Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 20, 2016

TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


          
                        Tác giả Lâm Bích Thủy



              TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT            
                                           Hồi ký của Lâm Bích Thủy

  Thời gian trôi nhanh quá! như dòng nước xiết cuốn hết bốn mùa vào quá khứ. Muốn giữ cũng không được! Thoáng đó mà đã mười mấy lần xuân qua. Mùa thu này, tôi và các em từ hai đầu đất nước rong ruổi về quê để làm mân cơm tưởng nhớ cha - người thi sĩ của “Bến My Lăng”, đã ra đi vào thu năm ấy! (15/8/1998 âm lịch)

      Hôm nay chợ Gò Chàm cũng đang phiên, thời gian ở đây dường như dừng lại. Trong không khí thiêng liêng của đất trời, tôi như nhìn thấy bóng dáng người cha thân yêu đang tựa lưng trên chiếc ghế gỗ ở góc trái nhà, mắt hướng về khu chợ đầy mùi cần lao, để cảm nhận quá khứ và hiện tại của thị trấn mà ông gắn bó cả một đời.       

     
Ảnh của nhà văn Mang Viên Long. Nhà thơ Yến Lan ngồi bên phải, nhìn ra chợ Gò Chàm


    Con người được sinh ra, trưởng thành, già rồi chết - là qui luật tự nhiên, công bằng với mọi vật có mặt trên trái đất. Có nghĩa người cũng mang một con số như bao đồ vật khác. Con số ấy; nó vận vào ngôi sao vận mệnh như định mệnh trời ban. Với Yến Lan - ba tôi, dường như phận đời ông rơi vào ngôi sao không may mắn!!!


  Bồi hồi nhớ lại ngày giỗ thứ 10 (15/8/2008 âm lịch). Hôm đó, má tôi khoe: “Con biết không, ngày giỗ ba, anh em ở Hội Văn Học Nghệ Thuật Quy Nhơn “Tổ chức đêm thơ Yến Lan.” Đầu giờ chiều, cơ quan lên đón gia đình ta xuống dự. Hôm ấy, má thấy người đến dự đông lắm con à!” Niềm tự hào về người chồng thi sĩ lộ rõ trên khuôn mặt già nua tuổi 90 của bà. Có một điều gì đó như vỡ òa ra rồi trộn lẫn vào tôi; khiến sự tổn thương về người cha trong tôi như tan biến đâu mất! Và, tôi cảm nhận được sự có mặt của ông trong ngày giỗ cũng đã nhận được chút ân tình ở đời nên nhẹ nhàng vút vào không giang…!

        
               Bà  Nguyễn Thị Lan-Vợ Nhà Thơ Yến Lan và Mang Viên Long 
                             ( Một góc phòng lưu niệm nhà thơ Yến Lan) 


   Thời gian qua, người yêu thơ Yến Lan, bạn đồng niên, vong niên, ai cũng chạnh lòng về ông - người bằng văn chương làm rạng danh cho quê hương mình với cái Bến My Lăng huyền ảo và bốn bài thơ mang tên Bình Định: Bình Định 1935; Bình Định 1945; Bình Định 1947; Bình Định 1975-76. Nhưng quê hương dường như cố tình quên ông! Điều đó thể hiện rõ trong đêm Festival Bình Định, đêm thơ hoành tráng với chủ đề “...dành cho thi nhân Bình Định.”


Dành cho thi nhân Bình Định, nhưng người yêu thơ Bình Định chỉ nghe thơ của hai thi sĩ gốc Thanh Hóa và Quảng Trị; khiến cho nỗi lòng người yêu thơ Yến Lan rất bức xúc:

-Chúng ta thật vô tình và không công bằng với Yến Lan!!!


  Lần giỗ thứ 12 vào rằm trung thu 2009, gia đình tôi mời  anh em Văn nghệ sĩ ở thị trấn. Những gì thể hiện hôm ấy đã làm ấm lòng gia đình tôi. Ai cũng tỏ ra vô cùng tiếc nuối cho ông-người công dân số 3 của Tứ Hữu Bàn Thành - một nhóm thơ mà bằng văn chương của mỗi người đã làm nên niềm tự hào cho miền đất võ Bình định.

  Một nhà văn trẻ, vẻ mặt ưu tư, chân thành nói:

 -  “Gia đình hãy làm cái gì đó cho Yến Lan đi, đừng để ông thiệt thòi mãi như vậy!”.

 Còn anh giáo viên dạy văn ở Đập Đá, như thấy mình có lỗi:

- Từ lâu, hầu như chúng ta đều lãng quên Yến Lan! Thế là có lỗi với cụ. Việc khơi dậy một nhà thơ như ông, sớm muộn gì cũng phải làm. Giờ tuy mưộn còn hơn không!

  Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết (trong tác phẩm thơ Yến Lan, xuất bản vào năm 1986):

 Có nhiều lý do. Nhưng thơ là cái đẹp lặng im, đi lầm lũi trong im lặng. Nếu không ai nhắc đến, chỉ ra, gọi tên, tán dương thì nó bị vùi lấp đi, đầu là trong im lặng mà sau là sự lãng quên
 Vâng! vậy đó, có thể nói là đã đến lúc rồi. Song, nếu người nhà không làm cái việc ấy thì làm sao người ngoài biết được những gì mà Yến Lan đã tâm huyết cả đời mình.

 Nhưng là ai trong gia đình tôi? Từng khuôn mặt các em hiện ra: Tú Thủy, Huy Ánh, Hưng Đạo, Bạch Đàn? có đứa nào để tâm đến việc này; ngay cả Lâm Huy Nhuận, nó mang danh là nhà báo, nhà thơ là phóng viên của Đài tiếng nói Việt Nam mà không ý kiến gì đến! Tôi ư? Khi còn ngồi ghế nhà trường, tôi là đứa dốt văn nhất lớp lại ít gần gia đình, vì sống và học trong Trường học sinh Miền Nam tại Hải Phòng.


 Đầu óc tôi lộn xộn, rối như tơ vò, nghĩ không ra. Có lần, nhà văn Mang Viên Long gợi ý và tôi hứa sẽ cố gắng viết bài gởi vào blog của anh. Song tôi cò cưa thoái thác dần. Nhưng, anh không để tôi yên, hai ba lần anh điện vào Sài Gòn giục: “Em bảo về nhà viết bài gửi, sao để anh chờ hoài vậy?”  Và, như hiểu cái khó của tôi, anh động viên: Em viết đi, viết một cách tự nhiên, có gì không thông, anh giúp”. Lại nữa, nhà văn Nguyễn Hòa - Văn Chương Việt cũng vào cuộc; động viên:- “Em cố gắng viết, đừng ngại, nhà thơ Yến Lan phải được đặt đúng vị trí mà lẽ ra từ lâu ông đã phải được đứng; các anh luôn bên em…”

Tôi đang bâng khuâng; bỗng như có ai gợi mở cho tôi lối đi là hãy bắt đầu từ “Phòng Lưu Niệm Yến Lan”. Phòng lưu niệm này có là nhờ tâm sức của má tôi và sự giúp đỡ của anh Long.

  Tôi lên lầu, nhìn mấy tủ sách, tài liệu. Đầu tiên là sự ngạc nhiên về người mẹ của tôi. Ngày thường, bà chỉ là người nội trợ trong gia đình, sao bà có được ý thức thu thập, gìn giữ, bảo tồn những kỷ vật của ba tôi một cách cẩn trọng và phong phú đến vậy?!...

  Tôi bắt đầu từ các xấp báo, thư từ, rồi đến những bài viết về Yến Lan. Lần giở từng tờ báo, tôi dán mắt vào bài: 

“Yến Lan, một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định”:                            
“Đi vào cỏi bất tử, nhà thơ Yến Lan đã để lại cho dân tộc, cho kho tàng thơ việt Nam nhiều bài thơ độc đáo, đặc sắc từ ý đến lời. Anh đã được đặt ngang hàng với các nhà thơ lớn như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận…Trong thời Pháp thuộc anh là bạn của Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê, Chế Lan Viên, anh có đăng nhiều thơ trên các tập san và các báo trong thời điểm lúc bấy giờ. Trong kháng chiến chống Pháp anh sáng tác được nhiều thơ. Thơ anh đã đến với nhân dân và phục vụ cách mạng đúng lúc. Tập kết ra Bắc anh lại càng sáng tác nhiều thơ và đã xuất bản nhiều tập thơ phục vụ kịp thời những biến động của sự phát triển lịch sử cách mạng ở Miền Bắc. Ngày 14 tháng 4 năm 1991 anh được Hội đồng Nhà nhước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất …”   Văn nghệ BĐ/91-Trà Văn Tri


 Bài viết của ông Trà Văn Tri đã mở lối cho tôi:

 Bài báo đặt một vấn đề rất lớn, tôn vinh “Yến Lan” một nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định. Bài báo có một tầm khái quát cao về cuộc đời thơ Yến Lan. Nó như nhan đề của một quyển sách Văn học sử, có thể dày đến hai ba trăm trang. Mà yêu cầu nghệ thuật viết văn học sử về những vấn đề như vậy thì quyển sách (hay bài báo) lại thiếu các phần sau đây:

  1/ Tiểu sử nhà thơ (trong này phải nêu rõ những đặc điểm về tiểu sử có liên quan mật thiết đến những khía cạnh về mặt nội dung tư tưởng toàn bộ các tác phẩm của nhà thơ)

  2/ Những tư tưởng, quan điểm, chính kiến, lòng nhân đạo của nhà thơ. Đặt điểm về nội dung tư tưởng ấy đạt đến đâu, như thế nào. Nó kế thừa những gì của quá khứ và sáng tạo sự mới mẻ. Ý nghĩa các tư tưởng này đối với thời đại như thế nào trong thực tiễn đấu tranh xã hội, khám phá thiên nhiên và nhất là trong thực tiễn sáng tác của nhà thơ lúc còn sống và khi qua đời.

 3/ Những đặc điểm về nghệ thuật nhà thơ đã sử dụng để chuyển tải những nội dung tư tưởng những tác phẩm của nhà thơ. Mỗi nhà thơ lớn đều có một bài thơ làm biểu tượng. Ví dụ: Nguyễn Bính có “Lỡ bước sang ngang”, Bảo Định Giang có “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” Tố Hữu có “Từ ấy” thì Yến Lan phải là bài “Bến My Lăng, Bình Định 1935” Nhưng trong bài viết trên không nói gì đến “Bến My Lăng” mà chỉ dẫn chứng một bài “Nhớ” và 4 câu thơ của bài Bình Định 1935...

 Hai hôm sau, chị em tôi tạm biệt mẹ, bay vào Sài Gòn để kịp làm mâm cơm theo dương lịch 5/10/2010. Ngồi chờ ở sân bay Phù Cát, tôi lấy tờ “Báo Bình Định” thấy bài:

  "Năm tháng còn trên mấy đốt tay" của tác giả Lê Hoài Lương: 
 “Năm tháng đời người còn trên mấy đốt tay? Không, còn trong sự tưởng vọng nhiều đời dành cho những giá trị chân chính.!

 Một lần cùng người bạn đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời, ông nói: “Cái đáng sợ nhất của tuổi già là sự tỉnh táo!” Câu nói không hẳn là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh người. Người già thường sợ sự cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu, với ông, một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng sang chuyện khác. Ôi cái sự tình của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.


 Trong nhóm thơ Bình Định, ông là linh Lân. Lân, vận vào ông sao đúng thế. Sách xưa mô tả lân là linh thú, mình giống nai, đuôi giống trâu, móng như ngựa, lưng có lông ngũ sắc, bụng thì vàng, một sừng. Đặc biệt đây là con thú nhân đức, không ăn các sinh vật, đi cỏ không nát! Ông hiền lành đức độ một đời, văn nhân thi hữu nhiều lứa tuổi khác nhau đều chung nhận xét này. Linh lân lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn” ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định 1935. Riêng Bến My Lăng cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất nước Việt Nam thế kỷ XX .!....

 Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm đúng vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: Trung thu. Ông lặng lẽ về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông - con linh – thú - lân lành hiền đi không làm đau cỏ!


 Đọc bài viết, chị em tôi xúc động theo từng con chữ. Tâm tư tôi lại xáo trộn, và tôi nhận ra trách nhiệm của người chị cả: Trách nhiệm quá lớn đối với một người chưa từng cầm bút để viết về một nhà thơ, mà nhà thơ đó là một trong bốn nhà thơ nổi tiếng của Tứ linh đất võ. Mà nhà thơ đó đã để lại trong lòng người yêu thơ rất nhiều nỗi niềm bâng khuân: Chính một cô giáo-đồng hương Bình Định đã nhận xét: 

-Nhà thơ Yến Lan là người khá cầu toàn, em cảm nhận một cách rõ ràng, sâu thẳm trong trái tim ông luôn muốn hoàn thiện về giá trị nhân văn của văn học để thế hệ sau có thể tự hào về tiền bối của mình  chưa làm được; vì lực bất tòng tâm  

Với ý nghĩ “nếu mình không làm thì rồi đây những gì cha để lại cho đời sẽ mai một đi do sự lãng quên của con người. Tôi đành nhờ đến cụ Thổ Địa vậy. Tôi ghi nội dung vào hai mãnh giấy:

1/-  Con đừng viết, vì không đủ trình độ 

2/-  Con cứ viết, có khó khăn gì ta sẽ giúp . 

Tôi bỏ hai mẫu giấy ấy vào đĩa, nơi thờ thần Thổ Địa, thần tài; thắp nhang; khấn, bốc một; trúng mẫu số 2.


 Và, sau đó, không hiểu sao, ký ức về tuổi thơ, tình yêu, nhân cách sống về người cha thi sĩ của tôi ồ ạt xô vào tâm trí tôi. Rồi, tối đó, trong giấc chiêm bao tôi thấy ông đứng trước mặt, tay trái cầm tờ giấy khổ A4, tay phải huơ huơ lên trang giấy. Tôi không hiểu người âm, nên hỏi cô bạn nhà bên. Cô ấy bảo: - “chắc cụ muốn chị viết gì đó”.

Vậy là rõ: Tôi-người cha chọn để cầm bút .


  Trước kia, khi đối diện với vô vàn khó khăn trong đời sống. Chị em tôi cằn nhằn, gây áp lực cho cha: “Sao ba không làm việc gì dễ kiếm tiền, làm chi nghề nhà thơ để “Bút sa gà chết, lại nghèo xác xơ thế này?! Nỗi bức xúc đó chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng của cha. Ông để con tự hiểu, không đôi co, không giải thích. Nhưng, khi bốc mẫu số 2, tôi như được ai đó âm thầm dẫn qua mọi ngõ ngách, góc khuất của  82 năm đời và hơn 60 năm làm thi sĩ của cha tôi.

  Dần dà tôi nhận ra được chân dung con người thật của cha qua thư bè bạn ông và qua cuộc sống thực tế mà ông đã chiêm nghiệm.

 Hồi ấy, tôi thuờng nghe người ta tranh luận về thơ ba tôi, nào là:

- Thơ của Yến Lan là thực tế và là lời nhắc nhở sự tìm tòi Nào là nhận xét của Văn Cao hoàn toàn đúng với thơ của Yến Lan, không phải chỉ thời đó mà còn cả các tập thơ mới xuất bản sau này”; hay như “Những điều Yến Lan đưa ra trước đây, giờ mới thấy ông đúng.” họ còn cho rằng:

 “Yến Lan là nhà thơ biệt lạ! v.v…

Tôi chú ý đến mt lá thư của bác Quách Tấn. Bác dặn:

 - “Những chuyện của chú nên kể cho con trẻ biết. Bây giờ chúng ta chưa nhận ra, hoặc xem nó bình thường nhưng sau này, đối với trẻ là vàng, là ngọc quí đó chú ạ”.

   Còn nhà nghiên cứu văn học hiện đại Đinh Tấn Dung thì cho rằng: “rồi đây lớp trẻ sẽ nhìn Yến Lan với cái nhìn khác so với bạn cùng thời với ông”.

Tôi thấy trách nhiệm là con phải tìm cho ra sắc ngọc trong ba tôi đ chuyển tải nó trước hết cho con cháu mình.                                     

Tuy cha tôi không để lại một thiên hồi ký nào viết về “tôi làm thơ” nhưng mỗi tác phẩm của ông  lời nhắn nhủ, là chính cuộc đời ông đã chiêm nghiệm. Nó như bức thông điệp mà ông muốn gửi lại cho thế hệ trẻ mai sau.


  Khi bắt tay vào những trang đầu của hồi ký, tôi phải lội qua ma trận của giới văn chương mà trước đó tôi chẳng hiểu tí gì  Tôi thật sự lúng túng! Nhưng nhờ sự giúp đỡ thấu tình đạt lý của nhạc sĩ La Nhiên-con trai nhà danh cầm nổi tiếng của Bình Định vào thập niên 50 của thế kỷ XX, của thầy giáo dạy triết Trường Đại học Qui Nhơn - anh Cao Kế, nhà nghiên cứu văn học Khổng Đức, nhà văn Mang Viên Long, Nguyễn Hòa. Và tôi đã đủ nim tin đ vững tâm cầm bút viết hồi  về người cha thi sĩ của mình.


                                                                           Lâm Bích Thủy

READ MORE - TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

BỤI PHẤN THÔI RƠI... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



           Tác giả Hiệp Kim Áo Tím


BỤI PHẤN THÔI RƠI...
(Thương tặng những người thầy 
             đã xong chuyến đò đời)

Hết rồi... bụi phấn thôi rơi
Ngôi trường biết mấy thân quen
 
Bây giờ từ giã sách đèn từ đây
Nhớ ơi ánh mắt thơ ngây
 
Bàn tay nhỏ bé cong tay viết bài
 
Tập tành con số một, hai
 
Tròn xoe đôi mắt nhung nai hiền hòa
 
Chẳng buồn giận chẳng âu lo
 
Biết ai còn nhớ lái đò năm nao
Nhìn hàng phượng tím xôn xao
 
Tìm về kỷ niệm ngọt ngào năm xưa
 
Nhớ thương biết mấy cho vừa
 
Những đêm thức trắng, những trưa tập tành
Dòng lưu bút viết mực xanh
 
Ghi bao dòng chữ mỏng manh học trò
 
Cũng là xong một chuyến đò
 
Ta về gác mái sống cho riêng mình
 
Một đời sống với học sinh
 
Nghĩa thầy một chữ...vẹn tình trăm năm

                               Hiệp Kim Áo Tím 
                  
            Đà Lạt, 20/11/2015 

READ MORE - BỤI PHẤN THÔI RƠI... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

PHÙ VÂN - Thơ Trần Mai Ngân



                Tác giả Trần Mai Ngân



PHÙ VÂN


Bấy lâu đuổi mộng phù vân
Hương Hoàng lan thoảng như gần như xa
Đuổi hình, bắt bóng hoá ta
Cuộn tròn kinh kệ, ta bà lạc tâm ...


Cầm lòng thương nhớ boăn khoăn
Ùa theo huyễn mộng... tháng năm lạc tình
Tà huy thảng thốt một mình
Như nhiên đã hết - chùng chình nữa chi !

                                      Trần Mai Ngân

READ MORE - PHÙ VÂN - Thơ Trần Mai Ngân

CHÀO TẠM BIỆT SÀI GÒN - thơ Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Ảnh tác giả


Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

CHÀO TẬM BIỆT SÀI GÒN

(Kỷ niệm một chuyến Nam du)


Ai cũng bận,
nên đành về lại Huế
Có ở thêm,
thêm chỉ những lạc loài
Sài gòn chừ mở rộng cả trăm nơi
Từ quận bốn về quận năm cũng khổ
Đường mở thêm và nhà thay khác số
Muốn thăm nhau đi mất tiếng đồng hồ
Ôm người yêu thua ôm bác xe thồ
Chờ giữa phố, leo vỉa hè thấy ngán
Khói vào mũi, quẹt tay nhau buổi sáng
Buổi trưa chiều lại suýt phạng vào nhau


Ôi! Sài Gòn trời bỗng chợt mưa mau
Xưa thích thú,
chừ kêu trời van đất
May quá sá,
tình ngày xưa chưa mất
Buồn chút chun nhưng vui lại quá nhiều
Tuổi đã già, chân đã bước xiêu xiêu
Còn gặp mặt, còn chuyện trò là quá đủ


Xin chia tay, chào Sài Gòn, bạn bè và đủ thứ!
Nhớ một thời trai trẻ ở nơi đây
Máu giang hồ, sức khoẻ, chí hừng mây…
Ừ, chi nữa thì cũng là dĩ vãng
Có nán lại, hết đêm rồi phải sáng
Gặp gỡ là sửa soạn phút chia tay
Chân đè lên đất Huế sáng nay
Lòng lại nhớ Sài Gòn như nổi sóng
Rộng mà chi cho mình tôi lạc lõng
Huế nhỏ nhoi.
Ôi! ấm áp vô vàn!
Chào bạn bè và hứa ẩu cho sang
Sẽ trở lại để chuyện trò lần nữa.

Sài gòn 16-7
Huế 29-7-09
NPVB
READ MORE - CHÀO TẠM BIỆT SÀI GÒN - thơ Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Saturday, November 19, 2016

ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN - Thơ Nguyễn An Bình





ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN

 ...Hoa tầm xuân suốt đời không gặp
 Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân...
        (Lưu Quang Vũ - Hoa tầm xuân)

Ai hát câu “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”
Lời ngân lên lại chìm xuống vô tình
Bài ca dao rất cũ
Trôi qua dòng sông ký ức
Hồn hoa phiêu dạt tận chốn nào
Ngực trầm hương đã nhạt
Sao vẫn nhói tình ơi.

Ai ngậm ngải tìm trầm
Qua đầu sông góc bể
Rừng cỏ may mấy mùa gió lộng
Mắt vương hoài giọt nắng
Lao xao tiếng chim gọi
Cho trắng hạt mưa bay.
Người đi tìm trong cơn mộng mị
Đường trầm luân xa ngái
Rơi mất tuổi thanh xuân.

Còn sợi tóc nào bay
Bóng chiều rơi sâu thẳm
Lãng đãng tiếng kinh cầu thầm lặng
Để sắc tầm xuân nhuộm hoài trong dòng sông thương nhớ
Tôi loay hoay tìm về màu nắng lụa vườn xưa
Nhà em tím vườn cà
Biết có còn hoa tầm xuân nở muộn.
Tháng mười hai cúc vẫn chưa tàn
Vàng lối cỏ bước chân em rạo rực
Hương bưởi hương cau thơm từng sợi tóc
Phải chăng ta chiếc lá cuối mùa
Trôi giữa dòng lạc dấu heo may
Con sóng xưa chia cắt đôi bờ
Lẻ loi mình tôi đứng đợi
Tìm hoài sắc biếc nụ tầm xuân..

                    Nguyễn An Bình

READ MORE - ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN - Thơ Nguyễn An Bình

CHÙM TRUYỆN RẤT NGẮN - Lê thị Tâm Thu


        


             MƯỢN

            Trưa nắng. Đường vắng teo. Dưới gốc bàng, thằng nhỏ với chiếc gậy trong tay đang say sưa nằm ngủ, chợt chiếc nón bên cạnh từ từ di động. Hiếu kỳ, tôi khép cửa băng vội qua phố; tang vật là một chiếc móc dài và mảnh còn dính trong nón,  thằng Tý thọt đang dúi vội số tiền vơ được vào túi.
          Nó hốt hoảng lạy tôi như tế sao: “Em mới bán được có chín tờ số. Mẹ em bệnh nhưng vừa hết thuốc. Em định mượn tạm thằng mù vài hôm sẽ trả lại. Em sợ mẹ chết lắm!”
          Một uất nghẹn nơi cổ: “Chờ chị chút”! Quyết định nhanh rồi dắt Tý vào nhà, tôi gom hết tiền từ con lợn đất: “ Đây, em cầm về mua thuốc cho mẹ. Có gì không bình thường thì  phải báo cho các cô, các bác trong xóm mình biết để cùng giúp đỡ chứ. Chiều chị sẽ sang thăm dì Tư”. Hai mắt tròn xoe, nó nhìn tôi kinh ngạc rồi lắp bắp cám ơn. Tôi  với thêm: “Tiền kia nhớ trả lại cho thằng mù nhé!”
           Thằng Tý khập khễng về phía gốc bàng. Lòng tôi dâng lên một nỗi bồi hồi, xa xót!


           CHIỀU ĐƯA TANG

          Trong nắng hoe vàng, những tờ giấy bạc phất phới trên đường tráng nhựa tiễn linh cữu về với đất.
          Mong mỏi của gia quyến những tờ giấy ấy chỉ nẻo cho âm hồn về thăm mái ấm.
          Sư sãi trì chú, gõ mõ, niệm kinh cầu cho người thân của gia chủ mau siêu linh cõi Niết Bàn.
          Bên gốc phượng già trụi lá, thằng bé chép miệng ước mơ “giá ngần giấy kia hóa thành tờ tiền thật cho con lót lòng đỡ dạ chiều nay”.

        THẦY ƠI!

          Như một lữ khách cứ mãi đi tiếp cuộc hành trình, có bao giờ ngoái lại sau lưng (?)
          Một chiều cuối thu, heo may không còn, cái se lạnh đầu đông dần đến. Những hạt mưa nhẹ rơi- rơi xuống sông chia làm trăm ngả vạn đường đổ ra biển lớn…Qua bến cũ, nhìn con thuyền chơ vơ chợt chạnh lòng xao xuyến. Một thảng thốt, bâng khuâng. Trỗi dậy trong tâm tưởng hình ảnh một người giáo trẻ vui nhộn nhưng vô cùng nghiêm khắc. Bao kỷ niệm ùa về. Lớp học còn đó, bạn bè nơi mô?
          Vòng quay cuộc sống như cơn lốc. Bất chợt chiều nay...Giọt mưa lất phất đánh thức từ xa ngái. Ngập ngừng rồi bước vội. Trong tôi không ngừng vang gọi “Thầy ơi!”…

                                                                             Lê thị Tâm Thu

READ MORE - CHÙM TRUYỆN RẤT NGẮN - Lê thị Tâm Thu

VU VƠ - Thơ Đại Ngàn



                         Tác giả Đại Ngàn



VU VƠ 

Hình như
Bất chợt ta ghen
Hình như
Bất chợt ta hờn thế nhân
Hình như
Thoáng chút tần ngần
Hình như
Ta tự dỗ mình bước đi
Bận lòng chi
Lời người dễ dãi
Câu yêu thương chưa đọng đã rơi rồi

                                       Đại Ngàn

READ MORE - VU VƠ - Thơ Đại Ngàn

HƯƠNG CỎ NON - Truyện ngắn của Lưu Lãng Khách


      

            HƯƠNG CỎ NON
                             
            Người đàn ông tàn phế, tuổi ngoại lục tuần, với khuôn mặt ngày xưa chắc rất điển trai; dáng người mảnh khảnh, làn da hơi xanh với vành môi thâm đen khô khốc bởi hút nhiều thuốc lá. Ông chống batoong đi đi lại lại quanh khu vườn xơ xác vẫn còn thảm cỏ non xanh mơn mởn trong tiết đầu xuân, như tìm kiếm lại những gì đã từng tồn tại ở nơi đây mà giờ không thấy nữa. Dường đã mỏi, ông ngồi xuống thảm cỏ một lát, rồi nằm ngửa ra nhìn trời, mũi hít lấy hít để mùi hương cỏ non ngào ngạt tỏa ra xông lên nồng nàn quyến rũ, mà chắc với ông là một mùi hương gợi nhớ những kỷ niệm đẹp khó quên thời trai trẻ, giờ đã quá xa xôi nơi góc trời dĩ vãng. Người ta để ý, hình như kể từ sau giải phóng, cứ mỗi độ xuân về là ông lại đến đây dăm bảy hôm liên tiếp, hết đi loanh quanh lại ngồi rồi nằm dài trên cỏ như đợi chờ một phép màu huyền diệu sắp xảy ra. Xong chiều xuống lại lủi thủi chống batoong trở bước quay về với vẻ đầy lưu luyến. và chẳng có ai biết được ông từ đâu đến, nhưng không ai làm khó chi một người dáng kính dù tật nguyền mà chỉ tò mò xem thử ông buồn hay vui mỗi khi trở gót quay về. Vạt cỏ này là phần cuối của khu vườn có ngôi biệt thự xinh xắn mà cũ kĩ kia với nhiều đoạn tường rào đổ nát, chắc là lâu lắm rồi chẳng có người coi ngó sửa sang nên bò nghé ra vào luồng tuông, cây ăn quả gãy cành đây đó làm cho khu viên vắng vẻ càng thêm xơ xác tiêu điều.
            Trong thời gian đầu giải phóng, ngôi biệt thự trở thành kho thóc của Hợp Tác xã và là nơi hội họp của dân làng suốt nhiều năm. Gian nhà chính trở thành trường mẫu giáo, người ta vẫn giữ nguyên không hề sửa chữa rồi bỏ luôn cho mãi đến giờ. Lần nào về đây ông cũng thấy hai cánh cửa chính xập xệ mở ra trống hóac tênh hênh trông thảm hại đến vô duyên và điêu hoang lạnh lẽo vô cùng.
            Chiều xuân đã tắt nắng, trùm lên khu viên một vẻ gì trơ trọi hoang liêu khi những con bò cuối cùng no cỏ ra về qua cái cổng chính đà gãy sập một bên, dây bìm leo rậm rịt.
            Ông uể oải đứng lên vỗ vỗ vào sau lưng mấy cái. Chợt từ phía cổng xuất hiện người đàn bà mặc váy xanh đen, tóc bới cao trông còn đẹp dáng lắm, đứng nhìn ngôi biệt thự rồi đưa mắt nhìn người đàn ông thương tật đang đứng ở cuối vườn. Bỗng tim ông đập thình thịch, không suy nghĩ gì nữa, ông hấp tấp chống gậy bước khập khiểng gấp gáp về phía sân biệt thự, được một đoạn mệt quá ông dừng lại thở hồng hộc rồi gọi lớn: “Ngà ơi! Ngà! Có phải em đó không?”…

                                         *******

            Trời hôm nay nắng dữ, ngả xế rồi vẫn rực rỡ chói chang. Đây đó phượng hồng thắp nắng lung linh và loài ve mãi râm ran bản sầu ca muôn thuở. Ngồi trên xích đu trong sân vườn nhà, dưới tàn cây xoài cát lão, Ngà nhòm sang mảnh đất kế bên, hàng xóm vừa mới bán, thấy người ta đang hí hoái dựng lên ngôi nhà mới sơ sài lợp mái lá đã gần xong. Chợt người thanh niên trong căn nhà nhỏ bước ra, bắt gặp ánh mắt của Ngà nhìn sang, anh liền nở nụ cười sơ giao thân thiện rồi đưa tay vẫy vẫy khiến nàng cảm thấy vui vui rồi gật đầu chào lại, Xong chẳng biết sao bỗng vụt chạy vào nhà.
            Mấy hôm sau tình cờ ngoài hiệu sách nàng lại gặp anh đang lựa tìm mua những quyển gì chẳng biết. Vừa ngước lên anh đã nhận ra Ngà và vẫn với một nụ cười thân thiện. Lần đầu tiên được chuyện vãn cùng anh mà sao Ngà cảm thấy gần gũi vậy, dường hai người đã quen nhau tự rất lâu rồi.
            Anh nói gia đình anh chỉ còn mẹ già và một đưa em gái út thôi. Người anh cả đã tử trận trong chiến dịch Mậu Thân, chị kế đã lấy chồng và cha anh mất sớm khi anh chưa đầy mười tuổi. Anh đã học xong tú tài toàn nhưng vì gia cảnh đành bỏ ngang việc học. Thương mẹ, khi còn đi học anh vừa học vừa làm không biết bao nhiêu là việc, đụng gì làm đó mà cũng chỉ đỡ dần tí đỉnh cho mẹ thôi chứ giữa thời buổi khó khăn loạn lạc này, anh chưa tìm được hướng đi cho cuộc đời mình. Đã mất một đứa con trai rồi, sợ mất thêm đứa nữa nên mẹ chạy giấy tờ giả khai anh nhỏ tuổi khỏi bị trúng quân dịch, rồi bán vườn nhà ở vùng bán an ninh chẳng được là bao, thêm vốn đẻ dành mới mua được đất cất nhà ở nơi xứ xở mới này.
            Nghe Lộc nói đã học xong tú tài toàn nàng mừng quá vì nàng đang học xong đệ tứ chuẩn bị thi lên đệ tam chẳng biết nổi hay không vì ông thầy dạy kèm đã chuyển đi nơi khác. Nhờ thầy trên tỉnh về dạy thì ba nàng sợ con gái ở nhà một mình với người lạ rủi có chuyện gì thì biết làm sao khi ông phải ngày ngày đi làm việc ở tòa thị chính, bà buôn bán ngoài chợ, chị hai nàng vừa giúp mẹ trong dịp hè vừa ôn bài để thi lại vào mùa tới. có khi mấy đêm liền có động, nghe tin hai bên đụng độ là cha nàng ở luôn trên tỉnh, cả tuần mới về nhà. Nghe đâu ba Ngà có nhà trên phố nữa nhưng mẹ nàng nhất quyết sống chết gì cũng ở đây chứ chẳng chịu rời đi nên ông đành phải một cảnh hai quê.
            Ngần ngại một lúc Ngà mới dám mở lời nhờ anh dạy kèm, không cần suy nghĩ, Lộc đồng ý ngay và hứa sẽ dạy cho nàng những khi có thể, bất kể sớm trưa chiều tối vì hằng ngày ai kêu gì anh cũng làm nấy không thể nào lên lịch làm việc được để có thời gian ổn định mà dạy cho nàng. Thế mà hay! Từ đó đôi bạn trẻ mới quen, lúc thì sáng trưa khi thì chiều tối quấn quít bên nhau, kẻ dạy người học vui như những buổi hẹn hò. Khi Ngà thi đỗ vào Đệ tam cũng là lúc tình cảm giữa hai người bắt đầu thắm thiết, vượt lên trên tình thầy trò hay tình bạn. Và mẹ Ngà rất quí trọng Lộc, coi anh như người thân trong gia đình và nghiểm nhiên anh trở thành một người đặc biệt, muốn đến muốn đi bất cứ lúc nào trong cái khuôn viên đẹp đẽ sung túc này trừ những buổi tối ba của nàng về.
             Nửa năm trôi qua! Tình cảm của đôi bạn trẻ ngày càng thắm thiết. Đêm nào ba không về là Ngà làm tín hiệu, để ngọn đèn dầu trên cái xích đu, anh sẽ thấy mà sang. Và cũng từ đó, đêm hôm anh không còn đi vào cổng chính nữa,mà Ngà mách lối cho anh phá một lổ trổ ở cuối vườn, nơi hai người sau đó thường hò hẹn sớm hôm.
            Đầu xuân năm ấy! Sau khi về quê ăn tết cùng ngoại, mẹ nàng bảo hai chị em về trước coi nhà, riêng bà ở lại chăm sóc tâm sự với mẹ già vài tuần nữa mới vô sau. Trời đất sang xuân, vạn vật đều trở nên mới mẻ xanh tươi, sinh sôi nảy nở, khiến lòng người lâng lâng phơi phới, rạo rực những yêu mơ bỏng cháy xuân thì.Ngày ngày Lộc thường hát vu vơ, mỉm cười một mình, quẩn quanh làm việc vặt trong vườn, thỉnh thoảng ra đứng bên hàng rào nhìn sang ngôi biệt thự cửa đóng then cài giữa ba ngày tết trong niềm vui chờ đợi, với một tinh thần sung mãn, một thể chất đang độ thanh xuân, rắn rỏi tràn trề sinh lực của chàng trai mới vừa bước qua ngưỡng cửa đôi mươi. Mới chỉ dăm hôm xa cách thôi mà đã ngỡ thời gian như ngừng lại, nhưng Lộc vẫn vui vì cảm nhận được rằng Ngà cũng giống như anh, đang khát khao chờ đợi phút sum vầy dưới khung trời rạo rực tươi thắm buổi đầu xuân.
              Vừa về đến nhà, Ngà đã không kìm chế được tình yêu bồng bột, nỗi nhớ nhung dồn nén trong lòng. Tâm hồn thơ ngây của người con gái mới lớn bay bổng, thăng hoa chắp cánh điều khiển đôi chân nàng chạy ra phía bờ rào, nói lớn sang để cho anh nghe thấy rằng em đã về. Không để nàng phải đợi lâu, Lộc quần áo chỉnh tề, lịch sự bước qua cổng chính vào nhà thưởng thức hương vị ngày xuân, ăn tết muộn cùng với chị em Ngà. Đêm hôm ấy, không kịp chờ cho người của hai bên gia đình ngủ say, đôi bạn trẻ đã hấp tấp tìm đến nhau, lao vào nhau ào ạt, hừng hực lửa thanh xuân, cháy nồng trên thảm cỏ tươi non đang tỏa ra mùi hương ngây ngất, quyến rũ càng thêm say đắm lòng của những kẻ đang yêu. Đã từng trao nhau những nụ hôn đầu đời cháy bỏng, và giờ đây họ không còn biết đâu là giới hạn, đã trao nhau cái thiêng liêng trân quý nhất của đời người một cách hoàn toàn tự nguyện hiến dâng mà không thể có một trở lực siêu nhiên nào ngăn cản được. Quá hồn nhiên vô tư đắm đuối, họ đã ôm nhau ngủ vùi trên thảm cỏ non, được cắt xén chăm sóc rất đẹp mắt, đang ướt đẫm sương mai dưới bầu trời xuân sắp ló dạng ánh bình minh. Hai tấm thân trẻ dại bị ướt nhẹp mới giật mình hoảng hốt, vơ vội gấp gáp lo phần ai nấy chạy về phía nhà mình…
             Sáng ra ! Chị hai tên là Nga lớn hơn Ngà ba tuổi, đi ra vườn hái trái cây, dạo khắp xung quanh rồi bước dần đến thảm cỏ non, hít thở không khí trong lành giữa trời thoáng đãng một cách hân hoan sảng khoái. Chợt nhận ra thảm cỏ bị nhàu nát nhiều chỗ. Và kia! Vạt cỏ non bị đè bẹp dí, còn hằn lên dấu nằm của đôi bạn trẻ hồi hôm. Chị thâu tia nhìn ái ngại, vội bước vào nhà mà nghe người nóng ran. Ngà đang ngủ say như chết. Bước đến gần quan sát, chị thừ người khi thấy trên mái tóc mượt mà óng ả của em, trên cùi chỏ của đôi tay thon mềm nà nõn còn lưu vết cỏ non, và mùi hương cỏ kia còn phảng phất quanh người.
              Thế rồi đêm đêm họ kín đáo dè dặt hơn, nhưng vẫn luôn tìm đến nhau khi có thể. Bất kể là khuya hay sớm, họ trao nhau những phút giây ngây ngất mặn nồng, ngùn ngụt lửa ái ân. Năm ấy Ngà vừa mười bảy tuổi, mùi hương cỏ non luôn quấn quýt bên nàng.
             Tình vui nào được bao lâu! Vào một buổi sáng còn đang ngủ nướng, Ngà nghe Lộc bên kia rào gọi lớn: “ Ngà ơi! Anh bị bắt!”. Như giẫm phải lửa,nàng bật dậy như lò xo, chạy ra vườn nhìn sang, thấy chiếc xe jeep lù lù phía trước. Hai người lính trẻ súng trường M16 lăm lăm thấy khiếp, hai người còn lại bẻ ngoặt tay Lộc ra sau áp giải lên xe. Ngà chỉ kịp kêu lên “anh Lộc” và nghe anh trả lời: “ Hãy chờ anh! Rồi anh sẽ quay về”. Đó là những tháng trước mùa hè đỏ lửa năm 1972…

                                  *******

               Đang bước qua cánh cổng sập để đi vào bên trong, người đàn bà khựng lại, đứng nhìn một hồi, cố lục lọi trong ký ức khi người đàn ông đã đến hơi gần: “ Ông là ai?”. Hấp tấp bước tới để nhanh được gần người yêu, nàng đây thật rồi, không thể nhầm lẫn vào đâu được nữa, vội quá ông vấp ngã chúi dụi, còn cố ngước lên với vẻ mặt mừng rỡ tột độ lhông thể tả: “Anh đây! Anh là Lộc của em đây Ngà ơi!”. Người đàn bà bối rối bước tới đỡ ông đứng dậy, và chưa kịp buông tay đã bị ông ôm chầm, hôn lấy hôn để một hồi lâu, rồi hổn hển trong hơi thở: “ Anh đã chờ đợi em suốt hơn ba mươi năm nay. Từ sau giải phóng, xuân nào anh cũng về nơi đây tìm kiếm, đi đứng nằm ngồi trên thảm cỏ đầy kỷ niệm của chúng mình, dù đã xơ xác tiêu điều vẫn gắng nảy mầm non chờ ngày em trở lại. Anh tin chắc là có ngày em sẽ trở về mà. Có thể nào quên được chuyện chúng mình phải không em?”. Chẳng biết trả lời sao cho phải, người đàn bà đành dạ một tiếng trước tấm chân tình tội nghiệp của ông: “ Thì ra anh là Lộc! Vợ con anh đâu? Chẳng lẽ sau ngần ấy năm anh vẫn ở vậy?”. Vừa vuốt tóc người yêu vừa gắng bước theo bà đến trước thềm ngôi biệt thự: “ Đúng! Anh vẫn ở vậy. Vì suốt cuộc đời này anh chỉ yêu có em thôi. Còn em! Em đã có gia đình ấm êm hạnh phúc rồi sao?”. Chợt đôi mi người đàn bà ngấn lệ: “ Dạ không! Vì em cũng chỉ yêu có một người mà…”. Ông cũng rơm rớm nước mắt, nở một nụ cười hạnh phúc tràn trề: “ Mà anh bị bắt đi lính rồi biệt tích chứ gì? Thật tội nghiêp thân em! Vậy tại sao mấy mươi năm nay em không về đây ở để chờ đợi ngày anh sẽ trở về?”. Bà nói trong nước mắt: “ Em biết lấy danh nghĩa gì để mà chờ đợi ở nơi đây. Em phải theo ba sang Mỹ trước ngày giải phóng rồi sống già ở xứ người cho mãi đến hôm nay. Sau khi ba mất rồi mẹ mất, an táng xong, giải quyết đủ vấn đề, rồi em mới trở về, nguyện sẽ gắn bó với nơi này suốt phần đời còn lại. May mà vườn tược còn nguyên không bị người ta chiếm đoạt. Em đã liên hệ với chính quyền rồi, sẽ cho người sửa chửa gầy dựng lại nay mai”.
              Ngồi xuống bậc thềm, vẫn không buông bà ra, dù bà đã mấy lần định hất tay ông nhưng không nỡ,và bà cũng không điều khiển được trạng thái tâm lý ngổn ngang phức tạp rối rắm mất tự chủ của mình. Để cho ông mặc tình âu yếm ve vuốt mơn man một hồi lâu bà mới hỏi: “ Vườn nhà anh cũng không còn ai ở bên ấy sao?”. Dường động nỗi thương tâm, ông nghẹn ngào trong nước mắt tuôn trào: “ Bởi quá thương con, hốt hoảng lo lắng, sợ mất đi niềm tin yêu hy vọng cuối cùng, mẹ anh đã đổ bịnh ngày một nặng. Khi cụ qua đời, em gái anh đưa về quê an táng trước ngày hòa bình, rồi nó trở lại lo bán đất bán nhà, xong về theo phía chồng, gửi hờ lại mảnh giấy ghi địa chỉ, phòng khi anh trở về biết nơi chốn mà tìm nó. Khi anh trở về đây, người chủ mới lại sang cho người chủ mới nữa, may mà họ vẫn còn giũ nguyên tờ giấy để trao lại cho anh”.  Im lặng một lúc bà nói: “ Em mỏi quá! Anh hãy buông em ra đi. Mình đi tìm nơi ăn tối, em đói bụng. À! Rồi sau đó anh sống thế nào?”
            Hơi hụt hẫng khi bình tĩnh lại thấy người yêu có phần thụ động, không vồ vập sà vào lòng ông mừng vô bờ bến như ông từng tưởng tượng, ông nhìn bà nghi ngại: “Sau đó với anh là một chuỗi ngày dài xấc bấc xang bang. Em cứ nghĩ đi! Một thằng thương phế binh của chế độ cũ mới làm được gì để sống, làm sao khỏi khốn đốn trong những năm đầu giải phóng. Vậy mà rồi cũng may, sau đó chú anh có người quen làm lãnh đạo của một công ty hợp doanh nhận anh vào làm việc. đỡ được mấy năm rồi lại nghỉ, sóng đời đẩy đưa trôi nổi mãi đến giờ, nói ra dài dòng lắm.
            Ăn tối xong bà ngại ngần hỏi: “Giờ anh về đâu? Em phải về khách sạn để tắm rửa nghỉ ngơi mai còn lo việc.” Ông buồn buồn: “Anh còn biết về đâu nữa khi đã gặp em. Hôm nay anh trả phòng rồi. Ô! Hay là em cho anh theo về khách sạn, rồi đêm nay mình sẽ cùng thức trắng bên nhau cho thõa lòng thương nhớ mấy mươi năm ngoài thảm cỏ non dù giờ đây đà xơ xác tiêu điều. Hay là gặp anh rồi Ngà chẳng thấy vui hở em. À! Còn chị hai của em giờ sống thế nào? Chị ấy thật dễ mến. Càng nhìn em anh càng thấy giống chị hai, giống quá đi mất” Bỗng bà đột ngột xúc động, mất bình tĩnh, cười không thành tiếng: “Chị hai của em!...”
            Biết trả lời sao trước người đàn ông suốt một đời bà thầm thương trộm nhớ, nay vừa gặp lại trong buồn vui lẫn lộn. Liệu ông có chịu nổi không khi ông biết được một sự thật phũ phàng rằng Ngà đã chết từ khi còn lênh đênh trên biển, chưa biết đâu là bến bờ nước Mỹ trong cuộc hải trình đầy trắc trở cam go. Mùi hương của ông thương nhớ bao năm, bà chỉ được ngửi một mình nơi thảm cỏ và nơi thân thể em gái mình sau những đêm bụng trộm tự thuở nào xa lắc xa lơ.
            Ôi! Đêm nay! Liệu bà có nên mặc nhiên để cho ông đắm chìm trong hạnh phúc, hả hê trong ngộ nhận, cùng ông tận hưởng những giây phút ngọt ngào quí báu sau bao năm xa cách mà tận đáy lòng ông không phải để cho bà. Và nếu như vậy, bà cảm thấy có lỗi với vong hồn người em gái. Thật phũ phàng và cay đắng, đầy bất ngờ và bất nhẫn, khó nghĩ quá đi thôi…bà lưỡng lự ậm ờ.
            Bất chợt cơn mưa đầu hôm đổ ập xuống rào rào, trong mưa gió nghe thoang thoảng mùi hương cỏ non xông lên làm xao xuyến lòng người. Mưa tạnh, bà khép nép bước đi bên ông mà chẳng biết đi đâu…
                                                                           Đầu xuân 2015 
                                                                         Lưu Lãng Khách

READ MORE - HƯƠNG CỎ NON - Truyện ngắn của Lưu Lãng Khách