩy vang lên âm điệu gốc của hò mái nhì, chỉ biến một chút phần mở đầu, cấu trúc âm nhạc giữ nguyên. Giữa hò mái nhì Huế và Quảng Trị là biến thể dạng xa vì đã thay đổi âm điệu, chỉ giữ trục âm cơ bản chính của điệu thức. Lối diễn xướng cùng môi trường sinh hoạt đã thay đổi hò mái nhì Huế với hò mái nhì Quảng Bình trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ khác về hình dạng cấu trúc gồm hai biến thể gần như khác hoàn toàn, chỉ có âm hưởng nhịp điệu và tên gọi giống nhau.

Những căn cứ đã nêu ở trên cho thấy âm điệu, nhịp điệu có vai trò xác định biến thể hò sông nước lưu chuyển trong vùng không gian rộng lớn Bắc Trung Bộ. Mối liên hệ sử dụng nghệ thuật hò Nghệ Tĩnh với Bình Trị Thiên cho thấy giữa các vùng gần gũi về lối hát, phương thức diễn xướng... Dòng âm nhạc dân gian và cung đình cho dù làm chủ hơn một thế kỉ nhưng kiểu hát vẫn tạo cho người nghe mối giao cảm gắn bó về một thuở xa xưa. Nhiều thể ca định hình theo chuẩn mực thính phòng vừa tinh tế vừa nhuần nhuyễn (thành bài bản, luyện tập công phu) khác với Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh vẫn còn bảo lưu những âm điệu cổ, ít biến đổi.

Hò sông nước là hình thức sinh hoạt đặc sắc của cư dân Việt Bắc Trung Bộ, khởi đầu từ lao động, tiếng hò vang tạo nên niềm phấn khích, trở thành sợi dây gắn kết tất cả mọi người. Mỗi làn điệu đều có tên gọi đặc trưng cho từng hoạt động nhất định, ví dụ hò rời bến xuất hiện khi đò đón khách tại các bến dọc theo sông Mã, hò mái nhì do người ở vị trí tay chèo thứ hai trên thuyền hát lên, hoặc hò kéo thuyền, hò mái đẩy, mái ruỗi... tất cả đều mang nội dung cũng như âm hưởng riêng. Nhưng sức lan toả của mỗi điệu hò đi khắp nơi giúp hò sông nước bay đi rất xa, tới đâu cũng được người dân ghi nhớ, tái tạo cho phù hợp với hệ thống dân ca từng địa phương. Do đó những biến thể mới từ điệu gốc đã xuất hiện, lưu truyền rộng rãi tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo lúc sử dụng, cứ như vậy hò sông nước được người Việt Bắc Trung Bộ hoàn chỉnh theo thời gian tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ đối với những ai nghe hò và trực tiếp tham gia.

Trần Hoàng Tiến
nguồn:vae.org.vn
READ MORE - TRẦN HOÀNG TIẾN - HÒ SÔNG NƯỚC BẮC TRUNG BỘ

PHAN BÙI BẢO THY - DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG CHUYỆN TÌNH


Sông Ô Lâu (còn có tên khác là sông Thu Rơi; sông Mỹ Chánh; sông Thác Ma) được bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên hùng vỹ, rồi uốn lượn quanh co hiền hoà qua bao triền đồi bazan bỏng rát, âm trầm chảy qua các xã Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Tân, Hải Hoà... thuộc huyện Hải Lăng nằm ở cực Nam của tỉnh Quảng Trị nơi tiếp giáp với các làng Mỹ Chánh, Mỹ Xuyên, Kế Môn, Đại Lược, Phước Tích... của tỉnh Thừa Thiên - Huế.


Từ xa xưa cho tới tận bây giờ, người đời vẫn quen gọi dòng sông Ô Lâu bốn mùa nước trong văn vắt này là dòng sông của những chuyện tình riêng đau, nên con nước dẫu đã nghìn năm vẫn cứ mãi phân vân xuôi chảy về biển Đông một cách lặng buồn như nước mắt của những người con gái...

Là người Quảng Trị, nên từ những năm tháng còn cắp sách đến học chữ ở trường làng, đôi lần tôi đã được nghe những người lớn tuổi kể về dòng sông Ô Lâu. Dòng sông mà trong ký ức hiểu biết của tôi bao giờ cũng mềm mại đáng yêu như một bức tranh thủy mặc, hiền hòa lưu giữ những vàng son, quê kệch của làng xưa thăm thẳm đến vô cùng...

Thế rồi, cho đến chiều nay, một buổi chiều bình yên, gió xào xạc rung từng đợt buồn lên mặt sóng của dòng Ô Lâu xanh thẳm, tôi mới có dịp về đứng bên dòng sông này trong đoàn những người đi điền dã để khảo sát về những làng nghề xưa nằm dọc theo dòng sông Ô Lâu đẹp như nước mắt...

Đêm. Giữa một ngôi làng nhỏ bé nằm về phía tả ngạn của dòng Ô Lâu, chúng tôi được dịp nghe một vị cao niên của làng kể lại câu chuyện tình buồn thương của một cô gái chèo đò ngang bên dòng Ô Lâu xưa với một anh học trò nghèo xứ Nghệ.

Chuyện kể rằng, một ngày xưa lắm, có anh học trò nghèo ở đâu tận miệt Quỳnh Lưu xa lắc, trên đường vào ứng thí ở Kinh đô. Khi đi qua bến đò ngang trên dòng Ô Lâu thì phải lúc ốm đau, trong tay không còn một đồng chinh lộ phí. Thương cảm trước cảnh ngộ của một đấng nam nhi có chí sách đèn, cô gái chèo đò bên sông Ô Lâu năm ấy đã e ấp giúp chàng trai kia từ bữa cơm dưa cà cho qua đận đói, cho đến mấy đồng lộ phí giắt lưng để tiếp tục hành trình mải miết chờ ngày ứng thí ở chốn Kinh đô.

Đáp lại tấm lòng thơm thảo của cô gái bên sông, anh học trò nghèo xưa cũng bùi ngùi gửi lại biết bao lời thề non hẹn biển. Họ ước nguyện sau khoa thi năm ấy, chàng sẽ quay về bên bến đò xưa để tìm gặp lại người con gái yêu thương đã chiếm giữ trái tim mình. Thế nhưng, sau cái bận đưa khách sang sông ấy, người học trò nghèo xứ Nghệ cũng theo tháng theo năm mà biệt vô âm tín... Bên bến sông quê, với cây đa, bến nước, con đò, người con gái cứ mỏi mòn chống sào chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng đớn đau. Rồi đến một ngày khi sức cùng lực tận, người con gái chèo đò bên bến Ô Lâu đành phải gửi lại nỗi chờ trông cùng cây đa, bến nước... mà xuôi tay về chốn cửu tuyền.

Oái oăm thay, khi trên nấm mồ của người con gái chèo đò bên bến sông kia cỏ chưa kịp xanh thêm, thì người học trò nghèo năm xưa nay công thành danh toại, võng lọng xênh xang tìm đường trở lại. Lặng yên đứng bên nấm mồ của người mình thương nhớ, chàng học trò nghèo năm xưa khóc thương cho đến cạn khô nước mắt. Rồi chàng khắc mấy vần thơ dang dở buồn đau đặt lên nấm mồ cô quạnh bên sông. Cũng từ đó, những câu thơ trên nấm mồ của người con gái bên dòng Ô Lâu được người đời nối tiếp nhau truyền tụng cho đến tận bây giờ:

" Trăm năm đành lỗi hẹn hò

Cây đa, bến cũ con đò khác đưa

Con đò đã thác năm xưa

Cây đa, bến cũ còn lưa bóng người"

Ở làng Câu Nhi, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) tôi còn được nghe kể một cách khá tường tận về câu chuyện tình của bà Nguyễn Thị Bích - vợ thứ hai của Hoàng đế Quang Trung. Bà Bích cũng là một người con gái được sinh ra ở ngôi làng nhỏ nằm ngay bên dòng sông Ô Lâu xanh mát. Một ngôi làng mà trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc đã sản sinh ra nhiều người con tài đức để phụng sự cho Tổ quốc như vị tiến sỹ đầu tiên trong làng quan lại phong kiến ở miền Trung - Bùi Dục Tài, Tướng công Nguyễn Chánh, Đô đốc Phúc Long Hầu, Tham tướng Hoàng Bộ, Tống sứ Phạm Duyến, nhị vị Thượng thư Nguyễn Tăng Doãn - Bùi Văn Tú, danh y Trần Mậu... thời hiện đại sau này thì có nhạc sỹ - cựu Bộ trưởng Bộ VHTT - Trần Hoàn, Thượng tướng - Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an - Nguyễn Khánh Toàn... với hơn 400 tiến sỹ, thạc sỹ và cử nhân hiện đang sinh sống và làm việc ở nhiều nơi trong và ngoài nước.

Theo sự chỉ dẫn của một người cao niên thuộc tộc Nguyễn trong làng, chúng tôi được tiếp xúc với hậu duệ của cụ Hồ Tranh - một con người rất am tường cổ sử. Ông Hồ Tranh là con trai của ông Hồ Tiểu Viện, một ông quan huấn đạo dưới triều vua Tự Đức. Ông Tranh từng kể cho con cháu nghe rằng: Cha ông thi đỗ tú tài năm 34 tuổi (1899), đến năm 41 tuổi (1906) thì thi đỗ cử nhân rồi được bổ làm quan huấn đạo tỉnh Bình Thuận. Hồi ông Tranh còn nhỏ, mỗi lần dạy học cho con, ông Viện thường kể cho con trai mình nghe về bà Nguyễn Thị Bích.

Theo hiểu biết của ông Hồ Tranh thì bà Bích là con thứ 16 của ông Nguyễn Cảnh - một ông quan danh tiếng dưới thời các Chúa Nguyễn. Bà Bích là một người con gái hiền thục, tài hoa, được ăn học tử tế. Khi lớn lên, bà theo cha vào làm quan ở Bình Định và cũng ở đó bà đã gặp rồi nên duyên cùng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Theo ông Tranh thì bà Bích dù là vợ thứ hai của Nguyễn Huệ nhưng lại trước công chúa Lê Ngọc Hân. Những năm tháng chung sống với người anh hùng này, bà Bích đã sinh hạ được một người con trai. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Nguyễn Huệ thường xuyên xông pha nơi trận tiền ác liệt, chứ chẳng mấy khi được an nhàn ngơi nghỉ ở chốn bình yên. Những lúc người anh hùng áo vải mải mê với vó ngựa trường chinh nơi biên thùy lửa khói, bà Bích vẫn một lòng một dạ ôm con chờ chồng nơi biên ải xa xăm. Nhưng, phận số của những người đàn bà nhan sắc thường rất đỗi đa đoan và cuộc đời của bà Bích cũng không là một ngoại lệ. Nguyễn Huệ không bỏ mình nơi chiến trường dưới làn tên mũi đạn của quân thù, mà ông đã chết khi chỉ mới vừa ngồi lên ngôi báu.

Tai họa lại ập xuống đầu bà từ sự truy lùng trả thù vô cùng dã man của triều đại Gia Long. Bà Bích vì thế mà đã phải cải dạng ăn mày, bồng con khăn gói trốn về quê nhà bên bến sông Ô Lâu để lánh nạn. Nhiều lần nghĩ quẩn, bà đã định bụng ôm con trầm mình xuống dòng sông đã tắm mát cho suốt tuổi thơ của bà để quyên sinh. Nhưng để bảo trọng giọt máu của hoàng đế Quang Trung nên nhiều cận thần Tây Sơn đã tìm cách đưa bà cùng con trai của mình trở lại Bình Định. Ở đó, bà đã sống những năm tháng cuối đời mình trong cảnh cơ hàn, ẩn dật cho đến khi nhắm mắt xuôi tay ở thôn Vĩnh An, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Còn có một câu chuyện tình bi thương khác nữa, cũng của một người con gái được sinh ra và lớn lên bên bến sông này, đó là câu chuyện tình của bà Dương Thị Ngọt. Bà Ngọt là con gái của ông Dương Quang Xứng, ông Xứng làm quan dưới triều nhà Nguyễn, ông từng được giữ chức viên ngoại lang ở Nha Thương trường. Năm 1885, sau cuộc chính biến ở Kinh đô Huế và tiếp đến là "kinh đô thất thủ". Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở. Thống tướng De Coucey đày Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính sang đảo Haiti, đồng thời sai ông De Champeaux lên Khiêm Lăng yết kiến đức Từ Dũ, xin lập ông Chánh Mông là Kiến Giang Quận Công lên làm vua lấy niên hiệu là Đồng Khánh.

Dưới thời Đồng Khánh, ông Xứng được thăng chức Lang Trung. Đến năm 1894, dưới thời vua Thành Thái, ông Xứng giữ chức Thái Bộ Tư khoanh rồi đến giữ chức Bố Chính tỉnh Khánh Hoà. Trên con đường hoạn lộ, dù làm gì, ở đâu ông Xứng cũng mang cô con gái rượu theo cùng, bà Ngọt càng lớn lên càng đẫy đà xinh đẹp. Vì vậy mà vua Thành Thái đã chọn bà để làm bà phi thứ 9. Sử sách kể lại rằng, bà Ngọt là một bà phi được vua Thành Thái hết mực thương yêu và sủng ái, vì vậy mà những bà phi khác trong cung hết sức ghen ghét với bà. Nhân một lần vua Thành Thái cắt tóc ngắn... vậy là các bà phi trong cung đã bày mưu tính kế để hại bà Ngọt, họ đã đánh lừa để cắt mất của bà Ngọt một nắm tóc, rồi tìm cách báo cho vua hay. Thấy vậy, vua Thành Thái gán cho bà mắc phải trọng tội khi quân nên đã xử chém bà. Thế nhưng, sau khi bà Ngọt chết, vua vẫn cho làm lễ mai táng bà hết sức chu đáo, đúng theo nghi lễ triều đình, xứng đáng với cái chết của một bà hoàng phi. Quan tài của bà được đưa xuống thuyền rồng rồi theo đường sông về bên bến Ô Lâu, với làng quê yêu dấu của bà ở thôn Hội Kỳ, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị).

Lăng mộ của bà được xây cất rất cẩn thận, trên bia mộ có khắc dòng chữ: "Hoàng triều cửu giai tài nhân thụy thục thuận Dương thị chi tẩm. Thành Thái thập tam niên bát nguyệt cát nhật tại". Sau khi xây cất lăng xong, vua còn cho 4 người từ phu túc trực trông coi lăng bà, cả 4 người này đều được nhà vua cấp phát ruộng đất và miễn tất cả các loại sưu thuế cho đến trọn đời. Tương truyền, sau cái chết oan uổng của bà Ngọt, vua Thành Thái vì thế mà muộn phiền nhiều hơn rồi ông giả điên để mưu đồ kháng Pháp. Nếu điều tương truyền ấy là sự thật, thì chắc bà Ngọt cũng sẽ mãi ngậm cười nơi chín suối vì cái chết của mình cũng hữu ích cho vận mệnh của quốc gia.

Xã Hải Sơn giáp với làng Hội Kỳ của bà Ngọt là quê hương của bà Trần Thị Dương, người đàn bà đã xin phép chồng để đội tang đi lấy đầu của hai nhà chí sỹ yêu nước Thái Phiên - Trần Cao Vân bị Pháp tử hình ở cống chém An Hoà (TP Huế) mang về chôn cất ở một ngọn núi gần chùa Từ Hiếu bây giờ.

Sông Ô Lâu vẫn thế, suốt bốn mùa con nước mãi xanh trong, ai đó bảo nước sông đẹp như nước mắt của những người con gái, phải chăng câu ví von ấy được phát xuất từ những cuộc tình bi thương, khắc khoải của những người con gái đã được sinh ra, được tắm mát và đã lớn lên trên bến sông này. Biết bao nhiêu cuộc đời lụa là gấm vóc rồi cũng trở về với vĩnh hằng cát bụi, chỉ còn lại với đời những câu chuyện tình yêu đớn đau, tiếc nuối khôn nguôi... Rồi con nước Ô Lâu vẫn sẽ cứ nghìn năm mải miết, cứ nghìn năm thì thầm vào ngàn khơi vô tận của tình yêu.

Phan Bùi Bảo Thi (CAND)

.

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THY - DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG CHUYỆN TÌNH

TRẦN BÌNH TUẤN - MAN MÁC ĐIỆU HÒ XỨ SỞ

Sông Thạch Hãn


BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ

HÒ SÔNG NƯỚC BẮC TRUNG BỘ - Trần Hoàng Tiến

ĐIỆU HÒ BÊN SÔNG THẠCH HÃN

HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ- Tôn Thất Bình

DÂN CA BÌNH TRỊ THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX - Vĩnh Phúc

ĐIỆU TRỐNG QUÂN CỔ LÀNG ĐIẾU NGAO

TIENG QUANG TRI - Trần Hữu Thuần

TAI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA - Văn Quang



Ðổ dần từ tây sang đông, nơi khởi nguồn của các dòng sông Thạch Hãn, Vĩnh Ðịnh, Hiền Lương... nơi khơi nguồn cảm hứng dân gian những điệu hò sông nước mênh mang, ở đó thể hiện tình cảm thầm kín, chất chứa của con người trong lao động...
Náo nức một thời...!
Từ cái nhìn thẳm sâu, trong không gian văn hóa mênh mông dường như vô tận, thắm đượm tâm hồn, khí phách về đất và người. Quảng Trị ở ngã ba đường thiên lý bắc - nam, đông - tây. Từng là nơi cát cứ của nhà Nguyễn, trong tiến trình tiến về phía nam, với bao thăng trầm, chất chồng trên đôi vai người đi vỡ đất, mở cõi, trong cơn bĩ cực, thuở ban sơ đó như sợi dây vô hình gắn kết họ với cộng đồng bản địa, tạo nên nền văn hóa phong phú đa sắc.
Quá trình sinh sống cùng chung lưng đấu cật, cần mẫn lao động, sáng tạo cũng là chặng đường giao thoa, hòa hợp dòng âm nhạc nơi quê cha đất tổ với nền âm nhạc bản địa; dần dà hòa quyện thành công dòng chảy lớn của thi ca nơi chốn dân giã - dòng âm nhạc dân gian riêng có của người Quảng Trị.
Trong dòng âm nhạc dân gian Quảng Trị có bao khúc hát ru, điệu hò, lý... từ chất liệu cuộc sống viết nên, từ những cảm hứng, tình cảm trong lao động "kẻ hô người ứng" mà thành.
Trong xứ sở của những điệu hò đó, chỉ đơn cử ra viên ngọc tỏa sáng, ẩn chứa sức sống diệu kỳ trong kho tàng âm nhạc truyền thống vô giá, đó là điệu hò Mái nhì, Mái đẩy - mang âm hưởng lắng sâu, tiếng nói chân thực phản ánh sâu sắc khát vọng, tư tưởng của nhân dân lao động.
Nét đặc trưng của điệu hò sông nước xứ sở này thể hiện tình cảm thầm kín, chất chứa của con người trong lao động, nên giai điệu thường trải dài, ẩn khuất trong không gian sông nước mênh mông, thời gian như lắng đọng, văng vẳng, len lỏi trong tâm can của người lữ khách sang sông.
... Hơ... ! Thuyền ai thấp thoáng bên sông đưa (hờ!) câu (hò) mái đẩy
(Hơ...!) mái đẩy chạnh (hờ!) lòng... hơ hơ hơ...!
Chạnh lòng nước non... (Hơ hơ hơ...!)
(Hò mái nhì)
Không mang tính chương trình, nặng về trình diễn; ở đó thể hiện sự tự do, phóng khoáng trong lối hát ca; giai điệu chứa đầy nguồn cảm hứng tươi nguyên, đẹp đẽ, nồng ấm và gần gũi; dễ thường có tính phổ biến cao trong sinh hoạt cộng đồng, hòa sâu và trở thành chất liệu của các điệu hò Nam ai, Nam bình kinh thành đất Huế sau này (*).
Chính điệu hò Mái nhì, Mái đẩy tiêu biểu cho chức năng giao duyên của những điệu hò xứ sở này; ở đó là sự giao cảm đầy chất lãng mạn nam, nữ trong lao động, như thầm mong vơi đi nỗi nhọc nhằn, truân chuyên, tạo nguồn cảm hứng dường như vô tận, thời gian và không gian ở đó dường như dừng lại nhường chỗ cho sự thăng hoa cảm xúc của con người.
Qua con đường giao duyên hòa ca tuyệt vời, con người sẻ chia cùng vượt qua gian khó, "cập bến mơ", thi vị hóa ý chí, khát vọng kết đoàn, tương phùng tương ngộ của con người từ trong không gian mênh mông được xích lại gần nhau hơn, từ trong chân lấm tay bùn yêu thương nhau thêm...!
Theo nghệ sĩ Xuân Lư - nguyên Trưởng đoàn ca kịch Bình - Trị - Thiên: "Thuở ấy những người có tài ứng tác, bẻ làn nổi tiếng như thợ Mai, thợ Hộ, thợ Thiềm... Những đêm trăng thanh ca hát giao duyên ở Triệu Phong, sự góp mặt của thợ Thiềm bao giờ cũng sôi nổi, hấp dẫn...". Ðặc biệt trước đây nhân dân đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong có truyền thống tổ chức những cuộc hò mái nhì rất náo nức trong khi ngồi se tơ, quay sợi...!
Ðể lại ký ức sâu đậm hơn cả bao thế hệ đi qua chiến tranh từng thao thức, chờ đợi được nghe chương trình "Quay súng cùng nhân dân chống Mỹ cứu nước" được phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 22 giờ, được thể hiện giọng hò "thiên phú" lắng sâu, dạt dào xúc cảm của người nghệ sĩ tài danh, một người con của quê hương Quảng Trị - NSND Châu Loan.
Ðiệu hò mái nhì, mái đẩy man mác giàu tính nghệ thuật giao cảm bằng sự thăng hoa tuyệt vời của người nghệ sĩ đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với nhân dân miền nam lúc bấy giờ sống dưới ách kìm kẹp của kẻ thù, với niềm tin mãnh liệt hướng về Ðảng, Bác Hồ kính yêu, thôi thúc vùng lên đấu tranh giải phóng quê hương.
Cũng với giọng hò thiết tha, người nghệ sĩ vang bóng một thời này đã mang điệu hò quê hương vang vọng đến bên kia đại dương, đến cả quốc gia được mệnh danh là "kinh đô ánh sáng" để kêu gọi nhân loại yêu chuộng hòa bình, đoàn kết, ủng hộ vì cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
... Xa vắng...?! Bất chợt lênh đênh một hoàng hôn sông nước.
Sau ngày quê hương được hòa bình thống nhất, trong những ngày vui đại thắng điệu hò ấy lại có dịp trở lại trên các sân khấu nghệ thuật chuyên nghiệp ca kịch Bình - Trị - Thiên, in hằn trong ký ức của hàng nghìn khán giả dưới ánh sáng tươi nguyên, mộc mạc của những đêm hội diễn hay biểu diễn nghệ thuật quần chúng ở Triệu Hải, Bến Hải.
Bên ly trà tỏa ngát hương nhài trong căn phòng khách ấm cúng dưới chân Thành cổ, ông Trần Khánh Xiễn, Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Triệu Phong, với thâm niên ba mươi năm làm văn hóa, người có tâm huyết với việc lưu giữ, bảo tồn các điệu hò dân gian Quảng Trị, chậm rãi tâm sự: "Nay lối sinh hoạt truyền thống đó dần dần bị phai phôi; những điệu hò mái nhì, mái đẩy, mái ba man mác ấy, dẫu qua không ít "truân chuyên...!". Dẫu vẫn ẩn mình trong gam mầu tối của vết bụi "vô tình" thời gian... Nếu có dịp xuôi theo dòng Thạch Hãn, ghé qua Sãi về Triệu Phong vào lúc chiều tà, may mắn du khách vẫn còn nghe câu hò mộc mạc, lắng sâu, ẩn chứa triết lý thế thái nhân tình:
Ơ ơ...! Nước dưới sông có khúc sâu khúc cạn
Trên ngọn núi cao có hòn dựng hòn nằm
Thiếp với chàng đạo nghĩa trăm năm
Dẫu có đi xa ngàn dặm cũng gởi lời thăm kẻo buồn...!
(Hò mái đẩy)
Nó đang âm thầm là chất liệu làm phong phú đời sống âm nhạc đương đại, để không phải ngẫu nhiên sau này ca sĩ Quang Linh, Vân Khánh - những người con quê hương Quảng Trị thành công trên con đường ca hát khi cất tiếng ca chất chứa, lắng sâu điệu hò xứ sở!
Nhận thức được vấn đề loại hình nghệ thuật dân gian mang tính nghệ thuật, tư tưởng cao đứng trước nguy cơ bị lãng quên, gần đây ngành văn hóa tỉnh Quảng Trị đã tổ chức thành công khóa đầu tiên dạy ca hát nghệ thuật dân gian, thu hút nhiều bạn trẻ tham gia và tiếp tục chiêu sinh những khóa tiếp theo, như làm khôi phục lối sinh hoạt tinh thần thanh tao, xây dựng một cốt cách, bản sắc của con người và xứ sở.
Những điệu hò mái nhì, mái đẩy... sự nhịp nhàng của tay chèo, tay lưới nơi miền sông nước, từ quá khứ hôm qua vẫn hiện hữu, lắng vào sâu trong tâm thức bao lớp người Quảng Trị, bởi ý niệm "hòa ca khúc hát kết đoàn" bao giờ cũng trở thành ý thức cụ thể, sâu sắc trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào của con người xứ sở này! Hình thành từ trong quá trình vỡ đất, lập cõi, đấu tranh và dựng xây. Ý niệm sâu sắc, khát vọng cháy bỏng ẩn sâu trong những câu hò xứ sở vẫn mãi vang vọng đến mai sau...!?
Trần Bình Tuấn
Theo nhandan.com.vn
READ MORE - TRẦN BÌNH TUẤN - MAN MÁC ĐIỆU HÒ XỨ SỞ