Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 13, 2023

NƠI VẠN AN TỰ - Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện



Ba vị đại hiệp là giáo chủ Trương Vô Kỵ, tả sứ Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu nhắm ngay Vạn An Tự xuất phát, ngôi chùa này ở trước một khu rừng nhỏ, gồm có một dẫy nhà cao bốn tầng, phía sau có một bảo tháp cao 13 tầng, so với diện tích chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam thì cũng không nhỏ hơn, và cũng là một thắng tích nổi tiếng cuả đại đô thời đó, vì quá rộng nên ba người cứ men theo gốc cây đại thụ mà tiến vào, không gặp một trở ngại nào cả, cứ thấy quân tuần tiễu đi tới thì nhẩy lên nóc nhà để tránh. Thấy mọi căn phòng trong trang viện đều không có đèn, duy nhất ở tầng thứ sáu trên bảo tháp sáng mà thôi. Ba vị dùng khinh công nhẩy đến nơi, giáo chủ Trương Vô Kỵ thì nằm ngửa dưới đất hé cửa nhìn vào trong. Khe cửa quá hẹp phải lấy tay nhích ra thêm chút nữa mới nhìn rõ vào trong được, chỉ thấy trên cái đôn gốm hạng quí có thò ra hai chân một thiếu nữ, đều mang hài xanh, trên mũi hài đều đính một viên dạ minh châu chiếu sáng, còn phiá trên thì không thấy, sau lưng thì hình như có hai bóng người đứng hầu bảo vệ, phía trước thì có một cái ghế gỗ, kẻ ngồi trên đó là chưởng môn phái Côn Luân Hà Thái Xung. Chỉ nghe tiếng nói cuả  cô nương giọng trong trẻo nhưng đầy uy lực:
- Bổn cô nương là người Bắc địch, giòng dõi tổ tiên  là Thành Cát Tư Hãn xứ Mông Cổ, kiến thức văn hoá không có, nhân tiện đây xin được tiên sinh giảng giải cho biết chút đỉnh về những phái võ trong Võ Lâm Trung Nguyên. Hay thôi để đỡ làm phiền tiên sinh, xin tiên sinh chỉ nói về phái Côn Luân Tây Vực của mình cũng tạm đủ.
Chưởng môn phái Côn Luân là Hà Thái Xung vẫn ngồi trên ghế lên tiếng nói đều đều:
- Thưa quận chuá nương nương, vào cuối thời nhà Tống đầu đời nhà Nguyên thì có ba phái Võ ra đời cùng một lượt, là phái Võ Đang của Trương Chân Nhân trụ ở dẫy Núi Tam Phong, quận Tương Dương tỉnh Hồ Bắc. Một phái ở núi Nga My tỉnh Tứ Xuyên do tổ sư Quách Tương thứ nữ cuả hai đại nữ hiệp Quách Tĩnh Hoàng Dung thành lập. Phái thứ ba tại Tây Vực trong dẫy Côn Luân này, Tổ sư là Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo sáng lập ra. Vị này có hai người con trai, người con cả tên là Hà Túc Tắc, người con thứ là Hà Túc Đức. Vì hiếu kỳ bởi lời nói cuả Quách Tương nữ hiệp nên Hà tiên sinh cho phép người con cả qua bên Việt Nam học nghệ. Lúc bấy giờ thì ở xứ Việt Nam có hai nhân tài, nhưng vì xứ này có tới 7.000 năm văn hiến, mà Trung Quốc chỉ có 4.000  năm mà thôi!  Nên chuyện thiên tài hay vô tài hoặc có tài cũng không có ai quan tâm hâm mộ, vị trưởng tử Hà Túc Tắc qua tới nơi thì mới đầu học nghệ với một vị nữ lưu, vị này được mệnh danh là “Nhị Tuyệt” có tài vừa đánh răng vừa thổi sáo, có nghiã là hai hàm răng cuả vị Tuyệt này bị gẫy cả, mà phải làm hai hàm răng giả. Buổi tối trước khi đi ngủ thì tháo hai hàm răng giả này ra ngậm vào trong cốc nước, sáng dậy thì mang hai hàm răng giả ra lấy chân đè lên, dùng bàn chải đánh răng chà thuốc vào rồi chà lên hai hàm răng, còn miệng ở không thì huýt sáo bản nhạc “Giòng sông Xanh” hay “Cầu sông Quai”. Sau một thời gian theo học, nhưng thấy có một trở ngại là sau khi thành tài, lại phải tới nhà trồng răng thuê thợ nhổ hết cả hai hàm răng, sau này chỉ ăn cháo thì phiền phức và tốm kém quá, nên đành thôi.  Sau này thì gặp được vị Tam Tuyệt, vị này cũng là một nhân tài thời đó, theo một vị đại quan qua Pháp du học về ngành thổi kèn “Bú Dích”. Qua một thời gian sáu năm thì vị này tốt nghiệp thành tài, về nước vừa là nhạc trưởng nhạc cung đình, ban đêm lại là nhạc trưởng “nhạc phòng trà”. Vị này có một người anh cũng là thiên tài, có danh là Huỳnh Hoa. Huỳnh Hoa có khả năng thổi một lúc hai kèn, hoặc có thể thổi vừa kèn vưà sáo, miệng thổi kèn mũi thổi sáo [harmonica], vừa thổi hai thứ, miệng còn ăn chuối hoặc uống nước trà. Sau một thơì gian thì Hà Túc Tắc thành công, về lại Tây Vực nhưng chỉ muốn hành nghề âm nhạc nghệ thuật mà thôi, nên ngành võ chưởng môn đựợc chuyển qua cho người em ruột là Hà Túc Đức [vị này là nội tổ cuả tại hạ]. Sau đó vị này truyền cho thân phụ cuả tại hạ là Hà Thái Tố, ông nội và phụ thân tại hạ bình bình không có gì xuất sắc cho lắm, nhưng đến khi truyền cho tại hạ thì danh tiếng phái Côn Luân lên như diều.
- Gặp cơ may à ?
- Không phải vậy, chả là tên của tại hạ là Hà Thái Xung, lúc thanh niên thì Xung lắm, cổ nhân Chung Hoa có nói “Nhất nhật bất cấu tinh keo như kẹo”, nên phải cưới một lúc năm cô vợ mới đã, tuy nhiên tối ngày cứ cấu với bẹo, không bao lâu thành liệt, sau nhờ uống thuốc “Tam Tinh hải cẩu bổ thận hoàn” của nhà thuốc Võ Văn Vân sản xuất ở Sài gòn, nên mọi việc rất là thuận chiều mát mái, từ đó thiên hạ gọi tại hạ là Côn Luân Tam Tinh.
- Xin có lời chúc lành cho chưởng môn! Một lúc mà là Tam Tinh chắc là Bắc Đẩu, Nam Tào và Quả Tạ ?
- Dạ không dám, Tam Tinh đây là “Tam Tinh hải cẩu”.
- Vậy họ Hà [trong Ngũ Độc Giáo] ở Vân Nam phò trợ cho Lương Vương thứ hoàng tử cuả vua Thuận Đế nhà đại Nguyên thì quan hệ họ hàng thế nào? Ra sao?
- Thực ra thì họ hàng như thế nào tại hạ không được rõ, và cũng không có ai truyền lại một điều gì? Chỉ biết được một điều là các vị Hà Thủ Ô, Hà Thiết Túc sau này đến Hà Thiết Thủ vị nào đảm nhiệm làm giáo chủ Ngũ Độc Giáo Vũ Lăng, tỉnh Vân Nam thì đều tự chặt cụt cánh tay trái cuả mình giống y như Thần Điêu đại hiệp Dương Quá vậy?
Quận chuá nương nương nói nhỏ gì vớí một vị đứng đằng sau mình:
- Hãy mang tất cả các vị nam nữ hiệp trong phái Côn Luân thả tự do cho họ.
 
*
Quận chúa nói với vi đại hiệp mặc áo vàng đứng bên:
-Cho mời Chưởng môn nhân Đường Văn Lượng phái Không Động.
Một vị lão đại hiệp được đưa vào và được mời an toạ, thì quận chuá nương nương nói:
- Xin đại hiệp cứ tự nhiên giới thiệu về Bang Phái cuả mình? có sao nói vậy? Không cần thêm và cũng không cần bớt ?
- Dạ thưa quận chuá nương nương, môn hộ là Không Động, có hai thời kỳ hiểu hơi khác nhau, trước đây khoảng năm mươi năm thì phái Không Động được Võ Lâm Trung Nguyên hiểu làm vầy, chả là trong dẫy núi Tung Sơn tỉnh Hà Nam có sáu ngọn núi, thì đại phái Thiếu Lâm tọa một ngọn gọi là ngọn Thiếu Thất, năm ngọn còn lại goị là Ngũ  Nhạc, chia ra làm năm phái, Trung Nhạc là cuả phái Tung Sơn ở vào quãng giữa, Đông Nhạc, Tây Nhạ , Nam Nhạc và Bắc Nhạc thì các phái như Hoa Sơn, Hằng Sơn, Hành Sơn, Thái Sơn chia nhau thống lĩnh. Điều đặc biệt là trên năm quả nuí Ngũ Nhạc này đều có hang động như Tư Quá Nhai... nên các phái có nhà ở và có hang động để núp gió, núp mưa. Riêng phái Không Động đến sau, không có mỏm núi nào để mà thống trị nưã, nên bất đắc dĩ làm nhà trên đất bằng phẳng mà ở mà sinh hoạt võ thuật, sau này thì lại mang ý nghiã như sau, chả là cái bộ tinh yếu võ học cuả bổn môn là “Thất Thương Quyền” thì tất cả có năm phần, nhưng bình thường các môn đệ chỉ được phép học tơí phần thứ ba mà thôi. Còn phần thứ tư thì không chép mà chỉ cho khắc văn tự vào trong cán con dao chuỷ thủ, mà chỉ có chưởng môn mới có quyền cất giữ bảo quản, mà cũng chỉ có chưởng môn nhân cho phép ai học phần thứ tư này thì ngươì đó mới được học. Học xong phần này thì qua phần thứ năm có sẵn với ba phần trước, sau này không biết vì lý do gì  thanh dao chuỷ thủ mất tích, mà phần khẩu quyết thứ tư cũng mất theo luôn, thành ra chỉ tập đến phần thứ ba thì thôi, mà tập tiếp phần thứ năm [không có phần thứ tư] thì bị nội thương tẩu hoả nhập ma, thành ra ai cũng bị nội thương cả.
- Tất cả từ trên xuống dưới bản phái đều bị nội thương? Vậy các vị trong phái Không Động đến Đỉnh Quang Minh cuả Minh giáo để làm gì?
- Chả dấu gì quận chuá nương nương, đại sư Không Văn phương trượng chuà Thiếu Lâm thấy Ngũ Đại Môn Phái ít quá, nên đề nghị thêm phái Không Động vào nưã nói là Lục đại môn phái cho nó oai.
- Từ trên xuống dươí toàn phái đã không có ai cục cưạ gì được thì đến đỉnh Quang Minh bằng cách nào?
- Dạ khải bẩm quận chuá là mọi ngườì phái Không Động đều đựợc phái Thiếu Lâm cho lên võng lên cáng cắt cử đệ tử khiêng đi.
- Vậy tổng quản cho tha hết tất cả các đại hiệp nữ hiệp trong phái võ Không Động trở về nguyên quán. Cho mời Diệt Tuyệt sư thái phái Nga My lên có đôi lời thăm hỏi.
 
*
Hai người mặc áo vàng vào thưa lại vơí quận chuá nương nương là : “vị Diệt Tuyệt sư thái này đã tuyệt thực năm ngày hôm nay rồi, sức khỏe yếu ớt lắm?” Vậy cho mời học trò cưng cuả sư thái tên là Chu Chỉ Nhược lên gặp cũng được, quận chuá noí:
- Cô nương thay mặt sư phụ biểu diễn võ công bổn môn cuả phái Nga My cho bổn cô nương nhàn lãm, chỉ cần muá một lần rồi về chỗ cũ qui an.
Chu Chỉ Nhược khuôn mặt bình thản nói:
- Dù sao đi nưã thì phái võ Nga My không được liệt vào hạng Thái Sơn Bắc Đẩu cuả Võ Lâm Trung Nguyên, tuy nhiên cũng không thuộc vào loại đồ bỏ, đâu có thể mang ra muá may cho bọn Hồ Lỗ dã man  bọn Ma nữ ngoại tộc nhòm ngó cho được ?
- Nói không dở , đáng lẽ thì ta chặt một ngón tay cuả cô nương, nhưng cô nương đã có gan nói như vậy thì ta lấy kiếm khứa mấy đường trên mặt, trên má cô nương trông giống như Tây Marốc xem thế nào? Nói xong là làm liền, chỉ thấy hàn quang lấp lánh lóe lên, giáo chủ Trương Vộ Kỵ hoảng quá vội móc trong túi quần ra chiếc hộp Vàng quăng ngay vào , chiếc hộp vàng bị thanh kiếm Ỷ Thiên chặt ra làm đôi, văng vào trong góc phòng, và ba người cùng nhẩy vào một lượt: Trương vô Kỵ, Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu. Mọi người trong sảnh bảo vệ quận chuá cũng sững sờ chả ai nói lời nào. Quận chuá nói:
- Cái hộp vàng có gì để cho giáo chủ Minh Giáo ghét đến như thế?
Trương vô Kỵ vội vàng đáp :
- Quận chuá nương nương nghĩ sai rồi, nếu cái hộp vàng là một vật đáng ghét thì tại sao lúc nào tại hạ đi đâu cũng mang nó theo kè kè bên mình?
Nói rồi lại góc phòng lượm chiếc hộp mang lên quận chúa la lớn: “Đưa ngay cho ta ?”
Giáo chủ bèn hai tay đưa chiếc hộp vàng cho quận chúa, quận chúa cầm lên nhìn thoáng qua mặt rất lấy làm thất vọng hất hàm hỏi:
- Chỉ có bấy nhiêu thôi sao ? Hôm trước bổn cô nương có sai Tiền Nhị Bài trong “ Thần Tiễn Bát Hùng” gửi cho giáo chủ một bức thư, giáo chủ có nhận được bức thư này không?
Trương Vô Kỵ thuận miệng đọc luôn:
- Thân khải Trương giáo chủ: “Hộp vàng hai tầng, linh cao “Hắc Ngọc đọan tục cao” cất bên trong từ lâu. Bông hoa ngọc trong chiếc trâm cài rỗng ruột, đựng bài thuốc  giải “Thất Trùng Thất Hoa Độc” ở đó. Hai thứ ấy đã tặng chàng lâu rồi, sao còn phải vất vả tìm kiếm? Hay là thấy vật mọn mà rẻ rúng, đem tặng lại con hầu? Chẳng hoá ra phụ tấm chân tình cuả tiện thiếp lắm ru?”
Quận chuá thẫn thờ hỏi:
- Vậy còn chiếc Trâm cài đầu đâu? Mà chỉ có chiếc hộp Vàng này không thôi?
Qua vài giây suy nghĩ ngắn ngủi giáo chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ trân trọng trả lời:
- Khải bẩm quận chuá kể ra thì cũng hơi dài dòng, chả là xíng xáng Kim Dung [tức Trà Lương Dung tức Louis Cấm Dùng] là một trong 10 vị tài chủ giầu có nứt đó đổ vách nhất Hương Cảng, tiên sinh có nhà in riêng kiêm luôn nhà xuất bản và phát hành sách báo, lại làm chủ một lúc nào là Hồng Kông Minh Báo  [nhật báo] rồi Tuần báo rồi Nguyệt báo, lại kiêm nhiệm luôn cả hãng phim Minh Thị, công việc đa đoan bề bộn như vậy nên cái chuyện  Kiếm Hiệp Kỳ Tình “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” tiên sinh chỉ có thì giờ viết phác hoạ dàn bài, phần còn lại toàn là thuê thợ công nhân nhà văn viết thế vào. Kẻ viết ít thì mươi trang, kẻ nhiều thì vài chục vài trăm trang, viết feiulleton cho báo ngày, Viết xong là hết, có ai ngờ đâu lại ăn khách, lại quay thành phim cinema, rồi lại in ấn thành tác phẩm dầy cộm đồ sộ, bộ nào bộ nấy cũng tròm trèm từ sáu đến tám đến mười tập, thành ra lại mướn người biên tập lại, viết lại, trong đó có đại văn hào Cổ Long, nhân vật cũng thay mà tình tiết cũng thay, tên bộ sách cũng thay luôn, ai đọc bộ cũ rồi thì lại phải mua bộ mới đọc lại, còn không thì chả hiểu ất giáp gì cả, Còn tám bộ phim vừa Cô Gái Đồ Long vừa Ỷ Thiên Đồ Long Ký thì bộ nào cũng khác bộ nào. Bộ năm 2006 do nam tài tử Ngô Khải Huê thủ vai Trương vô Kỵ và Tuyết Mễ thủ vai Tiểu Chiêu thì toàn là những người già trên bốn mươi tuổi thủ vai chính, mà bộ năm 2010 thì lại toàn là trẻ con dưới 14 tuổi đóng. Tuy nhiên bộ mới này nhân vật Ân Ly đóng rất tuyệt, cảnh trí rất là tuyệt vời, kẻ viết thuê nhiều quá không biết ai vào với ai? Kẻ sau viết không theo dõi người viết trước đã viết cái gì? Viết tưới hạt sen vào thì cái chuyện “Hộp bằng Vàng” thì ngăn dưới đựng Hắc Ngọc Đoạn Tục Cao, ngăn trên đựng cây trâm với hai hột ngọc trai, Cao dùng chữa trị cho tam sư bá Dư Đại Nham và lục sư thúc Ân Lê Đình hết rồi. Còn cái trâm hột ngọc, chả lẽ tại hạ dùng để đâm vào cổ cho chết, chả lẽ cái trâm biến đi đâu ? Đây chẳng qua là viết nhăng viết cuội, viết trước quên sau? Những điều tâm can mà tại hạ đã trình bày vơí quận chuá, còn tin hay không hoàn toàn do nơi quận chuá? 
 
chuvươngmiện

READ MORE - NƠI VẠN AN TỰ - Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện

Friday, August 11, 2023

KHÔNG BÀY TỎ - Thơ Trần Mai Ngân


  
  
 
KHÔNG BÀY TỎ
 
Tôi đến đây tìm trên ô cửa cũ
Dấu vân tay mình đã bấu thật sâu
Phút phù hoa thần thánh như tình đầu
Chân khuỵu giữa mênh mông trời vô vọng
 
Tôi trở về lạ xa từ giấc mộng
Cây Sầu Đông cũng lặng lẽ buồn theo
Tuổi úa vàng dấu heo may trên mắt
Có dõi theo cũng mù loá phương trời
 
Bốn mùa đi rồi đến vẫn im hơi
Cuồng quay bởi những lời không bày tỏ!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - KHÔNG BÀY TỎ - Thơ Trần Mai Ngân

VỚI BÔNG HOA THẤT SỦNG – Thơ Tịnh Bình


 


VỚI BÔNG HOA THẤT SỦNG
 
Đôi khi thèm làm cánh gió vô hình
Dan díu với muôn phương
Khu vườn buổi sớm giả đò đánh rơi làn hương của một bông hoa vờ giấu mặt
Gió chưa kịp mang đi
Tiếng chim đầu ngày chiu chít trên hàng rào thép gai
Sương vùi vào chăn lá
Khép giấc nồng say
 
Đôi khi khát khao màu diệp lục
Lục lọi trong tầng tầng lá thu
Chạm ẩm ướt và rong rêu
Tiếng côn trùng cợt nhả
Đành bày biện mùa xuân trong căn phòng hoang tưởng
 
Đôi khi thèm cảm giác trở lại ngôi nhà nhỏ ngày xưa
Tận hưởng những buổi sáng cũ kỹ
Sóng sánh ly cà phê đong đưa theo bản nhạc hoài niệm
Miên man màu hoa cúc vàng
 
Đôi khi muốn kéo dài mãi cơn mưa trầm cảm
Ta có cớ để trầm ngâm
Và ai đó không thèm lau khô dòng nước mắt
Những nỗi buồn không cần giãn cách
Trong lặng im tột cùng
Sự cô đơn thần thánh
 
Đôi khi những buổi mai không thèm ngủ nướng
Tôi mang giấc mơ ra khu vườn
Bầy gió sớm vụng về làm rơi làn hương tung tóe
Mặc lũ ong bướm vô tình
Tôi khẽ hôn lên một đóa hoa nguyên trinh
Dẫu bị thất sủng trong khu vườn muôn sắc
Lặng lẽ điềm nhiên nở và tàn...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - VỚI BÔNG HOA THẤT SỦNG – Thơ Tịnh Bình

GIÓ BIỂN – Thơ Lê Phước Sinh


 
                Nhà thơ Lê Phước Sinh

 
GIÓ BIỂN 
 
Mặn
Rát
những tinh thể Muối
cứa vào da thịt
ướp thấm 
nỗi buồn.
Vòng rau muống biển tựa con rắn trườn dài,
bầy còng bò ngang bãi cát
đẫm.
Rạn san hô tầm xa
với tay bơi sải.
Thời gian lặng lẽ trôi,
những móc ngoặc lưỡi câu giăng thả
Ngư dân
vướng vào ghềnh đá
lạnh lùng.
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - GIÓ BIỂN – Thơ Lê Phước Sinh

ĐỌC TẬP “THƠ ZULU DC”, PHẦN I - Châu Thạch



Nhà thơ ZuLu DC tên thật Cao Duyến, sinh quán Trà Liên, Triệu Phong, Quảng Trị, tốt nghiệp Hàng Hải Thương Thuyền, Đại học bách Khoa Phú Thọ - Sài Gòn, hiện trú tại California, Hoa Kỳ. 
  
Thật tình, tôi không hiểu vì sao nhà thơ dùng bút hiệu là ZuLu DC. DC có thể Là Cao Duyến tên ông, còn ZuLu nghĩa là gì? Tra cứu trên goole tôi thấy ZuLu là một dân tộc ở Nam Phi. ZuLu theo ngôn ngữ bản xứ có nghĩa là một Thiên Đường. Người ZuLu xem quê hương mình như một Thiên Đường trên trái đất, họ xem trọng trinh tiết cả nam và nữ. Như vậy có thể phỏng đoán Cao Duyến lấy bút hiệu của mình là ZuLu DC để bày tỏ một hoài bảo về những điều tốt đẹp xảy ra trên trái đất nầy, cũng như bày tỏ cả tấm lòng trinh nguyên của ông luôn trung thành với lý tưởng đó.
  
Theo nhà thơ Nguyễn Đại Hoàng thì “ZuLu – trong tiếng Anh có nghĩa là Sky – Bầu trời”. Vậy từ đó cung có thể phỏng đoán Cao Duyên lấy bút hiệu ZuLu DC để bày tỏ một tâm hồn phóng khoáng, tự do, bày tỏ một tình yêu bao la rộng lớn cho tha nhân và cho đất nước quê hương.    
Khi tôi còn ở trong quân đội, lệnh truyền qua máy truyền tin cho những lần khởi hành là ZuLu (đi, di chuyển). Nhà thơ ZuLu DC từng ở trong quân đội, cũng có thể chữ ZuLu ám ảnh, khiến ông đem nó vào đời mình, một cuộc đời luôn đi xa xứ!
   
Zulu DC và Châu Thạch 

Rồi một hôm được nghe bài hát “Bên Đời Có Nhau” phổ nhạc từ thơ ZuLu DC, tôi tìm đọc bài thơ ấy và tôi khẳng định được suy nghĩ của mình về bút hiệu của Cao Duyến có thể đúng. Bài thơ viêt về “Sau CoVid tình người thắm lại/Dân tộc bừng lên từ hồn quê” như một bài hịch. Bài hịch “Bên Đời Có Nhau” với lời thơ êm đềm nhưng sâu sắc, chặt chẽ, sắc bén, khích lệ tình cảm, tinh thần con người đã bệ rạc, bi thiết trong cơn đại dịch. Bài thơ khiến tôi liên nghĩ đến tiếng kèn khi Chúa tái lâm trong Kinh Thánh. Sau tiếng kèn đó, nhân loại có 1000 năm hạnh phúc, loài người với loài người, loài người với loài vật, loài vật với loài vật sống hoà bình, thân ái bên nhau.
  
Bài thơ “Bên Đời Có Nhau” như một khải tượng, một mơ ước, một tiên tri, một lời khuyên cho “tình người thắm lại/ Dân tộc bừng lên từ hồn quê!”. “Bên Đời Có Nhau” kỳ vọng “Chữ nghĩa giờ đây thay áo mới” như là sự đổi mới nền văn hoá trì trệ, kỳ vọng “Mặt giả lâu nay hiện mặt người” như là con người từ bỏ tội lỗi, quay về chân thiện mỹ. Đây là một bài thơ chan chứa, thể hiện niềm ước mơ tươi đẹp của chính mình cho bạn bè, cho anh em và cho cả dân tộc. Bài thơ như tặng mỗi người chúng ta một bông hoa thắm. Nếu mỗi chúng ta cầm bông hoa đó đi trên đường đời thì hạnh phúc sẽ đến với ta và những người lân cận! Tất nhiên thơ chỉ là ước mơ, nhưng những ước mơ thánh thiện đem tâm hồn thanh khiết của nhà thơ làm ngọn gió yêu thương xoa dịu nỗi đau đang xảy ra trên trần thế. 
   
Nhà thơ ZuLu DC sinh ra tại Quảng Trị, nơi biên cương của hai chế độ, nơi có dòng sông Bến Hải giới tuyến của cuộc chiến tranh, nơi có Đại Lộ Kinh Hoàng, có Cổ Thành Quảng Trị mà bom đạn biến thành núi xương sông máu. Nhà thơ ZuLu DC theo học tại Huế, nơi cố đô có hoàng thành, lăng tẩm trầm mặt, mốc meo, có sông Hương núi Ngự nên thơ nhưng buồn hiu hắt. Ra đời, nhà thơ ZuLu DC làm thuỷ thủ lênh đênh trên biển cả. Cuối cùng nhà thơ ZuLu DC đánh mất quê hương, định cư nơi xứ người. Tất cả đã vào thơ, khiến thơ của ZuLu DC có nhiều cung bậc trăn trở, trăn trở ngay trong những lúc có niềm vui.

Nhà thơ Zulu DC 
   Thật vậy, hãy đi vào nơi quê hương mà đất đã hoá tâm hồn tác giả:
 
Quê hương tôi có dòng sông Thạch Hãn
… Đất nước chia hai một nhịp cầu
Từng vết chém thơ rướm máu
Nhìn mặt anh em lòng đau
          (Biết Nói Sao Hơn) 
 
về Quảng Trị
Sông Bến Hải
Như người con gái
Thất tiết trước khi lấy chồng
Thạch Hãn
Dòng sông không phải dòng sông
Nước cạn nguồn đau lòng với đá
(Từ Đàn Nam Giao Đến Sông Thạch Hãn)
 
Cổ Thành dù tan nát 
Vẫn lưu những bóng hình 
… Quảng Trị này Quảng Trị 
Ta là thằng trôi sông 
… Đã bao lần ta gọi 
Quảng Trị - Quảng Trị ơi 
Ta là thằng đi lạc 
Lạc mất quê hương rồi 
                    (Lạc Đời)      

Lấy một ít câu thơ trong nhiều bài thơ mà ZuLu DC viết cho quê hương sinh ra mình làm dẩn chứng, ta đủ hiểu nối đau âm ỉ, tiềm tàng, bất tận trong lòng thi nhân. Nỗi đau ấy đã thành thơ, thơ không có nước mắt, thơ không có tiếng rên, chỉ có lời tâm sự gởi vào tứ thơ ẩn chứa “Từng vết chém thơ rớm máu ”! 
   
Thế rồi nhà thơ đi học xa làng, tuổi thư sinh là tuổi mộng mơ, ghi dấu biết bao nhiêu kỷ niệm trong dòng sông ký ức của đời người. Không thể không nói đến những bài thơ về Huế của ZuLu DC, vì nơi đó có “màu xanh của đất”, “màu xanh của trời” và “Xanh trong lòng tôi” tức là trong lòng nhà thơ ZuLu DC mãi mãi!:
 
Huế ơi Huế ơi
… Huế giữ giùm tôi
Nắng mai đỉnh Ngự
Gió chiều sông Hương
Và những con đường
Có em sóng bước.
               (Kỷ Niệm) 
 
Sông Hương vẫn cứ sông Hương ấy
Nước chảy tang thương đã mấy dòng
Chẳng lẽ về đây ta nín khóc
Là vui là Huế của ta không.
                     (Huế Của Ta)  
 
Anh nhớ vô cùng, anh nhớ Huế ơi
Hương Giang, con nước trôi ngày tháng
Thành quách rêu phong lưu dấu xưa
Chỉ thiếu tình em cùng với Huế
Để anh nhìn em đã HUẾ chưa!
                                 (Lời Hẹn)
  
Nhà thơ ZuLu DC vào đời, trải qua vô vàn biến cố của đất nước làm ảnh hưởng cuộc sống của mình. Ông từng chạy nạn chiến tranh, từng là một thuỷ thủ lênh đênh trên biển, rồi từng là một người lên rừng đốn củi bứt mây, rồi lại lưu lạc xứ người. Cuộc đời nhà thơ trải qua nhiều biến chuyển, nên thơ ông sáng tác là loại thơ trường đời, trăn trở những mất mát xảy ra. Đọc bài thơ “Động Đền” của ông, lòng ta không khỏi cảm hoài những kỷ niệm đẹp không còn nữa ngày nhà thơ quay lại. Động Đền một vùng đất làm dinh điền ở Hàm Tân, Bình Thuận, nơi định cư mới cho những gia đình chạy nạn chiến tranh, cửa nhà và quê hương bị chìm trong khói lửa. Nhà thơ đã định cư ở đây một thời gian, ra đi rồi quay lại để thấy mình không tìm lại được những gì mà ngày trước mình cho là “như đất hứa”. Bài thơ như tiếng thở ra đầy ưu tư của đứa con quay lại mà chốn xưa không còn nhận ra mình. Bài thơ làm rát lòng ta như “dây gàu ba đoạn nối/Quay hoài quay mãi rát bàn tay”:
 
Xưa ta ở cạnh người hàng xóm 
Gặp gỡ đôi lần chẳng nói chi
…Trở lại Động Đền sau cuộc thế
Dốc dài cát bỏng chân ta đau 
 
…Ngụm nước dây gàu ba đoạn nối
Quay hoài quay mãi rát bàn tay
…Động Đền thuở trước như đất hứa
Bây giờ trong ta là nhánh sông
 
…Có một hồi chuông đâu vọng tới 
Mơ hồ nòi giống của ta xưa 
Đớn đau như thể dòng nước mắt 
Buồn như lịch sử trút cơn mưa 
(Động Đền: 34 câu, rút còn 12 câu)
   
Động đền là bài thơ hay tuyệt vời, là bài thơ tường thuật một phần đời ZuLu DC, cũng là một phần đời của hàng vạn con người trong thế hệ của ông phải chịu cảnh “Buồn như lịch sử trút cơn mưa”!
   
Sinh ra và lớn lên giữa thời tao loạn, ZuLu DC cũng như bao chàng trai trong thế hệ của ông, phải đầu quân nhập ngũ. Nhà thơ nhớ đến quân trường xưa và nhớ đến những ngày hành quân gian khổ. Thơ về lính của ZuLu DC đậm chất lãng mạn hơn là khí thế hào hùng, không có bom đạn và hoả châu, chỉ có yêu thương dáng kiều, yêu thương cả khi nhìn người nữ chiến binh phe địch:
 
Đã có một thời tuổi trẻ của chúng ta 
đượm chất thơ bi tráng 
của một thời vói mộng trời cao,
… thời của binh lửa có nhau, 
của dáng kiều thơm mộng mị, 
của những chén rượu sa trường 
hùng khí, 
                (Quân Trường Xưa)
 
Thương quá đôi mắt U-Minh Hạ
Nửa thế kỷ vẫn như hôm qua
Cô gái nhìn ta bằng uất hận 
Ta nhìn cô gái như em ta
        (Đôi Mắt U-Minh-Hạ)
    
Trên đây chỉ đề cập đến một vài bài thơ về một phần đời bôn ba của tác giả. Thơ ZuLu DC còn chất chứa bao nỗi niềm, tạo nên bao vết hằn trong tâm khảm ông. Những nỗi niềm đó đã biến thành thơ nói về mẹ, về em, về tình yêu trai gái, về bạn bè và về những vui buồn đến trong cuộc sống. 
      
Nói về mẹ và em, bài thơ “Trăng Vu Lan” của ZuLu DC có thể làm thành suối lệ trong những tâm hồn nhạy cảm với thơ:
 
TRĂNG VU LAN
 
Đọc bài thơ em viết
Anh thành ra đứa bé
Ở một góc trời lạ
Thương mẹ và nhớ em
… Bao nhiêu là cây xanh
Bao nhiêu là hoa lá
Là bấy nhiêu lòng anh
Là yêu thương nhớ mẹ
…Mẹ giờ thân hoá đá
Em giờ hiu hắt thêm
(Bài thơ 25 câu, rút còn 10 câu)
   
“Đọc bài thơ em viết/ Anh thành ra đứa bé” cho ta hiểu rằng nước mắt đã chảy thành dòng trên những trang thơ. Không có đứa bé nào “Thương mẹ và nhớ em” mà không khóc thành tiếng, không khóc nức nở, không có dòng lệ trôi dài trên đôi gò má. Nhà thơ ZuLu DC chắc chắn cũng vậy khi ông nói rằng ông thành ra đứa bé. Trăng mùa Vu Lan cũng là trăng mùa Mưa Ngâu. Khác một chút là mưa ngâu ở trăng thượng tuần, nước mắt của Ngưu Lang - Chức Nữ đổ xuống trần gian. Bài thơ “Trăng Vu Lan” nhà thơ nhắc đến mẹ và em, cho ta một liên tưởng đau lòng đến sự chia ly cách trở trong mùa Mưa Ngâu. Sự chia ly cách trở của xưa và nay đều đau khổ như nhau.
 
(CÒN TIẾP, VÌ BÀI DÀI NÊN XIN MỜI ĐỌC PHẦN II ĐĂNG SAU. CẢM ƠN QUÝ VỊ ĐÃ XEM!)
 
 Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC TẬP “THƠ ZULU DC”, PHẦN I - Châu Thạch

Thursday, August 10, 2023

47 RONIN - KHÚC BI TRÁNG TRONG LỊCH SỬ NHẬT BẢN - Nguyễn Khắc Phước


Tiểu thuyết “47 Ronin” của Ichikawa




Câu chuyện cảm động về lòng trung thành dưới đây là một câu chuyện có thực trong xã hội Nhật Bản dưới thời Edo và dần dần nó trở thành một câu chuyện anh hùng trong nhân dân Nhật Bản, được các nhà biên kịch viết lại dưới dạng Kabuki (một loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản) và các tiểu thuyết gia đưa vào trong tập sách “Chushin Gura” (kho tàng các truyện trung nghĩa). Chuyện này đã được đạo diễn thiên tài Akira Kurosawa dựng thành phim và bộ phim này đã được trình chiếu một lần ở VN.

Vào năm 1701, nước Nhật được Tướng quân (Shogun) Tokugawa Tsunayoshi cai trị từ lâu đài Edo (Thiên Hoàng chỉ có hư vị). Mặc dù có tính lập dị, nhưng ông khuyến khích chủ thuyết Tân khổng giáo và có biện pháp kềm chế bạo lực của giới quân nhân Samurai.

Hằng năm vào dịp Năm Mới, các Tướng Quân có lệ cho phái đoàn mang lễ vật đến biếu Hoàng Đế ở Kyoto, và vào mùa xuân, Hoàng đế lại cho phái đoàn của mình mang quà đến biếu các Tướng Quân

Lâu đài Edo




Năm 1701, Tướng Quân Tokugawa chọn hai lãnh chúa trẻ: Asano Naganori từ lâu đài Ako, tỉnh Harima và Date từ tỉnh Sendai để tiếp phái đoàn của Hoàng Đế. Để bảo đảm các nghi thức được tuân thủ và sợ rằng sự thiếu kinh nghiệm của hai lãnh chúa sẽ gây khó khăn, Tướng Quân chọn một vị quan cao cấp hơn tên là Kira Yoshinaka để cố vấn giúp đỡ.

Theo truyền thuyết, Kira là một tay vô lại, tham lam và hách dịch. Ông ta thường xuyên gây sự với Asano, buộc người này tội vô lễ (vì không nộp đủ quà cáp cho ông ta). Sau hai tháng bị công khai lăng mạ và sĩ nhục, Asano không thể chịu đựng được nữa. Ngày 14 tháng Ba, trong lâu đài Edo, Asano phẫn nộ rút kiếm đánh Kira làm ông này bị thương nhẹ.

Đối với Tướng Quân Tokugawa, tai nạn này không thể chịu đựng được. Bao lâu nay nghiêm khắc áp dụng luật để ngăn ngừa bạo lực trong giới Samurai, nay lại phải đối mặt với việc chính người đại diện cho mình bị vi phạm, lại vi phạm ngay trong lâu đài Edo là một điều cấm kị. Quyết định được đưa ra ngay lập tức: Asano phải mổ bụng tự sát hoặc bị treo cổ. (Kira không bị trừng phạt, và sau khi lành vết thương, ông ta lại tiếp tục nhiệm vụ.)

Một quân nhân Samurai trẻ, hầu cận của Asano được gởi về lâu đài ở Harima báo tin dữ. Theo luật, nếu một lãnh chúa bị tội chết, lâu đài và lãnh địa ông ta sẽ bị tịch thu. Asano có 312 Samurai dưới quyền và tất cả họ đều sẽ bị mất nhà cửa, đất đai và lợi tức. Họ trở thành những võ sĩ vô chủ, thất nghiệp.

Chủ tịch hội đồng của tỉnh Hirama tên là Oishi Kuranosuka tức giận vì những trò đốn mạt của Kira và vì ông này không bị trừng trị, đồng thời Oishi phải đối diện với tương lai đen tối và bất an, quyết định tìm cách thỉnh nguyện với Tướng Quân. Ý tưởng của Oishi là xin Tướng Quân cho phép Anaso Daigaku (em trai của Asano Naganori) được thay anh lãnh đạo gia đình (bao gồm cả 312 võ sĩ) với cấp bậc lãnh chúa. Có 60 võ sĩ không đồng ý với việc thỉnh nguyện và rời lâu đài.

Lâu đài Ako.




Kế họach này thất bại. Asano Daigaku (lúc đó đang ở Kyoto) gởi thư cho Oishi yêu cầu giao lâu đài lại cho đại diện củaTướng Quân và tuân thủ luật pháp để khỏi làm cho dòng họ Asano bị tiêu vong.

Trước khi rời lâu đài, Oishi và 59 người khác cùng thỏa hiệp quyết báo thù và khôi phục danh dự cho lãnh chúa của họ.

Lo sợ đang có âm mưu báo thù, Kira không dám rời lâu đài Edo nửa bước, đồng thời Asano Daigasu cũng bị Tướng Quân quản thúc chặt trong lâu đài.

Trong khi các võ sĩ vô chủ mỗi người tản mát một nơi, Oishi tìm đến Kyoto và chẳng bao lâu ông ta trở thành tay bài bạc, nghiện ngập, thường xuyên có mặt ở quán Ichiriki để thưởng thức gái đẹp, rượu ngon, thực ra là để đánh lừa. Đồng nghiệp của Oishi cũng tìm cách để Kira tưởng rằng họ đã từ bỏ việc báo thù bằng cách làm nghề thương lái hoặc bán dạo (những công việc không đáng để một võ sĩ thất nghiệp làm) và các hoạt động vô hại khác. Từng người một, giấu nhẹm hành tung, bí mật tìm đến Kyoto và tiếp cận lâu đài Edo.

Sau một thời gian, Kira bớt lo lắng, bắt đầu rời lâu đài ngày một thường xuyên hơn và thường đến quán Ichiriki tổ chức tiệc tùng. Các võ sĩ bắt đầu thu thập về đường đi, chỗ đến và thói quen của Kira.

Tụ họp các võ sĩ lại, Oishi quyết định cùng 46 người sẽ tham gia vào cuộc tấn công.

Ngày 14 tháng 12, 1702, sau khi nhận được thông tin Kira sẽ tổ chức tiệc trà tại quán Ichiriki, 47 võ sĩ vô chủ núp dưới trời mưa tuyết bất ngờ tấn công vào chỗ của Kira.

Trận đánh khốc liệt giữa các võ sĩ và thuộc hạ của Kira diễn ra chừng một tiếng rưỡi, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Tất cả thuộc hạ của Kira đều bị giết hoặc bị bắt. Riêng Kira thì mất tăm. Họ lục lọi tìm kiếm mọi ngõ ngách cho đến khi tìm thấy Kira trong một nhà tiêu bên ngoài. Bị lôi ra giữa sân, ông ta được cho cơ hội chuộc lỗi bằng các tự mổ bụng. Ông ta không chịu và bị chặt đầu. Các võ sĩ tìm đường đến nghĩa trang ở Sengaku-ji, đặt đầu Kira trước mộ của Asano Nagonuri.

Giết một vị quan, cho dù là để báo thù cũng phạm tội treo cổ. Họ biết rõ số phận đang chờ mình. Thế nên, thay vì bỏ trốn, Oishi cho hai võ sĩ đến liên lạc với quan tòa của Tướng Quân và đợi ông ta đến bắt.

Đền thờ 47 Ronin ở Sengaku-ji, Tokyo





Hành động ấy khiến cho Tướng Quân Tokugawa rất khó xử. Ông ta có cảm tình với các võ sĩ vì lòng tận tụy trung thành của họ, chứng tỏ họ tin tưởng vào thuyết tân khổng giáo do ông đề xướng. Cho đến lúc bấy giờ, ông đã biết rõ căn nguyên sự xung đột giữa Asano và Kira và ông cũng biết được sự ủng hộ của dân chúng ở khắp nước, đặc biệt ở Kyoto và Hirami và của nhiều thuộc hạ của ông dành cho các võ sĩ.

Treo cổ các võ sĩ phạm tội là đúng luật. Không thực hiện luật là làm nó mất tác dụng.

Rốt cục, Tướng Quân dựa theo luật chiến tranh, thay vì treo cổ họ thì ông ra lệnh cho họ được mổ bụng tự sát . Họ không chết như tội phạm mà chết một cách danh dự như một quân nhân samurai. Tội của họ bị trừng phạt nhưng lòng trung thành của họ được ca ngợi.

Họ chia thành bốn nhóm và lần lượt tự mổ bụng trước sự chứng kiến của bốn lãnh chúa. Hôm đó là ngày 14 tháng Hai, 1703. Chỉ một trong số 47 người đó được tha mạng. Anh là người trẻ tuổi nhất trong nhóm và cũng chính là người đã quay trở lại Hirami để báo tin về cái chết của Asano. Bốn mươi sáu Ronin còn lại được chôn bên cạnh nhau quanh mộ Asano Nagonori.

Khói hương nghi ngút trước mộ của các Ronin.



Ronin trong tranh khắc gỗ Nhật Bản.





NGUYỄN KHẮC PHƯỚC

Tổng hợp và dịch từ báo chí nước ngoài.

* Ronin, tức những võ sĩ đạo không có người lãnh đạo, không có lãnh chúa hoặc người cầm đầu.

READ MORE - 47 RONIN - KHÚC BI TRÁNG TRONG LỊCH SỬ NHẬT BẢN - Nguyễn Khắc Phước