Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, March 13, 2017

XUÂN ẨM ƯỚT - Thơ Nguyễn Khôi





XUÂN ẨM ƯỚT
(Tặng Đặng Xuân Xuyến)
                     
"Bóng ai trăng dãi thướt tha
Tiếng ai gió thổi gần xa đôi hồi"
   (Đông Hồ: Nhớ rằm tháng hai)
                       
Xuân ẩm ướt. Mưa phùn. Hoa tươi nở
Rằm tháng hai trăng đẫm tóc cô nàng
Hoa Anh Đào trưng vườn Lý Thái Tổ
Chút xuân hồng mang đến tự Phù Tang.
                      
Bao cô nàng hân hoan chụp ảnh cưới
Mơ đi Tây, sang Nhật "đổi đời" ?
-Là kỷ niệm thời yêu đương sôi nổi
Để mai ngày nhớ tiếc tuổi hai mươi .
                       
Xuân nay đẹp thêm Anh Đào trang điểm
Nắng trưa hừng cầu Thê Húc sắc son
Làn môi ấm cái hôn bừng má thắm
Người chen người như hội ở hồ Gươm.

                              Hà Nội 12/3/2017
                              NGUYỄN KHÔI

READ MORE - XUÂN ẨM ƯỚT - Thơ Nguyễn Khôi

ẨM TRỜI - Thơ Đặng Xuân Xuyến





ẨM TRỜI

Em gạ một đêm chồng vợ
Cho mùi da thịt khỏi ươn
Mấy ngày hôm nay mưa tợn
Ẩm trời, khó ở, thấy ghê.

Ừ thì, một đêm thôi nhé
Mai đừng, nữa gạ một đêm
Mùa này ẩm trời dài lắm
Da đây thịt đấy đến mòn.

Hà Nội, 13 tháng 03.2017
      Đặng Xuân Xuyến


READ MORE - ẨM TRỜI - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BẠCH CƯ DỊ





BẠCH CƯ DỊ

trên con đường đầy ải
quá giang bến Tầm Dương
khách Giang Châu Tư Mã
hội ngộ lão giai nhân
một danh kỹ tài hoa
nực tiếng nơi kinh thành
"tam thập niên tiền
nhị thập tam"
người làm quan bị biếm
thương nữ hoa đã tàn ?
cuối đời thơ gặp nạn
hội ngộ chung một thuyền
tiếng tỳ bà thánh thót
ngoài khoang mưa từng cơn!
thi nhân ngồi đối ẩm
cung thương dốc thêm buồn
gió hiu hiu mặt nước
lau lách bờ buồn hơn!
hai ngừơi ba chung rượu
càng uống càng cô đơn
đất Giang Xin (Tây) đáo nhậm
xế chiều một chức quan
thân ngang ngang với phận
bườn cho một chức hèn
hai người già thiu ngủ
dửng dưng đêm Tầm Dương

                 chu vương miện


MẦN THƠ BẠCH CƯ DỊ

có người thành danh
có người không
có người làm quan
có người làm dân
có người tu đạo sĩ
có người làm cao tăng
có người ở lâm tuyền
có người ở thôn trang
có người làm đại gia
có người chăn nuôi gà
có ngươi đủ vợ con
có người độc thân
có ngườ nổi hơn cồn
có người vô danh

*
đời đáng chán ta đang đáng chán
chuyện giữa đường đem gán vào thân
chuyện xa rồi chuyện đến gần
làm quan, quan cách thế gian lạ gì ?
cũng đành khăn gói ra đi
bến Tầm Dương gặp cố tri thủa nào
đêm tà gẩy khúc li tao
Giang Châu Tư Mã lòng xao xuyến lòng
xót thương từng giọt tơ đồng
đau thương trút xuống lòng sông ngùi ngùi

                                        chu vương miện

LỠ ĐƯỜNG BẠCH CƯ DỊ

nơi Tầm Dương nghe tiếng rao tẩm quất
trăng vừa nhô heo hắt liễu ven sông
thuyền trọ đêm cũng vừa mới nhá đèn
tiếng so phiếm tiếng tơ tiếng trúc
lão quan già bị đày trên tay chiếc quạt
phất qua phất lại ở trong khoang
lão giai nhân nâng lại chiếc cổ cầm
miện ê a bắt đầu câu chúc phúc
chủ thuyền ra sau lo bếp núc
trong lòng khoang trơ lại mái đầu già
một vừa đàn vừa nhịp vừa ca
một im lặng nhấm từng giọt rượu
đủ thức ăn đặt trong lòng chiếu
rươu mươi be mươi nậm xếp chung quanh
thịt tả pín lù trong liễn mầu xanh
lạc chíu chương xì dầu hai tĩn
mì vịt tìm trong nồi có sẵn
đàn hát xong cứ vậy mà xơi
đêm trăng thanh gió mát đất với trời
đại thi hào đại danh kỹ hội ngộ
năm phương hướng kim mộc thủy hỏa thổ
trên Tầm Dương kẻ tù kẻ khổ gặp nhau ?
thôi banh ta lông chả nói chi nhiều
đàn xong cuộc mạnh ai nấy ngủ

                      chu vương miện


ĐƯỜNG  *ĐƯỜNG 

vòng vo với một chảo thơ Đường
Trương Kế Lý Bạch ngạt ngào hương
Đỗ Phủ sánh ngang Bạch Cư Dị
đạo nào mà lại Thục Đạo Nan
Thôi Hiệu vơí một bầy hoàng hạc
ngó quanh chấm nhỏ tếch non ngàn ?
Thôi Hộ lạc vườn đào hàm tiếu 
cát lầm một buổi sớm xuân sang!
khúc tỳ bà khẩy nghe não nuột
chau mày ngó mãi bến Tầm Dương
Đỗ Mục uống chơi không xỉn nổi
khúc Hậu Đình Hoa rực miên trường
bến Bạc Tần Hoài đầy rác rưởi
nằm yên phận đó đã bao thời ?
hoàng khuyển hoàng mai theo Tô Thức ?
sơn đầu minh nguyệt khiếu chưa vui ?
chiêm bao trở lại tràng an đó ?
gục giữa cầm đài một giấc chơi 
thung dung chi đó chàng Vương Bột 
Trần Tử Ngang đâu đó còn cười!


TRONG ĐỤC

nước trên nước giòng trong giòng đục
người giữa giòng kẻ đục người trong ?
người mặc áo kẻ cởi trần
người chân guốc dép, ngườì chân không giầy!
khi nhởn nhơ đi đây đi đó ?
khi vào tù chân bó lại thôi ?
kèn thổi ngược trống đánh xuôi ?
một vòng luẩn quẩn mấy hồi thế gian ?

                                chuvươngmiện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BẠCH CƯ DỊ

TƯƠNG LAI BUỒN - thơ Trương Thị Thanh Tâm


Trương Thị Thanh Tâm


TƯƠNG LAI BUỒN 
               
Tóc dài tôi cắt làm hai 
Để quên để xoá chiều dài tình yêu 
Khi yêu thì cho rất nhiều 
Nhận về chỉ có, bao nhiêu cho mình 

Trời mưa bất chợt thình lình 
Giọt to giọt nhỏ, thơ tình ướt trang 
Gieo chi giọt đắng vào lòng 
Từng trang thơ viết, sầu đông ngỡ ngàng 

Đâu ngờ tình quá phủ phàng 
Bao năm tôi đổi, lệ tràn như mưa 
Khi đi buổi sáng buổi trưa 
Nắng mưa gió phủ, đường xa bước về 

Thì thôi quên hết lời thề 
Tình cho không trọn, đam mê cạn nguồn 
Bây giờ mới thật là buông 
Yêu trong quá khứ, lại buồn tương lai.
           Trương Thị Thanh Tâm 
                      Mỹ Tho



READ MORE - TƯƠNG LAI BUỒN - thơ Trương Thị Thanh Tâm

“THẰNG CHÁU” TRONG MƠ - Đặng Xuân Xuyến

     
           


“THẰNG CHÁU” TRONG MƠ 

Trưa (23 tháng 02 năm 2014), ngủ, lại mơ lên 344 Đường Láng. Thấy bà Mùi và bà Tý cãi nhau hăng lắm. Bà Mùi xông vào quán, ôm đồ đạc của bà Tý vất đầy ra ngõ, rồi chỉ mặt, chì chiết, chửi bà Tý là con mụ béo, con nhà quê. Bà Tý hăng tiết, chửi lại bà Mùi là con nặc nô, con “a đầu” rẻ rách, rồi cầm cán chổi tới tấp đập vào đầu bà Mùi. Đau quá, bà Mùi lăn đùng ra ăn vạ. Bà giãy hăng lắm. Vừa lăn vừa gào nhưng mắt vẫn canh chừng cán chổi của bà Tý: - “Ới làng ới xóm mau cứu tôi với. Con Tý nhà quê nó đang định giết tôi đây này…”
Định ra can 2 bà nhưng ngại lại sảy ra hiểu lầm rồi mang vạ vào thân như năm nào nên tôi lẳng lặng vào nhà tránh mặt. 
Rõ ràng là đi lên tầng 2 nhà ở 344 Đường Láng, vậy mà khi bà Tý mang nước lên lại là cảnh tôi đang ngồi trên con đường đất mới mở, ở quê, không phải ở Hưng Yên, quen nhưng mà lạ lắm. 
Một cậu bé quãng 10, 11 tuổi, nước da trắng trẻo, khuôn mặt sáng đẹp đến chào tôi, đưa chiếc ghế nhựa, lễ phép mời tôi ngồi, rồi vạch “chim” định đái vào tường nhà. Tôi quát: - “Cháu không được tè bậy như thế. Chú cho no đòn đấy!”. Thằng bé khúc khích cười, đi vòng ra sau, ôm cổ tôi, tình cảm hệt như với người thân vậy, rồi lừa lúc tôi sơ ý, tè luôn vào tường ngôi nhà kế sau. 
Bực, định phát vào mông thằng bé thì bà Tý hề hề cười, bảo: - “Ô, thế bố Xuyến không nhớ thằng bé này là con ai à mà lại định đánh nó? Phải hỏi thân thế của nó xem sao đã chứ? Nhỡ may đánh nhầm phải người thân thì thế nào?”
Tôi sững người, chưa kịp trả lời thì thằng bé khúc khích cười, liến thoắng: - “Chú ấy già rồi, lẩm cẩm lắm nên không nhớ được gì đâu bà ạ! Đấy! Vẫn hấp tấp như mười mấy năm trước. Chả thay đổi gì cả! Chán!.” 
Nói xong, chạy mất hút vào ngõ.
Tôi quay sang hỏi bà Tý thằng bé ấy tên gì? Con nhà ai? Sao trông quen thế? Thì bà cụ tròn mắt hỏi lại: - “Ơ thế anh cũng không biết nó à? Cô tưởng anh với nó là chỗ thân tình? Thấy nó bảo là người “quen cũ” của anh, để nó mang nước lên cho anh nhưng cô sợ nó lóng ngóng, đánh vỡ ấm chén nên cô bê lên.”
Tôi đứng dậy, móc túi để trả tiền nước thì thằng bé lại xuất hiện. 
Nhìn tôi, nó buồn buồn hỏi:
- Thế chú không nhớ cháu thật à?
Tôi bảo:
- Ừ! Chú xin lỗi! Thật sự chú không nhớ cháu là ai? con nhà nào?
Nó ngước mắt nhìn tôi, rưng rưng lệ, ai oán trách:
- Người đâu mà vô tâm thế! Mới xa nhau có hơn mười năm, giờ gặp lại mà đã quên cả anh cả em rồi.... 
Tôi phì cười, mắng:
- Uầy. Hư nào cháu! Chú với cháu sao có thể là anh em được. Hư quá!.... 
Không đợi tôi hết câu, nó gào lên: - “Thằng anh mất dậy, bạc nghĩa bạc tình này! Kiếp trước, ngồi uống rượu với nhau bao lần mà quên em nhanh thế? Nhìn kỹ đi, rồi cố mà nhớ xem ngôi nhà này đã gặp ở đâu?”. Rồi lao vào đấm đá tôi túi bụi. 
Giật mình, tỉnh giấc.
Thấy giấc mơ lạ, chép lại để ngẫm xem sao.
*.
Hà Nội, 23 tháng 02 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
READ MORE - “THẰNG CHÁU” TRONG MƠ - Đặng Xuân Xuyến

TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN



                        Nguyễn Ngọc Kiên



VIẾT GIỮA ĐẦM SEN
Giữa vùng đầm trời và nước mênh mông
Em cứ mơn mởn thế làm sao anh chịu nổi!
Anh ngơ ngẩn cùng mây bay và gió thổi
Đứng chết lặng trên bờ em có cứu anh không?
                                         Hà Nội, 10/9/2013

KHÓM HỒNG TRƯỚC SÂN
Một khóm hồng xanh ở trước sân 
Mưa sa gió giật đã bao lần 
Sớm nay bỗng nở bừng dăm nụ
Kịp đón xuân về với chủ nhân.
 Hải Đường Hải Hậu, 1/ 2014

GHI Ở THÁNH ĐỊA MĨ SƠN
Giữa trưa hè về với Mĩ Sơn
Cô hướng dẫn viên ném vào tôi cái cười tinh nghịch.
Chợt thấy mình hóa thành phế tích
Trước vẻ đẹp hút hồn bất chấp cả thời gian!
                                Quảng Nam, 7/2013
                                Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN

NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ "QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN - Nguyễn Khôi



                        Nhà thơ Quách Tấn


NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ 
"QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN
                          
  Nhà thơ Quách Tấn (1010-1992), quê thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định. Cụ là Nhà thơ nổi tiếng trong phong trào "Thơ mới", đồng thời là một Nhà văn chuyên khảo về Thơ vào loại hàng đầu ở nước ta... về "Thơ toàn bích", theo Quách Tấn thì đó là Thơ được liệt vào Ưu đẳng Thượng hạng phải là những bài thơ hình thức cũng như nội dung, không ai bắt bẻ được, là những bài thơ hay tuyệt đỉnh, tức là hoàn hảo như thơ KHÓC CHỒNG của Hồ Xuân Hương (Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi... trong đó 2 câu "cặp luận" mà nhiều sách chép khác nhau :
          Nắm xương dưới ván chau mày khóc
          Hòn máu trên tay mỉm miệng cười
         (cán cân tạo hóa rơi đâu mất ?
          Miệng túi càn khôn thắt lại rồi ).
 Với Phạm Thái (1777-1813) là bài "Đề Nghĩa Lư" với những câu kiệt xuất như :
          - Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng 
            Trúc vàng thà điểm giọt Ngu cung.
          - Dệt gấm Thanh Nê câu nhất tiếu
            Thêu nền Thúy Ái chữ tam tùng.
  Với Bà huyện Thanh Quan (khoảng 1821)thì  bài "Thăng long thành hoài cổ " là hay tuyệt đỉnh nhưng chưa hẳn toàn bích :      
             Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
             Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
             Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
             Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
             Đá vẫn (dẫu) trơ (bền / sờn)) gan cùng tuế nguyệt,
             Nước còn cau mặt với tang thương.
             Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
             Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.
 Theo Quách Tấn thì bài thơ chưa hoàn toàn là viên "khuê bích vô hà" vì có tì vết, một tí thôi ở nơi cặp trạng :
             Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
             Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
"Bóng" đối với "hồn", "tịch dương" đối "thu thảo" về mặt tự dạng thì thật chỉnh. Nhưng về mặt ý nghĩa thì nặng nhẹ không được cân...bởi : Hồn là hoạt tự, Bóng là tử tự. Đối nhau không được chỉnh là vì vậy đó . Nhưng đó là lối trách bị hiền giả của kẻ "cầu toàn" chứ bài Thơ đó vẫn giữ giá "liên thành" mà từ xưa đã ấn định... qua đó cũng chứng minh "làm được một bài thơ toàn bích thật thiên nan vạn nan"... và cũng để nhủ thầm cùng bạn đồng thanh nên rộng rãi khi tuyển Thi, bởi ngọc nào cũng thường có tỳ vết.
  Thơ bà Huyện Thanh Quan còn truyền lại, bài được phổ biến sâu rộng nhất là bài :

              QUA ĐÈO NGANG
              Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
              Cỏ cấy chen lá, đá chen hoa.
              Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
              Lác đác bên sông rợ (chợ) mấy nhà.
              Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
              Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
              Dừng chân ngoảnh (đứng) lại : trời non nước,
              Một mảnh tình riêng, ta với ta.

  Các nhà Thi học đều khen là một bài thơ hay.
  Phạm Quỳnh trong một số Nam Phong ra năm 1917, phê bình : "Rằng hay thì thật là hay. Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà về thiên nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy ".
  Trong bài Quốc Văn Diễn Giảng ngày 2/3/1939, Tản Đà tiên sinh viết :
"Thơ bà Huyện Thanh Quan, bài QUA ĐÈO NGANG, 2 câu tam tứ chúng ta thường nghe rằng : "Lom khom dưới núi, tiều vái chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà". Mới đây tôi được nghe  một ông bạn thanh niên nói chuyện từng trông thấy một bản Chữ Nôm thời xưa chữ thứ 5 câu tứ (4) là chữ "rợ" chứ không phải "chợ". Tôi hỏi nữa thời nói : Nguyên văn viết  chứ "Nhân đứng" bên chữ "Trợ" . Như thế thì RỢ thực phải, mà RỢ đối với chữ TIỀU  mới cân, chỉnh hơn. Nhân nghĩ lại từ xưa, tôi riêng chê thơ bà Thanh Quan , văn tả cảnh không được sát thực lắm. Nay nghe  câu chuyện của ông bạn nói đó, mà tấm lòng đối với người trước, khinh trọng có thay đổi.
  Đọc mấy lời của Tản Đà tiên sinh, một túc nho đã từng qua lại Đèo Ngang là cụ Ngô Văn Nhượng ở Diên Khánh- Khánh Hòa nói rằng :
  "Dọc Đèo Ngang, một bên là núi, một bên là biển, chớ không có chợ, cũng không có sông. Cặp trạng trong bài thơ tôi nghe truyền là :
            Lom khom dưới núi tiều vài chú
            Lác đác trên dông rợ mấy nhà.
  Đứng về mặt thực cảnh thì câu "rợ mấy nhà" hơn câu "chợ mấy nhà". Câu "trên dông rợ mấy nhà" hơn câu "bên sông chợ mấy nhà". Song đứng về mặt văn chương, câu nào cũng không ổn đáng. Bởi vì vài chú tiều mà đảo trang thành "tiều vài chú"  thì rất xuôi tai, còn "chợ mấy nhà" (ai lại nói nhà chợ bao giờ?) "mấy nhà rợ" thì nghe thật trái tai (cũng như mấy nhà người Thượng - dân tộc thiểu số xưa- nói kiểu nay cho là miệt thị "man di mọi rợ") - NK xin bổ sung thêm là : Trước 1945, ta vẫn thường dùng "lính mọi - thơ Tố Hữu, "Mọi Kon Tum" - Les Bahnar de Kontum, cuốn về Dân Tộc học của Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi.
  Huống nữa đề bài QUA ĐÈO NGANG mà cặp trạng không có gì là Đèo Ngang cả. Những cảnh vật "tiều lom khom dưới núi", "nhà lác đác bên sông" hay "rợ lác đác trên dông"... hễ nơi nào có nước, có non thì đều có, chớ có riêng gì Đèo Ngang ? Đã biết đây là Thơ tức cảnh, chỉ tả những gì chợt thấy trước mắt trong nhất thời, chớ không phải là Thơ tả cảnh hay vịnh cảnh mà phải nêu những cảnh đặc biệt và thường tồn của nơi mình tả mình vịnh. Tuy vậy, những gì mình thấy cũng phải mang một vài nét đặc biệt để khỏi lầm lẫn với những nơi khác. Chớ ở đây, muốn nói về con Đèo nào khác thì chúng ta chỉ bỏ tên ĐÈO NGANG thay tên con Đèo ấy vào thì "bức tranh cảnh" của ông Phạm Quỳnh trở thành bức trướng, đã thêu sẵn ở ngoài phố mua về điền vào lạc khoản, ngày tháng và tên tuổi của người mua, là có được một món quà hỷ lạ hay vật phúng điếu phổ thông.
   Được ca tụng nhất là cặp luận. Ca tụng cái khéo của sự chơi chữ "nhớ nước" đi với "Quốc Quốc". "Thương nhà" đi với "gia gia". Nhưng vì quá chú  tâm đến cái khéo mà không lưu ý đến chỗ vụng là hai chữ "mỏi miệng". Nhớ nước thì đau lòng là phải, chớ thương nhà sao lại "mỏi miệng" ? Hai chữ "mỏi miệng" vốn ngậm chứa ý nghĩa không tốt. Hai chữ đó thường dùng để tỏ lòng bất mãn vì lời nói tiếng kêu của mình không có hiệu quả, kêu không thấu, nói không ai nghe. Có gì đáng bất mãn trong việc "thương nhà " đâu mà phải thốt ra hai tiếng "mỏi miệng " ?
  Hai câu nhớ nước/ thương nhà không phải là hai câu độc sáng. Ý vốn toát nơi bài thơ chữ Hán của Trần Danh Án (bậc tiến bối đời Lê Trịnh) là lúc theo vua Chiêu Thống chạy sang Tàu lần thư nhất : Chúa một nơi/ Tôi một nơi :
    Giá cô tại giang nam
    Đỗ quyên tại giang bắc
    Giá cô minh gia gia
    Đỗ quyên minh quốc quốc
    Vi cầm do hữu quốc gia thanh
    Cô thần đối thử tình vô cực.
Bài thơ Tràn Danh Án (có trước) lời tự nhiên bình dị, tình lại chân thiết, thật dễ rung động lòng người đọc người nghe. Hai câu của bà Thanh Quan bị những nét tiểu xảo không mấy tinh vi làm giảm sức truyền cảm.
  Cho nên hai câu luận cũng như hai câu trạng bài QUA ĐÈO NGANG, không có gì đáng khen ngợi cho lắm.
 Thật đáng tán dương hai câu chuyển kết :
    Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
    Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cảnh bao la nơi Đèo Ngang và tình lẻ loi của người qua Đèo, gồm trọn vẹn trong 14 chữ  vừa điêu luyện vừa tự nhiên. Chính nhờ cặp chuyển kết mà bài QUA ĐÈO NGANG được bất hủ.
  Đọc bài Qua Đèo Ngang, tôi có cảm giác đi lên ngọn đồi trơ trụi, khô khan, khi tới đỉnh chợt thấy vọng cảnh rộng rãi xanh tươi, lại được một ngọn gió hương phảng phất.
  Nhưng các sách đã xuất bản từ trước đến nay đều chép là "Dừng chân ĐỨNG lại" cho nên câu thơ đã bị chế diễu là "giờ tí canh ba" . Nay đưa "châu về Hợp Phố" thì câu thơ đã không có chữ vô dụng mà ý thơ lại gia tăng "Qua khỏi Đèo không nỡ dứt tình đi luôn mà phải "Dừng chân ngoảnh lại" .
       -----
Làng Mọc Quan Nhân (quê Đặng Trần Côn) 2 giờ sáng 13/3/2017
nhân thức dậy đọc bài"Luận về chữ ĐỨNG..." của Lang Trương - Đà Nẵng...
Nguyễn Khôi xin chép lại một đoạn trong "Hứng phấn nâng hương" Thi Thoại của Thi hào Quách Tấn để các Bạn Thơ cùng đọc mà ngẫm nghĩ... cho vui.
Kính : NGUYỄN KHÔI (Nhà văn Hà Nội)
            
READ MORE - NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ "QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN - Nguyễn Khôi

SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA - Hồi ký


                            Tác giả Ngô Hương Thủy



                    SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA 
                                                       Ngô Hương Thủy 

Khi tôi viết những dòng chữ này thì ba tôi đã an nghỉ trong lòng đất. Ba tôi thọ 84 tuổi. Những người đến chia buồn đều cho ông cụ đã thuộc vào hạng “xưa nay hiếm”. Nhưng trong tôi, đó là một nỗi mất mát lớn lao không gì thay thế được. 
Ba tôi là một nhà giáo nghiêm túc, hiền lành từ thời Pháp thuộc. Ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã ý thức được mình có một gia đình hạnh phúc. Chưa bao giờ tôi thấy ba mẹ cãi nhau. Hai người xưng hô bằng từ “mình ơi” nghe rất dịu. Ba đi làm, mẹ nội trợ, sáu anh chị em cắp sách đến trường. Một khuôn mẫu của gia đình cách đây năm mươi năm trước. 
Năm tôi lên tám tuổi thì mẹ mắc bệnh. Một căn bệnh nan y mà đến giờ y học vẫn bó tay: ung thư. Mẹ tôi nằm sáu tháng tại nhà thương Huế. Dù bác sỹ giám đốc Lê Khắc Quyến đã lắc đầu nhưng ba tôi vẫn không chịu bó tay. Người xin nghỉ việc đưa mẹ vào Sài Gòn với suy nghĩ “còn nước còn tát”. Sáu anh chị em bắt đầu thấm thía nỗi côi cút trong căn nhà vắng. 
Rồi từ Sài Gòn mẹ trở về với làn da xanh mét, thân hình gầy guộc. Mắt ba sâu hơn, nụ cười thường nhật biến mất. Tất cả chỉ còn đợi thời gian…Ba đặt một chiếc giường song song cạnh giường mẹ. Trong giấc ngủ trẻ con, nửa đêm tỉnh giấc tôi vẫn thấy ba ngồi nghiêng mình bên mẹ chăm sóc, vỗ về. 
Mẹ tôi có một cái hộp bánh LU của Pháp. Trong đó người cất vòng xuyến, chuỗi ngọc hồi môn, những cái kiềng vàng của các con, tiền dành dụm của gia đình. Nhưng cái hộp càng lúc càng cạn dần. Tiền của lần lượt đội nón ra đi. Rồi vay mượn…Khi mẹ tôi mất thì gia đình hoàn toàn khánh kiệt. Suốt đời tôi chẳng thể nào quên cảnh ba ngồi khất nợ với một người bà con. 
Mội người đàn ông góa vợ lúc 48 tuổi và sáu đứa con dại! Bây giờ tôi mới thấm thía với nỗi vất vả của ba. Chúng tôi không còn người giúp việc. Ba lập một cái sổ thu chi hằng tháng. Chị Hảo chị Hà đi chợ hàng ngày.Tôi nhỏ nhất cũng có bổn phận dọn bàn, lau chén. Chẳng thể còn những món ăn ngon thời mẹ còn sống. Cái bàn tay vốn quen cầm bút của chị tôi chiên trứng thì trứng cháy, nấu canh bữa mặn bữa nhạt, vậy mà ba tôi không hề trách móc, than thở. Có hôm người xuống bếp thay mẹ bảo ban chị. Việc trường, việc nhà chất nặng trên đôi vai ba. 
Mất mẹ tôi ngủ với ba. Thói quen sờ vú của một đứa con gái út không dễ bỏ đi một sớm một chiều. Ba đã ôm ấp tôi, gối đầu tay cho tôi ngủ, cho tôi mân mê vú ba thay vú mẹ trong tiếng thở dài thầm kín. 
Và cứ thế, cuộc đời gà trống nuôi con của ba lặng lẽ qua đi. Ba trả nợ, ba thu xếp cho các con ăn học nên người với số lương còm cỏi của một giáo viên. Mỗi lần anh chị tôi đi thi, không bao giờ ba quên thắp nhang trên bàn thờ mẹ thầm vái van một sự độ trì. 
Năm tôi học đệ tứ- tương đương lớp 9 thời nay- qua sự thu xếp của ông chú, ba tôi có ý định tục huyền với một người quen cũ, nghe đâu cũng là một cô giáo. Các anh đã lớn không có ý kiến gì. Chị Hà vào bàn thờ mẹ khóc. Tôi quay mặt vào tường, đêm ấy không nói với ba một lời. Quá nửa khuya, tôi vẫn nghe tiếng ba trở mình. Và đó cũng là lần cuối cùng. Không bao giờ chúng tôi còn nghe ba có ý định lấy ai. 
Ôi, cái lòng ích kỉ tệ hại của tôi! Giá như ngày ấy chị em tôi biết nghĩ suy hơn một tí. Giá như tôi ý thức được rằng rồi mình cũng sẽ bỏ ba đi tìm một thứ gọi là hạnh phúc, thì hẳn rằng chúng tôi sẽ không ngăn cản ba có môt niềm an ủi khi chúng tôi lần lượt chắp cánh bay xa. 
Ngày ba về hưu thì tôi đang ở năm ba Đại học sư phạm, nối tiếp cái nghề truyền thống của gia đình. Các anh chị đã trưởng thành, mỗi người đều có một sự nghiệp tương đối trong xã hội.Tưởng đâu ba đã thong thả tuổi già, an nhàn trong sự bảo bọc của các con, mãn nguyện với hương hồn mẹ. 
Miền Nam giải phóng. Đất nước chấm dứt cuộc nội chiến nhưng gia đình tôi lại có nỗi đau riêng. Anh ruột và hai anh rể đi học tập. Ba tôi lại tất bật từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn, từ Quy Nhơn lên Đà Lạt giữ cháu cho các chị tôi lăn lộn chợ trời, làm lụng kiếm sống. Còn một chút của cải phòng thân, người cũng ngắt ra giúp cho các chị thêm chút vốn liếng nuôi con. 
Sự hy sinh của ba to lớn quá mà chúng tôi nào có cơ hội đáp đền! Sau này khi cuộc sống dần khá lên, các anh chị có điều kiện xuất cảnh gửi tiền về chu cấp thì ba vẫn cứ một đời sống khiêm cung giản dị. Ba đến thăm nhà đứa con nào thì nhà ấy phong quang, sạch sẽ, hoa cỏ tốt tươi. Tám mươi tuổi ba vẫn hái cà phê. Ngăn không cho ba làm thì ba bảo có lao động mới khỏe. Ba già mà tính không chướng. Ba vui vẻ thăm hỏi mọi người từ trong làng ra ngoài xóm. Ai cũng khen ba phúc hậu, quắc thước , phong thái ung dung. Có lần đưa ba về Sài gòn dự buổi họp mặt của cựu học sinh Trường trung học Nguyễn Hoàng-Quảng Trị, ba tươi tắn biết bao nhiêu khi đón bó hoa tươi thắm mừng thọ của học trò, của các cô thầy đồng nghiệp. 
Vậy mà tự dưng ba bỗng yếu đi bất ngờ. Ba có nhiều câu lẩn thẩn. Ba bắt đầu nói về cái chết. Ba kể những câu chuyện 40, 50 năm về trước. Ba sống trong hồi ức xa xăm. Tôi đã có cái hạnh phúc được chăm ba những ngày cuối đời. Tôi bón cho ba thìa cháo, muỗng sữa. Tôi tắm cho ba, xoa nắn làn da mồi và những khớp xương gầy…Nhưng tôi vẫn chưa làm được những gì so với công ơn trời biển của ba. Trong những phút tỉnh táo ba vẫn băn khoăn, đau xót cho sự gãy đổ hạnh phúc của đời tôi. Anh chị đến đón, ba không về . Ba muốn sống và chết ở nhà đứa con út thiệt thòi nhiều thứ. 
Và đúng là “phụ tử tình thâm”. Cái sáng thứ hai ấy, đang dạy ở trường lòng tôi bỗng như lửa đốt. Tôi bỏ dở tiết dạy ra về và kịp chứng kiến sự ra đi của người cha yêu dấu. Tám mươi tư tuổi. Ba mươi sáu năm ở vậy nuôi con. Trải qua những biến cố thăng trầm, đời ba khổ nhiều hơn sướng. 
Đám tang của ba tôi có rất nhiều thầy cô giáo và học sinh. Học sinh cũ của ba và của tôi hiện tại. Một số ở xa cũng đánh điện chia buồn. Âu cũng là một niềm an ủi cho nghề giáo đạm bạc mà thanh cao. 
Ba ơi ! Nếu quả thật có một thế giới bên kia cực lạc thì con chắc chắn rằng ba đang ở đó. Và xin hương hồn ba ghi nhận tấm lòng tri ân của các con trước sự hi sinh thầm lặng suốt cuộc đời ba. 


                                                                            Ngô Hương Thủy


READ MORE - SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA BA - Hồi ký

Sunday, March 12, 2017

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ - Nguyễn Ngọc Kiên


   

      NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ 
      TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ

Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu.
1) Khái niệm về thành ngữ
Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu.
Như vậy có thể hiểu thành ngữ là tổ hợp từ cố định, hoàn chỉnh, bền vững về hình thái - cấu trúc và bóng bẩy về ý nghĩa. Tức là nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc / và gợi cảm.
         Thành ngữ tiếng Hán phần lớn có nguồn gốc từ những câu truyện lịch sử, những điển cố, và sau khi hình thành thì cấu trúc của nó thường ổn định từ cổ chí kim. Hay nói cách khác, thành ngữ được dùng trong tiếng Hán hiện đại phần lớn được giữ nguyên trạng từ thành ngữ trong tiếng Hán cổ.
Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài chủ yếu là gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt hoặc được dịch sang tiếng Việt.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu một số thành ngữ tiếng Hán có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố được dịch sang tiếng Việt.

2)  Một số thành ngữ có nguồn gốc từ  thơ cổ và điển cố
(1) Nghiêng nước nghiêng thành
Thành ngữ  “倾国倾城” [khuynh quốc khuynh thành] (nghiêng nước nghiêng thành) có nguồn gốc từ bài “Giai nhân ca” (佳人歌) của Lý Diên Niên (李延年). Chuyện rằng, vua Vũ Đế đời Hán (40-86 trước Công nguyên) có một người hầu tên là Lí Diên Niên, anh ta rất giỏi múa hát và thông hiểu âm luật, được nhà vua yêu mến, cưng chiều. Nhà vua cho xây cung điện Minh Quang và tuyển chọn những người con gái đẹp tuổi từ 15 trở lên vào cung để hầu hạ  vua. Trong cung có tới gần 10 ngàn mĩ nữ nhưng vua vẫn chưa thấy ai đẹp như ý và thường lắc đầu than thở: Đời nay thiên hạ không có giai nhân tuyệt sắc! Một hôm, Lí Diên Niên múa hát mua  vui cho nhà vua xem. Lí hát rằng:
  北方有佳人,
绝世而独立。
一顾倾人城,再顾倾人国。
宁不知倾城与倾国?
佳人难再得!
Phiên âm:
Bắc phương hữu giai nhân,
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc.
(Dịch nghĩa: Ở phương Bắc có một người đẹp, đẹp nhất đời mà đứng riêng một mình. Quay đầu lại một lần thì làm nghiêng thành trì của người ta, quay đầu lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người ta, thà chẳng biết nghiêng nước với nghiêng thành , chỉ biết là người đẹp thì khó gặp.)
Bản dịch thơ khuyết danh:
Bắc phương có một giai nhân
Dung nhan tuyệt thế cõi trần đứng riêng
Liếc nhìn, thành quách ngả nghiêng
Liếc thêm lần nữa nước liền lung lay
Thành nghiêng nước đổ mặc bay
Giai nhân há dễ gặp hoài được sao.
Chị của vua Vũ Đế là Bình Dương công chúa đứng hầu bên cạnh bèn  tâu: “Lý Diên Niên có một người em gái giỏi múa hát và đẹp tuyệt trần như trong bài ca đó”. Nhà vua cho vời người đẹp vào cung, xem mặt. Quả nhiên nhà vua bỗng xao xuyến, rạo rực như có một luồng điện chạy khắp người khi nhìn thấy nàng mỹ nữ nhan sắc tuyệt trần, yêu kiều, diễm lệ. Vua liền phong nàng làm làm chánh cung hoàng hậu và ngày đêm si mê, đắm đuối bên nàng. Từ đó xuất hiện thành ngữ “倾国倾城” [khuynh quốc khuynh thành] (nghiêng nước nghiêng thành) để chỉ người con gái đẹp.
Nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường đã để lại kiệt tác “Trường hận ca” miêu tả mối tình giữa Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi trong đó cũng sử dụng thành ngữ này:
漢皇重色思傾國
御宇多年求不得
Phiên âm:
Hán hoàng  trọng sắc tư khuynh quốc /  Ngự vũ đa niên cầu bất đắc
(Dịch nghĩa: Vua Hán trọng sắc đẹp, muốn có một người “nghiêng nước nghiêng thành”.  Ở ngôi bao năm tìm kiếm không được.)
Trong tiếng Việt, “nghiêng nước nghiêng thành” cũng được sử dụng với ý nghĩa như vậy như một thành ngữ thuần Việt. Trong kiệt tác “Truyện Kiều”, đại thi hào Nguyễn Du đã tả sắc đẹp của nàng Kiều:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành họa một tài đành họa hai.
(2) Chuồn chuồn đạp nước
Ông Đỗ Phủ (杜甫) là người làm thơ nổi tiếng đời Đường. Hầu hết mọi người Việt Nam đều biết tới ông qua “Di chúc” của Hồ Chí Minh với câu thơ nổi tiếng “人生七十古來稀” [Nhân sinh thất thập cổ lai hi] (Người thọ bảy mươi  xưa nay hiếm) trong bài “Khúc giang” (曲江). Nguyên văn:
朝回日日典春衣 / 每日江頭盡醉歸
酒債尋常行處有 / 人生七十古來稀
穿花蛺蝶深深見 / 點水蜻蜓款款飛。
傳語風光共流轉 / 暫時相賞莫相違。
Phiên âm:
Hồi triều nhật nhật điển xuân y / Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy.
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, / Nhân sinh thất thập cổ lai hy.
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện, / Ðiểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi.
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển, /Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.
(Dịch nghĩa: Ngày ngày khi ở trong triều đình ra về ta đem cầm cái áo xuân để mua rượu. Mỗi ngày ta uống thật say ở đầu sông rồi mới trở về. Nợ rượu thường ở nơi nào cũng có. Người đời xưa nay ít ai thọ được tới bảy mươi tuổi. Nhiều con bươm bướm châm hoa thấp thoáng hiện. Những con chuồn chuồn dỡn nước dập dờn bay. Hãy nói cho mọi người biết rằng: theo thời gian phong cảnh đều thay đổi. Ta hãy tạm cùng nhau thưởng ngoạn, đừng nên để lỡ dịp.)
Bản dịch của nhà thơ Khương Hữu Dụng:
Áo chầu tan buổi cởi cầm tay,
Hằng bữa đầu sông về khướt say.
Nợ rượu tầm thường đâu chẳng có,
Người đời bảy chục mấy xưa nay.
Luồn hoa bươm bướm chen chen lượn,
Điểm nước chuồn chuồn thoáng thoáng bay.
Quang cảnh, nhắn cho thường biến đổi,
Tạm vui xuân với, kẻo e hoài.
Bài thơ này cũng là xuất xứ của thành ngữ tiếng Hán “蜻蜓點水” (chuồn chuồn đạp nước). Thành ngữ này có nghĩa bóng: làm ăn hời hợt,  chiếu lệ, qua loa cho xong chuyện, không sâu sát, kĩ càng. Thành ngữ này đã được người Việt dịch ra và mượn vào tiếng Việt. Còn có các biến thể: “chuồn chuồn đạp nước”, hoặc các biến thể: “chuồn chuồn chấm nước”, “chuồn chuồn lẹo nước”.

(3) Sư tử Hà Đông
 Long Khâu cư sĩ là Trần Tạo tự Quý Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia, Trung Quốc. Vợ của Trần Tạo là người họ Liễu có máu Hoạn Thư hay ghen kinh khủng lại hung hăng. Trần Tạo rất sợ vợ nhưng rất tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày Trần Tạo ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om sòm, nhưng ông vẫn điềm nhiên không dám phản ứng gì.
Tính tình của Trần Tạo cũng hào hoa, bạn bè đông, nên ở nhà thường có yến tiệc.
Một lần, Quý Thường mở tiệc có ca kỹ đến hát xướng mua vui. Liễu thị Để thêm hứng thú và long trọng, Trần Tạo chiều khách, mời kỹ về ca hát mua vui. Vợ Trần Tạo ở nhà sau nổi máu ghen, lấy gậy đập vào tường, gầm thét om sòm khiến khách kinh hãi bỏ về. Trần Tạo hốt hoảng, gậy cầm trong tay mà bỏ rơi mất. Tô Đông Pha là bạn thân của Trần Tạo, thấy vậy Tô Đông Pha làm bài thơ 24 câu vừa châm biếm vừa cảm thương cho tình cảnh bạn, trong đó có đoạn.
龙丘居士亦可怜
 谈空说法夜不眠
忽闻河东狮子吼
 拄杖落手心茫然
Phiên âm:
Long Khâu cư sĩ hiền diệc khả liên,/ Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,/ Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.
(Dịch nghĩa: Thật đáng thương cho Long Khâu cư sỹ, miệng nói không nói có đêm ngủ không được, chợt nghe tiếng gầm rú của sư tử Hà Đông, gậy văng ra khỏi tay tâm thần hoảng loạn.)
Tạm dịch:
Thật đáng thương thầy đồ Long Khâu,
Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.
Hai chữ “Hà Đông” là do Tô Đông Pha mượn câu thơ của Đỗ Phủ: 河东女儿身性柳 [Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu] (cô gái Hà Đông người họ Liễu) vì vợ của Trần Tạo cũng họ Liễu. Và "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên thì các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quý Thường là một tín đồ đạo Phật. Thành ngữ “Sư tử Hà Đông” có xuất xứ từ đó và được dùng để chỉ người đàn bà hay ghen tuông, hung hãn, đanh đá, hay ức hiếp chồng. Thành ngữ này được tiếng Việt mượn vào khiến nhiều người lầm tưởng Hà Đông là thủ phủ của tỉnh Hà Tây (cũ), nay thuộc Hà Nội.
Nhà thơ trào phúng Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:
Hậu hạ đã cam phiền cát lũy,
Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông.

(4) Gương vỡ lại lành
“破镜重圆” [phá kính trùng viên] (gương vỡ lại lành) là một thành ngữ nói lên cảnh vợ chồng đã ly tán sau lại được sum họp, đoàn viên.
Giai thoại kể rằng, Từ Đức Ngôn (徐德言) là tài tử trứ danh ở Giang Nam đời Nam Bắc triều, sau làm phò mã lấy em gái của Trần Hậu Chủ Trần Thúc Bảo là Lạc Xương công chúa (樂昌公主), rồi nhập triều đình làm chức Thị trung (quan cận thần), bộc lộ tài năng chính trị. Đương thời ông cùng phu nhân phu xướng phụ tuỳ thành một cặp giai ngẫu mọi người ai cũng phải ngưỡng mộ.
Sách "Bản sự thi" (本事詩) nói Lạc Dương công chúa là người "tài sắc quán tuyệt". Hai người yêu nhau, lấy nhau nhưng đúng vào lúc ấy giặc giã nổi lên, nhà Trần suy loạn. Ông nói với vợ rằng hai người thế nào cũng ly tán vì thời cuộc, rồi lấy tấm gương soi đập vỡ thành hai, mỗi người giữ một mảnh và hẹn nhau ngày rằm tháng giêng năm sau ra chợ Trường An tìm lại nhau. Nhà Trần mất, Lạc Dương công chúa bị bắt, bị bán làm nô tỳ cho Dương Tố (楊素) và được Dương Tố đặc biệt yêu mến. Một năm sau, Từ Đức Ngôn ra chợ thì gặp một thiếu nữ bán mảnh gương vỡ. Từ Đức Ngôn đem mảnh gương của mình ra ghép vào thì thấy vừa khít nên biết ngay đó là nửa gương của vợ. Người bán gương kể cho Từ Đức Ngôn nghe nỗi lòng của công chúa, Từ Đức Ngôn bèn lấy bút đề một bài ngũ ngôn:
鏡與人俱去,
鏡歸人不歸。
無復嫦娥影,
空留明月輝。
Phiên âm: Cảnh dữ nhân câu khứ/ Cảnh quy nhân vị quy/ Vô phục Hằng Nga ảnh/ Không lưu minh nguyệt huy.
( Dịch nghĩa: Người đi thì gương cũng đi, người về nhưng gương chưa về, bóng Hằng Nga đâu sao chẳng thấy, chỉ thấy ánh trăng mà thôi )
Lạc Dương công chúa đọc bài thơ, biết là thơ của chồng liền than khóc vật vã. Dương Tố hỏi nguyên do, khi biết chuyện, liền cho mời Từ Đức Ngôn đến, trả lại Lạc Dương công chúa cho chàng, vợ chồng lại được đoàn tụ. Đây cũng chính là điển cố “破镜重圆” [phá kính trùng viên] (gương vỡ lại lành).
Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”:
Đời ta gương vỡ lại lành
Cây khô cây lại đâm cành trổ hoa.
…………
(Còn nữa)                                                                                                                                                            TS. Nguyễn ngọc Kiên 

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ - Nguyễn Ngọc Kiên