Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, July 27, 2021

HỌA SĨ TÔ BÍCH HẢI: ĐỌC VÀ HỌA THEO TỨ THƠ CỦA VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH - Lê Quang Thái

 

Họa sĩ Tô Bích Hải: 

Đọc và họa theo tứ thơ của 

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh


LÊ QUANG THÁI

 

I. VÀO CHUYỆN

Viết để lưu lại một số cảm nhận về nữ họa sĩ Tô Bích Hải, người đã tặng tập sách với tựa đề bằng thư pháp Việt ngữ: VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du năm 2012 tại Nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật Điềm Phùng Thị.1

 



Nghệ sĩ Tô Bích Hải đang giới thiệu những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và lạ của mình tới công chúng

Gọi là sách nhưng kỳ thực là một nguồn tư liệu mới về Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh được dịch ra tiếng Pháp của Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị kèm theo tranh minh họa theo ý từng khổ thơ song thất lục bát mà họa sĩ Tô Bích Hải đã kiên trì, miệt mài vẽ bay thoát từ nguồn thơ của Nguyễn Du. Hẳn đúng với lời Tự bạch ở đầu sách: “Và tôi chợt nhận ra tiếng kêu oan của mọi loài trong Thập Loại Chúng Sinh mà đại văn hào Nguyễn Du đã tế độ”. Đó là phần I của tư liệu đặc sắc, phần thứ 2 là OAN HỒN: HỌA TRÊN GỖ của nữ họa sĩ tài hoa và độc sáng.

 

Sách dày trên 50 trang, gọi là trên vì không thể kể những trang giấy lót làm nền có từng những bức tranh được họa sĩ Tô Bích Hải do cảm nhận từ tứ thơ theo từng khổ của Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.

 

Tư liệu quý hiếm này khổ 17,5 x 22,5, bìa màu nâu nhạt và được đóng theo lối sách xưa bằng chữ Hán. Đặc biệt, sách chỉ để đặc biệt tặng cho khách quý.

 

Được quà tặng, tôi mừng và lo. Họa sĩ như thường tình nhẹ nhàng nói: “Anh vui vẻ nhận, về nhà thủng thỉnh đọc, rồi viết cho một bài cảm nhận về văn học và nghệ thuật qua nội dung sách này hay gọi cho đúng là tư liệu liên quan đến cô hồn qua bản dịch của chị cả Điềm Phùng Thị và sáng tác tranh theo cách nhìn mới của tôi”.

 

Vì quá đột xuất, tôi thú thật với họa sĩ là “lực bất tòng tâm”. Họa sĩ nói lại: Nại hà gì, nhận biết sao viết vậy. Vô tư. Tôi mong anh ở “gần chùa, có thiện duyên thì sẽ viết được”. Tôi nói không dám “hứa khả” nhưng sẽ cố gắng. Nại hà gì trước lòng tốt và hiếu khách của họa sĩ người dân tộc Tày anh em.

 

Chỉ vì suy tư xoay quanh thuật ngữ “Nại hà” đã như chỉ đường mở lối cho bài viết này được hình thành.

 

 


“Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh, chí những năm cất gánh non sông. Nói chi những buổi tranh hùng, tưởng khi thế khuất, vận cùng mà đau”

 

II. CHẤP BÚT

 

Gần hai năm qua, tôi đọc đi đọc lại khổ thơ số 39 của Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh:

  


“Đau đớn nhẽ không hương không khói, hồn ngẩn ngơ dòng suối, rừng sim. Thương thay chân yếu tay mềm, càng năm càng héo một đêm, một dài”

“Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?”

 

Thôi đành chấp bút, nại hà gì, để đáp lời thịnh tình của họa sĩ đã khéo động viên một cách chân thành và thật tế nhị trong cung cách lập ngôn.

 

Nại hà (viết thường) là thuật ngữ có nghĩa là “chần chờ gì, biết làm sao, làm sao cho được việc, cho nên chuyện”. Lời dịch thoát từ khổ thơ gồm 4 câu tiếng Việt sang thơ tiếng Pháp giảm trừ thành 3 câu vì câu 1 và 2 được gom ý để dịch ra thành 1 câu thơ bằng tiếng Pháp.

 

“Le pont du fleuve de l’oubli, chacun le traverse.

Chacun son tour, chacun sa destinée,

Les âmes s’égarent, òu sont-elles à présent?”(2)

 

Bên dưới lời dịch có tranh “long ẩn” tờ mờ dựa theo tứ thơ như đã “thoát xác” từ chữ nghĩa để biến thành tranh “chiêu hồn”. Dưới tựa đề “MIỆT MÀI TRÊN ĐÁ” tác giả đả đánh động và như để đá từ từ xuất lộ như một mạng tơ để nói tiếng từ phiến đá cổ.

 

Họa sĩ Tô Bích Hải đã giải thích việc làm miệt mài ấy để khám phá ra được cái mới lạ:

 

“Mạng tơ dệt bằng những ký hiệu, những vết tích hình thành từ triệu năm, xin để mỗi người tìm cho mình chiếc chìa khóa hay dây tơ hồng dẫn sang bên kia tấm gương, bên kia bờ bến và dệt cho mình sứ điệp thầm kín của riêng mình”.(3)

 

Lý giải ấy như được nâng lên cao một cung bậc trong chiều sâu trầm tư mặc tưởng của người sáng tạo và sáng tác theo lối mới lạ, dẫn đưa người đọc sang một bờ bến khác. Họa sĩ tài hoa như đã “ngộ ra”, vâng Tô Bích Hải đã tỉnh ngộ.

 

“Và tôi chợt nhận ra tiếng kêu oan của mọi loài trong Thập Loại Chúng Sinh mà nhà đại văn hào đã tế độ”(4)

 

Toàn bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh gồm 45 khổ + 2 câu thất ngôn, thì bản dịch ra tiếng Pháp của Điềm Phùng Thị được minh họa bằng 22 bức tranh trên giấy “can” hai mặt trơn và màu trắng trong(5), tức 44 cảnh tượng thông hưởng giao hòa giữa hai cõi âm dương cách trở mà không cách trở giữa hai cõi sống/chết. Vẽ thế mới là họa, như bằng cảm quan tư duy nối kết, liên tưởng và thăng hoa.

 

Có vượt qua cầu “Nại Hà” thì mới sáng tạo, độc sáng được như thế. Linh thiêng và thật nhiệm mầu. Chữ nghĩa của Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh và nét vẽ diệu kỳ của họa sĩ Tô Bích Hải đạt tới mức mới lạ. Phải chăng từ “chữ nghĩa” của Nguyễn Du đã tạo nên chiếc cầu “NẠI HÀ” - nối liền hai bờ cầu trong từng khoảnh khắc ẩn hiện lung linh. Có có mà không không ở hai câu cuối của bài Văn Tế CÔ HỒN bất hủ:

 

Phật hữu tình từ bi phổ độ;

Chớ ngại rằng có có không không.

                        (Câu 181-182)

 

III. CẦU NẠI HÀ

 

Xưa các bản phiên âm từ bản Nôm của VĂN TẾ CHÚNG SINH ra quốc ngữ (theo mẫu tự Latin), có bản viết cầu Nại Hà (viết hoa hai chữ), có bản lại không. Nại (奈) gốc là quả nại, một loài giống như quả lần. Còn đọc là “nài” như “nài làm sao”. Nại Hà là dòng sông thần thoại. Dịch ra tiếng Pháp thì lại dễ nắm bắt nghĩa lý hơn. Le fleuve de l’oubli có nghĩa sông quên. Qua cầu giữa dương gian và âm phủ bằng cầu Nại Hà. Ở đó, đầu cầu này có quán cháo lú vừa ngon vừa thơm. Cho vong ăn thì vong hưởng đến độ quên cả đường về, quên cả quê nhà, quên cả họ tên.

 

Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp tu từ biểu trưng trong 2 câu thơ:

 

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.

Trước Nguyễn Du; Ôn Như Hầu - Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798) trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc để lại cho người đời sau ý tưởng mới trong khổ thơ theo thể ngâm song thất lục bát. Đó là khổ thơ bản lề đối với người viết bị đánh động, vượt qua ái nại để viết một cách tự nhiên, ý tưởng trào dâng ra đầu ngọn bút:

 

Cầu Thệ Thủy ngồi trơ cổ độ,

Quán Thu Phong đứng rũ tà huy.

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.(6)

 

Ý tưởng thâm sâu của 4 câu thơ đi liền thông suốt mạch văn. Làm công việc dẫn giải và chú thích CUNG OÁN NGÂM KHÚC, cụ Vân Bình Tôn Thất Lương đã viết để lột tả tấn tuồng biến hóa hư huyển bằng thủ pháp ý tại ngôn ngoại.

 

“Như vậy thì nào là người mẫn thế ưu thời phải sinh lòng cảm xúc vô hạn đành ngồi trơ bên cầu Thệ Thủy, bến cũ.

Và chịu đứng rũ chân trời dưới bóng trời (tà huy) ở quán Thu Phong.

Gớm ghê thay nỗi phong trần lan khắp chốn sơn khê (núi khe)

Và cảnh tang thương thấu đến loài cây cỏ vậy”(7)

 

Nhìn chung lại thì cầu Thệ Thủy, quán Thu Phong và cầu Nại Hà. Hai chữ cầu, quán chỉ là nói dặm thêm sao cho có nghĩa bằng cách nương tựa theo điển cố văn học. Tuyệt nhiên, không có cầu, quán nào là Nại Hà, Thệ Thủy, Thu Phong cả. Thiết tưởng đó là đạo thể bày tỏ như nước chảy qua cầu, gió thoảng ở trên trời vậy.

 

Ai ai cũng từng nghe hát “Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” vậy mà thôi.

 

Phải thành khẩn và thành thật mà nói, trong đời người, ai mà chẳng hơn một lần đã từng đi qua cầu khỉ gập ghềnh hay cầu nại hà cheo leo, khấp khểnh ở chốn thôn dã hoặc ở tận chốn khe suối để rồi trực nhận ra rằng:

 

Phong trần đến cả sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

 

Đó là kiếp người, thân phận làm người, làm chúng sinh hữu tình với trăm vàn cảnh khổ bi lụy. Nếu không khéo tu, hay vụng tu thì mỗi khi vô thường đã chín, thân mạng đều mong thoát khỏi thân phận “cô hồn”. Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh được Điềm Phùng Thị dịch là “Requiem pour les âmes errantes”. Ngôn ngữ nhà chùa đã dùng hai tiếng “cô hồn” là “những con ma đói”.

 

IV. OAN HỒN: HỌA TRÊN GỖ (8)

 

Phần I là phần hợp tác giữa người dịch ra Pháp ngữ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nhà điêu khắc, tạo hình nổi tiếng châu Âu, có hai quê hương Hà Tĩnh - Huế, Huế - Hà Tĩnh với tranh minh họa của nữ họa sĩ người Tày có thủ pháp họa về thế giới của người chết, và ngay cả thấy, rồi nghe được tiếng thì thầm, xôn xao, than trách của đồ vật mà người trần thế cứ nghĩ như vô tri, vô giác. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như đã thổi hồn vào sỏi đá, gió thoảng để nói lên tiếng lòng thổn thức: “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” hoặc “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” để “Gió cuốn đi”.

 

Động lực nào đã khiến họa sĩ Tô Bích Hải chọn lựa cách sáng tạo độc đáo này, được xem như một “ngoại lệ”(9). Hãy nghe họa sĩ thổ lộ nguồn cơn tâm sự:

 

“Lần đầu tiên đến Huế để tìm sáng tạo, tôi bị lôi cuốn ngay vào cái huyền bí lung linh của khổ đau qua bao cuộc chiến. Và người dân hiền lành Huế vẫn tưởng nhớ đến người đã khuất qua các bàn thờ trong nhà ngoài ngõ cho gia đình và vong linh. Trong tôi có sức vô hình nào bắt chung tay vào việc ghi nhớ đó. Tôi dựng lên những công trình nghệ thuật làm bằng những vật liệu của ngay chính miền đất này, chọn từng mẫu đá, từng cây cột nhà đã mục, đã bầm dập với thời gian và cuộc thế.

 

 


Sắp đặt tượng gỗ

 

Đá và cây trở thành nguyên liệu của sáng tác nghệ thuật, được trân trọng như những đài tưởng niệm, dù chỉ là nghệ thuật phù du”(10).

 

Phải chăng rằng trên đã sáng tạo, họa sĩ Tô Bích Hải như thấm được cái ý vị thanh thoát của khổ thơ thứ 43 của Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh:

 

Kiếp phù sinh như hình với ảnh,

Có chữ rằng vạn cảnh giai không.

Ai ai lấy Phật làm lòng,

Tự nhiêu siêu thoát khỏi trong luân hồi.

 

V. LỜI KẾT

 

Tô Bích Hải, sinh năm 1947, người dân tộc Tày, sinh tại Mống Cáy, vùng biên giới của hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn tiếp giáp với nước Trung Quốc.(11)

 

Không biết ngọn gió nào đã thổi nữ họa sĩ tài danh, mở ra một loại hình nghệ thuật phù du trên đá và gỗ. Tốt nghiệp Viện hội họa Lausane, Thụy Sĩ năm 1967 từ năm sau cho đến nay sinh sống và hội họa tại Pháp.

 

Họa sĩ đã tham gia dự triển lãm nghệ thuật từ năm 1978 cho đến năm 2012 đến 20 lần tại các quốc gia châu Phi, châu Âu, châu Mỹ… Tác giả được thiện duyên kết thân với nhà nghiên cứu, điêu khắc Điềm Phùng Thị đã nổi tiếng ở châu Âu về nghệ thuật sắp đặt, mà lại xuất thân từ hoa khôi của trường Trung học Đồng Khánh Huế, từ một Nha sĩ. Thật là “sinh nhi tri chi”. Có ai ngờ đâu! Giữa Điềm Phùng Thị với Tô Bích Hải có mối giao cảm “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Cho nên hai người đã dìu dắt nhau để thành danh ở xứ người. Giữa Điềm Phùng Thị với Tô Bích Hải gặp nhau “giữa đường”, khác nào trong lộ trình mà Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh đã viết “Gặp nhau phải lúc đi đường nhỡ bước”. Mỗi người một nghiệp, nhưng chẳng “nại hà” vượt qua lằn ranh phân biệt tuổi tác, người Kinh - người Tày để kết nối thân tình và thâm tình thắm thiết bằng con đường yêu chuộng và đam mê nghệ thuật.

 

Mốc thời gian Festival Huế, 2012 là dấu ấn mà họa sĩ Tô Bích Hải để lại khá đậm nét sau gần 4 năm tìm hiểu về chiều sâu của văn hóa tâm linh ở Huế. Năm 2008 lại cũng là khởi điểm đáng ghi nhận đối với Tô Bích Hải, vì đây là thời điểm họa sĩ lần đầu tiên trong đời đến với Huế và đã khám phá ra một đường bay nghệ thuật mới: Nghệ thuật phù du. Huế đã mở rộng cửa đón người tài khắp nơi đến tham quan, nghiên cứu về những nét đặc sắc của văn hóa Huế, đặc biệt là văn hóa tâm linh Huế. Danh phận của thành phố Huế, mỗi ngày một mới do sự tôn phong của thiên hạ trên địa cầu xanh ngày nay.

 

Huế hôm nay thật linh thiêng. Chỉ vì “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Cả người sống lẫn người chết đều đồng tình ủng hộ người hiền tài. Hạnh phúc thay một khi “NÃO PHIỀN TRÚT SẠCH, OÁN THÙ RỬA KHÔNG”(12).

 

Cố đô Huế, Vu Lan năm Giáp Ngọ, 2014

L.Q.T

(SHSDB21/06-2016)

 

---------------

1. Trước lễ Vu Lan, nhân dịp Festival Huế, 2012 năm Nhâm Thìn, PL 2556, tại Nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật Điềm Phùng Thị, số 01 đường Phan Bội Châu, Huế tổ chức triển lãm trưng bày tác phẩm của họa sĩ Tô Bích Hải theo chủ đề giới thiệu tác phẩm hội họa của Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị và Tô Bích Hải.

Điềm Phùng Thị sinh ngày 18/8/1920, mất ngày 17/2 năm Nhâm Ngọ (2002) tại Huế, tên là Phùng Thị Cúc, lấy chồng Bửu Điểm cho tên ghép Điềm Phùng Thị.

 

2. Cầu Nại Hà: Được chuyển ngữ sang tiếng Pháp là: LE PONT DU FLEUVE DE L’OUBLI - Dịch là “Chiếc cầu bắc qua sông quên”. Nể kính dịch giả Điềm Phùng Thị xuất thân là một Nha sĩ. Vì say mê văn học - nghệ thuật, bà đã hiểu biết sâu về thần thoại và truyện cổ của các quốc gia vùng Viễn đông Châu Á. Có táo bạo tung bút mới dịch được một cách cao tay như thế.

 

3. Dưới tựa đề “MIỆT MÀI TRÊN DẤU ĐÁ”, sau lời tự bạch, họa sĩ Tô Bích Hải đã viết ở trang 9 của tư liệu (còn được gọi là sách).

 

4. Câu kết của lời TỰ BẠCH, sđd, tr.5: “Tranh chì xoa trên đá - họa trên gỗ như để tưởng nhớ đến Đại thi hào Nguyễn Du”.

 

5. Giấy can: Một loại giấy dầu “đục trong” được cán láng cả hai mặt, được dùng trong việc vẽ, in ấn. Vẽ, họa một ảnh, một tranh, một cảnh tượng trên mặt A của giấy này, thì như được 2 bức ảnh hoặc tranh. Có thể nói mặt A là mặt dương, mặt B là mặt âm. Cứ cầm tờ giấy can sau khi được họa sĩ vẽ rồi soi lên ánh sáng trời thì dễ nhận ra điều đã nói.

 

6. CUNG OÁN NGÂM KHÚC, Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều), Vân Bình Tôn Thất Lương dẫn giải và chú thích, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1950. Theo bản in lần thứ 4, qua lời tựa của soạn giả. Cụ Tôn Thất Lương là nhà cựu học, đỗ Tú tài Hán học, nguyên Giáo sư trường Trung học Đồng Khánh và Khải Định Huế (tức trường Hai Bà Trưng và Quốc học). Cụ đã có câu nói bất hủ: “Cung oán ngâm khúc, cũng là Kinh Thi phôi thai của Việt Nam ta ngày nay vậy”.

 

7. Thệ Thủy (逝水) là nước chảy. Sách Luận Ngữ cho biết: Khổng Tử đứng trên sông mà nói: “Thể giả như ty phù (逝 者如斯夫) bất xả trú dạ, nghĩa là nước chảy như vậy chẳng dét cả đêm ngày. Ý nói ngồi nơi bến cũ (cổ độ) mà nhìn sự quá vãng. Nước chảy, thời gian chảy... Xem CUNG OÁN NGÂM KHÚC, Sđd từ câu 97 đến câu 100, tr.35, 42.

 

8. OAN HỒN: HỌA TRÊN GỖ (Les âmes errantes: Bois peints). Theo Tô Bích Hải thì có một nghệ thuật phù du: Đá và cây trở thành nguyên liệu của sáng tác nghệ thuật, được trân trọng như những đài tưởng niệm, dù chỉ là nghệ thuật phù du.

 

9. Ngoại lệ: chữ dùng của Tô Bích Hải tự lên khuôn tóm tắt tiểu sử của sách đã dẫn với chủ đích hướng thượng trở về nguồn: “Tưởng nhớ đến Nguyễn Du qua tác phẩm: “VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH” (viết theo hàng đứng, mỗi chữ một dòng). Thẳng đứng với cột dọc tên tác phẩm là lời dịch ra tiếng Pháp (viết hàng ngang) tạo thành với hàng đứng thành góc thước thợ. “Requiem pour les âmes errantes”. Tiếng Pháp viết “La Horde des Pieux” có nghĩa là “ngoại lệ”.

 

10. Nguồn tư liệu liên quan vừa là suối nguồn cho sáng tác cho Tô Bích Hải, sđd, tr.34. Nghệ thuật phù du (oeuvre d’art éphémères), từ họa tiết, tranh vẽ, nghệ thuật sắp đặt đều như biểu lộ, thể hiện hai cõi sống/ chết của chúng sinh.

 

11. Tô Bích Hải đã phiên âm địa danh, nơi chôn nhau cắt rốn của mình từ ngôn ngữ Tày. Giữa “Tày” và “Kinh” hòa nhập.

 

12. Câu cuối cùng và là câu kết của Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.


Nguồn: tapchisonghuong.com.vn, 22/07/2016

 


READ MORE - HỌA SĨ TÔ BÍCH HẢI: ĐỌC VÀ HỌA THEO TỨ THƠ CỦA VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH - Lê Quang Thái

Monday, July 26, 2021

TÌNH YÊU – PHẨM CHẤT MA LỰC CỦA CUỘC SỐNG - Lê Chung bình thơ Võ Thị Như Mai

 


TÌNH YÊU – PHẨM CHẤT MA LỰC 

CỦA CUỘC SỐNG

Cảm nhận của Lê Chung

về bài thơ của Võ Thị Như Mai:

CHUYỆN TÌNH YÊU


   Nếu không có Tình Yêu thì không có ma lực trong cuộc sống; cuộc sống vẫn giữ nguyên thường thường không được thắp sáng, không có ánh sáng nào được tỏa ra. Nó vẫn giữ nguyên như tảng đá. Không  giống như bông hoa tỏa ra ánh sáng , màu sắc và hương thơm. Tình yêu mang mọi điều đến cho cuộc sống. Nó mang màu sắc đến cho cuộc sống ; thế rồi con người không còn là trắng đen nữa, cuộc sống trở nên như cầu vồng. Tất cả mọi màu sắc, toàn bộ quang phổ của nó trở nên sẵn sàng . Bỗng nhiên con người tràn ngập ánh sáng  cứ như bóng tối chưa bao giờ tồn tại. Bóng tối không thể tồn tại cùng Tình Yêu: Nó chỉ tồn tại cùng với sự ghét bỏ, hận thù mà thôi.

      CHUYỆN TÌNH YÊU    

       chiều ơi

       sao mà nắng vàng như thế

       ngày mai ơi

       sao mà mây trôi thênh thang

       và tôi ơi

       những cây cầu bắc ngang

       chần chừ làm chi

       mà không sang bên ấy?

những câu chuyện vui tôi dành cho em đấy

hoa hồng dịu dàng tôi dấu vào tim

những giấc mơ đêm

ôi những giấc mơ đêm

sẽ chỉ cần vài giây

mình nắm tay nhau băng qua phố vắng

       sá chi những lời trách mắng

       sá chi những lời điêu ngoa

       tôi bận viết nốt bản tình ca

       để mình nhìn nhau mà hát

em như những nốt nhạc

tung tăng trên cánh đồng

đôi mắt nhìn mông lung

tôi lặng người mà ngắm

       mình yêu nhau

       ôi mình yêu nhau say đắm

       gần như là cuộc sống

       gần như là giấc mơ

nhưng

tôi phải trở về

trong những chiều bơ vơ

để lặng yên nhớ em

để mỗi đêm nghe trái tim biết khóc

để ngày qua ngày bạc thêm màu tóc

để em là người cuối cùng

trong quãng vắng đời hoang


Lời bình của Lê Chung

 Khổ thứ nhất :

chiều ơi

sao mà nắng vàng như thế

ngày mai ơi

sao mà mây trôi thênh thang

và tôi ơi

những cây cầu bắc ngang

chần chừ làm chi

mà không sang bên ấy?

   Khổ thơ này nói về thời điểm xuất hiện SỰ THẬTTÌNH YÊU để rồi nó tuôn trào trong thực tại của một con người đang yêu.

  Đó là khi không gian, thời gian và tâm thức của con người hòa quyện với nhau  thành một thể thống nhất

    Chiều ơi! Ngày mai ơi! Đó là những từ ngữ biểu cảm cho thời gian. Nắng vàng như thế, mây trôi thênh thang, những cây cầu bắc ngang, sang bên ấy là những từ ngữ diễn đạt không gian. Và tôi ơi! chần chừ làm chi, mà không sang bên ấy diễn tả những tâm trạng của con người. Một khi ba nhân tố đó cùng xuất hiện tại một thời điểm và chúng hòa hợp với nhau thì sự thật Tình Yêu sẽ tuôn trào trong thực tại của bạn. Đó không phải là quá trình của logic, đó là tồn tại, là hiện hữu, không liên quan gì với bất kỳ thứ  triết lý nào. Bỗng nhiên con người ở đây, bây giờ, trong sự tĩnh lặng quá sâu sắc đến mức bắt đầu nghe thấy lời thì thầm trong chính trái tim mình. Đó là một giọng nói nhỏ nhẹ, êm ái, nhắc nhở con người: Chần chừ làm chi mà không sang bên ấy, câu nhắc nhở này không phải của lý trí mà đó là tiếng nói của một trái tim sáng suốt, khi mà tâm trí ngừng tạo ra sự ồn ào, huyên náo và nó sẽ được con người nghe thấy.

  Ba khổ thơ tiếp theo:

những câu chuyện vui tôi dành cho em đấy

hoa hồng dịu dàng tôi dấu vào tim

những giấc mơ đêm

ôi những giấc mơ đêm

sẽ chỉ cần vài giây

mình nắm tay nhau băng qua phố vắng

sá chi những lời trách mắng

sá chi những lời điêu ngoa

tôi bận viết nốt bản tình ca

để mình nhìn nhau mà hát

em như những nốt nhạc

tung tăng trên cánh đồng

đôi mắt nhìn mông lung

tôi lặng người mà ngắm

mình yêu nhau

ôi mình yêu nhau say đắm

gần như là cuộc sống

gần như là giấc mơ

   Khi sự thật về Tình Yêu được khám phá, con người bắt đầu tiết ra hương thơm. Những phẩm chất tuyệt vời mà con người chưa bao giờ tình cờ nhận biết. Con người bắt đầu nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của thi sĩ, bằng cái nhìn của họa sĩ, con người bắt đầu nghe những lời nói và âm thanh bằng đôi tai của người nhạc sĩ. Tất cả mọi nghệ thuật của loài người từ trước đến nay không phải là một cái gì đó khó có thể ra đời được, mà nó chỉ là sản phẩm phụ của những trái tim tha thiết yêu thương, bởi vì trái tim đằm thắm yêu thương sẽ trở thành sự sáng tạo. Nó sẽ rót chính nó vào tồn tại theo nhiều cách có thể, thông qua nhiều khía cạnh. Khi Tình yêu bắt đầu tuôn chảy trong trái tim bạn, bạn bắt đầu tạo ra hương vị của ma lực xung quanh bạn, sự tao nhã, mỏng manh, sự duyên dáng tinh tế bắt đầu tự nguyện xuất hiện.

   Ba khổ thơ này nói về sự giao cảm của Tâm thức, cuộc gặp gỡ bên trong tâm thức của của con người. Nói một cách cụ thể hơn đó là người đàn ông nay có khả năng gặp được người phụ nữ bên trong. Và cuộc gặp mặt với người phụ nữ bên trong là một cực đỉnh của bạn ấy, điều đó cũng mang đến niềm khoái cảm tuyệt vời.

  Trong cuộc gặp mặt với người phụ nữ bên ngoài, bạn sẽ chỉ có những cái nhìn thoáng qua (lâu nhất là khoảng 15 đến 30 phút). Nhưng khi bạn gặp với người bên trong, thì điều đó nó sẽ trở thành trạng thái của bạn mà không phải thoáng qua, vì nó không bị thời gian và không gian bên ngoài chi phối ảnh hưởng đến, bạn hoàn TỰ DO mà không ai có thể cản trở được. Nó giữ nguyên với bạn, nó đợi chờ bạn, nó trở thành hương thơm của chính bạn, vì thế mà có hai câu thơ :

gần như là cuộc sống

gần như là giấc mơ

  Đến khổ thơ cuối:

  nhưng

tôi phải trở về

trong những chiều bơ vơ

để lặng yên nhớ em

để mỗi đêm nghe trái tim biết khóc

để ngày qua ngày bạc thêm màu tóc

để em là người cuối cùng

trong quãng vắng đời hoang

   Liên hệ một chút với thi nhân Hàn Mặc Tử .

  Trong bài thơ: MÙA XUÂN CHÍN của Hàn Mặc Tử, khổ thơ cuối là :

  Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

  Lòng trí bâng khuâng SỰC NHỚ nàng

  Chị ấy năm nay còn gánh thóc

  Dọc bờ sông trắng năng chang chang .

  Từ  SỰC NHỚ  là một từ đắt giá nhất của cả khổ thơ, thì ở đây cũng vậy, chúng ta thấy từ  NHƯNG  cũng có một sức biểu cảm như thế, nó là ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, ranh giới giữa thiên đường và địa ngục, ranh giới giữa không-tâm trí và tâm trí.

  Cũng giống với nhân vật CHỊ ẤY, nhân vật TÔI của bài thơ này, anh ta chắc chắn là phải hoàn thành tất cả những nhiệm vụ GÁNH THÓC của mình trong những hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã của cuộc đời thật nơi trần gian (nhiều khi còn khổ hơn là gánh thóc trên dọc bờ sông trắng nắng chang chang ) điều đó được thể hiện qua những cụm từ ngữ sau:

 Những chiều bơ vơ, trái tim biết khóc, ngày qua ngày bạc thêm mái đầu,  quãng vắng đời hoang……

  Cuối cùng, Tình yêu là ma thuật, tình yêu là tôn giáo, bất kỳ điều gì chạm đến một trái tim tràn ngập yêu thương thì cũng đều được biến đổi thành  VÀNG,  thậm chí nếu bùn mà được chạm bởi Tình Yêu thì ngay lập tức những bông hoa sen bắt đầu phát triển. Tình Yêu là một ma thuật kỳ diệu nhất trên đời, sức mạnh ma thuật, và những người biết Tình Yêu là những người ma thuật.

LÊ CHUNG

READ MORE - TÌNH YÊU – PHẨM CHẤT MA LỰC CỦA CUỘC SỐNG - Lê Chung bình thơ Võ Thị Như Mai

VỌNG VỀ CỐ THỔ YÊU THƯƠNG - Chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng

 


VỌNG VỀ CỐ THỔ YÊU THƯƠNG 

 

Mẩy từ thấp thoáng Giêng Hai

Xa lăng lắc

Xanh xanh chồi búp lộc đài

Chòi ra góp mặt

Tiếng dồng dộc ru ổ trứng hồng

Um ma nghé ngọ xanh tháng Chạp

Ngơ ngác

Ngẫng đầu gọi gió đông

 

Có phải mình đấy không

Con dế lửa mang đầy bụng lửa

Không đốt cành cây

Không thiêu bụi cỏ

Mà mơn man thổi hương phun gió

Quay đầu vểnh râu phương cố thổ

Vọng về

 

Phía ấy là rơm rạ vía làng

Phía ấy là sông nước hồn quê

Phía ấy là

Lũ tróc đầu dâu

Lũ cào chân ruộng

Bát nhang ngoại chén gạo làng nước cuốn

Duyên thì con gái em trôi

 

Là tôi

Mà không chỉ một tôi

Cả làng sớm hôm mót củ

Mơ giấc mơ trù phú

Kể nhau nghe chuyện ai đó nhặt vàng

Những rãnh cày ửng lên màu cổ tích

Mũng giống mẹ gieo gió nghịch

Ngọn roi cha vẫn rì tắc dãi dầu

 

Từ độ trăng nghiêng cau bén duyên trầu

Hoa bù xít

Phả

Nực nồng điệu gáy

Đất vẫn vắt mình cho sữa chảy

Không còn răng sún cạp ngô non

 

Không còn chắc lép đong lon

Không còn hạt cơm cõng củ

Không còn rượu gạo ổi xanh rủ nhau bù khú

Không còn chỗ cho buồn xưa cư ngụ

Cố hương ơi,

Người vẫn trong hơi thở

Sao vời xa tiếng dế lửa gọi mùa

 

Bầy sáo bông vọc nước chơi đùa

Một vẫy cánh quên năm thề bảy hẹn

Dâu sông Vệ còn xanh

Tằm Mỹ Hưng vẫn kén

Mai chiều toen hoẻn

Đứt nối một mình

Ai phụ quay tơ! 

 

 

QUA CHỢ CŨ NHỚ NGƯỜI XƯA 

 

Liêu xiêu mái lá cũ mềm

Guộc gầy chân cột hom hem tay kèo

Chia nồng nực sẻ hanh heo

Tựa nhau mà đỡ đói nghèo qua cơn

 

Chiều đông gió tủi mưa hờn

Cua đồng ngang dọc đường trơn lối lầy

Tơi cời vẫn tụ về đây

Hàng kia tôm cá dãy này ớt tiêu

 

Lầm lì mặt đất xanh rêu

Rưng rưng nước giọt rơi đều trước sau

Những thân rơm rạ nhĩ nhàu

Vẫn dành hơi ấm cho nhau suốt mùa…

 

Thông thênh quán nhỏ gió lùa

Nghe kèo cột kể ngọt chua một thời

Đâu người phiên chợ xưa ơi

Đành cho mối mọt nghiến lời hẹn sao? 

 

 

GIẤC MƠ LÀNG 

 

Loằng ngoằng tay cỏ xanh

Ôm ấp mặt đất nâu lỗ chỗ

Mộng mỵ dấu chân mơ ngược phố

Rưng rưng về trước cổng làng

Cùng chiếc lá vàng chơi ván đáo dở dang

Mở rộng rào tre vốn đã lưa thưa khép hờ năm tháng

Sờ sẫm vách đá ong tìm vết mưa nắng rạn

Nhặt hòn bi ve vật vạ bên đường…

 

Gió hoang lung chợt sững lại góc vườn

Núm ruột ngày xưa đã mọc thành đụn mối

Xao xác rơi từ những tầng mây nổi

Mảnh hồn ai

U uất gọi chiều

 

Đâu rồi bóng dáng thương yêu

Ráng như máu đỏ ra từ tiếng cuốc

Dải tang trắng

Cành cây xanh rút ruột

Đắng mắt người rin rín lệ hoàng hôn

 

Chẳng ai dại khờ đem kỷ niệm đi chôn

Chỉ vô ý bụi thời gian vùi lấp

Lập lòe ký ức ma trơi

Nguồn sáng vỡ đâu dễ gì huân tập

Dế giun nào bốc mộ thời gian?

 

Làm sao gỡ nổi giấc mơ làng

Đêm mười ngón gai tre cào nát ngực

Văng vẳng mơ hồ tiếng chuông hư thực

Có rồi không

Tia chớp lóe ngang trời…


Nguyễn Ngọc Hưng

 

READ MORE - VỌNG VỀ CỐ THỔ YÊU THƯƠNG - Chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng

HOA NGỌC LAN - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA NGỌC LAN - Chu Vương Miện

MỜI RƯỢU MÙNG NĂM - Chùm thơ Trần Thiên Thị

 


MỜI RƯỢU MÙNG NĂM 

 

Giang hồ không ấn tín

Trăm năm một tấc gươm cùn

Rót đầy

Rót đầy trăm chén

Hỏi ai còn muốn say cùng?

 

Chờ chi Hoàng Hà chảy ngược

Thơ khêu thành lũ trăm dòng

Đòi chi hồn nhiên thưở trước

Gánh tình đã đủ long đong

 

Thì thôi uống thêm chén nữa

Ngày mai lại tiếc đêm này

Đọc người trong đôi mắt ướt

Đọc đời trên chỉ bàn tay

Dừng thôi dã tràng công khó

Lạy về Đông hải mà say 

 

Thì thôi

Em cứ hát

Nệ chi bài ca cũ

Thì thôi

Em cứ khóc

Thỏa lòng hạt muối mồ côi

Nhục vinh gối đầu đánh giấc

Tình chung lăn lóc say cười 

 

Rót thêm

Rót thêm chén nữa

Hồng nhan tri kỷ say cùng

Rót thêm

Rót thêm chén nữa

Bạn thù mời lại vui chung

Cuộc chơi đến hồi tàn cuộc

Tạ ơn đào-kép=anh-hùng

 

Rót xuống đất một chén

Uống với người đi xa

Nâng ngang mày một chén

Uống cạn với trăng tà 

 

 

BẮT ĐỀN THÁNG BA 

 

Đứng giữa đường khuya bắt đền đêm

Chuốc sương vai cỏ đã say mềm

Quang tình đã sắp từ thu trước

Trăng cứ vàng như sợ lãng quên 

 

Đứng giữa mùa xuân bắt đền em

Vui chia nghiêng ngửa buổi chân ghềnh

Nhờ hoa nói hộ bao lời hẹn

Rượu ven đường nuôi chẳng được lãng quên 

 

Bắt đền tháng ba

Bắt đền cánh bướm

Say chi tình mắc nợ với mùa hoa

Bắt đền ca dao

Bắt đền cổ tích

Để khi buồn

Còn lại một mình ta 

       

 

BẮT ĐỀN

 

cứ lo sông sẽ cạn nguồn

cứ lo đánh mất nỗi buồn của em

lá còn hờm sẳn sầu quen

úa vàng chỉ để bắt đền mùa thu

 

Trần Thiên Thị

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - MỜI RƯỢU MÙNG NĂM - Chùm thơ Trần Thiên Thị

Sunday, July 25, 2021

GIA TÀI ĐỂ LẠI CHO CHÁU CHẮT TÔI | QUA SÔNG - Truyện ngắn Nguyễn Nguyên An

Tác giả Nguyễn Nguyên An


Gia tài để lại cho cháu chắt tôi

Nguyễn Nguyên An


Tấm khăn này tôi nhặt ở rác tháp tàng kinh Phật. Vợ  tôi về may tay, sau đó thêu OM A HUM PAD ME SIT ĐI HUM và mạng lại nhiều mảnh cho tôi tọa thiền. Khi tôi chết thờ trên bàn thờ, cháu, chắc nào có duyên lành được phép thỉnh xuống để tọa thiền. Tôi nghĩ ba trăm năm sau có người dùng đến. Tôi chết mong các con vâng lời tôi không nhận tiền phúng điếu, chỉ nhận nén hương tiễn biệt. 


Sống tốt xấu khi chết sẽ biết. Tôi có gặp một người giàu có nhà cao cửa rộng, nhưng trước khi chết phải nằm dưới đất tầng trệt cho ngưởi ở đấm vào chân tay bị ung thư xương. Rồi em chết đau như chó le lưỡi, như dao đâm từng lát trong gan, tôi nghĩ đó là tùng xẻo, rồi ông bạn tôi ở truồng bò trong phòng, con trai cho người ở chăm, người ta cho ăn cơm và tắm phải đứng ngoài xịt nước cho trôi phân… Ông ấy từng khuyên tôi ăn một lần 13 cái trứng gà trước đây tôi đau đầu đều đều, gan nhiễm mở… đến khi ăn chay tu tập bệnh bay mất. Giờ tôi ốm nhưng khí lực tôi, tôi biết, tôi nghe rõ nó khỏe như thế nào. Sau thời thiền tôi nghe mát toàn thân cho dù ngoài trời 40 độ, trước kia chỉ nằm bên cửa sổ thoáng gió một chút, mai cảm, bây giờ có thể nằm ngoài trời cả đêm mai không bị gì. Từ lâu không thấy cảm mạo, đau bụng, đau dầu… là gì. Bởi vậy chỉ còn một hơi thở tôi cũng tu, tu chết cho nhẹ nhàng. GIA TÀI TÔI ĐẺ LẠI CÓ CHỪNG ẤY!

Tịnh cốc Tây An, 260521

NNA



Qua sông

Nguyễn Nguyên An


Có một người muốn qua sông để đoàn tụ với gia đình nhưng thấy dòng nước sợ quá ngồi lỳ bên này khóc. Người trong làng nghe người ấy khóc ban đầu cũng thương, Đến hỏi han đôi điều, sau thấy người ấy cứ ngồi khóc dai, ai cũng ghét, đến nổi họ tìm đường khác dài hơn để đi tránh người đó. Tai khỏi nghe người đó khóc van xin. Có một ông già đến hỏi:

-Sao con lại khóc hoài, không đứng lên đi làm bè để qua sông, thương con cái một chút cực nhọc con không làm được?

Người  kia trả lời:

-Con không biết làm bè.

-Không biết phải học.

-Tuổi này sao con học được.

-Tuổi nào cũng cần nổ lực. Con nổ lực ngồi than khóc có ai làm bè cho con.

-Tại  con mập quá, làm gì một chút cũng ưa ngồi, ưa ngủ. 

-Con nên nhớ, người mập là phải nuôi thêm mấy nhỏ đứa mở thừa lười biếng. Con làm không đủ ăn, tiền đâu con lo cho thêm  mấy đúa nhỏ. 

-Con cầu xin.

-Cầu và xin là tính cách của kẻ ăn mày.

-Con theo đạo lên đồng bóng bói toán mà.

-Con có biết nói dối không mà theo đạo này. Người nào theo đạo này cũng phải nói dối giỏi người ta mới cho tiền. Con ạ, theo đạo gì có lợi cho mình, cho gia đình cho xã hội thì theo. Thôi đứng dậy đi lên bè mà qua sông.


Tịnh cốc Tây An, 250621

NNA




READ MORE - GIA TÀI ĐỂ LẠI CHO CHÁU CHẮT TÔI | QUA SÔNG - Truyện ngắn Nguyễn Nguyên An