Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 8, 2022

TRÍCH: TÌNH KHÚC TẶNG BẠN BÈ NXB VĂN NGHỆ 2008 - Thơ Khaly Chàm


 


,mai sau ai hát
 
trời trong sao rượu đục ngầu
dăm ly cũng thấm giọt sầu tê môi
nguyệt cầm chìm giữa dòng trôi
mai sau ai hát dỗ người - ru ta ?

 
,lệ nhoà kinh xưa
 
cầm dương phím lạnh tay ngà
tơ đồng rướm máu lệ nhoà kinh xưa
hiển linh sáng giọt âm thừa
nhập vào hư ảnh cho vừa cơn say

 
,về nghe sông hát
 
bến chiều nắng rụng vàng tay
sóng âm ba động nhíu mày dòng trôi
bờ xa hao khuyết - bãi bồi
về nghe sông hát ru hời tháng năm
 
khaly chàm
 
READ MORE - TRÍCH: TÌNH KHÚC TẶNG BẠN BÈ NXB VĂN NGHỆ 2008 - Thơ Khaly Chàm

CHUYỆN THẦY TRÒ VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA - Khê Giang

 

Tác giả Khê Giang

CHUYỆN THẦY TRÒ 

VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA

Khê Giang

1. Do được xếp hạng chỉ sau quỷ và ma nên chúng tôi vẫn thường xuyên bị lãnh đủ những hình phạt trên suốt chiều dài của hành trình đi tìm con chữ, ngày ấy chuyện bị đòn roi đối với đám trẻ trường làng là chuyện thường ngày, tựa như cơm bữa. Có hai hình phạt mà tôi ngán nhất đó là bị gõ vào các đầu ngón tay hay phần lưng bàn tay bằng thước gỗ, hai món này mỗi lần lãnh nhận là đau thốn đến tận tim do vùng tiếp xúc có rất ít da thịt che chở. Riêng các món còn lại như véo tai, phết roi mây vào mông hay quỳ vẫn là những hình phạt được coi là dễ chịu hơn. Năm học lớp Nhất (lớp cuối cùng của chương trình tiểu học) chúng tôi bị cô giáo phạt roi theo kiểu khá lạ, nếu phát hiện hai đối tác nói chuyện trong lớp, cả hai đều được mời lên bàn nằm ăn roi mà không cần biết đứa nào khai khẩu trước. Bị phát hiện viết bậy, đổ mực lên bàn hoặc kê bàn không ngay ngắn tất cả thành viên ngồi chung bàn đều được lãnh roi như nhau, bất kể trai hay gái. Để đối phó với việc bị đòn roi rất nhiều đứa đến trường thường phải mặc hai ba lớp quần. Án phạt ở trường đôi khi chỉ là hiệp một, lúc về nhà bị bạn mách hoặc thấy những lằn roi còn đỏ hằn trên mông, chúng tôi có thể phải chịu thêm hình phạt bổ sung từ cha mẹ, vì các cụ luôn tin tưởng sự đúng đắn công minh ở thầy cô. Việc xử (sử) dụng hình phạt đối với học trò cũng như việc đánh giá kết quả học tập, tất cả đều diễn ra hết sức công bằng, cho dù đối tượng là con của chính thầy cô hay những gia đình “ danh gia vọng tộc”, không hề ưu tiên gia đình có công với… xã hội. Vì vậy mới có chuyện nhiều nhiều học sinh lây lất hai ba năm vẫn chưa trèo qua một lớp.

2. Có lẽ so với nền giáo dục văn minh và hiện đại bây giờ, việc học sinh bị những hình phạt như vậy chắc ít ai đồng tình, tuy nhiên trong suy nghĩ của chúng tôi ngày đó, thầy cô luôn là những bậc đáng kính. Mặc dù bị đánh đòn là vậy nhưng khi đi trên đường chỉ nghe tiếng xe của thầy cô là tất cả kéo nón xuống, thụt lùi vào lề đường vòng tay cúi đầu chào. Điều lạ lùng là cái động tác chào kiểu ấy không chỉ diễn ra ở đám học trò mà kể cả người lớn. Các cụ râu tóc bạc phơ khi gặp thầy cô cũng tấp vào lề, xếp dù quạ kính cẩn cúi chào - những người được chào ấy nếu so ra tuổi tác chỉ trạc tuổi bằng con cháu của các cụ. Những ngày hội làng hay giỗ họ tộc khi được mời đến tham dự, thầy nghiễm nhiên được mời ngồi ở chiếu trên ngang với các vị chức sắc trong làng. Khi có việc riêng thầy cô đột xuất ghé nhà, cho dù đang lỡ tay với công việc vườn tược, các cụ vẫn vội vã lên trang phục truyền thống để ngồi hầu chuyện với thầy một cách cung kính. Mời được thầy đến dự đám kỵ giỗ là niềm hạnh phúc lớn của gia đình, một điều thành lệ khi thầy chưa cầm đũa chắc chắn trong nhà không ai dám bưng chén... Ngày Tết dành hai mùng cho nội ngoại nhưng mùng ba các cụ lại khăn gói đến chúc Tết thầy…

3. Nghe chuyện đánh đòn, án phạt nghiêm khắc đối với học sinh thời đó chắc nhiều người sẽ cho rằng tuổi thơ chúng tôi đã chịu nhiều thiệt thòi so với nền giáo dục văn minh và hiện đại như ngày nay? Xin thưa về vật chất, công cụ, phương tiện giảng dạy là có nhưng riêng tinh thần là không! Đến trường chúng tôi như tờ giấy trắng, không có một chút gợn dù nhỏ nhất về thầy cô, không bị áp lực chuyện học thêm học bớt, không sợ bị thầy cô chiếu cố trù dập, không có chuyện chạy trường, chạy điểm, không phải xa xót chuyện mua sách mới mỗi năm (những bộ sách được anh chị lớp trên cứ luân chuyển xuống lớp dưới, trải qua hơn một thập niên vẫn còn xử dụng tốt, vẫn mang nguyên giá trị về thẩm mỹ và tính hiện đại). Khi thấy chúng tôi đang đi lẻ loi trên đường trong trang phục học sinh hầu như tất cả những người điều khiển phương tiên giao thông đều rà xe lại hỏi lý do và sẵn sàng cho “quá giang” vì sợ chúng tôi trễ học hoặc không có tiền đi xe. Vào quán nước bắt gặp học sinh các chú các bác thường dành trả tiền. Khi vào bậc Trung học, từ nhà đến trường khoảng năm sáu cây số vậy mà khi lên xe đò chẳng một chủ xe nào lấy tiền học sinh trừ những lúc cả xe chỉ toàn một màu đồng phục áo trắng ( lúc đó chúng tôi tự nguyện trả tiền và nhà xe chỉ thu tiền tượng trưng). Đi tàu hỏa chỉ cần trình thẻ học sinh là được hoàn toàn miễn phí, cuối năm khi đạt thành tích tốt ngoài phần thưởng của trường chúng tôi còn nhận được quà từ chính quyền họ tộc, người thân…, khi tham dự lễ hội của Làng hay họ Tộc chúng tôi đều xếp ngồi ở vị trí trang trọng. Sự quý trọng thương yêu học sinh không chỉ gói ghém trong phạm vi nhà trường, trong cộng đồng xã hội mà còn ăn sâu vào tín ngưỡng: ngày mồng một Tết chúng tôi thường là những vị khách đầu tiên đến xông đất cho những nhà trong xóm (do đã có lời mời từ trước Tết). Cũng có đôi ba tin đồn thằng thằng A, con B bỏ học là do sợ thầy cô đánh, tuy nhiên khi trưởng thành lúc tiếp xúc, chuyện trò hay thổ lộ chúng tôi nhận ra đó chỉ là lý do phụ nằm trong muôn vàn lý do quan trọng khác.

4. Nói về thầy cô ngày đó, rời giảng đường kết thúc cuộc đời sinh viên những người đưa đò được phân bổ về khắp các vùng miền từ thành thị cho đến thôn quê, có nhiều thầy cô được điều về giảng dạy tại những nơi chốn xa xôi cách nhà cả trăm cây số, kể cả những nơi đang nằm trong vùng hỏa tuyến. Thế nhưng chẳng thấy thầy cô nào chạy trường, chạy khoảng cách. . Do không chạy chọt để lên chức nên thầy hiệu trưởng luôn được coi là người lãnh đạo anh minh, được mọi thầy cô đồng nghiệp tôn kính. Một hình ảnh rất đẹp về tình đồng nghiệp về văn hóa giao tiếp mà tôi may mắn được chứng kiến và nhớ mãi: trong giờ ra chơi khi các thầy đang ngồi trong phòng Hội đồng, nhác thấy cô giáo đồng nghiệp bước vào tất cả các thầy đều đồng loạt đứng dậy và thầy ngồi gần cửa nhẹ nhàng kéo ghế mời cô giáo ngồi. Thầy cô chỉ chú tâm vào công tác giảng dạy, không phải làm công việc bằng tay trái. Nhà trường không phải làm kinh tế, kinh doanh nên thầy cô không phải bận lòng vương víu những chuyện ngoài chữ nghĩa.. Vì vậy việc đánh đòn phạt quỳ học sinh ngày ấy tuy không phải là phương pháp giáo dục tối ưu vẫn được cộng đồng chấp nhận và những người bị xử phạt – lúc còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường cho đến khi sang bên kia sông vẫn hướng về người đưa đò với một niềm thương yêu kính trọng.

KHÊ GIANG




READ MORE - CHUYỆN THẦY TRÒ VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA - Khê Giang

HOA LYLY NGÀY ĐẦU XUÂN - Chu Vương Miện

 





READ MORE - HOA LYLY NGÀY ĐẦU XUÂN - Chu Vương Miện

Saturday, March 5, 2022

THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU… - Thơ Trần Mai Ngân

  
 

 
THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU…
 
Người ta hỏi em bài thơ tình tháng Ba đâu
Em cúi đầu không nói… giấu giọt lệ sầu
Tháng Ba lạnh tanh buồn
Chiến tranh Ukraine và Covid…
Mọi thứ hỗn độn giúp em quên anh…
 
Tháng Ba trời xanh vẫn hương nồng hoa Sữa
Cây Gạo đầu làng vẫn thắp lửa mỗi trưa
Vậy mà ai cũng thờ ơ… chẳng thiết tha
Mọi thứ quấn tim em ngộp thở… tháng Ba
Nghẹn lời yêu…
 
Tháng Ba rơi sót lại một buổi chiều
Tiếng guitar và bài tình ca cô ấy hát
Nốt lặng trầm một dư âm rất cũ… của tháng Ba xa
Dù mọi thứ bây giờ thật sự đã qua
Tháng Ba xưa và tháng Ba!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU… - Thơ Trần Mai Ngân

GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI - Trần Kiêm Thiện

Tác giả Trần Kiêm Thiện và phu nhân


GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI

Trần Kiêm Thiện

 

Giòng sông Liễu Hạ là giòng sông quê tôi. Người ta gọi là sông Bồ, sông Phú Ốc nhưng khi khúc sông chảy qua làng Liễu Hạ* của tôi từ cống Tây Phương Cổ Lão đến cầu Khại phe Chùa dài chừng 1 ki-lô-mét thì đó là sông Liễu Hạ. Tôi đã quen gọi tên nó như tên làng tôi.

 

Hơn 80 năm cuộc đời, khi tôi mới sinh ra thì giòng sông ấy đã già hơn mấy mươi nghìn tuổi. Đối với tôi thì đó là một dòng sông đầy kỷ niệm. Cả một thời tuổi trẻ của tôi ở Làng, giòng sông Liễu Hạ đã đóng nhiều vai rất đặc biệt: Mùa Xuân lạnh lẽo thì sông im vắng. Mùa Hè nóng nực thì sông là nơi tắm mát. Mùa Thu thì sông phẳng lặng hiền hòa với gió heo may. Mùa Đông lạnh lẽo thì sông vắng luôn những chuyến đò. Trẻ con ở làng thì chỉ biết sống như câu hát: “Ăn no tắm mát lên cành nghỉ ngơi!” Nhưng sợ nhất là những mùa lụt bão. Nước bạc từ mưa nguồn trên núi Trường Sơn đổ về. Giòng sông trở thành một dòng nước lũ cuồn cuộn và làm nước lụt dâng lên lút cả làng xóm ruộng vườn.

 

Bởi giòng sông chảy qua phía Đông làng tôi nên mặt trời buổi sáng dọi những tia nắng xuống giòng sông làm cho nước sông xanh lóng lánh đẹp như mặt nước có dát bạc dát vàng. Những buổi chiều mùa Hè, nước sông trong mát chúng tôi chơi đùa, chạy nhảy đất bụi dính đầy người rồi kéo nhau “ra rào tắm”. Ra rào tắm là ra sông tắm. Lũ con trai chúng tôi có đứa nhỏ, đứa lớn nhưng đều thoải mái tuột hết áo quần nhảy tùm xuống nước. Mấy đứa lớn bơi giỏi thì bơi qua rào; nghĩa là bơi qua bên tê sông. Phía bờ bên tê làng Phe Kiền Bến tắm thích nhất là bến "Dấu Hàn Đưới".

 

Từ Cổ Lão xuống Phe Chùa bờ sông làng tôi có 3 kè đá do các đời trước đã chất cao và đổ dài từ đất làng ra tới gần giữa sông để tránh đất Làng bị sạt lỡ gọi là “Dấu Hàn”. Ba kè đá đó được gọi tên là Dấu Hàn Côi, Dấu Hàn Bến Đình và Dấu Hàn Đưới hay “Bến Chú Trác”.

 

Tôi sống xa Làng đã hơn 60 năm, nhưng giòng sông quê hương vẫn mãi là hình ảnh đẹp trong lòng tôi. Có những kỷ niệm bị mạ đập rát da rát thịt nhưng tôi vẫn nhớ và thương còn hơn những chuyện đẹp nhất đời mình. Tôi xin kể một chuyện khó quên của đời tôi với giòng sông quê hương Liễu Hạ: Ở Làng, tôi có nhiều bạn nhưng chơi rất thân với người bạn chân đất là Cao Đức Dạng. Tuy Dạng ở vai cháu và thua tôi 3 tuổi nhưng là bạn thân và cũng là bạn học ở trường trung học Phan Sào Nam. Dạng nay đã thành người quá cố nhưng tôi biết xưng là chi chừ. Là ông, là anh, là chú? Đều không ổn. Thôi thì chỉ xin được xưng bằng tên thôi. Nhớ một buổi xế chiều ngày Rằm tháng Bảy vào năm 1961, tôi và Dạng tắm ở bến Dấu Hàn và rủ nhau bơi qua sông. Qua đến bờ sông Phe Kiền, thuận chân chúng tôi nhảy lên bờ và tời gần cái Miếu thờ đang cúng chuối, chúng tôi hè nhau vào miếu xách nãi chuối đang cúng và chạy ùa ra sông để bơi về lại phía làng. Không may ông từ giữ miếu bắt được và hô hoán lên: “Bớ làng xóm! Quân ăn cướp...Quân trộm chuối. Bắt lại, bắt lại!” Nhưng hai chúng tôi đã xách chuối chạy ùa ra sông và bơi trở lại về phía Làng. Vụ nầy đã làm mọi người trong làng nhốn nháo cả lên. Phía Phe Kiền tức giận yêu cầu trị tội. Phía làng Liễu Cốc Hạ, nhất là các bậc trưởng thượng đèu lên tiếng khiển trách và yêu cầu gia đình trị tội. Ở Làng ai cũng biết tôi là con nhà vườn, đồ trái cây như chuối, mít, ổi, vải… trái đầy vườn nhưng tại nghịch ngợm mà “chôm” nải chuối chứ chẳng phải thiếu thốn hay thèm khát chi. Dạng đã bị ông già đập một trận nên thân và tôi cũng bị mạ tôi quất roi lằn ngang lằn dọc. Chừ nhớ lại mà vừa muốn khóc, vừa muốn cười khi nhắc đến giòng sông quê hương.

 

Tôi nhớ bờ sông “vạt Dứt” thời chưa bị sạt lở đất rộng ra tới nửa sông bây giờ. Bờ có bốn cây cừa và những “trộ dòm” ven bờ sông. Trộ dòm là cái chòi lá nhỏ từ trên bờ dài xuống tới nước, thường làm bằng lá đùng đình. Mục đích là để làm nơi rình cá. Người chủ trộ dòm ngồi núp trong chòi với cái đọt chĩa ba hay chĩa năm sắc lẻm. Khi thấy cá bơi vào tầm nhìn từ trộ dòm nhìn xuống thì người rình nhanh tay đâm chết cá và vớt cá lên. Người nổi tiếng “sát ngư” thường xuyên đâm được cả xâu cá là chú thợ Mực, đó là người thợ rèn nổi tiếng trong Làng. Giòng sông Liễu Hạ quê hương tôi đẹp cả bốn mùa. Sông đẹp mùa Xuân với cây xanh hai bên bờ trổ lá trổ bông. Mỗi lần Tết đến dân Làng tôi đem ghe qua bờ Phe Kiền hụp xuống sông lặn xúc cát, rồi đổ lên ghe đem về Làng đổ cát lên các con đường làng, đường xóm ngập bùn cho khô ráo mà đi lại thăm nhau trong ba ngày Tết. Sông đẹp với mùa Hè khi nắng sớm, nắng trưa, nắng chiều vàng óng chiếu dọi trên sông xanh. Sông đẹp trong mùa Thu với những bụi tre lá ngà cao vút soi bóng nước và có những ổ chim “tổ rột” bện cỏ vàng hươm treo lủng lẳng trên ngọn tre. Sông cũng đẹp trong mùa Đông trong trận lụt đầu mùa với từng đụn củi rều từ núi trôi theo nước nguồn, chúng tôi ra vớt phơi khô làm củi chụm bếp cả năm, lại thêm cá nguồn đủ loại về đồng đẻ trứng, chúng tôi đơm chẹp, cất rớ bắt ăn tươi, làm mắm, ướp thính, phơi khô để dành có năm đủ để dành ăn suốt cả mùa Đông.

 

Tôi thương giòng sông ấy một đời nhưng cũng có mấy lần sợ thất sắc. Đó là khi tàu chiến của Tây về. Tàu thủy Tây chạy ngược sông Bồ về đổ quân vào Bợt Lở. Lính Tây đen, Tây trắng, Tây rạch mặt đổ bộ đi lùng khắp làng khắp xóm. Lính Tây có quyền như thần thánh và dữ tợn như ma quỷ. Tây muốn lấy đồ đạc chi hay bắt ai, đánh đập ai, hãm hiếp ai cũng phải chịu. Có một lần Tây đốt nhà cháy rụi cả làng. Đó là những năm chiến tranh đầy bom đạn mà giòng sông quê tôi cũng phải nhiều lần đau xót.

 

Giòng sông quê tôi có đủ những kỷ niệm vui buồn đã thành dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lòng tôi. Dấu ấn đó đã ghi vào ký ức của tôi quá sâu đậm từ thuở tuổi còn thơ nên không có chi xóa nhòa nổi.

 

Những năm gần đây về thăm Làng, giòng sông quê hương Liễu Hạ trong xanh tươi mát của tôi như đã thành quá khứ vì sông bây giờ đục ngầu bởi nước các đập thủy điện ở thượng nguồn xả ra và hai bên bờ chỉ thấy những vựa nuôi cá đan bằng tre mây nằm san sát. Những lũy tre làng và những hàng tre lá ngà soi bóng nước ven sông cũng không còn nữa. Nhìn những bờ sông và bến sông xưa trơ trụi nhưng sao tôi vẫn cảm thấy yêu lắm giòng sông quê hương. Giòng sông đó có thể không còn như xưa nhưng bù lại thì giòng sông Liễu Hạ quê hương vẫn còn nằm nguyên vẹn trong lòng tôi mãi mãi.

 

Trần Kiêm Thiện

 

*Làng Liễu Hạ thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên -Huế.

READ MORE - GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI - Trần Kiêm Thiện

Friday, March 4, 2022

ĐÊM ĐỘC ẨM, RƯỢU CUỐI NĂM, TUYẾT RƠI – Thơ Nguyên Lạc

 
 

 
ĐÊM ĐỘC ẨM
 
Đêm đất khách tìm đâu tri kỷ
Say cùng ta thất chí hồ trường
Bao năm cuộc đó tang thương
Trăng chìm đáy chén tha hương uống sầu!
Cố nhân sương khói về đâu?
Nghiêng sầu chếnh choáng trăng màu phôi phai
 
Rượu sầu ta uống với ai?
Nhạt nhòa sương lệ ánh trăng phai
Thiên hạ ai người lòng lớn rộng?
Nâng chén sơn hà cùng ta say
 
Mình ta say, mình ta say
Mình ta cùng với nỗi tình hoài
Sầu tràn ta uống sầu không cạn
Rượu uống mình ên chẳng chịu say!
 
Chẳng chiụ say, chẳng chịu say!
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?” *
 
Say với ai, say với ai?
Thất chí hoa niên vội bạc đầu!
 
Bạc đầu thật, bạc đầu sao?
Thanh xuân khát vọng còn đâu!
Cuối đời nát mộng còn sầu lưu vong!
 
……….
 
* Câu thơ Vũ Hoàng Chương
 
 
RƯỢU CUỐI NĂM
 
Cuối năm độc ẩm sầu thất chí
Khóc tuổi thanh xuân mộng chẳng thành
Cay đắng sá gì đời phi lý
Xuân về chi vội bạc đầu nhanh?
 
Đã rồi tan vỡ mộng thanh xuân
Đất nước loạn cuồng thuở nhiễu nhương
Cuộc lữ đành thôi tình chia biệt
Quê hương từ đó cách trùng dương!
 
Ai người tri kỷ cùng say khướt?
Hay chỉ mình ta cuộc độc hành
Hay chỉ mình ta đường đếm bước
Lầm lũi cả đời chỉ loanh quanh!
 
Lưu vong thất chí nát công danh
Nhớ lại tiền nhân thẹn trong lòng
"Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông" [*]
 
Còn gì mà nói núi với sông?
Sau cuộc bể dâu nát tang bồng
Câu thơ ngày cũ đành quên lãng
Cơm áo tháng năm mộng phải đành!
 
Bao năm rồi hở mà bạc tóc?
Giấc mộng hồi hương vẫn trong hồn
Bao năm rồi hở lòng muốn khóc
Cuối năm độc ẩm chén Hồ Trường
 
Hồ Trường! Cay đắng Hồ Trường [**]
Có người thất chí rượu cuồng thống ngâm
Còn đâu tri kỷ tri âm
Sầu dài bạc tóc hết mong lời thề!
 
............
 
[*] Lời thơ Đi Thi Tự Vịnh- Nguyễn Công Trứ
[**] Hồ Trường- Nguyễn Bá Trác
 
 
TUYẾT RƠI
 
Mùa lại đến
tháng năm cùng mơ ước
vỡ tan theo bông tuyết trắng rơi đầy
Đời thi ca
một mình ta đếm bước
Tinh đôi ta trôi tuột rỗng tay này!
Tuyết đang rơi
tuyết hãy cứ rơi!
Ngày tháng qua mau
tất cả phai phôi
Tuyết đang rơi
Tuyết hãy cứ rơi!
Có sao đâu?
Tóc thêm chút trắng màu
Có sao đâu lạnh chút có sao đâu?
Đời đã lạnh từ ngày tang thương đó!
 
Phố lạ sáng nay băng tuyết đổ
Trắng muôn trùng trắng kiếp tha hương
Người lữ khách động một trời thống hận
Vết thương xưa nhức nhối trong lòng!
 
Sáng nay rơi muôn trùng bông tuyết trắng
Lệ tuyết não nùng người biết hay không?
Vời phương đó chắc xuân hồng nắng ấm?
Nơi phương này buốt giá lắm người ơi!
 
Cuộc dâu bể tàn rồi thanh xuân mộng
Chia biệt đời còn gì nữa mà mong
Đời băng tuyết tìm đâu ra chút nắng
Đủ ấm lòng cho kẻ sống lưu vong!
 
Nguyên Lạc 

READ MORE - ĐÊM ĐỘC ẨM, RƯỢU CUỐI NĂM, TUYẾT RƠI – Thơ Nguyên Lạc

NỖI NIỀM - Lê Nhân Duyên

 

Thôn Đông Trường, Hải Trường, HL, QT.

NỖI NIỀM

Lê Nhân Duyên

 

 

Tôi sinh ra nơi đất mẹ Trường Sanh

Bao khó nhọc nuôi tôi khôn lớn,

Dòng sông hiền hoà nép mình uốn lượn

Đồng ruộng bao la thẳng cánh đàn cò.

 

Tôi yêu quê, yêu bến nước, con đò

Yêu cả những dấu chân đi về trên cát,

Yêu con sông dầm mình tắm mát

Yêu đồng nương khoai sắn ngọt bùi.

 

Nhớ những ngày cùng lủ bạn đùa vui

Chia phe giật cờ giữa Cồn Đình, Cồn Vạn,

Nhớ những mùa xác xơ nắng hạn

Nhớ con đường trơn trợt lúc sang đông.

 

Ngày xa quê gói ký ức vào lòng

Nỗi đau đáu về khung trời xưa cũ,

Tôi nợ mẹ cha mồ hôi tuôn chảy

Cho tuổi thơ tôi được cặp sách...đến trường.

 

Tôi nợ thầy cô những ý ngọc lời vàng

Nơi nhân nghĩa thấm từng trang sách vở,

Tôi nợ tiền nhân dẫu đói nghèo gian khổ

Vẫn kiên cường bám trụ đất quê ta.

 

Tôi nợ cả những điều chưa kịp nói ra

Những ánh mắt, cái liếc nhìn tình ý,

Tôi nợ em con đường xưa mộng mị

Mà suốt đời… tôi chưa dám đi qua.


L.N.D.

READ MORE - NỖI NIỀM - Lê Nhân Duyên

Thursday, March 3, 2022

ADIOS THẦY HUY PHƯƠNG - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

 


ADIOS THẦY HUY PHƯƠNG

Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử


“Thầy ra đi ngày 25.2.2022 tại Nam Cali. “


Cha mẹ sinh con không nghĩ tựa 

Về già không biết bạt về đâu? “*”


Đạy nắp ván thiêng nhìn chi nữa?

Cũng xong giang vỹ giống giang đầu?


Không cờ không quạt không vòng hoa

Bày chuyện làm chi? lính chết già

Êm ấm trong mái nhà hạnh phúc

Cũng đành xong cuộc trận phong ba 


86 tuổi đời “ngẫu lục tang thương“

Đựơc thua chả khác kịch với tuồng

Chinh chiến vẫn chỉ là chinh chiến

Quảng trị 72 lộ kinh hoàng


Một nửa dân miềng chết dài dài?

Thấy chết trò chết? ai khóc ai?

Ngừơi sống mang nỗi lòng ngừời chết

“Châu ô cận lục“ tiếng than hời! 


Quê hương này kẻ nằm trong đất

Kẻ lang thang phiêu bạt xứ ngừơi

Ngày ngày bưng bát cơm phiếu 

Nơi bến tạm dung Bạc Tần Hoài?


Trò 81 tiễn thầy 86 

“Mây trắng đồn xa & Mắt đêm dài"

Tình nghĩa bây chừ chừng có vậy 

Nơi vùng đất lạ có ai hay?


Cuối đời cuối đường thôi từ giã

“non bồng nước nhược" tiễn thầy đây 


“*” thơ Huy Phương “


Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

“Cucamonga ngày 3.3.2022.“







READ MORE - ADIOS THẦY HUY PHƯƠNG - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

Tuesday, March 1, 2022

THƠ LỤC BÁT PHAN CHÍNH – Tâm Nhiên


Hai nhà thơ Phan Chính và Tâm Nhiên

Trong Đi vào cõi thơ, thi sỹ Bùi Giáng viết:“Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy theo đuôi mọi thứ trào lưu, chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh thể cỏn con nào cả để thể hội rằng, lục bát Việt Nam là cõi thơ hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu, bốn biển, ba bảy sông hồ…”
 
Thật vậy, kể từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Huy Tưởng, Nguyễn Tôn Nhan... thì suối nguồn lục bát Việt Nam vẫn hoài trôi chảy miên man một dòng thơ riêng biệt, bát ngát...
 
Phan Chính, một thi nhân đất Bình Thuận cũng thế, cũng để hồn thơ mình ngân rung trên cung bậc ngút ngàn lục bát một cách An nhiên lấp lánh:
 
Cũng chừng đời mãi loanh quanh
Đếm sương rớt hạt lên xanh nỗi buồn
 
Bài thơ chỉ hai câu thôi đủ nói lên nỗi niềm của một kiếp nhân sinh, ngậm ngùi Thân phận vu vơ:
 
Xuống đây nương buổi thương chờ
Thịt xương đã mặn giọt mồ hôi ta
 
Từng giọt mồ hôi mặn chát đã hòa trộn lẫn với từng giọt lệ để cho thi nhân bước Đi giữa truông đời:
 
Gõ tay đếm nhịp tuổi tôi
Thương dòng sông những truông đời nắng mưa
 
Mưa nắng phong trần vần vũ trên những chặng đường khúc khuỷu, nhiêu khê. Về tận chốn Tịch liêu thì cũng còn nghe đồng vọng khúc vô thường vang dội:
 
Nỗi buồn nhen gió cháy lên
Ta nghe đồng vọng gọi tên vô thường
 
Vô thường ca là bài hát nói lên sự thay đổi thường xuyên, liên tục của vạn hữu muôn loài, cho nên Dường như luôn luôn mới lạ và mới lạ mãi hoài:
 
Chào ta giáp mặt gương soi
Thấy thân thiết quá nụ cười bao dung
 
Thấy được nụ cười bao dung là thi nhân đã cảm được hương vị của Mùa xuân nhân thế:
 
Cảm ơn trời đất điên mê
Thức lên giọt nắng bốn bề nhân gian
 
Và Ngộ... ra một điều chi vi diệu, uyên thâm:
 
Lời kinh ru gió thì thầm
Phải chăng nỗi nhớ tháng năm lăn tròn
 
Lăn tròn nỗi nhớ, niềm thương như thương nhớ đêm nào nơi Ga rừng Sông Phan sương khói phủ chập chùng:
 
Rùng mình lá núi bên sông
Rót khuya đầy cõi hư không kiếp người
Vỗ bờ con nước mồ côi
Nghe bìm bịp gọi thêm bồi hồi đêm
 
Đêm khuya khoắc bồi hồi chuyện chi không biết nữa, chỉ hay rằng nhà thơ đang Chờ hoa quỳnh nở trong bóng sương rơi:
 
Rưng rưng như giọt sương trời
Em về nhè nhẹ bước đời lang thang
 
Lang thang em đi về cõi mộng tồn sinh ly kỳ, gay cấn để anh Hóa thân thành cánh chim trời thơ dại:
 
Mai kia nhớ tiếc cũng đành
Tháng năm xa vắng để anh luân hồi
 
Luân hồi qua vô lượng kiếp rồi bây giờ lại tái sinh làm một thi sỹ, ngày đêm sáng tạo mãi bài thơ Tôi:
 
Trong vô hạn của kiếp người
Có tôi lầm lũi vòng đời loanh quanh
 
Loanh quanh, lầm lũi bước đi hoang đàng trên mặt đất trần gian đến năm cùng tháng tận, thi nhân vẫn nghe hoài điệp khúc yêu thương vang lên bên bờ Biển tháng chạp tuyệt vời:
 
Năm cùng tháng tận biển ơi
Mà sao vẫn mặn mòi lời ru thương
 
Thương yêu cuộc đời rồi yêu thương chính mình, nhâp dịp Chào tuổi đầu năm, xuân mới thong dong:
 
Rượu đầu năm rót xoay vòng
Chào ta trong cõi vô cũng nhân gian
 
Giữa vô cùng thiên địa mang mang, chàng thi sỹ nơi vùng thị xã La Gi ấy đã bươn bã ra đi, từng nhập cuộc chịu chơi với toàn thể thế sự thăng trầm...
 
Trầm tư, nghe và thấy ra tất cả chỉ là huyễn hóa nên quay về nhẹ Buông... xuống hết trong niềm sâu lắng với nụ cười an nhiên im lặng:
 
Đằng kia bóng nắng là bờ
Mà sao con nước hững hờ đợi ai?
Mây trời rắc bụi tàn phai
Về thôi cũng tiếng thở dài an nhiên
 
An nhiên hạt bụi là thi phẩm thứ năm của Phan Chính, sau những tập Giọt sương, Giữa truông đời, Biển trắng như lòng ta thức đợi, Bảng lảng gió giêng. Đặc biệt, tập thơ này gồm 56 bài lục bát ngắn, một bài chỉ 2 câu hay 4 câu thôi.
 
Điều đó chứng tỏ tiếng thơ, nhất là thơ lục bát Phan Chính đã đến độ vô cùng súc tích trong cõi miền thi ca uyên mặc đến lặng lẽ vô ngôn...
                                                               
Thị xã La Gi 24. 2. 2022                                                                
Tâm Nhiên

READ MORE - THƠ LỤC BÁT PHAN CHÍNH – Tâm Nhiên

VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ “Ở LẠI” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Vũ Thị Hương Mai




VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ “Ở LẠI” 

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Bài thơ "Ở lại" là một trong số các bài thơ tình hay của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến! Ngôn từ và hình ảnh trong bài thơ thật bạo liệt và táo bạo, đậm chất phồn thực nhưng không hề mảy may khiêu dâm, tục tĩu.


Ở LẠI

 

Thì cứ lại đây. Ngồi xuống đây

Nhấp chén rượu thơm ủ lâu ngày

Ngoài kia mưa gió nhiều như thế

Ở lại đi em. Mai hãy về.

 

Ta biết sự đời cũng nhiêu khê

Mười hai bến nước lắm ê chề

Em về hay ở đều như thế

Ngang dọc miệng đời chẳng bớt chê.

 

Thôi ở lại đây. Nghỉ lại đây

Ngực ta làm gối thật êm dầy

Tay ta làm nệm nhung rất ấm

Em quấn thân ta tựa chăn mềm.

 

Ta muốn đêm này em với ta

Quyện từng hơi thở trộn thịt da

Ưu phiền cứ mặc trôi theo gió

Nào hãy cùng ta dạo bến mơ.

*.

Hà Nội, chiều 04.09.2014

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

(In trong tập CƯỠNG XUÂN ; Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2017)

Thơ tình của Đặng Xuân Xuyến hay đề cập đến những khía cạnh rất nhạy cảm trong tình yêu, không mơn trớn mon men với trăng sao mây gió, nhớ nhung, thề non hẹn biển như đa số thơ tình của các nhà thơ khác. Thơ tình của Đặng Xuân Xuyến là những ngôn từ, những thi ảnh trần trụi với những biểu hiện cụ thể của: cắn, cấu, ghì, xiết, rên, la... trong chuỗi hành động ân ái yêu đương, nhưng cho dù ngôn ngữ có táo bạo, nóng bỏng, gợi dục tính thế nào thì câu chữ Đặng Xuân Xuyến dùng vẫn tinh tế, đẹp và nhân văn, không hề gợn chút khiêu dâm ân ái thân xác tầm thường. Đó là đặc trưng rất riêng của thơ tình Đặng Xuân Xuyến.

Lấy ví dụ ở bài thơ khác, đó là bài thơ "Tình Nở". Cũng với những ngôn từ bỏng cháy khát yêu, tưởng nhà thơ chỉ mô tả những ham muốn trần trụi về thể xác để diễn tả thoả cơn khát yêu của Thị Nở - Chí Phèo nhưng ngẫm kỹ chút thôi thì những ngôn từ ấy không hề dung tục, không hề khiêu dâm mà rất giàu tính nhân văn. Câu "Giả ngây Nở để Chí đè cưỡng yêu" là câu thơ rất sáng với 2 từ "giả ngây" giàu tính nhân văn. Nhờ 2 từ "giả ngây" mà Thị Nở không ngốc nghếch thô kệch và dở hơi như trong nguyên tác của nhà văn Nam Cao. Thị Nở trong "Tình Nở" khôn hơn, e lệ phụ nữ hơn, biết giấu đi sự khao khát ái tình khi được "Chí đè cưỡng yêu". Với 2 chữ "giả ngây" này Thị Nở được thoát xác thành một người phụ nữ tinh ranh và rất là đời.

Khi bình về bài thơ “Tình Nở”, nhà Phê bình Văn học Châu Thạch có những nhận xét rất tinh tế, công tâm:

Tình Nở là một bài thơ cho ta hai cảm xúc. Cảm xúc ở tâm hồn đem đến cho ta cảm nhận hương vị của một mối tình bình dân, chân chất và mộc mạc. Cái hương vị đó ta không tìm thấy khi đọc chính truyện của nhà văn Nam Cao. Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã đặt vào trong sáu câu thơ ngắn của mình những từ ngữ thích đáng như “ơn trời”, “giả ngây”, “cưỡng yêu”, “hương tình”, “vẫn tươi” để thi vị hóa cái đêm hôm đó, làm cho Tình Nở gây hình ảnh đẹp trong thơ và tạo ấn tượng đẹp trong lòng bạn đọc. Cái cảm xúc trong tâm hồn mà tác giả tạo ra trong thơ làm cho sự cảm xúc trong xác thịt bớt đi tính dục. Từ đó hơi nóng tình dục chảy trong người khi nhớ lại cảnh ái ân đầy bản năng dưới trăng không còn lõa lồ khó nhìn nữa, mà nó trở nên một bức tranh nghệ thuật tả chân.

Có thể nói, Tình Nở của Đặng Xuân Xuyến đã cô đọng thi đề, thi tứ, thi ý trong những câu thơ súc tích. Thơ ngắn nên sức khái quát thật cao. Sự lựa chọn để miêu tả những khoảng khắc dồn nén thật đúng lúc và tuyệt vời. Bài thơ cũng tạo một cái nhìn mới vào truyện ngắn Chí Phèo mà từ lâu, đã được giảng dạy ở học đường theo một định hướng không hoàn toàn của nó.”

Khi đọc tập thơ tình "Cưỡng Xuân" của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ, nhà nghiên cứu Kinh dịch Nguyễn Thanh Lâm cũng đã có những cảm nhận thú vị: "Thơ của Đặng Xuân Xuyến chưa đến bực tài hoa, mà là thơ của nỗi lòng, tình yêu và sự đớn đau trong tình yêu nâng hồn anh thành cánh chim bay đến phía sau của chân trời tình yêu và trở về với hồn quê - Đất nhãn Hưng Yên:

Về đi em! Về ngắm trăng buông

Câu mái đẩy lèn sâu ký ức

Dựa vai anh ngắm đời rất thực

Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi..

Nếu có tài họa sĩ, tôi sẽ vẽ bức tranh đồng quê, có đôi trai gái ngồi ngắm trăng buông. Cô gái tựa vào vai chàng trai, ngắm trăng trời và nghe trăng ở lòng thổn thức. Nhưng vẽ “Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi” thì thật khó. Chỉ có thơ, hồn thơ quê của Đặng Xuân Xuyến mới vẽ được. Tôi nhắm câu thơ này cho rượu thơm hương".

Sáng nay, 28 tháng 2 năm 2022, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến post bài thơ "Ở lại" lên album "Thơ đã xuất bản" trên trang facebook cá nhân, có khá nhiều lời bình luận khen ngợi bài thơ này. Bình luận của nhà thơ Thái Chung khái quát rất chính xác về bài thơ "Ở lại" và dòng thơ tình của Đặng Xuân Xuyến:

"Thơ tình của Đặng Xuân Xuyến trần trụi nhưng tinh tế, mạnh bạo nhưng đời thường, nhạy cảm nhưng không tục.

Tóm lại (bài thơ Ở Lại), tuyệt, đậm chất Đặng Xuân Xuyến.".

Hay cảm nhận nhanh của nhà thơ Trịnh Thị Nhâm:




"Tôi mê thơ tình của Đặng Xuân Xuyến. Đẹp! Không phải cái đẹp ngôn từ mỹ miều, những lời có cánh, mà cái đẹp rất thật, rất đời. Yêu với niềm đam mê hừng hực, cháy bỏng, quyết liệt. Ngay cả những câu từ tả chân về sự đụng chạm hoà quyện về thể xác vẫn đẹp đẽ, toả sáng, ta không hề thấy bợn chút dung tục. Bài thơ rất tuyệt!"

Viết về những ham muốn ân ái xác thịt với ngồn ngộn những ham muốn dục tính, những khát khao nóng bỏng của tình dục:

- "Thôi ở lại đây. Nghỉ lại đây

Ngực ta làm gối thật êm dầy

Tay ta làm nệm nhung rất ấm

Em quấn thân ta tựa chăn mềm."

- "Ta muốn đêm này em với ta

Quyện từng hơi thở trộn thịt da"

nhưng câu chữ Đặng Xuân Xuyến dùng lại hết sức thanh tao không gợi những ham muốn nhục dục thấp hèn nên đọc thơ anh người đọc thấy tâm trạng sảng khoái thanh bai.

Có lẽ "Ở lại" là một trong số ít bài thơ tình của Đặng Xuân Xuyến không cùng lúc rơi vào 2 tâm trạng đối nghịch của nhân vật trữ tình trong thơ: yêu hay không yêu? nóng bỏng khát khao yêu và tái tê băng giá vì yêu như thường thấy trong thơ tình của anh.

*.

VŨ THỊ HƯƠNG MAI


Long Biên - Hà Nội.

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

READ MORE - VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ “Ở LẠI” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Vũ Thị Hương Mai