Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 4, 2022

HỒNG XIÊM HAY SA-PÔ-CHÊ - La Thụy


Trái sa-pô-chê chín
 
Gia đình tôi ở miền Nam nên một vài người  không biết trái hồng xiêm là trái gì. Tôi cười ngất bảo họ đó là loại trái cây quen thuộc và phổ biến ở miền Nam đó mà... Đó là trái sa-pô-chê theo cách gọi của người dân miền Nam.

Sa-pô-chê còn có tên gọi khác: Hồng xiêm Tầm lức, Lồng mứt, Xa pô chê, tên khoa học là Manilkara zapota hoặc Achras sapota
Sa-pô-chê là một thứ trái cây rất quen thuộc với người Việt Nam, được dùng trong tráng miệng thông thường và cả để làm sinh tố. Tuy nhiên có một vài thắc mắc xoay quanh tên gọi của nó.
 
Người miền Bắc gọi thứ trái cây này là “hồng xiêm”, vì hình dáng  giống với trái hồng và cho rằng có xuất xứ từ Xiêm, tức Thái Lan. Người miền Nam lại gọi trái cây này là “sa-pô-chê” (có nơi gọi là xa pô chê). Đây là một tên gọi được bắt nguồn từ tiếng Pháp (sapotier). Vậy đâu mới đích thực là nguồn gốc của thứ trái cây này?
 

Thực chất, giống cây này không bắt nguồn từ Thái, cũng chẳng phải từ Pháp, nó có xuất xứ từ châu Mỹ La Tinh, sau được du nhập vào Phi-lip-pin và trở nên thịnh hành tại các nước Đông Nam Á.
Khi mới du nhập vào Đông Nam Á, Thái Lan là đất nước trồng nhiều giống cây này nhất. Một số nước khác đã lấy giống từ Thái Lan, trong đó có Việt Nam, điều này giải thích cho tên gọi “hồng xiêm”.
 
Như vậy có thể đặt giả thuyết từ Thái Lan, cây ăn trái này du nhập vào miền Bắc Việt Nam, sau đến miền Nam thì người dân không rõ gốc gác nữa. Lúc bấy giờ lại là thời thực dân Pháp chiếm đóng nước ta, người Pháp ở miền Nam khá nhiều. Có thể người miền Nam thấy những người Pháp lúc bấy giờ gọi trái cây này là “sapotier” thì phiên âm thành sa-pô-chê.
 
Sa-pô-chê hay lồng mứt, hồng xiêm… là những tên gọi khác nhau của loại trái cây có hình dạng giống trái hồng, vỏ nâu, vị ngọt đậm và hương thơm trầm rất dễ chịu. Đây là một loại cây ăn trái rất được ưa chuộng. Với vị ngọt, thơm, giàu chất xơ và dinh dưỡng nên có thể để dùng tươi hoặc được sử dụng để làm sinh tố.
 
Trái sa-pô-chê chín xay làm sinh tố

Trái sa-pô-chê là loại trái mọng, hình cầu hoặc hình quả trứng hoặc hình thon dài, đường kính 4–8 cm và chứa từ 2–10 hạt. Vỏ có màu nâu-vàng nhạt. Bên trong là lớp cùi thịt có màu nâu ánh đỏ với kết cấu hạt mịn hơi giống với ruột quả lê. Hạt của nó có màu đen.
 
Trái sa-pô-chê chỉ nên ăn khi đã chín vì khi còn xanh nó chứa nhiều nhựa dính như latex. Để biết chắc chắn là nó đã chín người ta hay nắn vỏ xem còn cứng hay đã mềm vì màu vỏ gần như không thay đổi từ lúc mới tạo quả đến khi chín, một cách khác là người ta cạo thử một ít lớp vỏ nâu vàng, sẽ lộ ra lớp da, quả xanh, lớp da này có màu xanh lá cây, xanh đậm, khi quả già, lớp vỏ dần chuyển sang xanh lá mạ. Hương vị của nó tương tự như mùi đường đen.
 
Bên cạnh đó, hạt, vỏ và trái xanh của cây được sử dụng để làm thuốc.
Ở châu Mỹ, đặc biệt là Mexico, người ta còn thu hoạch nhựa cây (chicle) để làm kẹo bạc hà, kẹo cao su (chewing-gum), thuốc chữa ho, lợi tiêu hóa, hoặc làm thơm miệng. Sau khi lấy nhựa từ thân cây chảy ra, thì đun sôi nhựa và khuấy đều cho bốc bớt hơi nước. Khi nhựa còn đang nóng, thì đổ vào chậu gỗ có bôi xà phòng để cho nhựa không dính chặt vào thành chậu. Đợi một thời gian, nhựa cứng lại thì nặng thành bánh khoảng 10kg.
 
Nói tóm lại:

Cây sa-pô-chê có nhiều công dụng thực tế có giá trị, nhất là trái và nhựa. Tuy nhiên, không nên ăn quá nhiều trái sa-pô-chê để tránh nóng trong người. Cũng cần nói thêm, sa-pô-chê có nhiều loại. Ở một số nơi, người ta gọi loại trái nhỏ, màu hơi sẫm, vỏ nhám và nhiều vụn vỏ là sa-pô-chê và loại trái lớn hơn, màu nâu sáng hơn, vỏ nhẵn hơn là lồng mứt.

La Thụy

READ MORE - HỒNG XIÊM HAY SA-PÔ-CHÊ - La Thụy

Sunday, July 3, 2022

5 BÀI THƠ ĐỘC VẬN 7 CHỮ - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

 


NGƯỢC DÒNG

 

Hôm nọ có người ghé bến sông

Nói chuyện nhà bên đã gả chồng

Từ độ ngược dòng đi xây mộng

Chả thấy một lần ghé bến sông.

 

Tôi biết người ta chẳng ngóng trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Chiều qua lạc bước về Kim Động

Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

 

Tôi biết người ta đã gả chồng

Giờ là mệnh phụ giữa phố đông

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Say mãi đò ngang khách má hồng.

 

Đã mấy đông rồi, đã mấy đông

Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng

Mỗi bận nàng ra cài then cổng

Có lạnh so người trước gió đông?

 

Nàng có còn quen nép cạnh chồng

Hững hờ dạo gót giữa phố đông

Lá vàng lả tả khi chiều xuống

Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

 

Tôi biết người ta chẳng đoái trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

 

Hà Nội, Ngày 29 tháng 11-2014

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

TÌNH CHUNG

 

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi

Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi

Thế mà tấp tểnh theo họ vội

Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

 

Thì chữ chung tình rớt đầu môi

Biết rồi nên chỉ tự trách tôi

3 xu kiếm được duyên vài tối

Hà tất thở than đứng với ngồi.

 

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi

Đừng ví sông kia lúc lở bồi

Đừng than gió lạnh run chiều tối

Đừng mượn sao trời biện với tôi.

 

Hà Nội, sáng 23 tháng 05-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

ĐÊM CUỒNG SAY...

 

Em nhé, một lần quậy cùng ta

Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà

Một đêm vịn cớ vì ta đã

Mà hứng đêm cuồng say với ta?

 

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a

Người ta thiên hạ vẫn thế mà

Thì bởi ả Hằng lả lơi quá

Mà dáng ai kia cứ nõn nà...

 

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta

Để đêm thánh thót rót trăng ngà

Để làn gió thoảng loang hương lạ

Để trộn vào ta, nghiến nát ta.

 

Hà Nội, 2g45 ngày 01-07-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

TRAI LÀNG RA PHỐ...

 

Ừ thì rõ trai làng "lớ ngớ"

Vốn chân quê nên sẵn khù khờ

Em cứ bẻ ngang chừng cụm gió

Quất nát chiều cho bớt ngu ngơ

 

Ừ thì rõ trai làng "quá dở"

Đã chân quê lại giấu ngù ngờ

Em cứ đập cho chiều vụn vỡ

Để đêm nằm run cóng giấc mơ.

 

Ừ thì rõ trai làng "tưởng bở"

Chốn thị thành dễ dệt ước mơ

Em cứ quẳng đại vào góc chợ

Đốt cháy chiều cháy trụi "ham mơ"

 

Ừ thì rõ trai làng "nịnh bợ"

Đã "nhà quê" còn thích i tờ

Em cứ tẩm chiều cho ngọt lợ

Trút nhiều cay để hết "gà mờ"

 

Người ta nói: Trai làng... Đến sợ!

 

Hà Nội, trưa 24 tháng 11-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

VIẾT HỘ BẠN

 

Ừ, đến nước này, nói toẹt ra

Ta với người ta đã quá đà

Ngọc nát hay lành tùy đấy cả

Đã quá sa đà, nhả chả ra.

 

Ừ, cứ cho là lỗi tại ta

Ân ái qua loa, chả mặn mà

Đã già, đã xấu, còn hám lạ

Báu gì của nợ, vất thật xa.

 

Thì cứ giả vờ khó ưa ta

Cứ kệ sớm mai nắng la đà

Kệ chiều cuốn lạnh gom vào lá

Kệ tiếng thở vờn giấc mơ xa.

 

Hà Nội, sáng 29 tháng 01-2022

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - 5 BÀI THƠ ĐỘC VẬN 7 CHỮ - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

MỤ HỚNG - Truyện ngắn Vũ Hùng

 

Nhà văn Vũ Hùng

MỤ HỚNG


Lão Gà bị cái quần của con mẹ Ba Biện quất túi bụi đến tối tăm mày mặt phải giơ hai tay che đầu, che mặt rất thụ động như một võ sĩ quyền Anh bị đối thủ dồn vào góc đài rồi vụt bỏ chạy ra con đường đất đỏ quạch xe vừa mới lu phẳng lì, hơn trăm mét thì thoát được. Lão dừng lại thở gấp gáp như gà bị bệnh toi sắp chết đến nơi. Mặt xanh lè xanh lẹt không còn giọt máu. Lão gạt vội mồ hôi trán. Đúng là con Rẫu mất dạy. Dù gì lão cũng đáng tuổi cha nó mà cũng không nhân nhượng. Nó quất quần lên đầu lão chẳng khác nào quất quần lên đầu cha nó vậy. Nghĩ đến đó cảm thấy nhẹ lòng phần nào. Nhưng lão cũng phải đâm đơn kiện lên ủy ban xã về việc vợ chồng thằng Hai Bao với con Ba Biện biết thế nào là lễ độ về tội sử dụng đất trái phép cho chúng nó hết đường thu nhập, chết đói nhăn răng cho bõ tức!

Lão tỏ vẻ hí hửng bỏ đi không thèm ngoái lại!

Trong khi đó đám người vừa già, vừa trẻ, kẻ đứng người ngồi xem đoàn xe lầm lũi làm đường, càng lúc càng đông. Họ uống bia, hoặc uống nước mía cười nói, bàn tán rôm rả. Cũng chỉ xoay quanh chuyện lão Gà đành hanh, bị đánh quần lúc nãy. 

Lão Tư Bành ngửa cổ uống ực ly bia Quy Nhơn rồi đưa hai ngón tay vuốt mép dính đầy bọt một cách điệu nghệ và cười khẩy.

- He....he...Có vay có trả là lẽ thường tình? Ngày trước mẹ lão đánh quần nhiều đức ông thì bây giờ thằng con bị đánh lại có gì đâu mà phải áy náy? Dạy học mà nói bậy, chửi bậy, làm bậy thì cũng đánh có gì sai?

Nhưng đáng lưu ý nhất là cái lý lịch của của mẹ lão thuộc hạng xưa nay hiếm ở làng Đông Trạch này được bàn tán nhiều nhứt.

Mẹ lão Gà là mụ Hớng. Khi còn trẻ mụ hơi đoản người nhưng rất múp míp, dễ coi lắm, chỉ có đôi mắt lươn ti hí, đôi lưỡng quyền nhô cao luôn ửng đỏ là có phần suy giảm, còn cái miệng cười nói dẻo quẹo khiến bao gã đàn ông phải gục ngã dưới chân mụ chứ chẳng phải chơi? Hổng biết thằng cha nào ở làng phong cho mụ Hớng cái biệt danh nghe rợn tóc gáy MÁY XAY ĐÀN ÔNG? Chẳng biết nói vậy có quá đáng không chứ người làng ai cũng biết mụ chỉ có đúng bốn ông chồng thôi còn nhơn tình nhơn ngãi thì làm sao mà nhớ cho hết?

Mụ Hớng lấy chồng năm 13 tuổi, tuổi ta đấy? Chồng mụ là lão Tàu ốm nhom ốm nhách như con chàng hiu lúc đó vừa chớm 17 tuổi. Dễ nhớ lắm vì năm ấy là năm 1954, năm Ngọ, ở Dinh Gia Long ông Ngô Đình Diệm vừa ngồi vào ghế Thủ tướng đúng ngày mồng bảy tháng bảy hay còn gọi là song thất!

Lão Tàu lanh lảu, ranh ma quỷ quái chuyên nghề buôn gà và hớt tóc dạo nên chợ nào, làng nào cũng biết rành rọt. Cả làng Đông Trạch chỉ mình lão mới mua nổi chiếc xe đạp đòn dông Tanaro chánh hiệu Pháp quốc. Lão chung sống với mụ Hớng đúng bảy năm thì bị thổ tả cấp tính do ăn phải ruốc bị dính độc từ rắn biển, hồi đó người ta gọi là xuông đẻn và đột ngột qua đời, bỏ lại ba đứa con thơ là thằng Ga (lão Gà), con Bến và thằng Bãi.

Lão Tàu tuy xấu trai nhưng tính lại trăng hoa lắm. Nghe đâu khi qua Phước Lý hớt tóc trẻ con, lão có tằng tịu với mấy bà Rẫu sao đó bị mấy bã tóm cổ cởi hết áo quần rồi phơi trần truồng trên bãi cát và dùng những tàu dứa dại có gai cứng như sắt, bén hơn dao lam rồi cào ngược từ háng lão qua dái, qua chim lên bụng, máu chảy ròng ròng phải đi nhà thương điều trị gần cả tuần mới ổn.

Người chồng thứ hai của mụ Hớng là lão Chèo. Lão cao to, vạm vỡ như hộ pháp, đôi tay cuồn cuộn rắn chắc như đồng, làm nghề lái đò ngang ở Bến Đức. Lão cũng chỉ kịp hương lửa mặn nồng với mụ hơn hai năm thì theo gót lão Tàu vì bị suy thận nặng, bỏ lại hai đứa con sinh đôi là thằng Chống và con Đỡ vừa mới biết bò.

Rồi người chồng thứ ba là lão Khoe đi lính Nghĩa quân đóng tại làng, rượu chè be bét, lúc nào cũng kè kè cây súng AR 15 nòng chúc ngược xuống đất như sợ bị cướp cò làm lủng bụng ông Trời không bằng? Năm 1967, khi luật NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG của ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được thực thi thì đám ruộng bốn sào tục danh Vườn Dâu của bà Thất Đởm nằm sau nhà mụ Hớng đã chuyển chủ sở hữu cho gia đình lão Khoe. Lão hay lấy cớ thăm ruộng và thường ghé quán mụ Hớng uống rượu và được mụ cướp mất đời trai một cách chóng vánh đầy ngoạn mục.

Chưa đầy một năm giữa đêm khuya mùa hạ, lão Khoe bị đột tử trên bụng mụ Hớng. Người ta bảo lão bị trúng phòng hay còn gọi là thượng mã phong, bỏ lại thằng Khoang còn đỏ hỏn chưa đủ tháng.

Và cũng không biết bằng cách nào mà lão Khoe được phong là tử sĩ và mụ Hớng trở thành Cô nhi quả phụ, tháng nào cũng xuống Quy Nhơn nhận tiền tuất cả xấp mua vàng đeo đỏ cổ, đỏ tay!

Cũng do đi nhận tiền tuất ở Quy Nhơn mà mụ Hớng bén duyên với lão Mong nhỏ hơn mụ năm tuổi. Lão cũng ốm nhách như con rắn roi, mặt nhọn, mũi khoằm nhưng lanh hơn con sóc, chuyên nghề ăn cắp và móc túi ở bến xe. Lão thường hay trèo lên những chiếc xe tải GMC chở hàng quân sự của Mỹ từ Cảng Quy Nhơn lên Quân Đoàn Hai ở thị xã Pleiku, để ăn cắp đồ. Nghe đám bạn của lão kể lại lão  trúng lắm nhưng đều nướng vào sòng bạc hết. Lão về với mụ Hớng khi Mỹ đã rút khỏi miền Nam nên việc làm ăn của lão trở nên khó khăn hơn. Nghe dân xóm Gạch kể lại có lần lão mò vào xưởng gạch Trường Thọ của ông đại diện xã tên là Hẻo để ăn cắp phụ tùng máy móc bị ông dí đầu lão Mong xuống rãnh đất sâu của bánh xe chạy qua và dùng chiếc gàu múc của xe đào đè lên cổ lão. Một đêm nằm sấp giữa trời bị muỗi đốt lấm tấm khắp người giống như bị bệnh sốt phát ban. Lão tức lắm nhưng không cách nào trả thù được.

Lão Mong chỉ sống chung với mụ Hớng không quá bốn năm rồi cũng nối gót ba ông chồng trước ra đi, bỏ lại thằng Muốn đi lững chững mà không rõ bệnh gì với nước da xanh lướt như tàu lá chuối non vậy. Cụ lang Lộ bảo:

 - Thằng Mong bị bị bệnh thương phòng nhiễm cốt lâu niên chỉ hoàng thiên mới cứu nổi?

Còn y sĩ Lung trưởng trạm xá xã thì lắc đầu:

- Suy dinh dưỡng, thận yếu dẫn đến kiệt lực!

Còn cái khoản nhơn tình nhơn ngãi mười bữa nửa năm thì kể sao cho xiết. Nhưng những người này kẻ ít người nhiều đã góp phần "giúp" cho Mụ Hớng được nhà cao, cửa rộng, một bước lên xe, hai bước xuống ngựa. Điển hình như vụ ông Cửu Lụa goá vợ giữ chức Kinh tài ủy ban hành chánh xã thời Đệ nhất Cộng hòa chỉ uống vài chén rượu rồi mây mưa với mụ chỉ đúng một lần mà mất trắng đúng bốn trăm hai lăm đồng phải bấm bụng bán đứt nửa mẫu ruộng để bồi thường cho uỷ ban xã. Hay vụ thằng Ga được mẹ dẫn sang làng Tây Trù học miếng Hùng Kê quyền với bài Ngọc Trảng rồi ngọn roi Thái Sơn... của Võ sư Cự đã không mất tiền học phí mà còn được nhận thêm sáu tờ tiền giấy có in hình con trâu là ba chục đồng mỗi tháng mới lạ không chứ?

Còn những gã nhơn tình như lão Dớn, lão Dác ki bo, lường gạt thỉnh thoảng bị ăn quần của mụ Hớng đập vào đầu và bị chửi té tát vào mặt là chuyện thường!

Bốn ông chồng cùng đám nhơn tình nhơn ngãi của mụ Hớng đã lần lượt ra đi về cõi vĩnh hằng. 

Và mụ cũng đã an nghỉ hơn mười năm rồi. Thầy Chùa cũng đã tụng kinh cầu siêu cho mụ sớm siêu thoát, được vãng sanh miền cực lạc với tư cách người phụ nữ cõi trần đoan trang tiết hạnh!

Nắng chiều đã tắt.

Đoàn xe tải, xe lu, xe ban đã lục tục dồn về bãi đậu nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả.

Đám trẻ con chừng hơn mươi đứa cởi trần trùng trục trong làng túa ra mặt đường rộng 22 mét chạy  đuổi theo trái bóng da cũ rích vừa mới phát lên thật mạnh.

Bình Định, 28.06.2022

Vũ Hùng

hutazox@gmail.com

READ MORE - MỤ HỚNG - Truyện ngắn Vũ Hùng

Friday, July 1, 2022

KHÔNG BÀY TỎ - Thơ Trần Mai Ngân

 
                              Nhà thơ Trần Mai Ngân

 
KHÔNG BÀY TỎ
 
Tôi đến đây tìm trên ô cửa cũ
Dấu vân tay mình đã bấu thật sâu
Phút phù hoa thần thánh như tình đầu
Chân khuỵu giữa mênh mông trời vô vọng
 
Tôi trở về lạ xa từ giấc mộng
Cây Sầu Đông cũng lặng lẽ buồn theo
Tuổi úa vàng dấu heo may trên mắt
Có dõi theo cũng mù loá phương trời
 
Bốn mùa đi rồi đến vẫn im hơi
Cuồng quay bởi những lời không bày tỏ!
 
Trần Mai Ngân
 
READ MORE - KHÔNG BÀY TỎ - Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, June 30, 2022

TẤM LÒNG ĐÔN HẬU - Thơ: Trang Y Hạ - Cảm nhận: Lê Liên.


Tác giả Lê Liên


TẤM LÒNG ĐÔN HẬU

Thơ: Trang Y Hạ

Cảm nhận: Lê Liên.

 

 

NHẮN TIN

 

Bậu nhắn tin: “có khỏe không...?”

Ta ngồi soi cõi mênh mông lòng chiều

Vẫn còn nắn nót cô liêu

Vẫn còn ngân ngấn hồn diều đứt dây

 

Bậu nhắn tin: “và dạo nầy...?”

Ta đang ve vãn tỉnh say sóng đời

Cuối trời vất vả mây trôi

Cuối trời gió xé rách tơi lá vàng

 

Bậu nhắn tin: “có thở than...?”

Ta cười trên ngọn sóng tràn đó thôi

Chim khôn nào bỏ khung trời

Chim khôn báo bão phương người lạ xa

 

Bậu nhắn tin: “có thiết tha…?”

Ta con bướm nhớ vườn hoa năm nào

Đôi khi lật sổ chiêm bao

Đôi khi hòa giọng ve vào trong mơ

 

Bậu nhắn tin: “có mần thơ?”

Ta cười ngặt nghẽo bên bờ nhân gian

Gọi người nào có hỏi han

Gọi người im ỉm hai hàng cây đi

 

Bậu nhắn tin: “sẽ tính gì…?”

Ta nằm sắp xếp: thị phi, dã tràng

Đem đi nung chín thành than

Đem đi sưởi ấm đông sang, gió về

 

Cảm ơn bậu - nhắn tỉ tê

Cùng trời cùng đất mình xê xích hoài

Cần chi xuống chó lên voi

Cần nhau trong chốn lạc loài bậu ơi.

 

Trang Y Hạ – 2016

Thơ lưu trong blogs trangyha

 

 

 

Ngày Xưa,

Khi chưa xử dụng thư điện tử thì, người ta chỉ viết thư cho nhau khi có nhu cầu tinh thần, tình cảm hay thông báo những gì cần thiết.

Tôi còn nhớ mỗi mùa xuân về, Học Sinh chúng tôi có lại dịp viết THƯ MÙA XUÂN CHO CHIẾN SỸ (QLVNCH).

 

Rồi ở Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân ĐaLat, lớp nhỏ chúng tôi học buổi chiều, các chị lớn học buổi sáng. Chúng tôi kết nghĩa với nhau. Gọi đơn giản là Chị - Em - Hộc - Bàn. Vì chúng tôi thường xuyên dùng những trang giấy nhỏ viết thư để lại cho người ngồi cùng một vị trí với mình.... Ký ức này thật là Đáng Yêu!

 

Ngày xưa đó, gần như người ta có nhu cầu chia sẻ tình cảm, họ quan tâm đến đời sống tinh thần của nhau nhiều hơn bây giờ.

 

Mỗi khi có điều chi cần trao đổi nhanh, gấp rút thì “đánh điện tín” hay còn gọi là “đánh dây thép” (nói theo ngôn ngữ dân gian) cho người thân của nhau.

 

Sau này có ĐTDĐ ngoài chuyện đàm thoại, còn có mục “NHẮN TIN”. Cũng thuận tiện khi có điều khó nói, hoặc có chuyện quan trọng mà không nói ngay được với nhau.

 

Tin nhắn cũng được xem như là một bức thư : ngắn gọn, xúc tích.

 

Cũng có những mẩu tin nhắn không cần trả lời ngay.

Đơn giản là ta có thông điệp nào đó cho nhau mà thôi!?.

 

Khi đọc bài thơ TIN NHẮN của nhà thơ Trang Y Hạ tôi lại lan man, nghĩ về nó.

 

Bậu nhắn tin: “có khỏe không...?”

Ta ngồi soi cõi mênh mông lòng chiều

Vẫn còn nắn nót cô liêu

Vẫn còn ngân ngấn hồn diều đứt dây

                        ( Thơ Trang Y Hạ )

 

Thứ quý giá nhất trên đời này là sức khỏe thể chất và sự mạnh mẽ của tinh thần, nhất là với những người cao tuổi, (Ta ngồi soi cõi mênh mông lòng chiều)

 

Khi vào Tuổi Hạc người thường lặng lẽ đếm thời gian để đo lường cuộc sống. 

Họ nghiêm túc nhìn lại cuộc đời mình. Dẫu có thế nào, thì họ vẫn trân quý và nuối tiếc một thời đã qua. ngậm ngùi, nén lòng mình lại khi ở trong tình trạng bất đắc chí mà do thời cuộc đưa đẩy, không tiện giải bày với ai:

 

Chao ôi! Ngôn từ “ngân ngấn” làm cho lồng ngực của tôi muốn vỡ toang vì nó không đủ dung lượng cho nỗi niềm chua chát... chảy ngược vào lòng!

 

Rồi lại “Hồn Diều dứt dây”  khiến cho ta hụt hẫng đến tột độ. Bởi vì, khi đã dùng hết sức lực và sự khéo léo để giữ cho quân bình ; hoặc duy trì một điều gì đó trong cuộc sống mà không được ... thì tuyệt vọng biết bao (!?) Khi mà ta đã có tuổi. Không còn có quỹ thời gian làm lại từ đầu.

 

Bậu nhắn tin: “ và dạo này...?”

Ta đang ve vãn tỉnh say sóng đời

Cuối trời vất vả mây trôi

Cuối trời gió xé rách tơi lá vàng

             (Thơ Trang Y Hạ)

 

Cho dù sóng gió thế nào, thì ta cũng không quản ngại đối mặt với những nan đề của cuộc sống. (Ta đang ve vãn, tỉnh say sóng đời,)

 

Phải chăng sự tự do của mây trời là vô định ? Thương thay mây ở đây bị giới hạn bởi không gian. Dồn đến sự cùng cực. Ôi! Tất cả chỉ là phù vân.

Cuối Trời vất vả mây trôi

Gió xé rách tả tơi lá vàng

           ( Thơ Trang Y Hạ )

Thực ra đây là hai ẩn dụ mô tả về ngoại cảnh khách quan, bất khả kháng buộc phải tác giả phải chấp nhận sự phũ phàng cho đến cuối cuộc đời. Có lẽ điều tế nhị này quá nhạy cảm, ta nên ngầm hiểu bởi nhà thơ chẳng tiện nói ra.

 

Bậu nhắn tin: “có thở than...?”

Ta cười trên ngọn sóng tràn đó thôi

Chim khôn nào bỏ khung trời

Chim khôn báo bão phương người lạ xa

                ( Thơ Tang Y Hạ )

 

“...ngọn sóng tràn” ư? Sóng chỉ là bước nhảy nhấp nhô của con nước lên xuống mà thôi. Phải chăng hình ảnh đó cho ta liên tưởng đến cuộc bể dâu, làm vỡ tung nỗi niềm trắc ẩn của tác giả, dẫu có tha hương nhưng lòng vẫn quy hướng về đất Mẹ.

 

Ở đoạn thơ đầu tiên:

Vẫn còn nắn nót cô liêu

Đặt trong hoàn cảnh:

Chim khôn nào bỏ khung trời

Chim khôn báo bão phương người lạ xa

                          

Nói lên Sự tỉnh thức của tác giả khiến ta không khỏi nao nao chạnh lòng thương cảm.

 

Bậu nhắn tin: “có thiết tha…?”

Ta con bướm nhớ vườn hoa năm nào

Đôi khi lật sổ chiêm bao

Đôi khi hòa giọng ve vào trong mơ

              ( Thơ Trang Y Hạ )

 

Bướm và Ve là hai loại côn trùng có tuổi đời rất ngắn. Đã vậy chỉ còn xuất hiện trong chiêm bao và trong mơ thôi!? Phải chăng nỗi ám ảnh đó làm cho ta thấy thương cho thân phận phù du của một kiếp người?

 

Hoài niệm, để rồi thấm thía, để rồi cay đắng dỡ khóc mà phải cười, cười đến độ không kiểm soát được cảm xúc khi ta lọt thỏm giữa cõi nhân gian này, mặc cho số phận cứ vô tình trôi đi, mục tiêu và lý tưởng sống như hai đường thẳng song song mãi hoài không gặp nhau!

Tự nhiên lòng tôi chùng xuống, cảm thấy thương “người - bất - đắc – chí”.

 

Bậu nhắn tin: “có mần thơ?

Ta cười ngặt nghẽo bên bờ nhân gian

Gọi người nào có hỏi han

Gọi người im ỉm hai hàng cây đi

              ( Thơ Trang Y Hạ )

 

Thế nhưng, tự đáy lòng mình tôi vẫn ngưỡng mộ khi nhận ra rằng dù Ta có “không đắc chí” nhưng “ ta - không – hề -  thất – chí” bao giờ! Mà phải bình tâm khi xây dựng cho mình một sứ mạng mới :

 

Bậu nhắn tin: “sẽ tính gì…?”

Ta nằm sắp xếp: thị phi, dã tràng

Đem đi nung chín thành than

Đem đi sưởi ấm đông sang, gió về

               ( Thơ Trang Y Hạ )

 

Phải,

Có ai muốn mình là con Dã Tràng hoài công se cát biển? Động từ “nung chín” này mới tuyệt làm sao! Nó truyền động lực cho đời một cách vô điều kiện.

Với tôi, câu thơ trên là trọng điểm của bài thơ rất hay này.

 

Bởi, Vỏ con Dã tràng “nung Chín” lên thành than, vẽ đậm nét lên trang giấy trắng cuộc đời: Tình yêu thương, Sự ấm áp, Lòng bao dung trước mọi nghịch cảnh.

 

Tôi yêu từ “bậu” vô cùng!

Bởi đó là phương ngôn “miền Trung” thân thiết, mà chỉ có tri âm tri kỷ mới âu yếm xưng hô với nhau như thế!

 

Ở đây, bậu lại cảm ơn “bậu - nhắn” là hai hay là một bản thể? ( “Tuy hai mà một”, hoặc “tuy một mà hai”?)

 

Tôi tự nhủ lòng mình cho dù tác giả có “Tự vấn” cũng chẳng sao! Vì chính ông cũng đã thừa nhận mình “cô – liêu” ngay từ đầu rồi mà?

 

Cần chi xuống chó lên voi

Cần nhau trong chốn lạc loài bậu ơi.

              ( Thơ Trang y Hạ )

 

Giữa cõi ta bà này, tất cả chỉ là vô thường. Chẳng có chi để phô trương cả! Duy chỉ có tấm lòng tử tế mới cần thể hiện cho nhau mà thôi! 

Cho nên, tôi lấy câu kết thúc của bài thơ làm “Tâm Điểm” cho cả bài thơ.

 

Mười mấy năm rồi tôi vẫn thích một tứ thơ lạc trôi trên mạng ( không rõ tác giả?) :

 

“Trăm năm trước thì ta chưa gặp!

Trăm năm sau biết gặp lại không ?

Cuộc đời sắc sắc không không.

Thôi thì : HÃY SỐNG HẾT LÒNG VỚI NHAU”.

 

Vâng, bài thơ NHẮN TIN rất mộc mạc, nhưng giàu ẩn ý.

Viết về thân phận một Con Người sa cơ, cho đến khi vào Tuổi Hạc, trải lòng với ngôn ngữ tự sự rất tinh tế. Thanh tao. 

 

Dàn ý mạch lạc, khúc chiết. Bố cục chặt chẽ. Thi phong trong sáng dẫn dắt bạn thơ đi từ nhịp khúc này đến nhịp khúc khác một cách tự nhiên, rất có thủy có chung. Đó chính là bút pháp độc đáo của nhà thơ Trang Y Hạ.

 

Trong sâu lắng của ý thơ. Tôi học được sự thấu cảm, lạc quan, lòng đôn hậu rất sống động trong từng tin nhắn của tác giả giữa thế sự thăng trầm. Tôi yêu bài thơ NHẮN TIN này biết bao!

 

Xin cảm ơn nhà thơ Trang Y Hạ rất nhiều. 


Lê Liên

Đà Lạt, ngày 30.06.2022.

 


READ MORE - TẤM LÒNG ĐÔN HẬU - Thơ: Trang Y Hạ - Cảm nhận: Lê Liên.