Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, March 14, 2016

NÓI SAO CŨNG "PHẢI"! - Tạp bút của Hoàng Đằng


           
                            Tác giả Hoàng Đằng
 



        NÓI SAO CŨNG "PHẢI"!

Sáng nay, trời dịu mát sau một thời gian dài mưa rét. Cụ Cử thức dậy, cảm thấy trong người khoan khoái, bấm điện thoại rủ bạn là cụ Nhân đi thăm bạn bè ở một thị xã xa nhà đến gần 20 km.
Dù đã hết tháng giêng Âm Lịch, chuyến thăm cũng xem như thăm Tết, vì từ đầu năm đến giờ, do thời tiết và sức khỏe kém, cụ Cử chưa đi mô xa ra khỏi nhà.

Cụ Cử năm nay 86 tuổi, cụ Nhân 70. Hai cụ đều là người có học – tốt nghiệp đại học thuở còn thanh niên. Cụ Cử là cựu chủ tịch xã, còn cụ Nhân là thầy giáo về hưu. Tuổi già, rảnh việc, hai cụ thường xem TV, đọc sách báo để biết thời sự, hiểu chính sách đường lối của Đảng và Nhà Nước. Hai cụ còn biết sử dụng Internet, có lập trang facebook riêng. Trường hợp như hai cụ rất hiếm trong cộng đồng dân cư; thế nên “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hai cụ kết bằng hữu vong niên, thân thiết với nhau.

Hai cụ quyết định khởi hành sớm để, khi gặp, có thời gian nhiều ngồi chuyện trò với các cụ bạn trong ấy. Chuyện của các cụ già thì nhiều lắm: chuyện gia đình, chuyện nghề nghiệp, chuyện làng xóm, chuyện quốc gia, chuyện thế giới ... kể cả những chuyện tiếu lâm hoang nghịch.
Lớp trẻ nhìn lớp già, cứ tưởng người già chỉ có chững chạc, khoan hòa, nghiêm túc; thật ra, người già cũng là người, có đủ thất tình (bảy thứ tình cảm của con người): mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn. Người mà không còn những thứ tình cảm ấy thì đã hóa đá, tim ngừng đập, máu không chảy, não chết; thành thử, đừng lấy làm lạ thấy người già ngồi với nhau cũng đùa giỡn, rộn vang tiếng nói, cười.

Cụ Nhân chở cụ Cử vào Quốc Lộ 1 rồi xuôi Nam. Xe chạy chầm chậm, cụ Nhân gợi chuyện:
- Trước đây, đoạn đường này vừa hẹp vừa nham nhở, đầy ổ gà; nay Nhà Nước cho mở rộng, đổ nhựa bóng láng. À mà phải rứa thôi! Hệ thống đường sá phải đàng hoàng mới có thể làm điểm tựa đưa nước ta sớm thành một nước hiện đại.
Nghe hai từ “hiện đại”, cụ Cử nói dông nói dài như muốn trổ vốn hiểu biết của mình:
- Mấy năm trước, các phương tiện thông tin đại chúng cho biết đến năm 2020, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại; mục tiêu ấy hình như không thể đạt được, cho nên Báo Cáo Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XII do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đọc trong lễ khai mạc Đại Hội Đảng ngày 21/01/2016 chỉ nói: “… Sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại …” Nói “sớm” thôi chứ không khẳng định lúc nào.
Chú Nhân coi, nước ta đang đối mặt với nhiều vấn đề khó mà không phải một sớm một chiều giải quyết được. Ngoài vấn đề  hiện đại hóa để nước ta sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới, bây giờ còn phải chờ! Còn lắm vấn đề, chẳng hạn vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng người lãnh đạo cao nhất là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu ý kiến nhận xét về Lời Nói Đầu Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 ngày 23/10/2013: “… Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa? …” Thế nghĩa là vẫn phải chờ! Vấn đề thu hồi lãnh thổ bị Trung Quốc cưỡng chiếm: quần đảo Hoàng Sa mất năm 1974, một phần quần đảo Trường Sa mất năm 1988; trước mắt nước ta chưa đủ thực lực, nên Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam đã phát biểu rõ ràng trong buổi đối thoại với các nhà khoa học Việt Nam ngày 17/5/2014  : “Hoàng Sa là của Việt Nam … Nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta tiếp tục đòi.” Vậy cũng phải chờ! Vấn đề phòng chống tham nhũng; tham nhũng là căn bệnh phá đất nước từ trong ra, phải diệt cho được! Ở buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 06/10/2014, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã dùng hình ảnh bình hoa và con chuột để minh họa cái khó khăn trong việc chống tham nhũng: “ … Đánh con chuột đừng để vỡ bình; làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa; tức là giữ cho được cái ổn định …” Do đó, diệt tham nhũng phải làm từ từ, cần thời gian lâu dài; thế nghĩa là cũng phải chờ!
Thời gian chờ lâu hay mau tùy thuộc vào cái tầm và cái tâm của các nhà lãnh đạo đất nước.
Nếu phải chờ đến các thế hệ sau, vẫn tốt thôi!  Con, cháu, chắt, chút, chít làm được những việc mà cha ông không làm được, để lại thì đáng được khen quá đi! “Con hơn cha là nhà có phúc”, chú nờ!
Cụ Cử nói một mạch, lưu loát, không khác chi một cán bộ tuyên giáo tốt nghiệp từ một trường chính trị cao cấp được học tập bài bản, chẳng dành khoảng trống thời gian nào cho người nghe góp ý, trong khi cứ choàng hai tay ôm chặt vào hông cụ Nhân kẻo sợ xe xốc vượt trên đường gợn đầy sóng do kỹ thuật đổ nhựa chưa tốt, có thể bị té ngửa. Thật thế, đường, tuy rộng và trông bóng láng, do xe rouleau compresseur đằn không đều, không phẳng, tạo thành những vồng ngang nhìn bằng mắt khó thấy, nhưng dễ cảm nhận khi chạy xe. Té ngửa, nguy hiểm lắm; ở người cao tuổi, não teo đi, tách khỏi vỏ sọ, lúc lắc, giao động chứ không bám chặt vào thành trong vỏ sọ như não ở người trẻ; nếu đầu va đập, mạch máu não dễ đứt, gây chấn thương nặng dẫn đến tử vong.

Chiếc xe máy qua cầu để đến thị xã, cụ Nhân muốn khoe tay lái vững của mình với cụ Cử:
- Bác thấy chưa? Em lái tà tà, bác ngồi sau khỏe re, êm re, phải không?
Cụ Cử chưa kịp trả lời, cụ Nhân ba hoa tiếp:
- Em chạy như rứa khoảng 40 km/giờ. Đoạn đường này dài khoảng 19 hay 20 km gì đó. Trước kia, xe máy chạy chậm hơn, mất đến 45 phút. Nếu chạy với tốc độ như em hôm nay, có thể bị công an giao thông núp đâu đó bắn tốc độ rồi chận bắt đòi nộp phạt. Nhưng kể từ 01/3/2016, văn bản mới của bộ Giao Thông Vận Tải quy định xe máy được phép chạy với tốc độ 40 km/giờ; nhờ thế, em chạy chỉ mất 30 phút.
Ông Cử khen:
- Chú mi cập nhật thông tin, giỏi rứa à!
Xe vừa tới khúc quẹo ở ngã ba Quốc Lộ 1 rẽ trái vào đường xuống thị xã. Đèn đỏ. Cụ Nhân dừng xe. Quốc Lộ 1 sau nhiều lần chỉnh trang, rộng, chia thành hai luồng, ở giữa có xây giải phân cách; mỗi luồng có 3 lối chạy (lane), hai lối dành cho ô tô và một lối dành cho xe máy, xe đạp. Ở luồng chạy vào Nam, nhiều xe ô tô và xe máy dừng bên cạnh và sau xe cụ Nhân; bên kia, ở luồng chạy ra Bắc, cũng nhiều xe ô tô và xe máy. Đèn xanh. Cụ Nhân lên ga cho xe rẽ trái để vào đường xuống thị xã, xe cụ Nhân đến ngang giải phân cách, phải dừng, đợi cho ô tô và xe máy ở luồng chạy ra Bắc qua xong, cụ mới vào được đường xuống thị xã.
Cụ “nói trạng” với cụ Cử:
- Bác thấy chưa, em lái xe an toàn không chê vào đâu được! Bọn trẻ liều mạng, xe tải, xe khách chạy trên đường trường nối đuôi nhau như thế mà chúng dám lạng lách băng qua trước các đầu xe, có đứa còn vừa cua xe vừa nghe điện thoại; chúng liều mạng quá, nhanh một vài giây được gì mà có thể bị tai nạn.

Tuýt … tuýt … tuýt! Một hồi còi ré lên, một công an giao thông đưa bâton, chận xe cụ Nhân lại. Anh công an trẻ lắm, khoảng trên 20 tuổi. Anh đưa tay chào trước mặt cụ Nhân – thế chào làm cho có chứ không nghiêm chỉnh lắm – rồi ra lệnh:
- Bác cho kiểm soát giấy tờ xe!
Cụ Nhân vẫn ngồi trên yên xe, còn cụ Cử trụt xuống; cụ Cử nghĩ bụng thế nào cụ Nhân cũng không đem theo giấy tờ. Ở những thị xã nhỏ như ở đây, ít người già có bằng lái xe, mà dù có, người già lái xe máy đi đâu, thường hay quên hay không bận tâm mang theo giấy tờ. Hầu hết cư dân quen nhau, người già thường được kiêng nễ : “Nhất có râu nhì bầu bụng”, và họ lái cẩn thận, chạy chầm. Chưa hề nghe trường hợp nào người già bị nộp phạt vì vi phạm luật lệ giao thông. Có lẽ trường hợp của cụ Nhân bây giờ là trường hợp đầu tiên.
Cụ Cử sờ túi xem có đem tiền theo không. Túi trống không. Hồi sáng, nghe xe cụ Nhân bóp còi gọi ngoài cổng, cụ Cử, trong lúc vội vàng, đã quên lấy cái bóp luồn giấu trong bao gối; cụ Cử có thói quen cất bóp tiền trong gối, đêm nằm kê đầu lên; hiện cái bóp của cụ đang căng đầy, có đến mấy trăm ngàn lận! Tết vừa rồi, con cháu tới thăm, đứa này lì xì hai chục ngàn, đứa nọ lì xì mười ngàn, cụ chưa tiêu chi hết. Cụ đưa tay vò đầu, băn khoăn: “Để chú Nhân trả tiền phạt, mình ôốc dôộc lắm! Chú đi chuyến này là bởi mình rủ; chú ấy đổ xăng, mình đứng nhìn, giờ xe bị phạt vô lý, chú nộp tiền, mình cũng đứng nhìn, hóa ra mình là kẻ vô trách nhiệm, vô liêm sĩ, không biết tự trọng.” Trong đời sống, cụ Cử luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng; người mẫu mực phải vậy thôi! Làm việc gì, thành công thì mình hưởng thành quả, thất bại thì mình chịu hệ quả, chứ không phải việc gì hỏng thì mình đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. “Quýt làm cam chịu” sao được!
Cụ Cử đang miên man nghĩ ngợi thì cụ Nhân lôi từ trong túi ra một bì nhựa trắng nhỏ, trong ấy đựng đủ các giấy tờ tùy thần, cụ thủng thẳng nắn rút, xuất trình từng giấy một: giấy đăng ký xe, bằng lái xe, giấy bảo hiểm xe. Anh công an chăm chú xem, cố tìm cho ra một cớ gì đó để bắt phạt; anh dành nhiều thời gian vào giấy bảo hiểm, hình như hy vọng giấy quá hạn. Nhưng không, hạn bảo hiểm đến cuối tháng 6/2016.
Cụ Nhân mỉm cười, đưa tay ra định nhận lại giấy tờ, chào anh công an để đi. Hỡi ôi! Mô được! Anh công an quay mặt, bước lên vỉa hè, chuyển giấy tờ sang cho một anh công an khác, rồi nghiêm giọng:
- Bác dắt xe lên vỉa hè, tới gặp anh kia để làm việc.
Cụ Nhân và cụ Cử ngạc nhiên, nhìn nhau, không biết tại sao mình còn phải “làm việc”.
Cái yên xe mô-tô phân khối lớn – loại xe dùng rượt đuổi những kẻ phạm pháp bỏ chạy – dùng như cái bàn “làm việc”, một anh công an cũng còn rất trẻ, đang hí hoáy lập biên bản thu tiền những người đi xe bị chận trước đó. Cụ Nhân, cụ Cử đứng chờ, nóng ruột vì giờ hẹn với mấy ông bạn đã quá.
Anh công an ngẩng mặt lên, nhìn cụ Nhân, nói:
- Tôi lập biên bản về trường hợp của anh.
Anh dùng từ “anh” – từ chuyên dùng trong công việc – chứ tuổi tác cụ Nhân biểu hiện trên vóc dáng thì cụ có thể ngang trang với ông nội, ông ngoại anh công an.
Cụ Nhân lịch sự hỏi:
- Trường hợp gì, anh?
- Anh vượt đèn đỏ. Anh cảnh sát tỉnh bơ trả lời.
Cụ Nhân phân trần, giọng hơi bực bội:
- Anh nói như thiệt, tôi đã dừng xe bên kia chờ lúc đèn đỏ tắt, đèn xanh bật, tôi mới cho xe rẽ về đây; anh còn thanh niên mà mắt kém dữ rứa à?
Anh công an im lặng. Cụ Nhân đưa tay nhón 3 cái giấy xe của cụ từ trên yên xe - “ bàn làm việc” - của anh công an bỏ vào túi áo. Anh công an bặm mặt, ra lệnh:
- Tại sao anh tự động lấy giấy tờ trên “bàn làm việc” của công an. Chú trả lại các giấy tờ ấy xuống đây gấp!
Anh công an mất bình tĩnh, khi thì dùng từ “anh” khi thì dùng từ “chú” để gọi cụ Nhân. Cụ Nhân vừa nói vừa cười – nụ cười lạnh nhạt:
- Giấy tờ tôi anh đã xem xong, tôi lấy lại.
Anh công an gằn giọng:
- Giấy tờ chú tôi giữ, chú chỉ nhận lại khi nào tôi giao. Tôi chưa giao, anh không được phép lấy. Anh tự động lấy, hành vi ấy có thể quy vào tội “chống người thi hành công vụ”. Tôi sẽ lập 2 biên bản đối với trường hợp của chú: biên bản 1 là vi phạm luật giao thông, biên bản 2 là chống người thi hành công vụ.
Cụ Nhân nổi giận, nói to:
- Tôi vi phạm luật giao thông chỗ nào, tôi chống người thi hành công vụ chỗ nào? Anh cậy quyền, vu oan cho tôi, tôi sẽ phản ảnh việc này lên thủ trưởng của anh ở công an tỉnh.
Nói xong, không chờ phản ứng của anh công an như thế nào, cụ Nhân bước xa ra, bấm điện thoại di động, áp lên tai, đi lui đi lại; từ miệng cụ, thỉnh thoảng vang rõ lên những tiếng: “Ờ”, “vâng”. Cụ không đem theo tiền, cụ thông báo tình cảnh cụ bị giữ cùng xe cho một số con cháu ở gần đây biết. Cụ trở lại chỗ anh công an đứng. Có lẽ anh công an tưởng cụ đang liên lạc với con cháu đang giữ chức vụ gì kha khá trong ngành công an để nhờ can thiệp trường hợp này, anh công an dịu giọng:
- Anh đưa giấy tờ xe lại cho tôi, tôi sẽ cho anh đi.
Cụ Nhân mừng, cười, thân mật nói:
- Anh nói, tôi tin anh giữ lời nhé!
Cụ Nhân đưa 3 cái giấy lại cho anh công an; nào ngờ anh chuồi những giấy tờ ấy vào trong cặp rồi nói lạnh lùng:
- Anh đi đâu thì cứ lái xe đi; xong việc, anh ghé lại đồn công an thị xã giải quyết.
- Giải quyết cái gì mới được chứ? Cụ Nhân to tiếng.
- Bác vượt đèn đỏ 2 giây, vi phạm luật an toàn giao thông. Anh công an giải thích, run giọng.
Cụ Nhân thắc mắc:
- Anh có bằng cớ tôi vượt đèn đỏ hai giây đâu. Nếu anh trưng bằng cớ, tôi sẽ chấp hành ký biên bản nộp phạt ngay; nếu không, anh phải để tôi đi, kẻo trễ hẹn công việc của chúng tôi chứ! Buồn cười!

Xung quanh đã vắng người, anh công an rút giấy tờ xe của cụ Nhân từ trong cặp ra, cầm nơi tay, vừa đưa lên đưa xuống vừa giảng luân lý với cụ Nhân:
- Bác đáng bậc cha mẹ, bậc chú bác của cháu; bác lẽ ra phải xử sự để làm gương cho những người trẻ tuổi; đằng này, bác giở trò làm càn, cướp giấy tờ từ “bàn làm việc” của cháu. Thôi, giấy tờ đây, xe đó, bác đi đi!
Nghe anh công an nhỏ tuổi dùng những từ “làm càn” và “cướp” để đánh giá mình, cụ Nhân nổi giận, không kiềm chế được mình nữa, cụ đưa tay chỉ trước mặt anh công an, nói to trong nhịp thở hổn hển:
- Sao anh láo xược với tôi thế, anh có biết một trong sáu điều bác Hồ dạy người công an là: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép” không. Anh không biết hay cố tình không thực hiện lời dạy ấy, anh là công an dổm à!
Sắc mặt anh công an xanh nhợt; anh không ngờ trạm của anh hôm nay lại gặp rắc rối đến thế - kiểm soát giấy tờ một ông già quá đa sự. Anh đã được thủ trưởng phân công nhiều lần đứng đường kiểm soát giao thông, anh cũng chận xe, yêu cầu nộp phạt, đa số răm rắp thi hành, họa hoằn lắm mới có một vài trường hợp nài xin bỏ qua. Còn sáng nay, không biết “phòng long” gì xui anh gặp phải ông già này.
Không muốn để câu chuyện giằng co kéo dài vô ích, cụ Cử nắm tay cụ Nhân vừa kéo đi, vừa ôn tồn khuyên giải:
- Thôi, anh đã cho đi, chúng ta cảm ơn và đi cho rồi; mục đích của việc nói lui nói tới hồi nãy đến giờ chỉ là làm sao được đi, đừng bị phạt oan; cãi lý với nhân viên công quyền, ôi, mệt lắm, ích gì!

Thế là một giờ trôi qua. Bực bội, phiền toái. Lên xe rồi, cụ Cử phân trần với cụ Nhân:
- Chúng mình đi đúng luật; ở Quốc Lộ 1, đèn xanh bật, xe chúng mình mới chạy; chỉ việc chú cẩn thận quá, cho xe chạy chậm để tránh luồng xe chạy thẳng từ Nam ra Bắc ở Quốc Lộ 1 đang ùa tới, vì thế khi chúng mình rẽ vào đường xuống thị xã thì cũng là lúc đèn đỏ vừa bật lên chận đường ấy. Công an đứng ở phía đường ấy nhìn và thấy đèn đã đỏ mà mình còn chạy, họ quy tội mình vi phạm 2 giây. Chúng mình cũng “phải” mà công an cũng “phải”. Tuy nhiên, việc xử sự ở đời phải vừa dựa theo lý vừa dựa theo tình; anh công an do sự hăng say của tuổi trẻ hay do áp lực phải thu tiền phạt cho đủ chỉ tiêu trong ngày công tác mà thiếu thông cảm, đòi phạt tội xe chúng mình, người hành sử công vụ như vậy quá cứng nhắc. Chả lẽ chú phải liều mạng lách vào giữa luồng xe đang chạy đường trường, bất chấp nguy hiểm hay sao!
Cụ Nhân vừa cầm tay lái vừa nghe, không nói gì, có lẽ cụ thấm mệt do đã nói nhiều với anh công an.
Cụ Cử nói đùa:
- Sáng nay chúng mình thật là xui xẻo; hồi đêm, tui không có mụ, khỏi nói; còn chú chắc có tháy máy nhiều ít với thím, phải không?
Cụ Nhân thở ra một tiếng dài, chối:
- Ôi chà …! Mụ nơi tui đi thăm con trong Sài Gòn cả tháng nay rồi, có chuyện nớ mô bác!

Chuyện không vui xảy ra trong ngày; tuy nhiên, hai cụ không buồn mà đồng ý với nhau rằng dù sao đó cũng là một trải nghiệm quý hiếm để hiểu thêm mặt trái của cuộc đời. Ở đời, không phải lúc nào lẽ phải cũng chiếm ưu thế; đời là vậy, lắm bất trắc.
Còn đối với cụ Cử, chuyến xuất hành “mè xưa” đầu năm không xuôi ngót; chả sao! “Qua cơn bỉ cực, đến hồi thái lai”, từ giờ trở đi, chắc chỉ gặp chuyện hanh thông thôi./.

                                                               Hoàng Đằng
                                                        13/3/2016 (05/2/Bính Thân)

READ MORE - NÓI SAO CŨNG "PHẢI"! - Tạp bút của Hoàng Đằng

CHÙM THƠ TRẦN MAI NGÂN



                Tác gỉa Trần Mai Ngân



DUYÊN
Thuận duyên hay lại nghịch duyên
Trăm năm một cõi ưu phiền đa đoan
Lòng tôi đã hết hay còn
Ngày xưa cho đến khi mòn mỏi... nay !

TÌM NHAU
Tìm nhau... tìm nhau... tìm nhau
Qua trang thơ nhỏ đưa vào giấc mơ
Tìm nhau gần hết một đời
Giật mình tóc trắng... tôi khờ khạo yêu !


                         TRẦN MAI NGÂN

READ MORE - CHÙM THƠ TRẦN MAI NGÂN

CHÙM THƠ HOÀNG YÊN LYNH



                Tác giả Hoàng Yên Lynh




Tri Âm

Chiều lại buồn rồi nghiêng ly cạn
Tâm sự không đầy với rượu suông
Bá Nha còn có người đối ẩm
Ta mãi bơ vơ giữa núi rừng.

Hư Không

Cho ta tìm lại chốn này
Đổi trăm sống lấy ngày nhàn du
Xác thân hòa với thiên thu
Bay trong sương khói tuyệt mù hư không.

Chờ...

Xuân có hẹn  đâu mà ngóng đợi
Xuân đến ...để rồi xuân vẫn đi
Ngàn trùng mây nước xa vời vợi
Ước vọng xuân vui với đất trời.

                   Hoàng Yên Lynh

READ MORE - CHÙM THƠ HOÀNG YÊN LYNH

THÁNG BA NHỚ MẸ - Thơ Nhật Quang



           Nhật Quang


THÁNG BA NHỚ MẸ

Hương Xuân ngan ngát tháng Ba
Vườn xanh thoang thoảng đóa hoa dịu ngời
Hong vàng vạt nắng Xuân tươi
Hái dâng tặng Mẹ, thay lời của con

Mẹ ơi ! năm tháng héo hon
Chợ xa gồng gánh, vẹt mòn đôi vai
Chân trần nắng nhuộm sần chai
Liêu xiêu dáng lệch,tóc phai sương chiều

Cõng mưa đội nắng, thân gầy
Nương rau, đồng lúa cấy cày gian lao
À...ơi ! tựa giấc chiêm bao...
Chắp con đôi cánh bay vào tương lai

Hoang rêu mù lối đêm dài
Phủ vây dáng Mẹ phôi phai,nhạt nhòa
Đóa hồng ngan ngát tháng Ba
Con cài lên ngực... xót xa lệ tràn

Tháng Ba nhớ Mẹ vô vàn
Con thương Mẹ lắm, muôn ngàn dấu yêu.

                                           Nhật Quang
                                             (Sài Gòn)

READ MORE - THÁNG BA NHỚ MẸ - Thơ Nhật Quang

ĐÔNG HÀ ƠI ! - Thơ Vũ Phúc



                        Tác giả Vũ Phúc



ĐÔNG HÀ ƠI !

Ta trở về trong một chiều tháng bảy
Đông Hà ơi! Ta đã gặp Em rồi
Gặp cơn gió Lào vàng lá, nứt môi
Gặp Chức Nữ sau làn mưa Ngâu ấy

Sau mười năm em lạ lùng biết mấy
Phố đông người, người lạ quá, không quen
Con đường xưa hun hút lạnh ánh đèn
Lên dốc cũ nhớ một thời thao thức

Ta đã gặp Đông Hà trong ký ức
Thuở còn thơ thời niên thiếu dại khờ
Ta đã gặp nơi Mẹ già cắt rốn
Chôn tại đây một khúc ruột chính mình

Tưởng như thuở mỗi chiều qua An Lạc
Gió vướng tình, chân níu áo nữ sinh
Quê nối hương nối bờ con sông Hiếu
Một chiếc cầu chưa có dấu đạn in

Và ai đã một lần xuôi làng Điếu
Trong trưa hè kẽo kẹt tiếng võng đưa
Câu ca dao thương biết mấy cho vừa
"Uống lưng bát nước đi tìm người thương"

Ta đã về trong một chiều tháng bảy
Sau mười năm biền biệt, núi ngăn sông
Tình hoài hương quằn quại mấy tấc lòng
Ta đã gặp Đông Hà ơi! Thuơng quá

                                      Vũ Phúc

READ MORE - ĐÔNG HÀ ƠI ! - Thơ Vũ Phúc

TAI HỌA - Truyện ngắn của Thủy Điền



Thủy Điền


TAI HỌA

Truyện ngắn của Thủy Điền

       Trời tháng tư, oi bức. Không sao thở nổi, ngồi chẳng yên, mà đứng cũng chẳng yên. May, mà có cơn gió nhẹ thổi qua nên chợp mắt được một lúc. Văng vẳng gần bên, tiếng qua, tiếng lại vang dội giữa hai căn nhà. Giật mình ngồi dậy, xem quanh đang xảy ra chuyện gì. Thì ra, hai bà cháu nhà bên đang cãi nhau.

    Kể từ ngày mẹ nó bỏ đi. Nó sống với ba và ông bà nội gần ba năm nay.Vì nó là cháu đích tôn nên cái gì cả nhà cũng đều thương yêu và chìu chuộng, nhất là ông bà nội. Ba nó thì thỉnh thoảng rầy la, vì thương nó những lúc cô đơn không có mẹ.

   Mẹ nó bỏ nhà ra đi không biết gì lý gì, khi nó vừa tròn tám tuổi. Ngoài việc đi học hàng ngày, về nhà chỉ biết quanh quẩn bên ông bà Nội và những người hàng xóm thân quen. Xung quanh nó từ lớn, đến bé ngày nào người ta cũng thường hay nói đến chuyện tiền bằng danh từ bạc triệu, bạc tỷ ví dụ: Như trúng độc đắc một tỷ rưởi, chiếc Hon-da nầy hai chục triệu, chiếc di động kia một triệu tám v.v… nghe là nghe vậy, nó có biết gì về bạc triệu, bạc tỷ đâu. Bởi, nó mới vừa tám tuổi đời.

   Hàng ngày đi học, về nhà nó thấy ai cũng cầm trên tay chiếc di động ngồi bấm bấm, quẹt quẹt, tín ton. Nhất là ba của nó khi rảnh rỗi là cầm di động bấm tới, quẹt lui. Những lúc ba nó bấm, nó thường hay kề cận muốn xin bấm một lần cho thỏa thích, ba nó quát, thậm chí còn mắng cho một trận. Rằng, mầy là con nít mà biết cái gì xía xía vào, nó bật khóc, rồi ngoe ngoãy đi nơi khác và nhiều lần tương tự như thế.

   Cả tuần nay, nó canh ba nó đi làm hoặc đi đâu là nó xề bên bà Nội, ngồi khoanh tay, gương mặt như đưa đám, chẳng nói một lời. Bà nội tưởng nó nhõng nhẽo, nên dỗ ngọt. Con ăn thứ gì bà mua cho hay ai ghẹo con bà nội sẽ đánh đòn người đó. Nó lặng thinh chẳng thèm trả lời, trả vốn vì cả. Ngày nào đi học về, sau buổi cơm nó đều làm như thế. Dỗ dành mãi không được, bà Nội bảo ba nó xem nó có chuyện gì không, mà ngày nào cũng đều như thế. Ba nó bảo! Nó nhõng nhẽo linh tinh vậy mà.

   Một hôm chờ lâu quá không thấy ai chìu chuộng mình nữa, nó bật miệng nói đại với bà nội, rằng nó muốn mua một chiếc di động. Bà Nội mới tá hỏa và cười ngất, con còn nhỏ lắm Tân, mua cái đó làm gì. Vả lại mắc lắm bà không có tiền. Bà nhỏ giọt năn nỉ, thôi ráng học đi Tân, mai mốt lớn lên bà nội mua cho liền, bà hứa với Tân đó. Nó nhất định khăng khăng không chịu, nó bảo chỉ có một triệu tám, chớ đâu có nhiều tiền mà bà nội cũng không dám mua. Nó hăm dọa bà đủ thứ, tối nay không đi ngủ sớm, ngày mai không đi học, chiều nay không ăn cơm. Bà nội giải thích, khuyên răn đủ điều, mắc lắm con, một triệu tám chớ ít ỏi gì, hơn nữa con đâu biết sử dụng, cả bà cũng thế. Khó xài lắm, mua làm gì cho phí, mai mốt lớn bà mua cho con ngay. Đừng làm bà giận lên bà đánh đòn bây giờ. Nó chỉ một lời, có một triệu tám, đâu có bao nhiêu đâu mà Nội không mua cho con.

   Ba nó về, bà nội nó kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ba nó nổi nóng, quát cho một trận. Nó khóc, nhưng miệng chỉ nói có một triệu tám, tại sao không mua mà còn mắng nhiếc.

   Quả thật. Lời hăm dọa hôm ấy nó làm thiệt, chiều không thèm ăn cơm, tối không đi ngủ sớm, sáng chẳng bước tới trường học. Ba nó giận quá, đánh mấy trận cho nó sợ, nhưng cũng chẳng ăn thua. Ông bà nội và ba nó hè nhau bỏ lơ, không thèm để ý đến nó nữa, thử xem sao. Cả một tuần rồi nó không đi học, cô giáo gởi giấy về nhà hỏi tại sao? Ba nó đành nói dối cô giáo, rằng nó bị bệnh và chạy ra tiệm bán điện thoại mua cho nó một chiếc di động cũ ba trăm ngàn đồng về dụ nó đi học lại. Nó mừng ra mặt và ngày mai đi học lại bình thường mà không cần ai đưa đón.

    Ông nội nó nằm tòn ten trên chiếc võng, miệng lầm bầm, ba thằng Tân, bây coi xem sao, chớ ba thấy tai họa đã đến  nhà mình rồi đó con à.

                                                                          TĐ

Gởi từ: tran.vanmau@yahoo.de


READ MORE - TAI HỌA - Truyện ngắn của Thủy Điền

Sunday, March 13, 2016

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy


Phan Trang Hy


Truyện ngắn của Phan Trang Hy

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA

       Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.
       Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.
       Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.
       Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.
       Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.
       Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy...
       Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam...”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.
        Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay... Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!... Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!... Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!... Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh...,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!... ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.
       Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!...
                                                  *
                                               *      *
       Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.
       Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.
       Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:
       - Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây - Anh cười và đưa hai cánh tay cụt - Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi! 
       Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.
       Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.
       Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.
       - Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.
       Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:
       - Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.
       Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:
       - Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.
       Hải nhìn tôi cười:
       - Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.
       - Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?
       Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:
       - Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.
       Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.    
       - Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?
     - Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!
       - À, ra vậy!
       Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.
       Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.

Tháng 02/2016
Phan Trang Hy



READ MORE - VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

TRÁI TIM Ở LẠI HUẾ - thơ Huy Uyên




Trái Tim Ở Lại Huế

Dấu trong Huế trái tim đằm thắm
Bước chân về sương khói mong manh
Hương-Giang thuyền chờ ai dưới nắng
tháng giêng rêu thả sợi tơ buồn .

Em về dịu ngọt đêm trăng treo
lung linh khói sương trời đất Huế
ký-ức buồn chôn ngày tháng năm xưa
gởi lại cho người trăm ngàn thương nhớ .

Có phải em Huế tháng ba,tháng bảy
thành-nội chìm sâu xao xuyến tim người
quấn quít môi ai trao người tình Huế
bên thành quách cũ áng mây trôi .

Cuộc tình em gởi lại Trường-Tiền
sáng chiều ai gừng cay mặn muối
nắng mưa chi dầu dải hơi sương
yêu người hoài sao không hề được nói .

Trên đồi chuông Thiên-Mụ đổ
tôi bên cầu xưa đứng đợi bóng hình em
"hoa bâng khuâng" chiều ba mươi hé nở
ngọt đắng tình ai
cau quấn quít trầu .

Em, sắc hồng môi phai với nắng chiều
thương nhớ ai dấu trong vườn cỏ biếc
những cụm lau lung linh bóng người yêu
bên bờ sông Hương xuôi dòng nước chảy .

Chảy đi đâu về Bao-Vinh buổi trước
nhớ xưa xưa thuyền đổ bến thương-hồ
sáng đêm gọi lớn ròng con nước
thương nhau rồi có biết về mô !

Huế tôi ơi da diết giọng hò
để sông buồn cả đời chảy mãi
bước chân xưa ai quấn quít theo người
bên sông nhìn bóng  mình bóng lẻ .

Nữa đêm xuân cháy hồng bếp lửa
nhớ sao tình vương-vấn khi xưa
sông tiếc nhớ rưng rưng ngày tháng cũ
thôi không đâu
ai đón đợi ai về .

Huế cả đời mê thiếp trong tôi .

Huy Uyên
(tháng giêng/b.thân)
READ MORE - TRÁI TIM Ở LẠI HUẾ - thơ Huy Uyên