Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 12, 2026

VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

 

Tác giả Nguyễn Bá Trình


Về thăm lại XÓM KHE thôn Cồn Tàu

( Hay: Thời gian như nước chảy qua cầu)

 

XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương  Cụ Khóa, vườn trà mụ Am

Ra đi tuổi mới mười lăm

Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

 Đến cây đa  theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây

Vậy thì cái cống gạch xây?

 Không có cống chỉ cầu nầy mà thôi   

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi

                   Nguyễn Bá Trình

 

  

Bài bình 


Đăng nhập 


Bài thơ "Về thăm lại XÓM KHE Thôn Cồn Tàu" (hay "Thời gian như nước chảy qua cầu") của cụ Nguyễn Bá Trình là một tiếng lòng đầy thổn thức, chạm vào góc sâu thẳm nhất của tình yêu quê hương và quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lấy bối cảnh cuộc trở về sau bao năm xa cách, bài thơ gợi lên sự đối lập sâu sắc giữa ký ức vẹn nguyên và thực tại đổi thay, để lại trong lòng người đọc nỗi bâng khuâng, hoài niệm.

 

1. Ký ức tuổi thơ vẹn nguyên và nghĩa tình

 

Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc trở về với những hình ảnh thân thương, cụ thể của làng quê ngày cũ:

"XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am"

Những danh từ riêng như cống Cây Đa, nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am không chỉ là những địa danh thuần túy, mà là "tọa độ ký ức" của tác giả. Đối với một người ra đi từ tuổi mười lăm – cái tuổi thiếu niên đầy ắp kỷ niệm – thì quê hương chính là những con người cụ thể, những mảnh vườn, gốc cây gắn liền với cuộc sống bình dị. Hai câu thơ đầu mang giọng điệu kể lể, tự nhiên như một lời tự tình, chứng tỏ dù thời gian có trôi qua bao lâu, hình bóng quê nhà vẫn chưa từng phai nhạt trong tâm thức người ly hương.

 

2. Sự ngơ ngác trước thực tại thay đổi

 

Nút thắt của bài thơ nằm ở cuộc đối thoại giữa nhà thơ (người già trở về) và đám trẻ nhỏ (thế hệ mới của làng):

 

"Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

Đến cây đa theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây"

 

Sự xuất hiện của câu hỏi "ông nào" đầy ngơ ngác của đám trẻ như một gáo nước lạnh dội vào lòng người đi xa. Ông nhận ra mình đã trở thành người lạ trên chính quê hương mình. Bi kịch hoài niệm tiếp tục tăng dần khi tác giả đi tìm lại những chứng tích cũ: cây đa đại thụ ngày xưa nay đã không còn, thay vào đó là cái lắc đầu "chẳng thấy" của lũ trẻ.

 

3. Sự chuyển giao mang tính quy luật

 

Bi kịch hoài cổ lên đến đỉnh điểm nhưng cũng được hóa giải một cách nhẹ nhàng qua hai cặp câu hỏi - đáp cuối cùng:

 

"Vậy thì cái cống gạch xây?

Không có cống, chỉ cầu nầy mà thôi

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi"

 

Cái cống gạch xây thô sơ ngày xưa nay đã được thay thế bằng chiếc cầu hiện đại. Khe Nước Trong – biểu tượng cho sự thuần khiết, dịu mát của quê hương – tưởng như mất đi, nhưng thực ra vẫn chảy, chỉ là chảy dưới một cây cầu mới.

 

Câu trả lời của đứa trẻ: "Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi" vang lên thật hồn nhiên nhưng mang sức nặng của một triết lý nhân sinh sâu sắc. Quê hương không mất đi, nó chỉ đang thay da đổi thịt. Thời gian như nước chảy qua cầu, cuốn đi những vật chất cũ kỹ (cống gạch, cây đa) nhưng mạch ngầm quê hương (dòng nước trong) và tình yêu xứ sở thì vẫn tuôn chảy bất tận qua các thế hệ.

 

Lời kết

 

Bằng thể thơ lục bát điêu luyện kết hợp với hình thức đối thoại tự nhiên, cụ Nguyễn Bá Trình đã viết nên một bài thơ giàu chất suy tưởng. Bài thơ không bi lụy, oán trách sự đổi thay của thời gian, mà là sự chấp nhận quy luật phát triển trong niềm rưng rưng thương nhớ. Đó là tiếng lòng chung của tất cả những ai từng có một miền quê để nhớ, để thương và để trở về.

READ MORE - VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
“thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
“du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
(Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
(Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
(Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Phiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                  La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Phụ chú:

Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
*
Cũng lạ, PHIÊU là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh với
âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !

Tra từ điển Hán Nôm, ta thấy: (DU)

- Âm Hán Việt: du
- Âm Quan thoại: yóu
ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi):
(yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi):
あぶら (abura)
- Âm Hàn:

- Âm Quảng Đông: jau4

Như vậy, "Íu" (hoặc "iêv", "iu"), không phải là phiên âm của chữ DU mà là phiên âm của chữ OIL.

Từ OIL trong tiếng Anh được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).
Trong tiếng Anh từ YOU được phiên âm quốc tế là /juː/, đọc nhanh nghe như là "du"
Từ THANK YOU được phiên âm quốc tế là /ˈθæŋk juː/, người Việt thường đọc gần đúng là "thanh-kyu" không đọc là ''thanh du'' ...

*
Tên chữ Hán của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG (Siang), kết hợp phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU . Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành “phiêu” (hoặc “tiêu”)

Dầu gió Siang Pure Oil (上標油) của Thái Lan, do người Hoa di cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan sản xuất. Họ dùng tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew) và tên tiếng Anh Siang Pure Oil để quảng cáo cho thương hiệu dầu gió này, đồng thời ghi chữ Hán上標油 in trên hộp, trên chai với ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
READ MORE - DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập

MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG - Lê Thi

 



MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG 

Lê Thi

 

Nơi người con quê hương trở về gieo những hạt lành. 

Rời Quốc lộ 1, theo con đường làng quanh co men dòng sông Thác Ma, qua những lũy tre xanh, vườn cau, đồng lúa, du khách bắt gặp một mái chùa thấp thoáng giữa không gian thanh bình của làng quê Quảng Trị. 

Buổi sớm nơi đây êm ả đến lạ. Tiếng chào mào, tiếng khướu vang lên giữa vườn cây như một bản nhạc tự nhiên đánh thức làng quê. Khi trời còn chưa sáng rõ, từ khoảng 4 giờ sáng, những người nông dân đã tìm về chùa. Trước khi bắt đầu một ngày làm việc trên đồng ruộng, họ lặng lẽ lễ Phật, cầu mong bình an, sức khỏe và một ngày lao động thuận lợi.

Đó là Chùa Trầm – một ngôi chùa không quá xa hoa, nhưng gây ấn tượng bởi vẻ đẹp mộc mạc, cổ kính và một không gian văn hóa – tâm linh được gây dựng bằng nhiều tâm huyết. 

Trong một dịp hữu duyên, tôi có cơ hội gặp Đại đức Châu Tịnh, trụ trì Chùa Trầm. Ở vị tu sĩ này, dễ nhận thấy một tình yêu sâu nặng dành cho quê hương và mong muốn đưa những giá trị tốt đẹp của Phật giáo, văn hóa dân tộc đến gần hơn với đời sống cộng đồng. 

Từ năm 2018, Thầy dành nhiều thời gian, công sức xây dựng Chùa Trầm giữa làng quê. Với Thầy, dựng chùa không chỉ là tạo nên một nơi thờ tự, mà còn là cách gìn giữ những giá trị văn hóa Việt, tạo một không gian để người dân tìm về sự bình an và nuôi dưỡng đời sống tinh thần. 

Giữ hồn xưa trong một không gian mới. 

Điểm nhấn của Chùa Trầm là ngôi chánh điện bằng gỗ lim, mang dáng dấp kiến trúc nhà cổ xứ Huế. Những bộ tủ, vật dụng bằng gỗ quý càng làm không gian thêm vẻ trầm mặc. 

Trên khuôn viên rộng hơn 7.000 m², hàng cây xanh, vườn cây ăn trái, hồ cá Koi, khu vực thưởng trà và không gian sinh hoạt tạo nên một cảnh quan hài hòa với thiên nhiên. 

Dưới chân tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, một góc nhỏ bên hồ trở thành nơi nhiều người tìm đến uống trà, đọc sách, trò chuyện hoặc đơn giản chỉ ngồi yên nghe tiếng gió và tiếng chim. 

Giữa nhịp sống ngày càng hối hả, một khoảng lặng như thế đôi khi là món quà quý giá. 

Nhưng sức sống của Chùa Trầm không chỉ nằm ở cảnh quan. 

Điều làm nên nét riêng của ngôi chùa chính là những hoạt động hướng đến cộng đồng. 

Mỗi đêm, Phật tử từ các thôn làng tìm về chùa. Họ đến nghe pháp, chia sẻ những câu chuyện về đạo lý, cách sống và tình người. 

Phật pháp ở đây được chuyển tải bằng những điều gần gũi: biết yêu thương cha mẹ, sống tử tế, biết sẻ chia và làm những việc thiện trong khả năng của mình. 

Một thư viện giữa làng quê 

Chùa Trầm còn có thư viện với hàng trăm đầu sách về Phật giáo, văn hóa, lịch sử, đời sống và những câu chuyện về các doanh nhân thành đạt. 

Đằng sau thư viện ấy là một quan niệm đáng quý: muốn thay đổi con người không chỉ cần những lời giảng, mà còn cần tri thức. 

Qua những câu chuyện với Đại đức Châu Tịnh, có thể cảm nhận ở Thầy vốn kiến thức phong phú và tinh thần học hỏi không ngừng. 

Sự kết hợp giữa đạo pháp, văn hóa và tri thức tạo cho Chùa Trầm một sắc thái riêng: vừa là không gian tâm linh, vừa là nơi kết nối cộng đồng và khơi mở việc học. 

Từ lời giảng đến những việc làm. 

Tinh thần từ bi ở Chùa Trầm không dừng lại trong lời kinh tiếng kệ. 

Các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, chương trình cộng đồng, hoạt động múa lân, tổ chức trung thu cho các cháu, bữa ăn bufe cho các cụ già, bà con trong làng quê nghèo.. được tổ chức với mong muốn đưa tinh thần yêu thương vào đời sống thực tế. 

Bởi giá trị của đạo, suy cho cùng, không chỉ nằm ở những điều được nói trong chùa, mà còn nằm ở những gì con người làm sau khi bước ra khỏi cánh cổng chùa. 

Một bàn tay đưa ra đúng lúc. 

Một phần quà dành cho người khó khăn. 

Một lời động viên dành cho người đang tuyệt vọng. 

Những điều nhỏ bé ấy có thể tạo nên sức mạnh lớn lao của tình người. 

Trở về để cho đi. 

Có lẽ câu chuyện đẹp nhất về Chùa Trầm là câu chuyện của một người con quê hương sau nhiều năm tu học đã trở về. 

Trở về với con đường làng, dòng sông, những lũy tre và những con người thân thuộc. 

Nhưng sự trở về ấy không chỉ là trở về với quê hương, mà còn là trở về để trao đi những gì mình đã học, đã trải nghiệm và tích lũy trong hành trình tu tập. 

Một ngôi chùa có thể bắt đầu từ những khúc gỗ, viên ngói, hàng cây. Nhưng để trở thành một nơi có sức sống, cần có tấm lòng của con người. 

Ở Chùa Trầm, tấm lòng ấy được thể hiện qua từng bài giảng, từng trang sách, những hoạt động cộng đồng và những việc làm thiện nguyện. 

Có người tìm đến để lễ Phật. 

Có người đến nghe pháp. 

Có người tìm một cuốn sách. 

Có người chỉ muốn ngồi uống một chén trà trong buổi sáng yên bình. 

Nhưng khi rời Chùa Trầm, điều họ mang theo có lẽ không chỉ là một kỷ niệm về một điểm đến, mà còn là một chút nhẹ nhàng trong tâm trí. 

Giữa miền quê Quảng Trị nhiều nắng gió, mái Chùa Trầm vẫn lặng lẽ nép mình sau lũy tre làng. 

Dòng sông Thác Ma vẫn trôi. 

Ruộng lúa vẫn xanh. 

Vườn cau vẫn đón gió. 

Tiếng chào mào, tiếng khướu vẫn ngân lên giữa buổi sớm. 

Và từ khi trời còn chưa sáng, những bước chân người nông dân đã tìm về, gửi một lời cầu bình an trước khi bắt đầu ngày mới. 

Bởi nơi ấy không chỉ có một mái chùa. 

Nơi ấy có một người con quê hương đang dùng hành trình tu học của mình để gieo những hạt giống thiện lành trên chính mảnh đất đã nuôi mình lớn lên. 

Trở về không phải để tìm một điều gì cho riêng mình, mà để trao đi yêu thương, lan tỏa tri thức và mang đến cho mọi người một nơi tìm thấy sự bình an. 

Có lẽ đó cũng chính là nguồn năng lượng đẹp nhất mà Chùa Trầm đang âm thầm lan tỏa giữa làng quê Quảng Trị hôm nay. Hy vọng chùa Trầm là điểm đến nuôi dưỡng tâm linh và nguồn năng lượng tích cực trong cuộc sống

 

Hải Lăng, ngày thu tháng bảy 2026. 

Lê Thi

(Hình: Tác giả với Đại đức Châu Tịnh tại chùa Trầm.)

READ MORE - MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG - Lê Thi

QUAN SÁT PHONG CÁCH - Đặng Xuân Xuyến



    QUAN SÁT PHONG CÁCH

Đặng Xuân Xuyến

 

Ngạn ngữ đã có câu: “Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo miếng lòng mới ngon”. Bạn đã bao giờ nghĩ như vậy chưa? Quả thật, qua phong cách ta có thể hiểu được tính cách, bản chất của một con người cụ thể. Làm thương mại, tiếp xúc với nhiều con người, nhiều đối tượng, hẳn bạn sẽ rút ra được ít nhiều kinh nghiệm về bản chất, tính cách thực của một con người qua phong cách giao tiếp của họ. Những điều tôi trình bày dưới đây, cũng chỉ là những điều tự rút ra trong cuộc sống của mình còn với bạn có thể là một đôi điều tham khảo. 

1. Quan sát đi đứng: 

Tướng thuật cho rằng: Dáng đi phải chắc chắn, nhẹ nhàng, đúng tiết độ mới quý. Dáng đi hấp tấp, luôn lao đầu về phía trước thì đời phải bôn ba vất vả. Dáng đi vặn vẹo như rắn bò thì đấy là tướng của người không đàng hoàng, mà số phận cũng long đong. Dáng đi nhẹ nhàng mà thanh thoát thì đấy là tướng của người thông minh, nhưng nếu dáng đi lạch bạch như ngan như ngỗng, chân bước gấp gáp như bước đi của con ngựa thì đấy là tướng đi của người có số phận khổ sở. Dáng đi nhẹ tênh mà người thì to lớn, thì đó là tướng của người được hưởng phú quý, còn dáng đi như nện đất, thình thịch mà người bé nhỏ thì đấy là tướng của người có số nô tì. 

2. Quan sát về sắc mặt: 

Trong dân gian, người ta quan niệm những người da mặt trắng sáng như ngọc thường là người hiển vinh trong xã hội. Thực tế không hẳn sẽ là vậy. Nói chung, về sắc mặt, cần phải có hai điều kiện: sắc diện da không dễ biến đổi và phải có ánh quang khác thường mới là người thành danh trong xã hội. 

Những người khi giao tiếp thường nói oang oang, mặt đỏ dừ như gấc thì đấy là kẻ hữu dũng vô mưu, còn những người sắc mặt luôn thay đổi khi gặp những tình huống rắc rối, căng thẳng thì đấy là những người sẽ không làm nên tích sự gì cả, chớ nên giao việc quan trọng cho họ mà hỏng việc. Những người như vậy phần do thần kinh kém. Phần do trực tính hoặc nhát tính nên họ thường có những biểu hiện như vậy. Thực tế cho thấy, khi thần kinh yếu, nếu gặp trắc trở, khó khăn lớn sẽ dẫn tới tâm lý sợ hãi hoặc căng thẳng, từ đó dẫn đến sự đổ bể, suy sụp tinh thần, không thể làm được việc. 

Những người có sắc mặt không thay đổi khi gặp những bất trắc, khó khăn, nguy hiểm thì đấy mới là những người có nghị lực, bản lĩnh, có trí tuệ hơn người và vì thế họ mới là những người tạo nên tiếng vang trong xã hội. 

3. Quan sát thái độ: 

Người quân tử tính nhân từ, thái độ bao giờ cũng đường hoàng, đứng đắn, không vồn vã, không cầu cạnh. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân thì đon đả mời chào, ngọt ngào phỉnh nịnh. 

Người trung dũng thì có thái độ cẩn thận, người hào phóng thì không cầu kỳ, câu nệ, không chấp nhặt, e dè. 

Thấy hoạn nạn hay giúp đỡ là người chuộng nghĩa; thấy lợi lộc tranh giành cho bằng được là kẻ hẹp hòi. 

Nay ngả đằng này, mai ngả đằng kia, không giữ quan điểm là kẻ gian trá. Luôn luôn sinh sự là kẻ thực ngu. 

Gặp ai cũng coi là tri kỷ, chơi thân là kẻ lật lọng. 

Làm việc lớn không than mệt nhọc, không oán giận mới xứng đáng là bậc tài cao. Kính già thương trẻ là người tin cậy. Trong giàu khinh nghèo là kẻ bất nhân. 

Khi viết đến những dòng này, một anh bạn khi ngó qua bản thảo có hỏi tôi: Hạ Vinh Thi viết như thế này có sợ mọi người cho là tuyên truyền mê tín không? Không đợi tôi trả lời anh bạn tôi thủ thỉ nói: Tất cả những biểu hiện đó đều do tâm lý mà ra, nó biểu hiện cốt cách của con người thì dù có nói hay không nói mọi người nhìn nhận vào khắc sẽ nhận ra thì những lời trên của Thi sao gọi là mê tín? Hơn nữa, đó lại là thực tế, là kinh nghiệm, mà đã là kinh nghiệm thì làm sao có chuyện chính xác 100%, chính xác tuyệt đối. Tất cả chỉ để tham khảo, để ngẫm xem sao, phải vậy không, Thi? 

Tôi không còn cách nào trả lời nữa, đành gật đầu xác nhận. Còn bạn? Bạn có tin những điều tôi vừa viết? Hãy nhớ giúp tôi một điều: Những gì tôi viết ở phần này chỉ là tâm sự với bạn để tôi và bạn cùng thử ngẫm xem sao.

 

----------------------

 

(Trích từ: MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG 

của Đặng Xuân Xuyến, Nhà xuất bản Thanh Niên 2000)

READ MORE - QUAN SÁT PHONG CÁCH - Đặng Xuân Xuyến

Friday, September 11, 2026

YouTube: HƯƠNG TÌNH QUÊ MẸ - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Thảo

 



HƯƠNG TÌNH QUÊ MẸ

 


Tôi xa xứ nghe mùa mưa trở gió

Bỗng thèm nghe tiếng dép mẹ ngoài sân

Tiếng nước đổ từ chiếc lu đầy nắng

Như tuổi thơ còn đọng giữa âm thầm.

 

Có tiếng mẹ gọi chiều bên giếng cũ

Khói rơm bay như giữ một mùa vàng

Con chim nhỏ nghiêng mình qua mái lá

Đậu trong tim nỗi nhớ rất dịu dàng.

 

Có bếp lửa cháy qua mùa đông lạnh

Cha ngồi yên hong khói giữa đêm thâu

Tiếng củ khoai nứt thơm lòng trẻ nhỏ

Sưởi tuổi thơ qua biết mấy canh sầu.

 

Mùi hoa bưởi len vào miền ký ức

Trắng hiên nhà như áo mẹ ngày xưa

Tôi chợt thấy lòng mình như đứa trẻ

Đứng đợi ai bên khóm nắng ban trưa.

 

Tiếng sáo diều vi vu trên đồng cỏ

Bay bồng bềnh qua mấy nhịp sông trôi

Tôi đứng lặng giữa tha hương phố thị

Nghe hồn mình hóa chiếc lá đơn côi.

 

Rồi mai mốt khi tóc đời bạc trắng

Tôi quay về nghe lại tiếng mưa rơi

Nghe tiếng gió chạm hiên chiều rất khẽ

Mới hiểu rằng quê vẫn đợi… người ơi.

 

Stuttgart, 18.05.2026

Nguyễn Hồng Linh

READ MORE - YouTube: HƯƠNG TÌNH QUÊ MẸ - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Thảo

Thursday, September 10, 2026

NHẠC TRỊNH VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT - Nguyễn Hoàn

 

Nguyễn Hoàn bên cạnh tượng Trịnh Công Sơn ở Huế


NHẠC TRỊNH VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT 

 Nguyễn Hoàn

 

Giữa những ngày đại dịch Covid-19 toàn cầu đầy căng thẳng, khốc liệt này, nhân loại nghĩ nhiều đến lằn ranh sinh tử mong manh, đến cái chết u ám bủa vây. Lúc bình thường, phần đông nhân loại dĩ nhiên theo bản năng là ham sống sợ chết, nhưng chắc cũng không nghĩ gì nhiều về cái chết. Riêng với các nhà triết học, nhất là với triết học hiện sinh, cái chết là một vấn đề triết học, một vấn đề nhân sinh hệ trọng. Trước vấn đề cái chết, con người nhận ra giới hạn của cuộc đời, ngộ ra lẽ tử sinh còn mất. Riêng với Trịnh Công Sơn, gần như trong suốt cuộc đời làm nhạc của mình, người nhạc sĩ tài hoa lừng lẫy này luôn ưu tư về cái chết, suy niệm, triết lý không mệt mỏi trước vấn đề cái chết. 


Tượng Trịnh Công Sơn. Đá sa thạch. Sandstone 

By Sculptor Pham The Trung, 2023.

Facebook: Sculptor Pham The Trung


Trong đợt cao điểm chống dịch Covid-19 này, khi mọi người ở nhà, tỉnh nào ở tỉnh đó, huyện nào ở huyện đó, xã nào ở xã đó, thôn nào ở thôn đó, nhà nào ở nhà đó, có thời gian rỗi, nghe nhạc Trịnh cũng là để… chống dịch sẽ được ủi an, sẻ chia đến thấm thía về cảnh huống tự cách ly giờ đây: “Người nằm co như loài thú khi mùa đông về, người nằm yên không kêu than buốt xương da mình” (Phúc âm buồn), “Thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình” (Tình xa), “Bỗng một hôm qua phố hoang tàn, tôi quen như tôi đã có lần” (Gần như niềm tuyệt vọng), “Một hôm bước qua thành phố lạ, thành phố đã đi ngủ trưa” (Đêm thấy ta là thác đổ), “Chiều nay em ra phố về, thấy đời mình là những quán không, bàn im hơi bên ghế ngồi, ngày đi đêm tới đã vắng bóng người” (Nghe những tàn phai). 

 

Vì sao nhạc Trịnh cực nhạy với đề tài cái chết. Điều này vừa có căn nguyên sâu xa, vừa có căn nguyên nhãn tiền. Sâu xa là nhạc sĩ bị ám ảnh từ thuở bé trước cái chết bi thương của thân phụ mình (thân phụ nhạc sĩ mất vì tai nạn giao thông tại Quảng Trị). Nhãn tiền là nhạc sĩ phải chứng kiến cảnh chết chóc tang thương bởi chiến tranh thảm khốc.

 

Với cái nhìn thấu thị của một người đốn ngộ, Trịnh Công Sơn nhìn thấy trong sự sống đương độ sinh nở, sung mãn vẫn tiềm ẩn sự chết: “Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ” (Cỏ xót xa đưa), “Trong xuân thì thấy bóng trăm năm” (Gần như niềm tuyệt vọng).

 

Có cái chết đến đúng theo quy luật, theo hạn định của đời người: “Chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày” (Cát bụi).

 

Có cái chết bất định, bất ngờ giữa cõi đời vô thường. Một vết mực nhỏ nhoi mà xóa một đời người (hồi trước, khi trong nhà có người mất, người nhà đến báo tang với người nắm hộ tịch để người này mở sổ, lấy bút mực dò tên người đã mất rồi xóa đi): “Ôi cát bụi phận này, vết mực nào xóa bỏ không hay” (Cát bụi). 

 

Có cái chết thảm thương tột cùng, chắc chỉ có trong chiến tranh Việt Nam, được nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn diễn tả với nỗi đớn đau, bi phẫn: “Một ngày mùa đông, hai bên là rừng, một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm, người chết hai lần thịt da nát tan”  (Ngụ ngôn của mùa đông). 

 

Giữa những ngày Covid-19 hoành hành trên quả đất này, người đời sẽ thấy thấm thía hơn, bừng thức hơn về cái điều mà nhạc Trịnh đã thấu tỏ cực nhạy: “Một ngày còn sống chiếc bóng lung linh” (Vẫn nhớ cuộc đời)

 

Biết thế. Nhưng không hề tuyệt vọng. Điều đặc biệt là, trong cõi Trịnh, cái chết được coi như chuyện nằm mơ, thí dụ: “Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời” (Bên đời hiu quạnh), “Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi tay chia ly cùng đời sống này” (Rơi lệ ru người). Điều này thể hiện tâm thế chủ động của con người trước vấn đề nghiệt ngã vô cùng là cái chết. Rõ ràng, có suy ngẫm, trầm tư về cái chết, nói theo nghĩa triết học là có “ngộ” về sự chết mới biết sống, mới thực sự sống, sống với chữ Sống viết hoa (“sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không, để gió cuốn đi”), sống có chất lượng Sống, đó là thông điệp bất hủ của nhạc Trịnh.

 

Để chống chọi với tuổi già và cái chết ập đến, con người biết “thu xếp lại” cuộc đời, biết tận hưởng thời gian qua mau, biết sống có chất lượng hơn: “Về thu xếp lại, ngày trong nếp ngày, vội vàng thêm những lúc yêu người” (Chiếc lá thu phai). Và tình yêu, tình người là báu vật truyền đời mạnh hơn cái chết. Nên khi ở giữa vòng sinh tử, giữa “giòn vang tiếng cười”, bỗng nghe tiếng của buổi chia lìa  “điệu kèn ai buốt trong tôi”, nhạc Trịnh vẫn cất lên niềm yêu đời thiết tha, bên bờ vực của đau thương: “Mùi hương phấn người, một hôm nhớ lại, hẹn ngày sau sẽ mua vui” (Chiếc lá thu phai), “Trong gian nan nên cất tiếng cười” (Gần như niềm tuyệt vọng), “Dù còn phút cuối xin em nụ cười” (Vẫn nhớ cuộc đời) “Hãy yêu nhau đi bù đắp cho trăm năm” (Hãy yêu nhau đi). 

 

Và như thế, nghe nhạc Trịnh, quả đúng như cảm nghiệm rất lạ của một nhà văn: Khi nghe bài hát “Một cõi đi về”, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã cảm thấy không sợ chết nữa. Nhạc Trịnh, với sức sống “vượt thời gian”, mãi ru đời, ru người, nhất là trong những lúc nghịch cảnh, bất an, vô thường, ủi an, chia sẻ, gieo niềm tin yêu, hy vọng vào cái Đẹp, vào chữ Tâm, vào Ngày Mai Quê Hương Sáng Chói!

 

 NGUYỄN HOÀN

Đã đăng trên:

https://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan12.php

30-Jul-2021

READ MORE - NHẠC TRỊNH VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT - Nguyễn Hoàn

YouTube: GỌI MÙA THU MƠ - Nhạc: Phạm Anh Dũng _ Giọng Ca: Duy Trác

 








READ MORE - YouTube: GỌI MÙA THU MƠ - Nhạc: Phạm Anh Dũng _ Giọng Ca: Duy Trác

MÀ SAO MỘT MỚ BÙNG NHÙNG - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

 


MÀ SAO MỘT MỚ BÙNG NHÙNG

(viết tặng status của NHQ)

 .

Ta tìm một góc đi hoang

Mà sao chỉ có gió choàng lạnh vai

Ta chờ ai? Ta đợi ai?

Mà sao bước ngắn bước dài hụt hơi.

 .

Tiếng chào đã rải khắp nơi 

Mà sao chỉ vọng mấy lời chát chua

Tính liều cược ván được thua

Mà sao cứ sợ gặp vua xứ khùng.

 .

Lòng ta một mớ bùng nhùng

Khát yêu lại sợ trùng trùng sóng xô.

*.

Hà Nội, sáng ngày 5 tháng 9/2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - MÀ SAO MỘT MỚ BÙNG NHÙNG - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

Wednesday, September 9, 2026

Chân dung văn học: TRIỆU KIM LOAN TỪ BỤC GIẢNG ĐẾN NHỮNG MIỀN THƠ - Hoàng Thị Bích Hà




TRIỆU KIM LOAN 
TỪ BỤC GIẢNG ĐẾN NHỮNG MIỀN THƠ
(Chân dung văn học)

Gặp lại chị tại tư gia của một người bạn văn trong không khí ấm áp của buổi tiệc nhỏ cùng những gương mặt thân quen trong giới cầm bút tại TP.HCM. Ký ức ba năm trước lại trở về trong tôi (2023). Khi ấy, nhân dịp về Vũng Tàu ra mắt tập thơ in chung, ấn tượng đầu tiên chị để lại trong tôi là một gương mặt có đôi mắt đẹp, nụ cười tỏa nắng cùng giọng nói ấm áp. Câu chuyện thân mật hôm ấy vẫn xoay quanh cái duyên chữ nghĩa. Chị trao cho tôi và những người bạn văn nghệ hai tác phẩm mới còn thơm mùi giấy: tập tác phẩm thứ 7 và thứ 8 (trong tổng số 9 tác phẩm đã xuất bản, gồm 8 tập thơ và 1 tập cảm nhận văn học).

Ở chị và tôi có nhiều điểm tương đồng: đều là những tín đồ văn chương, xuất thân từ dân học văn rồi đi vào trang viết bằng đam mê cháy bỏng, và đặc biệt là cùng yêu sắc tím. Qua thế giới nội tâm của chị, tôi nhận ra tình yêu trong thơ Triệu Kim Loan luôn nhẹ nhàng, thanh thoát, mang đậm vẻ nền nã của “dân sư phạm”. Không cần đến những biểu hiện quá trực diện mà vẫn đủ sức gợi nên những rung động sâu xa. Chị đến với thơ như trở về một nơi đã cất giữ những mùa hoa, những bóng người, những tiếng gọi và cả những điều tưởng như đã ngủ yên trong ký ức. Triệu Kim Loan, từ bục giảng sư phạm đến cái duyên nợ chữ nghĩa.

Triệu Kim Loan: tên thật Triệu Thị Kim Loan, tuổi Tân Sửu. Quê gốc Hưng Yên, cha mẹ lên Phú Thọ lập nghiệp, chị sinh ra, lớn lên ở quê hương thứ hai này, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau thời gian giảng dạy tại Phú Thọ, chị theo chồng vào định cư tại TP.HCM. Dù đã nghỉ hưu một thập kỷ, chị vẫn được mời giảng dạy tại một số trường ở quận Tân Phú.
    Không phải ai học văn, dạy văn cũng bén duyên với sáng tác. Ngược lại, cũng không phải cứ là người sáng tác thì nhất thiết phải xuất thân từ nghề dạy văn. Quan trọng là năng khiếu và đam mê, người viết bằng nỗ lực cá nhân sẽ tiếp cận tri thức theo cách của mình. Kiến thức văn học giúp người ta hiểu và thưởng thức tác phẩm, nhưng sáng tác còn đòi hỏi năng khiếu, rung động và một niềm đam mê đủ bền bỉ. Với người viết, chuyên môn có thể tạo nền tảng, nhưng chính trải nghiệm sống và nhu cầu tự biểu đạt mới là thứ làm nên giọng riêng.

Điều khiến tôi chú ý ở Triệu Kim Loan không chỉ là một hành trình sáng tác khá dày mà còn là phía sau những trang thơ ấy có một người phụ nữ đã đi qua nhiều miền đời: một cô giáo dạy Văn, một người vợ, một người mẹ, một người con của quê hương Phú Thọ, một tuổi thơ từng đi qua ký ức chiến tranh, một người xa quê và luôn tìm đường trở về với quê hương qua thơ.
    Con đường đời ấy phần nào lý giải một điều: trong thơ Triệu Kim Loan, ký ức không bao giờ đứng yên. Nó luôn chuyển động giữa quê nhà và nơi ở hiện tại, giữa tuổi trẻ và những năm tháng đã đi qua, giữa những người còn hiện diện và những người chỉ còn có thể gặp trong hoài niệm.


1. Cô giáo dạy Văn bước vào thơ bằng sự nền nã của một tâm hồn yêu chữ

Không phải cứ học Văn, dạy Văn thì sẽ làm thơ. Kiến thức văn học giúp người ta hiểu và thưởng thức tác phẩm, nhưng sáng tác lại cần một thứ khác: năng khiếu, rung động và trên hết là niềm đam mê. Với Triệu Kim Loan, nghề giáo và tình yêu văn chương dường như gặp nhau ở một điểm: tình yêu đối với con chữ.

Có lẽ vì thế mà trong thơ chị, ngay cả những cảm xúc mãnh liệt cũng thường được đặt trong một giọng điệu tiết chế. Chị không có nhu cầu làm cho cảm xúc trở nên ồn ào. Chị thiên về sự gợi mở, về một cái chạm nhẹ vào ký ức để từ đó người đọc tự nghe phần vang vọng còn lại. Điều ấy thể hiện khá rõ trong thơ viết về mái trường:

 “Bảng đen phấn trắng xuân xanh/ Chuyến đò ngang đã bao lần vượt sông”

Hai câu thơ không cầu kỳ. Nhưng “bảng đen”, “phấn trắng”, “chuyến đò ngang” đã gom được cả một đời nghề nghiệp. “Chuyến đò” là hình ảnh quen thuộc của nghề giáo, nhưng trong trường hợp này nó còn là biểu tượng của thời gian: người thầy cứ đưa những chuyến đò qua sông, còn chính mình thì lặng lẽ đứng lại bên bờ năm tháng.

Ở một bài khác, chị viết:

“Buổi học cuối/ Hành lang rộng thế/ Sao bâng khuâng man mác nụ buồn/ Ghế đá, sân trường, chỗ ngồi ai đó/ Tiếng gọi nào/ Lỗi nhịp tim tôi…”

Cái hay ở đây không nằm ở một câu chữ đặc biệt mà ở cảm giác trống vắng được tạo ra bởi những gì rất bình thường: hành lang, ghế đá, sân trường, chỗ ngồi. Khi một đời người đã gắn bó với mái trường, những vật vô tri ấy cũng có thể mang linh hồn của ký ức. Và khi “mai xa rồi”, người giáo viên không chỉ chia tay một năm học. Chị chia tay một phần tuổi trẻ:

          “Mai xa rồi, tháng năm trôi, có hẹn
               Đủ vấn vương, giọt nắng, gọi ta về”

Thơ về nghề giáo của Triệu Kim Loan, vì vậy, không phải là thứ thơ minh họa cho nghề nghiệp. Nó là sự hồi tưởng của một người đã sống sâu trong nghề, để rồi khi thời gian đi qua, nghề nghiệp trở thành một phần của căn cước tinh thần.


2. Màu tím - một tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Triệu Kim Loan

Nếu phải tìm một gam màu có thể dẫn người đọc đi qua thế giới thơ Triệu Kim Loan, tôi nghĩ đó là màu tím.

Phượng tím, hoa xoan, muống biển, thạch thảo, những buổi chiều tím... cứ trở đi trở lại. Nhưng màu tím ở đây không đơn thuần là sở thích về màu sắc. Nó dần trở thành một tín hiệu của cảm xúc: “Tím nhành xoan rắc mỏng lối về”

Một chữ “tím” đặt cạnh “nhành xoan” và “lối về” đã khiến màu sắc không còn chỉ là màu sắc. Nó trở thành màu của con đường trở lại quá khứ.

Ở “Chiều thạch thảo”, chị viết: “Một mình tôi trở lại đây/ Thương vòm thạch thảo tím đầy nỗi em”

Thạch thảo tím và “nỗi em” hòa vào nhau. Hoa không chỉ được nhìn bằng mắt mà được nhìn bằng tâm trạng. Đẹp hơn nữa là hình ảnh muống biển:

        “Em như muống biển đợi chờ
             Để bung tím đến bâng quơ giữa trời”

Muống biển vốn là một loài hoa giản dị, mọc nơi bờ cát, nhưng vào thơ chị lại trở thành một hình ảnh của sự chờ đợi. “Bung tím” không phải là một vẻ đẹp phô trương mà là khoảnh khắc một tâm hồn mở ra giữa khoảng trời rộng lớn.

Có thể nói, màu tím trong thơ Triệu Kim Loan là màu của những gì không còn quá trẻ nhưng cũng chưa bao giờ cũ: nỗi nhớ, sự thủy chung, chờ đợi, hoài niệm và một thứ tình cảm đã đi qua những xao động ban đầu để trở nên sâu hơn.

Bởi thế, “màu tím” có thể xem như một trong những chìa khóa để bước vào thế giới thơ của chị.


3. Quê hương, nơi ký ức luôn có một lối trở về

Sinh ra và lớn lên ở Phú Thọ, Triệu Kim Loan mang theo quê hương vào thơ bằng những hình ảnh rất cụ thể: lá cọ, đồi chè, triền đê, bếp quê, cổng làng, cốm thơm, khói chiều... 

 “Em và trang lưu bút/ Chữ ngập ngừng còn vương/ Áo dài như dáng cọ/ Cong cả miền nhớ thương”

Cây cọ trong thơ chị không chỉ là một hình ảnh của vùng đất. Nó trở thành dáng quê, dáng người, dáng ký ức.

“Muốn gom lại những xa xôi mùa cũ/ Lá cọ mềm còn phong dấu chân quen”

Câu thơ “gom lại những xa xôi” nghe như một nghịch lý. Xa xôi vốn không thể cầm nắm, nhưng ký ức có khả năng biến cái xa xôi thành thứ có thể chạm tới. Chỉ một chiếc lá cọ cũng đủ “phong dấu chân quen”.

Không gian quê trong thơ chị còn có:

“Vòm tre dựng cánh cổng làng/ Lam chiều khói ngát hương lành bếp quê/ Cốm thơm thơm lựng triền đê/ Ngẩn ngơ lối cũ người về hôm nao”

Đó là một quê hương được cảm nhận bằng nhiều giác quan: có màu của lam chiều, có hương bếp, có vị cốm, có con đường và có bóng người.

Quê hương vì vậy không nằm ở những lời ngợi ca lớn lao. Nó nằm trong những gì thân thuộc nhất.

Có lẽ đây cũng là một nét đáng quý trong thơ Triệu Kim Loan: chị không cố làm cho quê hương trở nên “vĩ đại” hơn nó vốn có. Chị để quê hương hiện ra trong dáng cọ, triền đê, bếp khói, mùa hoa. Chính sự bình dị ấy tạo nên sức gợi.


4. Từ ký ức chiến tranh đến bóng mẹ, bóng cha

Trong thế giới thơ Triệu Kim Loan, quê hương không chỉ có vẻ đẹp của những mùa hoa. Phía sau miền ký ức ấy còn có một tuổi thơ từng đi qua chiến tranh.

“Chị em tôi mót ngọn cải ngồng/ Ký ức hãi hùng tiếng còi báo động/ Cầu sập nhà bay, ruộng vườn khét cháy/ Tiếng gọi nào hoảng loạn đêm sâu”

Những câu thơ này khác hẳn sắc tím dịu dàng thường gặp. Ký ức chiến tranh hiện lên qua những hình ảnh trực diện, gắn với đời sống của một đứa trẻ. Không cần những lời bình luận dài, “tiếng còi báo động”, “cầu sập”, “nhà bay”, “ruộng vườn khét cháy” đã đủ mở ra một miền ký ức đau đớn.
    Từ chiến tranh, thơ chị trở về với mẹ.

“Lớn lên từ gánh hàng rong/ Mẹ tảo tần ngày mưa tháng hạn”

Hai câu thơ giản dị đến mức gần như lời kể. Nhưng chính sự giản dị ấy khiến hình ảnh người mẹ trở nên gần gũi.

Ở một nơi khác: “Lời ru khoan nhặt sớm chiều/ Mẹ là cánh gió nâng diều con bay”

Mẹ được ví như “cánh gió”. Một hình ảnh đẹp bởi gió không nhìn thấy nhưng có thể nâng cánh diều. Mẹ trong ký ức của người con cũng vậy: âm thầm, không phô bày, nhưng là sức nâng của cả một đời. Và khi mẹ đã đi xa: “Mười mấy năm khuất bến đời/ Nghe trong gió lạnh chơi vơi mẹ về”

Người mẹ trở về không phải bằng bước chân mà bằng gió, bằng ký ức, bằng sự tưởng tượng của một người con đã mất đi nơi nương tựa.

Với cha, giọng thơ lại có một nỗi đau khác:

“Cha ơi đau khoảnh khắc này/ Phút giây đất lở mây bay chật trời/ Cha đi không kịp dặn lời/ Bão vây gió cuốn rụng rời nỗi con”

Nỗi đau ở đây được đẩy lên bằng những động từ và hình ảnh mạnh: đất lở, mây bay, bão vây, gió cuốn. Nhưng tận cùng vẫn là chữ “con”. Có lẽ đó là điểm khiến những câu thơ về cha mẹ của Triệu Kim Loan có sức lay động: chị không viết về cha mẹ như một đề tài, mà viết từ vị trí của một người con.


5. Mùa thu và những khoảng trời của hoài niệm

Một điều đáng chú ý nữa là mùa thu xuất hiện khá nhiều trong thơ Triệu Kim Loan. Với một người từng đứng trên bục giảng, mùa thu còn là mùa tựu trường, mùa bắt đầu những năm học mới. Nhưng trong thơ chị, thu không chỉ có tiếng trống trường.

“Thu Hà Nội thân thương/ Heo may cười bẽn lẽn/ Sấu hườm như khuy áo/ Liễu rủ ngang mắt buồn”

Thu được nhân hóa, được nhìn qua những chi tiết rất Hà Nội: heo may, quả sấu, hàng liễu. Đặc biệt, “sấu hườm như khuy áo” là một liên tưởng thú vị. Một vật nhỏ bé của mùa thu được đưa vào mối quan hệ với trang phục, khiến cảnh vật trở nên có dáng người.

Ở “Nét thu Hà Nội”: “Thu khẽ chạm níu hờ vai áo/ Phố trầm tư khắc dấu Đô thành”

Mùa thu không còn chỉ là một mùa trong năm. Nó là một cái chạm. “Khẽ chạm” rồi “níu hờ” là những động tác rất nhẹ, nhưng lại có khả năng đánh thức ký ức.

Có lẽ thơ Triệu Kim Loan thường đẹp nhất ở những khoảnh khắc như vậy: khi cảnh vật chỉ cần chạm rất khẽ vào tâm hồn là cả một miền nhớ đã thức dậy.


6. Tình yêu- khi cảm xúc được giữ lại ở phần tinh tế nhất

Nếu quê hương là miền trở về thì tình yêu là miền riêng tư nhất trong thơ Triệu Kim Loan.

 “Giật mình trôi giấc mơ hoa/ Em phơi giọt nhớ vỡ òa nỗi anh/ Đếm bao nhiêu lá trên cành/ Bấy nhiêu hạt nắng trổ nhành tương tư”

“Tương tư” ở đây được diễn tả bằng lá và nắng. Nỗi nhớ không có hình hài nhưng được đếm bằng những gì hữu hình.

Đến “Nhớ anh”, thơ chuyển sang một không gian cô đơn hơn:

“Em nhớ anh trong mỗi sát na/ Những yêu thương lở bồi nụ nhớ/ Căn phòng chật chỗ nào cũng rộng/ Vắng anh rồi/ Con chữ mồ côi…”

“Căn phòng chật chỗ nào cũng rộng” là một nghịch lý giàu sức gợi. Khi có người thương, một căn phòng nhỏ có thể đủ đầy. Khi người ấy vắng mặt, căn phòng bỗng rộng ra bởi khoảng trống.

Và “con chữ mồ côi” là một hình ảnh đẹp. Với một người làm thơ, sự vắng mặt của người thương không chỉ làm căn phòng trống mà còn khiến chính con chữ mất nơi nương tựa.

Trong “Dấu yêu mùa”, nỗi cô đơn ấy tiếp tục:

“Em đối diện - một mình em -độc thoại/ Mở ngăn anh-ký ức bỗng thêu thùa/ Căn phòng rộng chỗ nào cũng gió/ Chỉ riêng em – nỗi nhớ vẫn còn chưa...”

Những khoảng trống trong câu thơ cũng như những khoảng trống trong lòng người. Ở đây, tình yêu không cần đến những biểu hiện quá mạnh. Chỉ một căn phòng, một ngăn ký ức, một chút gió và một người ngồi lại với nỗi nhớ cũng đủ tạo thành một thế giới tình cảm. Đó có lẽ là nét nữ tính khá riêng trong thơ Triệu Kim Loan: cảm xúc được giữ ở ngưỡng vừa đủ để người đọc nhận ra độ sâu mà không bị buộc phải chứng kiến sự phô bày của nó.


7. Một giọng thơ đi từ “mùa” đến “người”

Đọc một số bài thơ của Triệu Kim Loan, có thể nhận thấy một hệ thống hình ảnh lặp lại khá rõ: mùa, hoa, lá, gió, nắng, cọ, dòng sông, mái trường, căn phòng, mẹ, cha, người thương...Nhưng sự lặp lại ấy không nhất thiết là sự trùng lặp. Nó giống như những mô-típ trở đi trở lại trong đời sống tinh thần của một người. Người làm thơ càng sống lâu với ký ức, càng có những hình ảnh riêng luôn tìm đường trở lại trang viết.

“Mùa trôi trôi xoe tròn bóng cọ”. “Tím nhành xoan rắc mỏng lối về”. “Tin yêu nhé nhụy đời ươm mật/ Em hẹn lòng xanh mãi- dốc mùa xanh”

Những chữ “mùa”, “xanh”, “tím”, “nắng”, “gió” tạo nên một bảng màu riêng. Trong bảng màu ấy, thời gian không chỉ trôi mà còn lưu dấu. Mùa trong thơ chị vì thế không chỉ là thời gian của thiên nhiên mà còn là đơn vị đo của ký ức.
    Đáng chú ý, Triệu Kim Loan viết nhiều thể thơ: lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ và thơ tự do. Lục bát của chị có độ mềm và thuận miệng:

“Tôi vừa va phải góc buồn/ Cả đêm đợi nắng mà thương nỗi mình”

Nhưng khi chuyển sang thơ tự do, câu chữ lại có khả năng kéo dài theo mạch tâm trạng. Điều đó cho thấy chị không bị đóng khung vào một hình thức biểu đạt duy nhất. Thể thơ được lựa chọn tùy theo cảm xúc và câu chuyện muốn kể.


8. Một người đi qua nhiều mùa nhưng vẫn giữ được màu xanh

Điều tôi thích ở Triệu Kim Loan không chỉ nằm ở những câu thơ viết về hoa tím hay những miền quê đã xa. Đó còn là thái độ của người viết đối với thời gian.

Tuổi trẻ trong thơ chị đã đi qua. Người thân có người đã khuất. Những chuyến đò nghề giáo đã đưa không biết bao thế hệ học trò sang sông. Những mùa thu, mùa hè, mùa thi, những buổi chia tay cứ nối tiếp nhau. Thế nhưng trong sâu thẳm, chị vẫn muốn giữ lại một điều gì đó xanh tươi:

“Tin yêu nhé nhụy đời ươm mật/ Em hẹn lòng xanh mãi -dốc mùa xanh”

Có thể xem đây như một tuyên ngôn nhỏ của tâm hồn thơ Triệu Kim Loan. Đi qua thời gian không có nghĩa là phải sống với màu úa tàn của ký ức. Ký ức có thể buồn, nhưng từ ký ức vẫn có thể nảy lên một màu xanh của tin yêu. Và có lẽ vì thế mà màu tím trong thơ chị không phải màu của sự khép lại. Tím là màu của hoài niệm nhưng vẫn có ánh sáng. Là màu của chiều tà nhưng không phải tận cùng của ngày. Là màu của những điều đã xa nhưng vẫn còn đủ sức làm rung động người đang sống.


Bích Hà và Kim Loan

Triệu Kim Loan bước vào văn chương từ nghề giáo, nhưng chị không dừng lại ở vị trí một người dạy Văn biết làm thơ. Chị đã dần tạo cho mình một miền thơ riêng, nơi có bóng cọ Phú Thọ, có những mùa thu Hà Nội, có hoa xoan, phượng tím, thạch thảo, muống biển: có bảng đen, phấn trắng, sân trường; có mẹ, cha, có chiến tranh và những năm tháng tuổi thơ; có tình yêu và những căn phòng đầy gió khi người thương vắng mặt. Từ những điều riêng tư ấy, thơ chị chạm vào những điều có tính phổ quát: ai cũng từng có một quê hương để nhớ, một người để thương, một mái trường để ngoái nhìn, một người thân để gọi trong giấc mơ và một mùa cũ không biết bao giờ mới thực sự đi qua.

Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của việc làm thơ: biến cái riêng thành cái chung, biến một kỷ niệm của một người thành nỗi nhớ của nhiều người. Và nếu cần tìm một hình ảnh để khép lại chân dung Triệu Kim Loan, tôi vẫn muốn trở về với màu tím. Bởi trong thơ chị, màu tím không chỉ nằm trên cánh hoa. Nó nằm trên những lối về, trong buổi chiều, bên bờ ký ức, trên một chiếc áo dài của tuổi học trò, trong những nỗi nhớ không gọi thành tên. Một màu tím đã đi qua nhiều mùa mà chưa hề cũ. Một màu tím của người đã sống, đã yêu, đã nhớ, đã mất mát và vẫn tin vào những điều xanh tươi phía trước.

Đó có lẽ là màu tím của ký ức - và cũng là màu tím của một tâm hồn thơ.

Sài Gòn, ngày 19/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 



 

READ MORE - Chân dung văn học: TRIỆU KIM LOAN TỪ BỤC GIẢNG ĐẾN NHỮNG MIỀN THƠ - Hoàng Thị Bích Hà