Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 21, 2016

DÌU NHAU QUA SUỐI - Thơ Thủy Điền

   
            Tác giả Thủy Điền


DÌU NHAU QUA SUỐI

Thuở thanh xuân ta dìu qua suối
Qua mấy đèo hái cánh hoa ban
Cài tóc em sắc trắng, sắc vàng
Rồi ngồi ngắm nàng tiên giữa núi

Ôi ! Vui thú những ngày non tuổi
Lòng hồn nhiên trong sáng, dại khờ
Sáng, chiều chiều chỉ biết mộng mơ
Hai tay nắm rong chơi khắp chốn

Thời gian trải, những ngày ta lớn
Đi vào đời bằng hai tiếng tình yêu
Càng thấy thương, thấy mến nhau nhiều
Tình chồng vợ bắt đầu chớm nở
                                                                     
Ta chia nhau những gì gian khó
Cùng hưởng chung hạnh phúc, an lành
Ta dìu nhau như những ngày xanh
Xưa là” Suối “, nay “Đời “ cũng thế.

                                  Thủy Điền
                                 20-11-2016

READ MORE - DÌU NHAU QUA SUỐI - Thơ Thủy Điền

CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC KIÊN



       Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



CHIẾC LA BÀN

Kim nam châm của mọi chiếc la bàn đều hướng về phía bắc
Vạch lối chỉ đường bất kể ngày đêm.
Trái tim anh – chiếc la bàn cũng trọn đời không đổi khác
Nơi duy nhất hướng về là nơi trái tim em!

                                    Hải Đường, 2012


VĂN XUÔI TẶNG EM

Từ thưở mới sinh ra
Trái đất đã có rồi.
Vạn vật trên đời 
Tồn tại được là nhờ lực hút.

Riêng anh,
Còn một lực hút thứ hai
Như sự phát hiện diệu kì mới mẻ.
Mà từ đấy,
Dẫu cách trở vạn dặm đất liền hay ngàn trùng sóng bể,
Cũng không tách khỏi từ trường lực hút từ nơi em!

                                   Hải Đường Hải Hậu, 1991
                                        Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC KIÊN

NGƯỜI THẦY GIÁO VÀ ÔNG LÁI ĐÒ - Tạp văn của Lang Trương


         
                                Lang Trương



NGƯỜI THẦY GIÁO VÀ ÔNG LÁI ĐÒ

Hôm nay, đọc bài viết NGƯỜI LÁI ĐÒ LÀ AI của anh Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, một nhà giáo, Lang Trương có vài cảm nhận về hình ảnh ẩn dụ "người lái đò" dùng để gọi các người thầy của người xưa. 
Trước tiên, ta phải xem xét hình tượng người lái đò và người thầy trong đời thực. Muốn vậy, ta phải trở về điểm xuất phát, từ xa xưa, từ khi nào mà cách gọi này được sử dụng, để cảm nhận xem, người xưa dùng hình tượng người lái đò để gọi các người thầy với lòng tôn kính, hàm ơn hay hạ thấp, xem thường nhà giáo. 
Ngày xưa ấy, các miền quê Việt Nam chằng chịt những con sông, rạch, cầu đường không có, nhiều làng mạc bị cô lập. Người lái đò chính là nhịp cầu kết nối những khu vực này với thế giới văn minh. 
Vả lại, làng quê ngày xưa yên tĩnh, hiền hoà. Người xưa sống trọng tình cảm, nghĩa nhân. Hoạ hoằn lắm mới có khách lạ sang sông. Vì vậy, người lái đò thường là người làng, lớn tuổi, không quản ngại những khi mưa gió, tối trời, đêm hôm khuya khắt, đưa khách sang sông, bằng chiếc thuyền gỗ mong manh, nhịp chèo hối hả. Thường họ chỉ nhận lại món thù lao tượng trưng. Chẳng ai lợi dụng hoàn cảnh ngặt nghèo của khách sang sông để kiếm chác, vòi vĩnh. Vì là người sống có nghĩa, có nhân nên người lai đò ngày xưa thường rất nghèo. Nghèo nhưng thanh bạch, giúp ích cho đời, nên được người làng yêu quý, kính trọng. Hình ảnh " cây đa, bến nước, côn đò" được sử dụng rất nhiều trong văn học dân gian. Con đò là nguồn cội, người đưa đò chính là sứ giả kết nối những trái tim :
Cây đa cũ, bến đò xưa 
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ
Căn duyên chẳng cứ hẹn hò
Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen
Nong tằm, ao cá, nương dâu 
Đò xưa bến cũ, nhớ câu hẹn hò.
Ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh con đò, người đưa đò trong thơ văn hiện đại, một hình tượng rất đẹp, rất thơ :
Hãy đọc lại BẾN MY LĂNG của nhà thơ Yến Lan :
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách 
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu 
Trăng thì đầy, rơi vàng trên mặt sách 
Ông lái buồn, để gió lén mơn râu. 

Người xưa không quan tâm đến địa vị thấp kém của người chèo đò, mà họ tôn vinh công việc nhọc nhằn nhưng hữu ích cho nhân quần, xã hội. Chính vì vậy, người chèo đò xuất hiện rất nhiều, rất đẹp trong thơ. 
Chính vì hình ảnh rất đẹp đó của người lái đò mà người xưa đã gọi những người thầy là người chèo đò.
Người thầy ngày ấy chính là những ông đồ. Các ông đồ ngày xưa không có bằng cấp như ngày nay. Họ là những người nhiều chữ nghĩa, đạo cao đức trọng, dạy học trò cái nghĩa, cái nhân, cái đạo lý của đời thường. Các ông đồ nhiều chữ nghĩa cũng nghèo như ông lái đò, là niềm mơ ước của các thiếu nữ :
Chẳng tham ruộng cả, ao liền 
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.
Con đò còn xuất hiện trong Kính Phật và Kinh Thánh. Con Thuyền Bát Nhã và Con Thuyền Nô-ê (Noah) cứu rỗi cả nhân loại chắc chắn cần có người chèo đò. 
Người chèo đò chính là người đã đưa nhân loại qua bến u mê, về miền tươi sáng, đến cõi thành cao. 
"Người chèo đò" là hình ảnh ẩn dụ mà các người thầy ngày xưa tự gọi mình. Ngày nay, chúng ta gọi thầy mình là người lái đò với tất cả lòng tôn kính, biết ơn, bởi nhờ có họ, nhân loại mới ngày càng tiến bộ, văn minh.
                                                                                Lang Trương

READ MORE - NGƯỜI THẦY GIÁO VÀ ÔNG LÁI ĐÒ - Tạp văn của Lang Trương

AI CÔNG HẦU (Trao đổi với Anh Võ Hương An) - Chu Vương Miện



Roi mây - một dụng cụ phổ biến thường dùng đánh đòn.
Hình từ Wikipedia.


AI CÔNG HẦU
(Trao đổi với Anh Võ Hương An)
Chu Vương Miện


Thưa anh Võ Hương An.
Trong những bài viêt về hai nhân vật lịch sử Ngô Thời Nhậm và Đặng Trần Thường, thì bài của anh là rõ nét và khách quan hơn hết, chúng tôi không nhắc lại làm chi cho mất thì giờ, nguyên văn hai câu đối như sau:
"Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biêt ai?" của Đặng Trần Thường. Câu đối lại là :
"Thế chiến quốc, thế xuân thu. gặp thời thế ,thế thời phải thế?" của Ngô Thời Nhậm.
Xuyên qua các bài viết, chúng tôi nhận ra như vầy (không đề cập tới chuyện riêng tư cá nhân của hai vị tiền bối, kể cả việc hay hoặc việc dở):
1/ Chuyện Hai người gặp nhau lần thứ nhất:
Hoàn toàn không có, vì Ngô Thời Nhậm lúc đó là Binh Bộ Thương Thư kiêm Tiết Chế Quân Vụ ở Miền Bắc thay mặt cho Vua Quang Trung xử lý toàn bộ quân sự và hành chánh, (ông đậu Tiến sĩ từ thời Nhà Lê).
Còn Đặng Trần Thường thì chỉ tốt nghiệp tới Sinh đồ (tức lớp Ba trường làng, được miễn sưu dịch, tuy nhiên vẫn chưa đủ điều kiện để đi thi Hương, muốn thi Huơng phải tốt nghiệp trường Huyện (Phủ)  để nhận chức danh là thầy Khóa, mà Võ thì không rõ Đặng Trần Thừơng tài tới mức nào, chớ về Văn thì chỉ có chừng đó, có nhiều bài viêt cho rằng hết cha đau rồi ốm rồi mất, rồi mẹ đau làm học hành dang dở.
So sánh hai vị tiền bối trên, địa vị quá chênh lệch, không có lý do nào để mà gặp nhau, để có hai câu đối lừng danh để đời.

2/ Chuyện gặp nhau lần thứ hai:
Khi chiến đoàn của Nguyễn Ánh tấn công Phú Xuân có thể là do Tiền Quân Nguyễn Văn Thành (hoặc Tả Quân Lê Văn Duyệt) chỉ huy, lúc đó thì thượng tướng Đặng Trần Thường cũng phụ trách một bộ phận Quân Lữ trong chiến đoàn này, quân cơ hữu là một Sư Đoàn, chia ra làm 4 Trung Đoàn, chỉ có 3 Trung Đoàn là tấn công tác chiến mà thôi, còn một Trung Đoàn dùng làm đơn vị Trừ Bị và bảo vệ Bộ Chỉ Huy, gồm có Tư Lệnh, Phó Tư Lệnh (Tham Tướng), Tham Mưu Trưởng (Tùy Tướng) .... Giả sử như đơn vị của tướng Đặng Trần Thừơng bắt tại trận (ở mặt trận Phú Xuân) thì cuộc diễn biến sẽ diễn ra như sau: Đứng trước hàng quân bại trận của nhà Tây Sơn, kẻ đứng, ngươi ngồi, người nằm dưới đất, kẻ bị trói, kẻ bị xích thì Thượng Tướng Đặng Trần Thừơng đứng trước toàn quân toàn bại mà dõng dạc tuyên bố như sau (ngài lấy trong túi quân trang ra một giấy vải bằng vàng cuộn tròn trong 2 cái trục bằng gỗ rồi thong thả đọc):
Thuận thiên thừa Mệnh, Hoàng Đế chiếu viết:
"Trong cuộc chiến 25 năm vừa qua, giữa nhà Tây Sơn và Nhà Nguyễn, bá tánh lầm than chết oan chết uổng rất nhiều, cuộc chiến có tính cách nồi da xaó thịt vừa cục bộ vừa ngu xuẩn, chả có ai thắng và ai thua, thắng là bọn có vũ lực và vũ khí, thua là toàn bộ nông dân bị bắt đi lính làm bia đỡ đạn. Nay tất cả binh tốt trong hàng ngũ Ngụy Tây Sơn, ai còn lành mạnh thì từ cấp Vệ Úy đến Lãnh Binh đến Quản Cơ và hàng binh tốt tự động về nhà mạnh giỏi, kế đến là những thương bệnh binh (cần đồng bọn khiêng đi) hay người nhà khiêng đi, tất cả đều được hưởng tiền chu cấp ăn đường, ngoài ra từ cấp Tham Tri đến Thượng Thư và Tướng lãnh thì tạm thời giam vào thiên lao chờ cấp trên xử lý sau (Khâm Thử).
Với tình hình như vậy thì thi hai vị Đặng trần Thừơng và Ngô thời Nhậm gặp nhau ở chỗ nào mà có hai câu đối trứ danh để đời?
3/ Lần sau chót:
Qua cuộc họp các quan Đình thần, vua Gia Long Thống Nhất là tha bổng cho các vị quan Tây Sơn nào về hàng, làm quan với Nhà Nguyễn, hoặc quy an đuổi gà cho vợ, hoặc tuẫn tiết với nhà Tây Sơn cho trọn chữ Trung thì cũng ô-kê, tuy nhiên chỉ các văn thần tốt nghiệp tiến sĩ thì cho mang ra Quốc Tử Giám (tẩm quất) tức lá đánh bằng roi (hay côn hay hèo) mỗi vị tượng trưng 20 roi , rồi tha về nhà.
Xin nói ngay, nơi mà các cựu quan chức nhà Tây Sơn bị hình phạt đánh bằng roi là ở Bắc Thành (tức là thành Hà Lội bi giờ) dưới quyền cai trị bời Tiền  Quân Nguyễn Văn Thành, giới nho sĩ Thượng Thư quan văn như Phan Huy Ích, Ngô Thời nhậm được chở từ nhà Lao Măng Cá Nhỏ ở Quảng Đức (tức Thừa Thiên) mang ra nhốt tạm ở Hỏa Lò "Hà Lội" để chờ này thọ phạt.
Sau đó một tuần thì quan Binh Bộ Thượng Thư là Đặng Trần Thường đi máy bay Boeing từ Huế về Hà Lội với tư cách Khâm Sai đại thần để làm quan giám khảo (tra khảo) trụ trì cuộc tẩm quất các các bại tướng nhà Tây Sơn, (để diễn tả cho đúng sự thực xin được diễn tả theo phim tàu Hồng Kông trong phim bộ Bao Thanh Thiên [Tức Bao Công]).
Một hồi trống kéo dài vừa dứt thì đoàn tù tội theo nhau đi hàng một, an vị đầu vào đó (có nghĩa là nằm dài ra úp mặt xuống nền gạch của cái sân Văn Miếu), mỗi hàng là 10 người, kế đó là một hồi trống nữa, thỉ một toán quân hổ bôn hay vệ quân cũng đi hàng một tay cầm một cây côn (gậy) dài chừng một thước tây, mỗi một vị binh tốt đứng cạnh một tù nhân đã nằm sẵn dưới đất, và hồi trống thứ ba vừa chấm dứt, thi quan thượng thư Đặng Trần Thường quăng một cái Lệnh bài (y như Bao Công quăng một miếng Lệnh bài bằng gỗ xuống công đường và miệng hô trảm), thế là lính hổ bôn mạnh ai nấy đánh, đánh đủ 20 hèo thì dừng tay, đứng nghiêm chờ lệnh.
Hồi Trống thư tư tan hàng, ai về nhà nấy, không thấy người Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhậm xướng họa đối đáp chi cả.
Còn về cái chết của Ngô Thời Nhậm trên 7 bó tuổi già sức yếu, trước khi bị đánh 20 hèo tại Quốc Tử Giám (là thời gian bị bỏ tù, bỏ ngục, bỏ đói) nên sau khi được hưởng ơn mưa móc 20 hèo của Triều nhà Nguyễn là tiên sinh qua đời, phiêu diêu miền cực lạc.
Cũng xin nói thêm "Hà Lội" hay Bắc Thành là nơi cai quản của Tiền Quân Nguyễn Văn Thành, lâu la bộ hạ toàn là người của Tiền Quân, Binh bộ Thựơng Thư Đặng Trần Thường ra Bắc với tư cách là Khâm Sai đại thần, đi một chắc, may lắm là có một tùy viên đi theo sau sách cặp táp là cùng thì làm gì mà có cái chuyện sai lính tẩm thuốc độc vào ngọn roi mà đánh cho chết? mà lính nào? Mà giả sử có cuộc đối diện thật, thì trình độ của Ngô Thời Nhậm là Tiến Sĩ, còn Đặng Trần Thường tốt nghiệp lớp 3 trường làng (tức sinh đồ) thì đối với đáp cái gì?
Chẳng qua là người đương thời thấy chuyện về đời công và đời tư hai vị tiền bối mê ly rùng rợn ly kỳ nên mới soạn ra 2 câu đối (đối nhau chan chát) để đời đọc chơi cho đỡ buồn hoặc tìm trong đó một bài học lên voi xuống chó mà ngậm ngùi cho một kiếp phù sinh.

Chu Vương Miện


READ MORE - AI CÔNG HẦU (Trao đổi với Anh Võ Hương An) - Chu Vương Miện

Tagore Rabindranath: Quà tặng tình nhân - Ngọc Châu dịch




Tagore Rabindranath: Quà tặng tình nhân
Ngọc Châu dịch

Rabindranath Tagore (1861-1941) là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ và hoạ sĩ Ấn Độ, giải Nobel Văn học năm 1913. Là con thứ mười bốn của một điền chủ - nhà cải cách tôn giáo giàu có. Ông đi học ở trường một thời gian ngắn; về sau học ở nhà với cha. 8 tuổi, R. Tagore nổi tiếng giỏi văn nhất vùng Bengal; 13 tuổi có thể sáng tác nhạc, hoạ, đọc sách cổ bằng tiếng Phạn và dịch kịch Shakespeare; 17 tuổi sang Anh du học; năm 1880, trở về ấn Độ, viết vở nhạc kịch đầu tiên. Năm 1910 ra đời tiểu thuyết sáng giá nhất của R. Tagore - Gora - ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính trị. Năm 49 tuổi R. Tagore xuất bản Gitanjali (theo tiếng Bengal có nghĩa là Lời dâng). Thi phẩm này là lí do cho việc đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1913, được cả thế giới công nhận là kì công thứ hai của văn học …


One day in spring

One day in spring, a woman came 
In my lonely woods, 
In the lovely form of the Beloved. 
Came, to give to my songs, melodies, 
To give to my dreams, sweetness.



Suddenly a wild wave 
Broke over my heart's shores 
And drowned all language. 
To my lips no name came, 
She stood beneath the tree, turned, 
Glanced at my face, made sad with pain, 
And with quick steps, came and sat by me. 





Taking my hands in hers, she said: 
'You do not know me, nor I you-- 
I wonder how this could be?' 
I said: 
'We two shall build, a bridge for ever 
Between two beings, each to the other unknown, 
This eager wonder is at the heart of things.' 



The cry that is in my heart is also the cry of her heart; 
The thread with which she binds me binds her too. 
Her have I sought everywhere, 
Her have I worshipped within me, 
Hidden in that worship she has sought me too.





Crossing the wide oceans, she came to steal my heart. 
She forgot to return, having lost her own. 
Her own charms play traitor to her, 
She spreads her net, knowing not 
Whether she will catch or be caught.



Một ngày xuân 

Ngày xuân, cô đơn vườn tôi
Nàng chợt đến với dáng người thương yêu
Cho tôi giai điệu khúc chiều
Ban giấc mơ với bao nhiêu ngọt ngào

Biển hoang bỗng cuộn sóng trào
Bờ tim tan nát, không sao thốt lời…




Đứng tựa cây, nàng quay người
buồn thương đau đớn nhìn tôi. Lại gần
thoắt đôi chân ngồi xuống nhanh,

cầm tay tôi nói “Em - Anh chưa tường
Tại sao mà mình bỗng dưng?!”

“Sẽ cùng xây chiếc cầu chung vĩnh hằng…”
Đáp lời, tôi nói với nàng 
“…nối  hai người dẫu chưa từng gặp nhau


Mà khát khao đã ẩn sâu
Trong đôi tim vốn từ lâu lắm rồi…”



Tiếng gào đòi trong tim tôi
Cũng thét gào trong tim người ngồi  đây
Dây tình nàng thắt tim này
Thắt càng chặt con tim ngay chính nàng



Đã tìm nàng mọi nẻo đàng
Phụng thờ trong  điện cung vàng – lòng tôi


Với nàng cũng như vậy thôi
Muốn vượt biển trộm tim tôi mang về

Mất chính mình, quên miền quê
Cái đẹp quyến rũ bùa mê phản nàng


Tung lưới ra, không hay rằng
Chụp người hay chính lưới giăng chụp minh…

Come to my garden walk

Come to my garden walk, my love.
Pass by the fervid flowers that 
press themselves on your sight.


Pass them by, stopping at some chance joy,
which like a sudden wonder of sunset illumines yet elude 
For lover's gift is shy, it never tells its name,
it flits across the shade, spreading  a of joy along the dust.




Overtake it or miss it for ever.
 But a gift that can be grasped is merely a frail flower,

or a lamp with flame that will flicker

Mời nàng đi dạo vườn anh

Mời nàng dạo vườn cùng anh
Ngang qua hoa cỏ nhiệt thành đón đưa
Đi xem hoặc dừng tình cờ
khi thấy tuyệt phẩm bất ngờ hiện ra
Bời hoàng hôn rọi nắng qua
rạng ngời nhưng muốn lẩn xa mắt người

Quà yêu e lệ nhất đời
Luôn ẩn dấu, chẳng một lời xưng tên
Lách gió bụi, bóng lá mềm
Tỏa cơn run rẩy con tim bất thần.

Mau chộp lấy, em mến thân
Không rồi sợ chẳng còn lần khác chăng
Dẫu chỉ cánh hoa mỏng manh
Hay tia lửa nhỏ đèn xanh bập bùng…







She is near to my heart

She is near to my heart as the meadow -flower to the earth;
she is sweet to me as sleep is to tired limbs.

My love for her is my life flowing in its fullness,
like a river in autumn flood, running with 
serene abandonment.


My songs are one with my love, like the murmur of a stream,
that sings with all its waves and current.

Nàng ở gần tim tôi

Nàng ở sát ngay tim tôi
Như bông hoa dại chọn nơi đầm lầy
Cho tôi ngọt ngào tràn đầy


Như  kẻ mệt được ngủ say mơ màng

Đời tôi trọn vẹn trao nàng
Là dòng sông lũ chảy tràn mùa thu
Theo nàng, yên ổn, vô tư
Bài ca tôi - khúc hát ru chung tình
Tiếng rì rào con suối xanh
Sóng cùng dòng chảy hòa thanh tặng nàng.

 Ngọc Châu dịch



READ MORE - Tagore Rabindranath: Quà tặng tình nhân - Ngọc Châu dịch

BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI - Thơ Sĩ Chương



              Tác giả Sĩ Chương



   BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI

   Tạm biệt Sài Gòn
   mai mình về Đà Nẵng
   Con tàu đưa ta 
   biển Miền Trung vị mặn
   Hạt muối Sa Huỳnh 
   trắng tóc sân phơi
   Em có hỏi tôi 
   đường bao cây số
   Người về đó 
   cho vần thơ yên nghỉ
   Đất Phương Nam
   nắng gió lắm chai lòng
   Bao năm rồi
   đâu đấu nổi chờ mong
   Dòng Kênh Tẻ
   ngậm ngùi thương bến đợi
   Ngoài nớ trong ni
   hai miền xa vời vợi
   Biết bao giờ
   trở lại một lần thăm
   Con sáo xa bầy 
   lưu lạc biết bao năm
   Nay Bến Lức 
   mai Thủ Thiêm
   Hay dòng Kênh Tàu Hủ
   Đã xa rồi 
   những mùa thu quyến rủ
   Bến đợi người
   người chờ bến còn đâu
   Hai phận đời 
   khác biệt xót lòng nhau
   Đêm thao thức 
   Phương Nam vầng trăng lạnh

                               Sĩ Chương  
                                 10/2014

READ MORE - BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI - Thơ Sĩ Chương

THẦY NÓI NGỌNG - Thơ vui của Nguyễn Khôi

     
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi



Thơ vui: 

THẦY NÓI NGỌNG
(Tặng Nhà văn Lê Mai & Ts.ngôn ngữ Ng.Ngọc Kiên)
                  ----
"Tính tương cận dã/ Tập tương viễn dã"
                                             Luận Ngữ
                        
Hồi cắp sách tới trường
Thầy giáo nhắc :
- Em Thái Bình tránh lờ = nờ ,
- Em HưngYên tránh nờ = lờ ...
Ngọng (từ) lưỡi thì dễ uốn
Còn ngọng (từ) tai thì khó đấy
phải luyện tập, lắng nghe...
               
Thời đi làm Quan chức
Buồn cười nhất là Sếp to qua "bổ túc " (1)
Ngọng líu, ngọng lô lại thích đăng đàn :
-Các đồng chí phải HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI
theo lời dạy của Nê Lin (Lê nin) ! ?
               
Chao, hôm nay
Trên Diễn đàn Thế giới phẳng
lại phải nghe một vị Thầy nói ngọng
trong ngoài nước phì cười "
 Ôi, "Đào tạo đúng quy trình" ? ! 

             Hà Nội, 20-11-2016
               NGUYỄN KHÔI
----
(1) Ca dao / tục ngữ thời 1980:
- Dốt chuyên tu, ngu tại chức.
- Nếu không gặp bác Chuyên Tu/ làm sao biết được kẻ ngu hơn mình.
  
READ MORE - THẦY NÓI NGỌNG - Thơ vui của Nguyễn Khôi

Sunday, November 20, 2016

TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


          
                        Tác giả Lâm Bích Thủy



              TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT            
                                           Hồi ký của Lâm Bích Thủy

  Thời gian trôi nhanh quá! như dòng nước xiết cuốn hết bốn mùa vào quá khứ. Muốn giữ cũng không được! Thoáng đó mà đã mười mấy lần xuân qua. Mùa thu này, tôi và các em từ hai đầu đất nước rong ruổi về quê để làm mân cơm tưởng nhớ cha - người thi sĩ của “Bến My Lăng”, đã ra đi vào thu năm ấy! (15/8/1998 âm lịch)

      Hôm nay chợ Gò Chàm cũng đang phiên, thời gian ở đây dường như dừng lại. Trong không khí thiêng liêng của đất trời, tôi như nhìn thấy bóng dáng người cha thân yêu đang tựa lưng trên chiếc ghế gỗ ở góc trái nhà, mắt hướng về khu chợ đầy mùi cần lao, để cảm nhận quá khứ và hiện tại của thị trấn mà ông gắn bó cả một đời.       

     
Ảnh của nhà văn Mang Viên Long. Nhà thơ Yến Lan ngồi bên phải, nhìn ra chợ Gò Chàm


    Con người được sinh ra, trưởng thành, già rồi chết - là qui luật tự nhiên, công bằng với mọi vật có mặt trên trái đất. Có nghĩa người cũng mang một con số như bao đồ vật khác. Con số ấy; nó vận vào ngôi sao vận mệnh như định mệnh trời ban. Với Yến Lan - ba tôi, dường như phận đời ông rơi vào ngôi sao không may mắn!!!


  Bồi hồi nhớ lại ngày giỗ thứ 10 (15/8/2008 âm lịch). Hôm đó, má tôi khoe: “Con biết không, ngày giỗ ba, anh em ở Hội Văn Học Nghệ Thuật Quy Nhơn “Tổ chức đêm thơ Yến Lan.” Đầu giờ chiều, cơ quan lên đón gia đình ta xuống dự. Hôm ấy, má thấy người đến dự đông lắm con à!” Niềm tự hào về người chồng thi sĩ lộ rõ trên khuôn mặt già nua tuổi 90 của bà. Có một điều gì đó như vỡ òa ra rồi trộn lẫn vào tôi; khiến sự tổn thương về người cha trong tôi như tan biến đâu mất! Và, tôi cảm nhận được sự có mặt của ông trong ngày giỗ cũng đã nhận được chút ân tình ở đời nên nhẹ nhàng vút vào không giang…!

        
               Bà  Nguyễn Thị Lan-Vợ Nhà Thơ Yến Lan và Mang Viên Long 
                             ( Một góc phòng lưu niệm nhà thơ Yến Lan) 


   Thời gian qua, người yêu thơ Yến Lan, bạn đồng niên, vong niên, ai cũng chạnh lòng về ông - người bằng văn chương làm rạng danh cho quê hương mình với cái Bến My Lăng huyền ảo và bốn bài thơ mang tên Bình Định: Bình Định 1935; Bình Định 1945; Bình Định 1947; Bình Định 1975-76. Nhưng quê hương dường như cố tình quên ông! Điều đó thể hiện rõ trong đêm Festival Bình Định, đêm thơ hoành tráng với chủ đề “...dành cho thi nhân Bình Định.”


Dành cho thi nhân Bình Định, nhưng người yêu thơ Bình Định chỉ nghe thơ của hai thi sĩ gốc Thanh Hóa và Quảng Trị; khiến cho nỗi lòng người yêu thơ Yến Lan rất bức xúc:

-Chúng ta thật vô tình và không công bằng với Yến Lan!!!


  Lần giỗ thứ 12 vào rằm trung thu 2009, gia đình tôi mời  anh em Văn nghệ sĩ ở thị trấn. Những gì thể hiện hôm ấy đã làm ấm lòng gia đình tôi. Ai cũng tỏ ra vô cùng tiếc nuối cho ông-người công dân số 3 của Tứ Hữu Bàn Thành - một nhóm thơ mà bằng văn chương của mỗi người đã làm nên niềm tự hào cho miền đất võ Bình định.

  Một nhà văn trẻ, vẻ mặt ưu tư, chân thành nói:

 -  “Gia đình hãy làm cái gì đó cho Yến Lan đi, đừng để ông thiệt thòi mãi như vậy!”.

 Còn anh giáo viên dạy văn ở Đập Đá, như thấy mình có lỗi:

- Từ lâu, hầu như chúng ta đều lãng quên Yến Lan! Thế là có lỗi với cụ. Việc khơi dậy một nhà thơ như ông, sớm muộn gì cũng phải làm. Giờ tuy mưộn còn hơn không!

  Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết (trong tác phẩm thơ Yến Lan, xuất bản vào năm 1986):

 Có nhiều lý do. Nhưng thơ là cái đẹp lặng im, đi lầm lũi trong im lặng. Nếu không ai nhắc đến, chỉ ra, gọi tên, tán dương thì nó bị vùi lấp đi, đầu là trong im lặng mà sau là sự lãng quên
 Vâng! vậy đó, có thể nói là đã đến lúc rồi. Song, nếu người nhà không làm cái việc ấy thì làm sao người ngoài biết được những gì mà Yến Lan đã tâm huyết cả đời mình.

 Nhưng là ai trong gia đình tôi? Từng khuôn mặt các em hiện ra: Tú Thủy, Huy Ánh, Hưng Đạo, Bạch Đàn? có đứa nào để tâm đến việc này; ngay cả Lâm Huy Nhuận, nó mang danh là nhà báo, nhà thơ là phóng viên của Đài tiếng nói Việt Nam mà không ý kiến gì đến! Tôi ư? Khi còn ngồi ghế nhà trường, tôi là đứa dốt văn nhất lớp lại ít gần gia đình, vì sống và học trong Trường học sinh Miền Nam tại Hải Phòng.


 Đầu óc tôi lộn xộn, rối như tơ vò, nghĩ không ra. Có lần, nhà văn Mang Viên Long gợi ý và tôi hứa sẽ cố gắng viết bài gởi vào blog của anh. Song tôi cò cưa thoái thác dần. Nhưng, anh không để tôi yên, hai ba lần anh điện vào Sài Gòn giục: “Em bảo về nhà viết bài gửi, sao để anh chờ hoài vậy?”  Và, như hiểu cái khó của tôi, anh động viên: Em viết đi, viết một cách tự nhiên, có gì không thông, anh giúp”. Lại nữa, nhà văn Nguyễn Hòa - Văn Chương Việt cũng vào cuộc; động viên:- “Em cố gắng viết, đừng ngại, nhà thơ Yến Lan phải được đặt đúng vị trí mà lẽ ra từ lâu ông đã phải được đứng; các anh luôn bên em…”

Tôi đang bâng khuâng; bỗng như có ai gợi mở cho tôi lối đi là hãy bắt đầu từ “Phòng Lưu Niệm Yến Lan”. Phòng lưu niệm này có là nhờ tâm sức của má tôi và sự giúp đỡ của anh Long.

  Tôi lên lầu, nhìn mấy tủ sách, tài liệu. Đầu tiên là sự ngạc nhiên về người mẹ của tôi. Ngày thường, bà chỉ là người nội trợ trong gia đình, sao bà có được ý thức thu thập, gìn giữ, bảo tồn những kỷ vật của ba tôi một cách cẩn trọng và phong phú đến vậy?!...

  Tôi bắt đầu từ các xấp báo, thư từ, rồi đến những bài viết về Yến Lan. Lần giở từng tờ báo, tôi dán mắt vào bài: 

“Yến Lan, một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định”:                            
“Đi vào cỏi bất tử, nhà thơ Yến Lan đã để lại cho dân tộc, cho kho tàng thơ việt Nam nhiều bài thơ độc đáo, đặc sắc từ ý đến lời. Anh đã được đặt ngang hàng với các nhà thơ lớn như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận…Trong thời Pháp thuộc anh là bạn của Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê, Chế Lan Viên, anh có đăng nhiều thơ trên các tập san và các báo trong thời điểm lúc bấy giờ. Trong kháng chiến chống Pháp anh sáng tác được nhiều thơ. Thơ anh đã đến với nhân dân và phục vụ cách mạng đúng lúc. Tập kết ra Bắc anh lại càng sáng tác nhiều thơ và đã xuất bản nhiều tập thơ phục vụ kịp thời những biến động của sự phát triển lịch sử cách mạng ở Miền Bắc. Ngày 14 tháng 4 năm 1991 anh được Hội đồng Nhà nhước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất …”   Văn nghệ BĐ/91-Trà Văn Tri


 Bài viết của ông Trà Văn Tri đã mở lối cho tôi:

 Bài báo đặt một vấn đề rất lớn, tôn vinh “Yến Lan” một nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định. Bài báo có một tầm khái quát cao về cuộc đời thơ Yến Lan. Nó như nhan đề của một quyển sách Văn học sử, có thể dày đến hai ba trăm trang. Mà yêu cầu nghệ thuật viết văn học sử về những vấn đề như vậy thì quyển sách (hay bài báo) lại thiếu các phần sau đây:

  1/ Tiểu sử nhà thơ (trong này phải nêu rõ những đặc điểm về tiểu sử có liên quan mật thiết đến những khía cạnh về mặt nội dung tư tưởng toàn bộ các tác phẩm của nhà thơ)

  2/ Những tư tưởng, quan điểm, chính kiến, lòng nhân đạo của nhà thơ. Đặt điểm về nội dung tư tưởng ấy đạt đến đâu, như thế nào. Nó kế thừa những gì của quá khứ và sáng tạo sự mới mẻ. Ý nghĩa các tư tưởng này đối với thời đại như thế nào trong thực tiễn đấu tranh xã hội, khám phá thiên nhiên và nhất là trong thực tiễn sáng tác của nhà thơ lúc còn sống và khi qua đời.

 3/ Những đặc điểm về nghệ thuật nhà thơ đã sử dụng để chuyển tải những nội dung tư tưởng những tác phẩm của nhà thơ. Mỗi nhà thơ lớn đều có một bài thơ làm biểu tượng. Ví dụ: Nguyễn Bính có “Lỡ bước sang ngang”, Bảo Định Giang có “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” Tố Hữu có “Từ ấy” thì Yến Lan phải là bài “Bến My Lăng, Bình Định 1935” Nhưng trong bài viết trên không nói gì đến “Bến My Lăng” mà chỉ dẫn chứng một bài “Nhớ” và 4 câu thơ của bài Bình Định 1935...

 Hai hôm sau, chị em tôi tạm biệt mẹ, bay vào Sài Gòn để kịp làm mâm cơm theo dương lịch 5/10/2010. Ngồi chờ ở sân bay Phù Cát, tôi lấy tờ “Báo Bình Định” thấy bài:

  "Năm tháng còn trên mấy đốt tay" của tác giả Lê Hoài Lương: 
 “Năm tháng đời người còn trên mấy đốt tay? Không, còn trong sự tưởng vọng nhiều đời dành cho những giá trị chân chính.!

 Một lần cùng người bạn đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời, ông nói: “Cái đáng sợ nhất của tuổi già là sự tỉnh táo!” Câu nói không hẳn là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh người. Người già thường sợ sự cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu, với ông, một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng sang chuyện khác. Ôi cái sự tình của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.


 Trong nhóm thơ Bình Định, ông là linh Lân. Lân, vận vào ông sao đúng thế. Sách xưa mô tả lân là linh thú, mình giống nai, đuôi giống trâu, móng như ngựa, lưng có lông ngũ sắc, bụng thì vàng, một sừng. Đặc biệt đây là con thú nhân đức, không ăn các sinh vật, đi cỏ không nát! Ông hiền lành đức độ một đời, văn nhân thi hữu nhiều lứa tuổi khác nhau đều chung nhận xét này. Linh lân lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn” ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định 1935. Riêng Bến My Lăng cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất nước Việt Nam thế kỷ XX .!....

 Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm đúng vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: Trung thu. Ông lặng lẽ về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông - con linh – thú - lân lành hiền đi không làm đau cỏ!


 Đọc bài viết, chị em tôi xúc động theo từng con chữ. Tâm tư tôi lại xáo trộn, và tôi nhận ra trách nhiệm của người chị cả: Trách nhiệm quá lớn đối với một người chưa từng cầm bút để viết về một nhà thơ, mà nhà thơ đó là một trong bốn nhà thơ nổi tiếng của Tứ linh đất võ. Mà nhà thơ đó đã để lại trong lòng người yêu thơ rất nhiều nỗi niềm bâng khuân: Chính một cô giáo-đồng hương Bình Định đã nhận xét: 

-Nhà thơ Yến Lan là người khá cầu toàn, em cảm nhận một cách rõ ràng, sâu thẳm trong trái tim ông luôn muốn hoàn thiện về giá trị nhân văn của văn học để thế hệ sau có thể tự hào về tiền bối của mình  chưa làm được; vì lực bất tòng tâm  

Với ý nghĩ “nếu mình không làm thì rồi đây những gì cha để lại cho đời sẽ mai một đi do sự lãng quên của con người. Tôi đành nhờ đến cụ Thổ Địa vậy. Tôi ghi nội dung vào hai mãnh giấy:

1/-  Con đừng viết, vì không đủ trình độ 

2/-  Con cứ viết, có khó khăn gì ta sẽ giúp . 

Tôi bỏ hai mẫu giấy ấy vào đĩa, nơi thờ thần Thổ Địa, thần tài; thắp nhang; khấn, bốc một; trúng mẫu số 2.


 Và, sau đó, không hiểu sao, ký ức về tuổi thơ, tình yêu, nhân cách sống về người cha thi sĩ của tôi ồ ạt xô vào tâm trí tôi. Rồi, tối đó, trong giấc chiêm bao tôi thấy ông đứng trước mặt, tay trái cầm tờ giấy khổ A4, tay phải huơ huơ lên trang giấy. Tôi không hiểu người âm, nên hỏi cô bạn nhà bên. Cô ấy bảo: - “chắc cụ muốn chị viết gì đó”.

Vậy là rõ: Tôi-người cha chọn để cầm bút .


  Trước kia, khi đối diện với vô vàn khó khăn trong đời sống. Chị em tôi cằn nhằn, gây áp lực cho cha: “Sao ba không làm việc gì dễ kiếm tiền, làm chi nghề nhà thơ để “Bút sa gà chết, lại nghèo xác xơ thế này?! Nỗi bức xúc đó chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng của cha. Ông để con tự hiểu, không đôi co, không giải thích. Nhưng, khi bốc mẫu số 2, tôi như được ai đó âm thầm dẫn qua mọi ngõ ngách, góc khuất của  82 năm đời và hơn 60 năm làm thi sĩ của cha tôi.

  Dần dà tôi nhận ra được chân dung con người thật của cha qua thư bè bạn ông và qua cuộc sống thực tế mà ông đã chiêm nghiệm.

 Hồi ấy, tôi thuờng nghe người ta tranh luận về thơ ba tôi, nào là:

- Thơ của Yến Lan là thực tế và là lời nhắc nhở sự tìm tòi Nào là nhận xét của Văn Cao hoàn toàn đúng với thơ của Yến Lan, không phải chỉ thời đó mà còn cả các tập thơ mới xuất bản sau này”; hay như “Những điều Yến Lan đưa ra trước đây, giờ mới thấy ông đúng.” họ còn cho rằng:

 “Yến Lan là nhà thơ biệt lạ! v.v…

Tôi chú ý đến mt lá thư của bác Quách Tấn. Bác dặn:

 - “Những chuyện của chú nên kể cho con trẻ biết. Bây giờ chúng ta chưa nhận ra, hoặc xem nó bình thường nhưng sau này, đối với trẻ là vàng, là ngọc quí đó chú ạ”.

   Còn nhà nghiên cứu văn học hiện đại Đinh Tấn Dung thì cho rằng: “rồi đây lớp trẻ sẽ nhìn Yến Lan với cái nhìn khác so với bạn cùng thời với ông”.

Tôi thấy trách nhiệm là con phải tìm cho ra sắc ngọc trong ba tôi đ chuyển tải nó trước hết cho con cháu mình.                                     

Tuy cha tôi không để lại một thiên hồi ký nào viết về “tôi làm thơ” nhưng mỗi tác phẩm của ông  lời nhắn nhủ, là chính cuộc đời ông đã chiêm nghiệm. Nó như bức thông điệp mà ông muốn gửi lại cho thế hệ trẻ mai sau.


  Khi bắt tay vào những trang đầu của hồi ký, tôi phải lội qua ma trận của giới văn chương mà trước đó tôi chẳng hiểu tí gì  Tôi thật sự lúng túng! Nhưng nhờ sự giúp đỡ thấu tình đạt lý của nhạc sĩ La Nhiên-con trai nhà danh cầm nổi tiếng của Bình Định vào thập niên 50 của thế kỷ XX, của thầy giáo dạy triết Trường Đại học Qui Nhơn - anh Cao Kế, nhà nghiên cứu văn học Khổng Đức, nhà văn Mang Viên Long, Nguyễn Hòa. Và tôi đã đủ nim tin đ vững tâm cầm bút viết hồi  về người cha thi sĩ của mình.


                                                                           Lâm Bích Thủy

READ MORE - TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy