Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, January 15, 2015

ĐỌC TẬP THƠ “TIẾNG QUÊ” CỦA LÊ VĂN THẬT - Châu Thạch

ĐỌC TẬP THƠ “TIẾNG QUÊ”
  CỦA LÊ VĂN THẬT
                                 Châu Thạch

Mở tập thơ “Tiêng Quê”, đọc bài thơ đầu tiên “Đêm Chơi Vơi”, tôi đạt ngay được niềm vui thưởng thức:

Sáng mai nầy con sẽ về, mẹ ạ
Mẹ đừng chờ bên song cửa bâng khuâng
Mẹ đừng bước dưới trời khuya lạnh giá
Đừng ra đồng cấy lúa giữa đêm sương…

Sáng mai nầy tôi trở lại quê hương
trời phố thị buồn thiu tiển biệt
Cô bạn nhỏ, đôi mắt buồn thê thiết
Tiển lên đường…có nói được gì đâu!

Đem tin vui về thăm Mẹ và nỗi buồn xa em tá khách vào nhau trong một bài thơ là ý thơ rất mới, diễn tả được tâm trạng chuyển biến theo hai hướng buồn vui lẫn lộn. Về thăm Mẹ thì vui nhưng xa em thì buồn. Mẹ và em, buồn và vui quyện vào nhau trong tâm hồn là sự phát hiện về tâm lý mà ít có nhà thơ nào để ý tới. Kèm theo sự phát hiện đó, lời thơ mượt mà đầy ắp tình yêu với Mẹ, đầy ắp tình yêu của em khiến sự ấp áp lan toả trong mỗi dòng thơ, trong lòng người đọc.


Nhà thơ Lê Văn Thật
Mẹ, chắc chắn là chủ đề đầu tiên trong “Tiếng Quê”. Mỗi bài thơ về Mẹ của Lê Văn Thật đều rót vào lòng ta muôn vàn tình thương yêu thắm thiết. Hình tượng Mẹ được nhà thơ dựng lên vô cùng cao rộng:

Tấm lưng còng uống vòng trời rực nắng
Bóng mẹ chiều… nghiêng cả cánh đồng xa
                                     (Mẹ)

Nhưng khi để nói lên tình yêu thương của mình với Mẹ thì nhà thơ không dùng câu, từ cường điệu, sáo ngữ bao giờ. Điều đó có tác dụng tỏ bày được tấm lòng chân thật của người con và tồn tại được sự cảm nhận nhỏ bé của mình trước mẹ:  

Giá như có một lần thôi
Giá như có một lần thôi. Mẹ còn.
Được kêu lên: mẹ của con!
Được nhìn dáng mẹ héo hon…trường đời
Được hôn mái tóc sương phơi
Được nằm, nghe mẹ ru hời…đong đưa…
                        (Ngày xuân nhớ mẹ)

Đọc tiếp từng bài thơ trong “Tiếng Quê”, tôi phát hiện ra tiếng thơ của Thật đúng là tiếng quê, nhưng không phải tiếng của loài ếch nhái như nhà thơ tự nhận về mình, mà đó là tiếng quê chắt lọc từ tinh hoa của hương đồng cỏ nội, được trải nghiệm qua thăng trầm cuộc đời, rút ra sự trong trẻo vô biên để ướp vào trên từng trang giấy.

Ta hãy nghe lê văn Thật tả người thầy:

Con lặng nhìn dòng sông vô tư
Gió lạnh lùng cứ đuổi theo mặt nước
Chỉ có con đò là đi ngược
Chơi vơi… trĩu nặng… bồng bềnh…
Ông lái đò … cố gắng… chênh vênh…
Vẫn không thấy con đò nhích về phía trước!
Con bỗng nhớ thầy… bao khó nhọc
Mỗi lớp đi qua như một chuyến đò đầy.
                                   ( Thầy ơi)

 Ví người thầy như ông lái đò có hàng trăm hàng vạn câu thơ đã viết. Lê văn Thật cũng ví người thầy như thế, nhưng khác hàng trăm hàng vạn câu thơ kía, đã làm cho hình ảnh người thầy sống động lên. Sự khó nhọc của người thầy được nhà thơ cho hiện lên tường tận trước mắt ta, kích thích sự so sánh hai cuộc đời trong lòng ta rỏ nét. 

Ngoài ra, công lao người thầy cũng được nhà thơ ca tụng trong nhiều bài thơ nữa, nhưng khác hơn,  thơ còn là sự chiêm nghiệm cho chính ích lợi của đời mình khi nhớ ơn thầy:

Cây đã ngọt lẽ nào sinh trái đắng?
Ai quên thầy, cũng mất một phần ta
                          ( Người Thầy)

Trong “Tình Quê” người thầy được dựng nên rất  đẹp, trong đó hình ảnh người thầy được nhà thơ vẽ lên trong ánh trăng là thi vị, nên thơ và đẹp nhất:

Hết một ngày trời cùng thầy say giảng
Suốt đêm thâu trăng toả sáng từng bài
…………………………………………..
Xong chuyện rồi, trăng thả mình hạnh phúc
Chuẩn bị đi, trời rạng ánh hồng tươi
Đủng đỉnh trời lên
Ung dung thầy bước
Họ nhìn nhau, chào ngày mới lại cười!
                 (Ánh trăng và người thầy)

Người thầy trong thơ vừa thanh cao, vừa trang nhã, vừa đầy sức sống thanh xuân, vừa tài hoa và tươi thắm. Hình ảnh thầy ở đây có khi được đồng hoá với trăng và đầy phong cách của một nhà thơ. Phải chăng tác giả đã hoà nhập chính đời sống làm thầy, làm thơ của mình vào trong thi tứ ?

Tình yêu quê hương cũng là chủ đề chính của “Tiếng Quê”. Nhiều câu thơ trong đó biết đâu có thể trở thành bất hủ trong tương lai:

Khi tuổi trẻ tiến dần lên mơ ước
Thì hoang vu cũng biết chọn tên mình
                             (Nông trường Tràm Cát)

Người xưa sống trong lòng người đang sống
Nên hương trầm xin gửi  đến tương lai
                             ( Về Nguồn)

Đặc biệt tình yêu Tây Ninh trong dòng máu tác giả được truyền vào lời thơ dạc dào tình cảm. Em được lồng vào đó chỉ để tác giả gởi gắm tình yêu thắm thiết của mình với quê hương xử sở:

Lên núi lạy bà cầu duyên em nhé
Trên cáp treo ta giỡn với mây chiều
Kìa Lòng Hồ miên man làn sương phủ
Đây cánh đồng xanh cả mắt em yêu

Ta chếnh choáng với tím màu Vàm Cỏ
 Gánh đôi bờ xanh cả đất Tây Ninh
Chiều lửng lơ những con thuyền lãng tử
Bác nông  phu nhìn cánh lúa cười tình
                         (Xuân và nỗi nhớ)

Tình yêu tha nhân trong mỗi bài thơ của Lê văn Thật cũng đẹp như chùm hoa long lanh sắc màu nhân ái. Những bài thơ như “Mãnh đời bất hạnh”, “Chuyến xe Tây Ninh” kể về những việc làm, những cử chỉ đầy nhân tính xảy ra giữa đời thường, đem đến cho ta sâu nhiệm bài học yêu thương.

Tình yêu nam nữ trong thơ Lê Văn Thật cũng có, nhưng trên hết là tình yêu gia đình, cho ta hết thảy sự nồng nàn có được của người cha, người chồng, người vợ, người con chân chính. Bài thơ “Em không đi Đà Lạt” cảm động vô cùng khi nhà thơ viết về một ước mơ không thành của vợ và con:

“Nhắm mắt lại…vẫn thấy thông Đà lạt
Xoè tay ra…như chạm cả mây trời

                     (Em không đi Đà Lạt)

Nhưng rồi ước mơ đó không thành cho nên:

Anh pha bình trà…
Mùi Đà lạt cứ dâng đầy sóng mắt
Hai công chúa ngắm giàn hoa trước mặt
Hoa rực màu…màu Đà lạt hoàng hôn
                        (Em không đi Đà Lạt)

Trong bài thơ nầy, Đà Lạt đẹp vô cùng trong tâm tưởng nhưng còn đẹp hơn nữa là sự hoà hợp, sự cảm thông nhau của một gia đình đồng ấm.
Những lời thơ viết cho vợ, cho con trong “Tiếng Quê” chẳng khác gì tiếng ru của muôn vàn âm thanh thân thương, vừa nhẹ nhàng trầm ấm, vừa thắm thiết thân thương:

Bởi yêu nhau, ta vì nhau mà tiến
Những lời khuyên anh giữ để làm người
Có em anh thấy trời xao xuyến
Mỗi giây đời…ta cũng hoá thành nhau
                         (Hạnh Phúc)

Con sẽ là mặt trời
Của cha mẹ cả một đời vun đắp
Của em con đang tràn đầy mơ ước
Gia đình mình hạnh phúc lắm
Con ơi!  
                 ( Viết cho con gái lớn)

Người đọc qua thơ hiểu gia đình của tác giả, không chỉ thấy hạnh phúc vì lời thơ hay mà còn thấy hạnh phúc vì lây sự thương yêu chân thành, cao thương, văn hoá của một gia đình.

“Tiếng Quê” còn viết về bạn bè, về thơ, về những danh lam thắng cảnh đã đi qua. Mỗi bài thơ trong “Tiếng Quê” mang dáng dấp hài hoà, lung linh của tháp cổ Bình Thạnh in ở bìa trang sách. Tuy nhiên không tìm thấy rêu mốc của thời gian mà chỉ thấy ánh nắng vàng ươm trên từng viên gạch hay nói khác đi, trên từng dòng  thơ mà tác giả dựng lên./.
                                             Châu Thạch


READ MORE - ĐỌC TẬP THƠ “TIẾNG QUÊ” CỦA LÊ VĂN THẬT - Châu Thạch

Thơ Nguyễn Ngọc Hưng: THAO THỨC NGHIÊNG ĐÊM, LÊN CHÙA, MAY HÃY CÒN XUÂN


Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng


THAO THỨC NGHIÊNG ĐÊM

Thao thức buồn nghiêng đêm cuối năm
Chênh một khoảng trời thương nhớ cũ
Em như quả chín trái mùa
Tôi là hạt xanh lỡ vụ
Ngọn gió nào thổi lệch lời xuân?

Ngọn gió nào lách nửa bàn chân
Dẫn dụ hương em về hướng khác
Tôi vẫn xanh
Xanh như mắt chiều lưu lạc
Nhìn đâu cũng tím rịm chân trời…

Chậm nửa bàn chân
Ngỡ chỉ trễ một thời
Nào ai hay một đời khóc muộn
Hạnh phúc thơm lên
Nỗi đau nảy mầm xanh xuống
Mặt tháng ngày cỏ mọc lặng im

Hư ảo em cuối cuộc kiếm tìm
Lại bắt đầu trong tôi rõ nét
Thao thức nghiêng đêm
Lẻ loi một vì sao xẹt
Chút sáng thầm
Có đến được tay em? 



LÊN CHÙA

Lên chùa lễ Phật đầu năm
Vấp làn gió lạnh căm căm đất trời
Trần ai lận đận một đời
Xót đôi tròng mắt cay lời khói hương

Bóng người lãng đãng trong sương
Mờ như tâm cảnh vô thường thực hư
Bôn ba trần thế sặc sừ
Mỏi mòn chân chạm ngất ngư cửa thiền

Ngẩn ngơ ông Ác ông Hiền
Nào ai giải được muộn phiền cho ai
Khổ nghèo trăm gánh lệch vai
Hỏi lòng nhẹ tiếng khoan thai chuông chùa?

Áo cơm đâu phải chuyện đùa
Hương đèn cúng phật cũng mua bằng tiền
Ngậm ngùi mắt thẳng lòng nghiêng
Ba cây nhang thắp… tắt liền ba cây!

Về thôi, nắng đã lên đầy
Lẽ nào xuân mãi lây rây mưa phùn?



MAY HÃY CÒN XUÂN

Con bướm nhụy chập chờn bông mướp
Mải mê vàng suốt buổi mai sương
Cánh dơi hun hút đêm chìm gió
Còn vẩn vơ hương ổi cuối vườn…

Quê cũ vẫn biếc trời xanh đất
Thắm hoa râm bụt đỏ dong riềng
Không dưng lòng bỗng bâng khuâng lạ
Đâu khói lam chiều ôm mái nghiêng?

Ơi cô bé ngày xưa tóc ngắn
Tóc đuôi gà, tóc xõa ngang vai
Hương chanh hương sả còn đâu đó
Hiu hắt bờ sông gió thở dài

Thương mẹ tháng mười đi quá vội
Bã trầu chưa giập đã qua chiều(*)
Đồi cao một nấm lam nham cỏ
Mộ chí bao mùa lốm đốm rêu

Lêu bêu bui lép đời trôi dạt
Rác phố mong gì ngược bến quê
May hãy còn xuân còn chim én
Thiết tha gom gởi nhớ thương về!
___________

(*) “Chiều qua/ Chưa giập bã trầu” (thơ Bình Giang).

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.





Trích từ tập thơ
BÀI CA CON DẾ LỬA
Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng
NXB Hội Nhà Văn
2012
Tác giả gởi tặng
READ MORE - Thơ Nguyễn Ngọc Hưng: THAO THỨC NGHIÊNG ĐÊM, LÊN CHÙA, MAY HÃY CÒN XUÂN

Wednesday, January 14, 2015

TẾT QUÊ - Lê Khánh Mai


Tác giả Lê Khánh Mai


Tết quê 

Xuân còn mê mải ngọn gió đông
khẳng kheo cây khát, nẩy chồi non
mất mùa xóm nhỏ buồn xao xác
khuyết hao cả dáng áo nâu sồng

Lom khom đôi bóng ở trên gò
lui cui dãy cỏ những nấm mồ
thắp hương vái lạy hồn chín suối
cho người mặt đất  được  cơm no

Mấy trẻ loai choai rời sách vở
vác vó ra sông xếp gối chờ
cất lên mẻ cá về ăn tết
quà bánh ngày xuân chẳng dám mơ

Nâng niu chị nhặt nhành cau lép
vài lá trầu vàng quẩy chợ xa
sắm đôi oản nếp về dâng Phật
ngũ quả hoa tươi cúng Ông bà

Mái rạ loe hoe bếp lửa hồng
như con mắt thức mỏi mòn trông
bâng khuâng mẹ nhắc người xa xứ
quê nghèo, con cháu có về  không?

LÊ KHÁNH MAI


Trích từ tâp thơ
GIẤC MƠ HÁI TỪ CƠN GIÔNG
NXB Hội Nhà Văn
2008
Tác giả gởi tặng


READ MORE - TẾT QUÊ - Lê Khánh Mai

Khảo cứu loạn bàn - Chu Vương Miện





Chữ nghĩa Việt Nam xứ người càng ngày càng mai một, và chữ nghĩa trong nước càng ngày càng triển khai. Chúng tôi không phải là người làm công việc phê bình đúng hay sai. Theo đại văn hào Lỗ Tấn thì chả có con đường nào cả, thiên hạ đi riết rồi thành con đường. Bài "Loạn Bàn" này có tính cách góp vui cho bà con anh em đỡ buồn ngủ, thế thôi, chứ không mong là một bài Loạn Bàn giá trị.

Chữ Khảo thường đi đôi với chữ Cứu và chữ Đả. Bây giờ chúng tôi sẽ từ từ phân tích từng chữ một.

Khảo: - Nói giản đơn là dùng biện pháp mạnh thô bạo để phải khai ra những điều gì bí ẩn còn dấu diếm, mà nhà chức trách cần phải biết. Khảo là hỏi cung phạm nhân bằng cách dùng dụng cụ thời xưa thì bằng kim, như trong phim Hoàn Châu Cách Cách. Công chúa Hoàn Châu là con ngoại hôn của vua Càn Long với người đẹp Hà Tử Vi khi ngài du Giang Nam, và vua có tặng cho nàng một cái quạt có vẽ hoa Thược Dược, trên quạt có viết một bài thơ. Mười tám năm sau thì Hà Tử Vi chết và nàng sai con gái là Hoàn Châu mang chiếc quạt vào Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh tìm cha là vua Càn Long. Giữa 2 cha con thi mọi việc đều ô kê, nhưng với bà Hoàng Thái Hậu [mẹ vua ] thì vấn đề được đặt ra "sợ có gian tế trà trộn vào hoàng gia dòng Ai Tân Giác La nên bà sai một bà cung nữ có tuổi ngày ngày 2 lần tra hỏi công chúa Hoàn Châu bằng cách là bắt cởi hêt quần áo ra nằm xuống một chiếc phản, rồi bà cung nữ dùng Kim Châm dài cỡ một tấc đâm loạn xạ trên lưng, trên đùi Cách Cách cho đau đớn, chớ không phải châm cứu để chữa bệnh, không có kết quả cụ thể. Kế đó thì đến một cái màn là dùng những thanh tre kẹp vào những ngón tay của hai bàn tay rời dùng dây kéo xiết lại cho dập nát bàn tay. Kết quả thì Hoàn Châu Cách Cách đúng là con ruột của vua Càn Long nhưng sau những lần tra khảo thì Hoàn Châu không còn là Mỹ Nhân số một nữa mà chỉ là người tàn tật. Về Nam tù nhân thì được xử trí như sau: Đây là truyện đời nhà Bắc Tống , khi cái hộp đựng Trân Châu Kỳ, tức là cái hộp đựng mảnh áo giáp của Triệu Kiểm Điểm xé ra rồi dùng miệng cắn cho tay chẩy máu viết lời cam kết với Sài Vinh (tức vua nhà Hậu Chu) là sẽ bảo vệ thái tử lúc đó mới 5 tuổi giữ mãi mãi ngôi nhà đại Chu, nhưng sau đó thì Sài Vinh chết Triệu Khuông Dẫn tạo ra binh biến nơi Trần Kiều, đoạt ngôi của ấu chúa, thì cái hộp Trân Châu Kỳ đựng cái mảnh áo giáp này khi không bị mất tích.Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn sợ cái sự thật này phổ biến ra ngoài dân gian nên cho bắt những kẻ liên hệ, giam vào ngục và dùng lửa đỏ đốt cho chiếc kìm bằng sắt cháy hồng lên, dùng kìm kẹp vào thịt tù nhân vừa cháy vừa khét lẹt.

Khảo là chỉ dùng "dụng cụ” như roi, gậy, xích sắt, dây, nước điện .... để hành xác kẻ tội phạm, chịu đau đớn không nổi làm sao phải khai ra những sự thật.

Đả là tả, tiếng Tàu có nghĩa là đánh bằng tay, đá bằng chân không dùng tới dụng cụ, nhưng tả có khi lại nặng tay nặng chân hơn là khảo, vì bên Đông Y có thuốc gia truyền "Trặc Đả Hoàn " để xoa bóp bôi vào những chỗ bị thương trặc chân hoặc trặc tay. Khảo thì bị đau đớn chút đỉnh chứ đả tức là tả thì tả tơi hoa lá như chiếc mền rách, bởi thế người Tàu có một món ăn tổng hợp gọi chung chung là tả pín lù là một món ăn hầm bà làng xắn cấu, lộn xộn chỉ biết ăn thôi chớ không rõ nó là thứ gì, thịt hay chân hay cẳng hay tay, lòng heo hay lòng bò.

Cứu: có nghĩa là cứu xét cho rõ ràng sự việc, không để cho ai bị oan uổng, ngoài ra lại còn có nghĩa là nạn nhân bị tra khảo đấm đá nhiều quá, "tẩm quất” hỏi thăm sức khỏe kỹ quá dẫn đến bất tỉnh nhân sự lăn ra chết giấc, chết giả hoặc thật, nhẹ là đổ nước lạnh vào mặt cho tỉnh lại, hoặc là nhai thuốc cứu mớm vào mồm cho nạn nhân hay chở đi nhà thương, bệnh viện cấp cứu lai tỉnh không thì nạn nhân đi chầu trời.

Sau đây là một ít từ ngữ bà con xa gần đến từ Khảo:

Khảo cứu đôi khi còn gọi là cíu (kíu) hoặc kéo, chả hạn như trong truyện Thủy Hử lúc đó thì Dương Chí làm chức Chế Sư có nhiệm vụ đi tải đá hoa về xây cung điện cho nhà vua, không may lúc đó thuyền đi qua vùng Thái Hồ bị bão nặng qua, 10 thuyền đá hoa bị chìm hết xúống đáy hồ, chín vị chế sư về báo cáo nên chỉ bị phạt nhẹ, còn Dương Chí thì dông luôn, mười năm sau mớ về trình diện Cao Thái Uy để phục chức thì được Cao Điện Suý trả lời làm vầy:
-Chuyện phục chức là chuyện nhỏ, nhưng phải chờ nhà nước mướn thơ lặn xuống đáy hồ để mang những tảng đá đó lên, kiểm tra khảo cíu lại xem có đúng là Hoa Thạch Cương không cái đã, phải cho lấy búa đập ra xem xét thật kỹ chớ đá vôi, than đá thì làm sao, vậy Dương chế sư cứ về nhà (qui an) đợi tin mừng.

Khảo chứng: phải kiếm ra cho đủ bằng chứng, chứng cớ rõ ràng như ban ngày ban mặt.

Khảo cổ: là đào xác chết lên, chỉ khám xét từ đầu tới cổ mà thôi (còn dưới cổ thì không cần khảo, chỉ cần xem chiếc so thuộc loại nào, người vượn Bắc Kinh hay Nam Kinh), và kế đó là răng (răng thiệt hay răng giả, răng bạc hay răng vàng).

Khảo của: là dùng biện pháp tích cực tra tấn dã man để đương chịu đau không thấu mà đành khai ra là nơi chôn dấu tiền bạc của cải .
Khảo dị: nghiên cứu các văn bản liên hệ của nhiều tác giả viết về một tác phẩm có chuẩn không hay viết rất là dị hợm, dị òm .
Khảo hạch: là cứ nhằm cái hạch bị xưng của đối tượng mà mình cầm roi hay cây cứ nhằm chỗ nhược đó mà uýnh túi bụi vào.
Khảo luận: là bài viết về cách tra khảo như thế nào, đánh đấm ra sao, cho nó hợp lý (logic), chả hạn, khảo đàn bà thì dùng hoa hồng mà khảo.

Khảo sát: là đánh tới chết luôn (như sát phu sát thê).

Khảo thí: là đánh bừa, đánh bãi, đánh thi cô hồn.

Khảo giá: là đi chợ mà cả xem giá cả hôm nay cao thấp như thế nào, đặc biệt là xem giá bao nhiêu một ký để mua về xào tôm thịt.
Khảo tra là lội xuống ao cá tra, bắt 1 con thiệt bự lên rồi để nằm trên thớt mà tra hỏi "muốn chết bằng cách nào? "
                                                        Chu Vương Miện


READ MORE - Khảo cứu loạn bàn - Chu Vương Miện

DÃ QUỲ ĐÀ LẠT - Tuyền Linh





Dã quỳ Đà Lạt

Sao em không chịu ngủ đông
Thức chi ? vương sợi tơ lòng thi nhân
Ngó xa rồi lại nhìn gần
Vàng em trải thảm kín chân núi đồi

Nhấp nhô như ngọn sóng dồi
Gió lay động mãi bồi hồi lòng tôi
Em về trải lụa xa xôi
Tôi, Em cút bắt rong chơi dốc tình ?

Tên em, tên thật Dã Qùy ?
Sắc hoa dịu nhẹ vàng y nắng chiều
Tình em phủ kín lưng đèo
Cho ai qua đó đỡ heo hút buồn

Dưới trời nắng gội mưa tuôn
Vẫn tươi nhan sắc, vẫn luôn thắm tình
Em qua triền lũng Di Linh
Dạo đèo Bảo Lộc, gieo tình Prenn

Dọc theo quốc lộ đi lên
Em về Đà Lạt ghi tên tuổi mình
Những con dốc nhỏ xinh xinh
Em đều hiện diện đượm tình nước non

Một lòng một dạ sắt son
Sân ga Đà Lạt vẫn còn có em
Mù sa Thung Lũng Tình Yêu
Em cười gieo nắng dập dìu giai nhân

Dã Qùy ơi, xin tri ân !
Muôn năm Đà Lạt vẫn cần có em

 *
Tuyền Linh

tuyenlinh_nguyenthi@yahoo.com.vn
READ MORE - DÃ QUỲ ĐÀ LẠT - Tuyền Linh

MẸ ĐƠN THÂN - Hồng Tâm



Mẹ Đơn Thân 
(thân tặng các bà mẹ đơn thân)

Làm mẹ đơn thân cực lắm người ơi
Vừa làm cha, làm mẹ sao mà vất vả
Không phải vì tấm lòng cao cả
Vì đường tình duyên trắc trở chông gai

Mẹ đơn thân lo suốt tháng ngày
Cho con đầy đủ sợ con mình thiếu thốn
Cho con mình ăn học đến nơi , đến chốn
Sợ bạn con mình trêu ghẹo " kẻ không cha"

Trải qua bao năm, nắng mưa làm bạn
Chốn cô phòng lạnh lẽo những ngày đông
Mẹ đơn thân cũng lắm ước mong
Như bao người khác mơ một mái ấm

Nhưng điều đó xa vời vợi lắm
Có ai hiểu, thương tình "mẹ đơn thân"

Hồng Tâm 
( Lý Thị Minh Tâm - Bến Cầu - Tây Ninh )
Email: lyminhly456@gmail.com


READ MORE - MẸ ĐƠN THÂN - Hồng Tâm

TA TRỞ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA ÁO LỤA - Phan Phụng Thạch, Cao Hữu Điền, Trần Quang Lộc

           







              Thơ: Phan Phụng Thạch.
              Nhạc: Cao Hữu Điền.
              Tiếng hát: Trần Quang Lộc.
              Video clip: Phú Đoàn.

    TA TRỞ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA ÁO LỤA


     Ta trở lại con đường xưa áo lụa
     Hàng cây cao đứng đợi các em về
     Các em chưa về cây già bóng xế
     Ta cũng buồn đi giữa nắng lê thê

     Những chuyến đò ngang qua về Thừa Phủ

     Còn chở tình bên nớ tới bên ni
     Ta mỗi bước càng thêm dài nỗi nhớ      
     Những chiều mưa sớm nắng các em về

     Từ bờ bên ni nhìn qua Thành Nội

     Phượng đã tàn rụng xuống buổi đầu thu
     Làm sao quên những ngày qua bóng tối
     Lửa kinh thành ngùn ngụt khói âm u

     Ta trở lại giữa sân trường ngày cũ

     Lòng hoang vu nhớ cỏ dại ven đường
     Ôi những con đường cây già lá úa
     Có điều chi muốn nói với quê hương

                                  Phan Phụng Thạch







READ MORE - TA TRỞ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA ÁO LỤA - Phan Phụng Thạch, Cao Hữu Điền, Trần Quang Lộc

Monday, January 12, 2015

Châu Quang Phước - XIN NGỒI DƯỚI BÓNG CÂY






XIN NGỒI DƯỚI BÓNG CÂY

Chiều loang đứng kiểng chân 
Lời quê hương lên sóng
Chuông bìm bịp thúc nhiều
Mẹ già tưới chờ mong.

Dáng ai dưới tàng cây?
Xe em đời qua lại
Vui ngày gõ đong đưa
Nhịp tỉnh lẻ rơi dài.

Ai ngồi sau bóng cây?
Mạch máu đồng chảy xiết
Gió chuối vườn lạnh đưa
Gặm bờ sông tha thiết.

Ta ngồi đếm lá cây
Thoáng hiền má hây hây
Em xa làng một sớm
Nắng ấm cười lên mây.

Nhớ người- Giữ gốc cây
Xa xa bóng chi về
Nghiêng nghiêng vin cầu nón
Như thầm chép lời quê.

Xin ngồi tựa ôm cây
Thời gian mơ cánh xa
Lác đác mưa ngày hạ
Ta có còn là ta.

                        
                             Châu Quang Phước
READ MORE - Châu Quang Phước - XIN NGỒI DƯỚI BÓNG CÂY

EM GÁI BÌNH HÒA, TÌNH KHÚC SỐ 15 - thơ Trúc Thanh Tâm






EM GÁI BÌNH HÒA

Thời gian chưa tắt màu thu úa
Gió bấc non về lạnh bến sông
Em giấu nỗi sầu trong hương tóc
Tháng mười mưa trắng Mạc Cần Dưng

Anh đứng nhìn trời mây viễn xứ
Nhớ thời Trung học tóc thề bay
Trái sơ ri ngọt trên môi nhớ
Một khoảng trời tình trong mắt ai

Xếp áo học trò anh lang bạt
Em theo chồng về đất Bình Hòa
Gởi lại Rạch Chanh bao kỷ niệm
Một thời chinh chiến lửa binh ca

Năm ngoái hẹn về thăm quê cũ
Viếng đình Bình Thủy ghé vườn lan
Bên mộ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa
Tưởng nhớ người xưa với nén nhang !

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )



TÌNH KHÚC SỐ 15

1. NÓN LÁ

Không gian chừng như nhỏ lại
Tiếng chim hót phía vòm me
Nhớ em một thời áo trắng
Đường về nón lá nghiêng che !

2. MƯA XƯA

Mộng phù du gởi sầu viễn xứ
Mắt biếc ngày xưa mắt lệ nhòa
Mưa cũng vỡ òa mưa bong bóng
Một thời hoa mộng áo hoàng hoa !

3. ĐÁP SỐ

Mọi tính toán đều cho đáp số
Khi tình người gần lại yêu thương
Sống tự do chan hòa hạnh phúc
Trên thế gian hơn cả thiên đường !

TRÚC THANH TÂM

( Châu Đốc )





READ MORE - EM GÁI BÌNH HÒA, TÌNH KHÚC SỐ 15 - thơ Trúc Thanh Tâm

GIẾNG NƯỚC LÀNG QUÊ - Nguyễn Hồng Trân





GIẾNG NƯỚC LÀNG QUÊ

Giếng làng chứa đựng nước trong
Thả gầu xuống giếng mà lòng bâng khuâng
Mặt nước xáo động ánh trăng
Không còn nguyên bóng chị Hằng soi đêm
Nhẹ nhàng múc nước kéo lên
Để bóng trăng hiện tròn nguyên dáng hình
Quê hương giếng nước ân tình
Bạn bè trai gái cúi mình xuống soi
Ban ngày giếng ngắm mặt trời
Đêm về thấy bóng bao người thân quen
Mạch ngầm dòng nước tuôn lên
Tạo nguồn sinh động đẹp thêm cho đời!....
                       Nguyễn Hồng Trân

Thời tôi còn dạy học ở Hà Nội, có một số bạn bè của tôi quê ở Ninh Bình (bên dòng sông Đáy) như bạn Tĩnh, bạn Uông, bạn Quân, bạn Hải…, có lần rủ tôi về chơi ở vùng quê Ninh Bình làm tôi rất vui thích. Vì đã lâu lắm rồi tôi chưa được về quê hương tôi ở bên phía Nam dòng sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Do đó, nên khi về thăm những vùng quê này, tôi đã hình dung lại vùng quê tôi nơi xa xôi bên kia giới tuyến mà lòng nhớ nhung khôn xiết vì đã hơn 10 năm rồi chưa được về lại thăm chốn quê nhà, nơi ấy đang còn mẹ già và các em tôi mong đợi…

Bạn Hải dẫn tôi đi thăm chơi đó đây, đến núi Non Nước thị xã Ninh Bình; đến đình làng Phúc Lộc… Lúc đi ngang qua giếng làng Phúc Lộc, tôi dừng lại ngắm nhìn quang cảnh giếng nước buổi sáng mùa hè với râm ran tiếng ve kêu xen lẫn với tiếng cười nói khúc khích của các cô gái, chàng trai đến múc nước rộn ràng bên giếng nước.

Ôi! Thật là ấn tượng đậm đà nơi miền quê ta đất Việt! Điều đó làm tôi nhớ lại cảnh mấy cái giếng  làng tôi như giếng Đá Đen, giếng Ông Dưng, giếng Bà Vãn… ở thôn Phú Long quê tôi ngày xưa cũng có cái cảnh như thế, nhưng trong chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ xâm lược đã làm tan nát quê hương tôi và những cái giếng nước ngày xưa ấy bây giờ cũng không còn như nữa. Tôi liên tưởng như vậy rồi xúc động lòng mình cảm tác ra mấy câu thơ:

Giếng nước quê xưa đâu rồi?
Lòng ta lưu luyến bồi hồi nhớ nhung…
Bây giờ xa cách nghìn trùng
Khi nào về được thăm vùng quê hương?
Ra đi biết mấy dặm đường
Lòng ta mãi mãi nhớ thương quê nhà.
                      
                      Nguyễn Hồng Trân


READ MORE - GIẾNG NƯỚC LÀNG QUÊ - Nguyễn Hồng Trân