Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, December 17, 2012

HOA ĐỖ QUYÊN – Chùm thơ Nguyễn Hải Đăng




HOA ĐỖ QUYÊN

Đỗ Quyên e ấp rạng tươi hồng
Thoang thoảng thơm bay toả khắp bông
Trong chốn nhân gian nhiều sắc thắm
Bên đời thái thế lắm hương nồng
Thanh tao ngoài nắng hường màu phấn
Giản dị trong tâm đỏ tấm lòng
Làm đẹp làng quê hoa báo đáp
Cho ai man mác nhớ chờ mong.



YÊU THẦM LẶNG

Ta chót đã yêu rồi trong thầm lặng
Bởi vì yều nên giữ kín trong ta
Và thế rồi năm tháng cứ trôi qua
Lòng lặng lẽ và hy sinh tất cả

Chẳng ai oán giận hờn mà thư thả
Vui khi mình được say đắm một ai
Làm chỗ nương lòng tựa gối bờ vai
Khi ngưòi đó có nỗi đau chia sẻ

Mãi mãi sống trong âm thầm lặng lẽ
Cạnh cuộc đời của ngưòi ấy mà thôi
Chẳng cầu mong đươc sánh bước chung đôi
Mặc dù đó vô tâm hay không biết

Có gì đấy mà sao yêu mãnh liệt
Rất thuỷ chung và hết mực hy sinh
Ôi đời này biết bao kẻ si tình
Khi đã dám thì yêu cho đến chết.



NỖI NIỀM

Đường về lệ ướt đẫm hàng mi
Thổn thức nhớ ai với đoá quỳ
Đà lạt mưa ngâu mong sóng biển
La gi nắng lửa đợi cam ly
Hương tình chót bén thành nghiêng đổ
Duyên thắm men say dạ khắc ghi
Sải cánh chim bằng qua gió cả
Mà lòng khắc khoải chẳng vơi đi. 



CÁI CÒ

Cái cò lặn lội ở đầu non
Xúc tép nuôi chồng với mấy con
Cay đắng phận nghèo thân đói khổ
Truân chuyên mệnh bạc xác gày còm
Áo cơm than củi lo gian khó
Sách vở thuốc men đến héo mòn
Trời có thương tình đừng bão tố       
Cho tôi trọn phận được vuông tròn.



MỘT KHUNG TRỜI

Em như cô Tấm dịu dàng
Thảo thơm ngan ngát một làn hương sen
Lòng vàng ai đã nhóm nhen   
Cho em mơ mộng cửa then ngày nào
Cõi lòng em lại nghiêng chao
Nhớ về một thuở hanh hao duyên lành
Đường xuân hoa thắm bao quanh
Một khung trời mở trong xanh tình trường.



LÀM THƠ

Làm thi sĩ muốn hồn thơ bay bổng
Đến cùng trời lên tận chín tầng mây
Để thả hồn lơ lửng ở đâu đây
Đưa lẽ sống tình yêu vào thơ phú

Nếu ai đó yêu thơ niềm vui thú
Thì cũng là một lẽ thường tình thôi
Bởi vì đời luôn hối hả dòng trôi
Thơ với phú cho tâm hồn thư thả

Xin hãy viết những vần thơ cao cả
Ca ngợi quê hương đất nước con người
Những mối tình chung thuỷ mãi xanh tươi
Yêu cuộc sống vì nhân dân cống hiến

Thơ còn phải cùng nhân loại để tiến
Yêu hoà bình và yêu chuộng tư do
Vì giống nòi tổ quốc chẳng đắn đo
Thơ chiến đấu vì ngày mai tươi sáng.


  
NHẮN GIÓ

Nhắn gió cùng mây bến mộng mơ
Những mong tìm bạn viết bằng thơ
Trời xanh tháng tám heo se lạnh
Núi thẳm ngày thu nắng héo khờ
Biển đã ngàn năm không ngớt sóng
Cát từng muôn thuở chẳng xa bờ
Lửa lòng ai thắp tình nhen nhóm
Nốt nhạc ngân nga khúc hẹn chờ.


8-2012
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
Quê quán: Thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng,  Bình Giang, Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: 22/1 Lê thị Riêng , Kp3,  phường Phước Hội, Thị xã La Gi, Bình Thuận.
Có thơ in chung nhiều tuyển tập: Chắp cánh ước mơ 1-2, Ai tri âm đó 6-7, Sóng biển đời thơ, Tiếng tơ lòng, Trăng nước sông Dinh, Thơ Việt Đương Đại…
Hội viên Câu lạc bộ thơ ca La Gi, Bình thuận.
Hội viên CLB UNESCO Thơ Đường Việt Nam, Chi nhánh TX La Gi, Bình Thuận.
Email: haidang32002@yahoo.com
ĐT nhà: 062. 3843. 013
ĐT dđ: 0908. 611. 158

READ MORE - HOA ĐỖ QUYÊN – Chùm thơ Nguyễn Hải Đăng

CHUYỆN NGƯỜI CHA VIỆT KIỀU VỀ QUÊ TÌM CON SAU GẦN 60 NĂM LY HƯƠNG - Nguyễn Hồng Trân


                           
Đó là chuyện ông Lê Công Tôn- quê ở làng Thượng Xá, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
           Ông Tôn xa quê trong một hoàn cảnh bắt buộc đi lính thợ cho Pháp tham chiến đánh bọn Phát xít Đức trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai (1939-1945). Lúc ông rời khỏi quê hương là lúc bà vợ ông đang mang thai mấy tháng đứa con đầu. Thế rồi do hoàn cảnh ốm đau bệnh tật, bà vợ đầu đã qua đời trong thời chống Pháp. Do hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh tại Việt Nam lúc bấy giờ nên ông Tôn cũng không về được quê hương Việt Nam mà ở lại làm việc để sinh sống tại Pháp rồi nhập quốc tịch Pháp.


Năm 1939, cô Trần thị Hoè sinh được đứa con trai đầu lòng, cô vui lắm vì đã làm thoả lòng mong ước của người chồng lúc cô đang có thai. Ngày tháng qua, con trai lớn dần trông rất dễ thương. Nhưng tiếc thay cha nó đi sang Pháp không hề biết mặt con. Mỗi lần nựng nịu đùa vui với con, cô lại càng nhớ cha nó và nghĩ thầm: “Ước gì lúc này có anh bên cạnh em và con thì vui thích biết chừng nào? Anh nhìn thấy con vùng vẫy, múa máy chân tay rồi miệng cười xinh xinh trong chiếc nôi bằng tre mà anh đã đi đặt người ta làm cho chắc chắn trước lúc anh đi xa mấy nghìn trùng…”.
Có những lúc trái gió trở trời, thằng bé bị ốm cứ khóc hoài, cô Hoè dỗ dành mãi nó vẫn khóc, cô Hoè bế ẵm con lên vỗ vỗ nhè nhẹ vào thân con và ru hời ru hỡi cho con ngủ yên rồi đặt con xuống giường nằm bên cạnh con và suy nghĩ triền miên trong ngôi nhà tranh ở làng quê.
Năm tháng cứ kéo dài, nỗi buồn cô đơn của người vợ xa chồng khi con còn thơ dại cứ dai dẳng kéo theo cô. Nhiều lúc tủi thân, cô than thở một mình như tâm sự với ánh trăng khuya bằng những vần thơ giản dị:

“Xa nhau đã mấy mùa rồi,
Mẹ con mong đợi mấy lời tin anh.
Đợi hoài chẳng thấy tiếng tăm,
Em càng buồn tủi, nhìn trăng thêm sầu,
Anh đi sang Pháp bao lâu?
Mẹ con thương nhớ lo âu tháng ngày.
Bao giờ hết hạn lính Tây,
Mong anh còn sống sum vầy mẹ con.
Nhìn con lòng dạ héo hon,
Đến khi con lớn biết còn cha không?...”


Những vần thơ này cô Hoè cứ dùng để hò ru con nhiều lần làm cho bà con xóm giềng cũng thuộc lòng lời ru ấy. Thế mà vẫn chưa thấy chồng về và cũng không có tin tức gì cả. Cô thất vọng, cố nén chịu cảnh cô đơn ưu phiền nhiều năm. Trong bà con xóm làng ai cũng thương yêu cô, động viên cô và giúp đỡ cô hết lòng, nhưng không thể nào lấp hết lỗ trống tình cảm vợ chồng yêu thương trong trái tim người cô phụ…
Trong thời chiến tranh, khó khăn gian khổ làm cô bệnh nặng rồi qua đời lúc cô còn trẻ (mới 27 tuổi). 
Thế rồi tin cô Hoè từ trần đã đến tai chồng (là ông Lê Công Tôn) do mấy người bạn đồng hương là ông Phan Thanh Địch và Lê Luyện tin cho biết. Ông Tôn được tin ấy đau đớn vô cùng và muốn xin về nước ngay để tìm đứa con trai của ông mà ông chưa biết mặt. Nhưng lúc ấy ông bị ốm nặng đang nằm viện không thể về Việt Nam được. Sau đó thì chiến tranh xẩy ra do giặc Pháp đánh chiếm nước ta. Ông Tôn không có điều kiện về quê hương và đành ở lại Pháp xin việc làm để sinh sống. Sau đó thì ông lấy vợ người Pháp là bà LuCienne. Bà là một nhân viên văn phòng. Bà rất đảm đang hiền hậu đã biết chăm sóc chồng con suốt đời. Bà này đã sinh được cho ông Tôn 6 con (4 trai và hai gái. Đó là: Jean Pierra, Guy, Monique, Bermard, Alain, Anna Marie) và Lấy họ Lê của ông Tôn.
Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước Việt Nam, ông Tôn rất muốn về quê hương để tìm thăm người con trai đầu của ông đã gần 60 năm trời ông chưa được thấy mặt. Đồng thời tìm đến viếng thăm ngôi mộ của người vợ đã mất từ lâu mà ông chưa biết chỗ. Nhưng ông còn chưa biết rõ địa chỉ gia đình con ông cụ thể ở đâu nên ông phải chờ đợi có thêm tin tức rõ ràng hơn.
Vào năm 1977, nhân dịp có một Việt kiều quen thân là Lê Bá Y về thăm quê Quảng Trị, ông Tôn có nhờ tìm kiếm tin tức về người con trai đầu của ông. Người ấy đã đi tìm  nơi này nơi khác để dò hỏi tin con cho ông Tôn, nhưng chẳng ai biết anh Lê Công Tước con ông với cô Hoè nay ở đâu cả. Người ta chỉ nói cho ông biết tin rằng, sau khi người mẹ mất thì anh Tước được người bác ruột nuôi. Đến năm 1954, anh Tước được người chú ruột là Lê Công Thưởng đem theo đi tập kết ra miền Bắc và cho học trường học sinh miền Nam tại Hải Phòng. Về sau anh Tước học Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp ra trường làm việc ở đâu cũng không ai được rõ. Mặc dù chưa tìm ra được địa chỉ của người con, nhưng nghe tin con mình được người em chăm lo cho việc học hành của con được thành đạt như vậy ông cũng rất mừng. Rất nhiều lần ông gửi thư và thiếp chúc mừng năm mới cho bà con nội ngoại gần xa ở quê hương và để hỏi thêm tin tức của con trai mình còn sống ở đâu, nhưng cũng chẳng ai biết cụ thể địa chỉ cả. Ông vô cùng buồn bã, khổ tâm về chuyện này. Tuy vậy, ông Tôn vẫn không thất vọng mà cảm thấy trong lòng mình có một niềm phấn khởi vui chung với bà con xóm làng sau ngày hoà bình thống nhất đất nước. Ông biết nhiều người, nhiều gia đình còn tổn thất, mất mát đau thương trong mấy chục năm lửa đạn chiến tranh vừa qua, nên ông cũng dịu đi nỗi buồn riêng của mình.
Bà con ở Quảng Trị nói với người bạn Việt kiều của ông Tôn: “Nếu hết hạn phép thì chú cứ về Pháp đi, để địa chỉ của ông Tôn lại, bà con chúng tôi sẽ tìm giúp.  Nếu có tin cụ thể thì chúng tôi sẽ đưa địa chỉ cho con trai ông Tôn liên hệ”.
Nghe vậy người bạn Việt kiều của ông Tôn cũng yên tâm và chuẩn bị lên đường về Pháp. Trước khi rời quê hương sang Pháp, ông ghé vào một quán nhỏ bên đường quốc lộ 1A uống ly cà phê và ngắm lại quê nhà một lần nữa để tạm biệt. Ông cố ý để lại một danh thiếp của ông Tôn nhờ bà chủ quán cứ đặt danh thiếp ấy trên mặt bàn cho người vào ra, qua lại nhìn xem để họa may có ai biết thì nhờ ghi lại địa chỉ và cho con ông Tôn biết để liên lạc với người cha. Nhưng tháng ngày cứ trôi qua mà vẫn bặt vô âm tín về người con trai của ông Tôn. Mặc dù chị chủ quán cũng rất quan tâm hỏi han rất nhiều người qua lại để tìm tin tức anh Lê Công Tước, nhưng vẫn chưa có thông tin gì cả.
Mấy tháng sau, ông Tôn lại gửi một bức thư về cho bà con nội ngoại ở quê đề nghị tìm giúp. Trong thư có một cái thiếp chúc mừng năm mới bà con và có ghi thêm mấy dòng chữ: “Nhờ bà con ai biết con trai tôi là Lê Công Tước nay ở đâu thì tin giùm cho cậu ấy biết địa chỉ của tôi mà liên lạc gấp. Tôi xin đa tạ bà con”.
Bức thư đó cứ nằm trên bàn nhà bác Hào sát đường QL 1A thuộc làng Thượng Xá. Nhiều người qua lại ghé thăm đều nhìn xem thư đó cả. Thế rồi một hôm, có một chị công tác phụ nữ ghé vào nhà bác Hào và xem tấm thiếp bưu ảnh đó thì mới biết được tin về người cha của anh Tước và cô liền nói với bác Hào: “Anh Tước đang ở thành phố Huế, nhưng không biết anh ấy làm gì ở đâu. Trong làng ta có nhiều người làm việc ở Huế, bà con cứ nhờ họ tìm kiếm cho thì chắc là được”.
Sau một thời gian không lâu, anh Lê Công Tước thật bất ngờ biết được tin mình vẫn còn người cha mà xưa nay anh chưa hề gặp mặt. Lúc đầu mới nghe tin, anh Tước vẫn không tin đó là sự thật. Sau đó bác Hào vào tận Huế đến nhà anh đưa bưu thiếp có địa chỉ của cha anh Tước. Lúc đó anh mới tin. Bà con trong làng đều thương anh, cứ coi anh là đứa con mồ côi cha mẹ từ lâu. Nay được biết chắc chắn tin cha anh vẫn còn sống và rất tích cực tìm con, bà con xóm làng cũng vui mừng. Còn anh Tước vui sướng và xúc động trào tuôn nước mắt. Vợ con anh cũng mừng vui theo…
Đêm hôm đó, anh Tước thức thâu đêm để viết thư dài cho cha. Trong thư có đoạn: “Chao ôi! biết được tin cha còn sống và tích cực chăm chú tìm con, con quá sung sướng, mừng vui không cầm được nước mắt. Cha ơi ! con không ngờ bây giờ con vẫn còn cha. Con rất mong hai cha con mình được gặp mặt nhau càng sớm càng tốt. Cha thu xếp mọi việc để mau về với con cha nhé. Bà con nội ngoại rất thương cha và cũng muốn gặp lại cha. Bây giờ đất nước đã bình yên, cha còn sống trở về thăm quê cũng rất thuận lợi. Cha đừng ngại gì chuyện cha đi lính thợ cho Pháp thời xưa cho nặng lòng do dự. Bởi vì lúc đó hoàn cảnh bắt buộc đấy thôi. Con chỉ tiếc thay giờ đây mẹ không còn nữa để đón mừng cha cho thoả lòng mong đợi. Con yêu thương mẹ lắm cha ạ. Mỗi lần hình dung mẹ là con cứ khóc hoài …”.
Ông Lê Công Tôn nhận được thư con rất cảm động. Ông viết nhiều thư gửi về cho con trai và có kế hoặch thu xếp để về Việt Nam gấp.
Vào mùa xuân năm 1997. Biết được tin cha đã bay về Hà Nội, nhưng anh Tước không giám ra trực tiếp đón cha mà nhờ mấy người bà con ruột thịt đến đón. Bởi vì anh Tước biết cha già có bệnh cao huyết áp sợ khi gặp con quá xúc động sẽ rất nguy khốn. Sau đó ông Tôn bay vào thành phố Huế. Khi xuống sân bay Phú Bài, anh Tước nhận ra cha ngay (vì đã có ảnh cha mà anh ngày ngày thường ngắm và cầu mong được gặp lại cha). Hai cha con ôm chầm nhau khóc, hai người con gái lai Pháp của ông cũng khóc theo cha rồi ôm hôn người anh trai cùng cha khác mẹ. Anh Lê Công Tước đưa cha và hai em về nhà mình để hàn huyên tâm sự. Sau đó, anh Tước đưa cha và các em về quê thăm bà con rồi lên đồi cát thắp hương lên mộ ông bà nội và mộ người mẹ đầu.

Khói hương thơm bay lên nghi ngút, mấy cha con và những người thân ruột thịt đứng lặng yên rưng rưng nước mắt tưởng niệm bên ngôi mộ. Lúc này chắc vong linh của cô Hoè tại âm phần cũng sẽ bùi ngùi xúc động trước cảnh viếng mộ của chồng con và bà con ruột thịt.
Thời gian về thăm quê, ông Tôn đã đến tạ ơn các ân nhân, gia đình đã có công chăm sóc cha mẹ và con ông trong những năm tháng ông ly biệt quê nhà. Đồng thời ông cũng đến viếng thăm nhà thờ họ Lê và ngôi đình làng Thượng Xá để thắp hương khấn cầu cho bà con dòng tộc, dân làng được bình an, thịnh vượng.
Mấy ngày lưu lại tại làng quê, ông thường lên cầu sông Nhồng ngắm lại cảnh dòng sông trong xanh êm đềm chảy hiền hoà và thỉnh thoảng có những cụm cây bèo lục bình hoa tim tím lững lờ trôi như ngày xưa. Hai bên bờ sông những hàng tre, cây sung, cây mưng(lộc vừng) vẫn rung rinh cành lá trong gió chiều lộng mát. Các bến sông, tiếng cười vui chuyện trò của các chị, các bà ra giặt giũ cứ râm ran; các cháu thiếu niên bơi lội tắm đùa rộn vang như thuở nào…
Những cảnh tượng ấy gợi lên bao nhiêu kỷ niệm xa xưa cuộc đời trai trẻ của ông tại miền quê xứ sở thân yêu này đã dồn dập quay về ngập tràn trong cơ thể… Ông Tôn cứ bịn rịn, lưu luyến ngắm nhìn mãi chốn này mà không muốn đi đâu xa nữa. Nhưng ông Tôn chợt nhớ tới việc đến thăm một người bạn học trường huyện ngày xưa nay đã nghỉ hưu về sống ở làng quê với gia đình vợ con. Đó là ông Phan Giá- nguyên là Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên khu IV, nguyên Hiệu phó trường Tư Pháp Hà Nội nay đã hồi hương hưu trí.
Ông Giá đưa ông Tôn đi thăm bà con và bạn bè trong làng thượng Xá. Sau đó hai ông có dịp hỏi han chuyện trò về quê hương, đất nước và con người Việt Nam đã qua mấy chục năm đau thương mất mát vì khói lửa của chiến tranh kéo dài. Trước khi chia tay với ông Tôn, ông Giá vui vẻ nói với ông Tôn rằng: “Anh về Việt Nam lần này là mãn nguyện rồi đó, được gặp nhiều bà con xóm làng và gặp lại con trai đầu đã quá lâu mong đợi. Cậu Tước con anh đã chịu khó phấn đấu học tập, rèn luyện khá lắm. Nó sống rất tình cảm và có nghị lực vươn lên trong cuộc đời của một thanh niên Việt Nam. Nó là một cán bộ ngành giáo dục có năng lực, đạo đức và uy tín nên đã được chính thức vào đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1969”.
Nghe như vậy, ông Tôn cũng rất vui sướng và tự hào về đứa con trai Việt của mình và liền nói với ông Giá rằng: “Nó được như thế cũng nhờ sự thương yêu đùm bọc của bà con xóm làng, được quan tâm giúp đỡ của xã hội và Nhà nước Việt Nam”.
Sau một thời gian về thăm quê, ông Tôn vào Huế ở với gia đình con trai để cha con ngày đêm tâm sự cho thoả lòng mong ước bấy lâu. Về sau ông tôn có kế hoạch giúp đỡ cho gia đình anh Tước sửa sang, nâng cấp nhà cửa tử tế để có nơi thờ tự ông bà và cha mẹ. Được như thế ông Tôn cũng cảm thấy an lòng để trở lại Pháp, nơi đất khách quê người nhưng cũng có một tổ ấm gia đình vì số mệnh.
Trong những năm sau, ông Tôn cũng đã vài lần về Việt Nam thăm quê hương, bà con nội ngoại và ở với gia đình anh Tước để gắn bó tình cảm cha con và mong bù đắp lại được phần nào những thiếu thốn tình cảm cha mẹ trong hơn nửa thế kỷ như kẻ mồ côi phụ mẫu.
Những năm gần đây vì tuổi già sức yếu ông Lê Công Tôn không thể đi về Việt Nam như trước nữa. Ông luôn gửi thư về động viên gia đình anh Tước và bà con ruột thịt ở quê hương Việt Nam và cầu mong cho mọi người sống an lành, hạnh phúc. Những người con lai Pháp của ông Tôn với bà vợ sau cũng gửi thư về thăm gia đình anh Tước. Đặc biệt là có cô con gái út Anna Marie nhiều lần biên thư về cho anh trai cả để chia sẻ tâm tình. Cô đề nghị anh Tước viết rõ thêm về tình hình bà con ruột thịt ở quê hương và cô đã nói rằng: “Anh chị em chúng tôi không bao giờ quên một đại gia đình chúng ta tại quê hương Việt nam rất giàu tình cảm và lòng nhân hậu…”
Bà con ruột thịt nội ngoại ở xóm làng cũng rất mừng cho ông Tôn cuối đời đã tìm về thăm được bà con nội ngoại, quê hương xứ sở, viếng thăm mộ người vợ xấu số đã sớm về cõi tiên mà chưa thấy lại mặt chồng. Đồng thời ông quá nỗi vui mừng tìm thấy được người con trai Việt duy nhất của ông sau gần 60 năm ly biệt quê nhà.

NGUYỄN HỒNG TRÂN
READ MORE - CHUYỆN NGƯỜI CHA VIỆT KIỀU VỀ QUÊ TÌM CON SAU GẦN 60 NĂM LY HƯƠNG - Nguyễn Hồng Trân

GIỌT LỆ THƠ - Chùm thơ Lê Đình Hạnh


Lê Đình Hạnh




GIỌT LỆ THƠ

Người đi là hẳn đi rồi
Câu thơ ở lại đáng đời câu thơ
Ư thôi! một chút tình cờ
Trách chi sương khói hững hờ khói sương.

Nước mắt là nước mắt thôi
Giọt nào nhỏ xuống thơ tôi ướt đầm
Hỏi người chim cá biệt tăm
Hỏi câu thơ ướt còn nằm phơi trăng.


NHỆN ƠI!

Trông kìa con nhện giăng tơ
Em giăng nhan sắc hững hờ quanh tôi
Phải đâu lồng lộng lưới trời
Một con ruồi nhỏ sa rồi nhện ơi
  

KỶ NIỆM NGÀY CƯỚI

Mấy mươi năm một đời tình
Ngoảnh đi ngó lại chỉ mình với ta
Đại bàng tung cánh tài hoa
Bay không ra khỏi hai tà áo sương.


NHỚ HÔM

Nhớ hôm người gọi bằng anh
Tôi về trằn trọc dỗ dành lấy tôi.
Trẻ con khát sữa kêu trời
Tôi người lớn tuổi khát lời trẻ con.


NỤ CƯỜI SAU LƯNG

Chiều nay giữa phố đông người
Tóc ai vẽ vội nụ cười sau lưng
Biết đâu người ấy không chừng
Tóc sao giống tóc vai chùng giống vai.


MƯA MIỀN NAM

Ngỡ là mưa níu trên vai
Ngờ đâu mưa kéo thêm dài đường xa
Mưa miền nam chút kiêu sa
Em miền nam chút thật thà như mưa

Đưa nhau vào trú quán trưa
Chờ em dứt hạt- chờ mưa dứt lời…
Miền trung núi khuất sương mù
Anh về phơi áo…nghìn thu đợi người.


THẾ MÀ VẪN GỌI...

Thế mà vẫn gọi là yêu!
Trong vô tư lẫn ít nhiều vô tâm.
Chao ôi! mắc phải sai lầm
Là thiên thu chẳng được cầm tay em.
Ngày dài tháng rộng buồn tênh
Làm chia ly để nhớ quên thất thường.
Thế mà vẫn gọi là thương
Em một phương- tôi một phương thở dài.


TRONG VƯỜN XUÂN RA

Lược đây em chãi lại đầu
Sửa xiêm y – trả nát nhàu cho gương.
Đi rồi còn để lại hương
Hỏi ai không ngỡ trong vườn xuân ra.


THƠ KHÔNG BÁN

Thơ không bán được một đồng
Em lo chu tất - mặc chồng làm thơ
Đêm về tỉnh giấc trong mơ
Nhìn sang ngao ngán nhà thơ xỉn rồi.

LÊ ĐÌNH HẠNH
Đà Nẵng
ĐT: 0905 863 307

READ MORE - GIỌT LỆ THƠ - Chùm thơ Lê Đình Hạnh

PHẠM NGUYÊN TƯỜNG BÁC SĨ VÀ THI SĨ - Phạm Xuân Dũng

Nhà thơ BS PHẠM NGUYÊN TƯỜNG.
Ảnh từ Tạp chí Sông Hương
   Là tôi muốn nói đến Phạm Nguyên Tường, thầy thuốc và nhà thơ xứ Huế. Anh hiện là tiến sĩ y khoa (từng du học tại châu Âu), phó trưởng Khoa Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Huế.Với một người nhát kim tiêm như tôi thì ngần ấy của nghề y cũng đủ đáng kính và đáng sợ lắm rồi. Huống chi, Tường còn là chủ tịch hội nhà văn Thừa thiên - Huế thì chức trách bề thế đến dường nào.
    Theo như tôi biết thì nước ta mới chỉ có nhà thơ Vũ Quần Phương và nhà văn Phan Thị Vàng Anh là có bằng bác sĩ.Vừa là thầy thuốc vừa là nhà văn thì ôi thôi thì từ phần xác cho tới phần hồn của con người ta họ đều biết tất. Họ đích thực là con cháu ruột rà được chân truyền y bát của một Thượng Đế mà ngài vừa có bằng y khoa lại vừa vang danh thi sĩ.
    Nhưng Phạm Nguyên Tường còn là một người hiền, một người thơ.Và hơn nữa anh còn là một lương y đúng nghĩa.
    Tôi còn nhớ thời sinh viên Huế, có lần Tường rụt rè đưa tôi  bài thơ đầu tay "Thưở xa em" nhờ tôi góp ý. Lúc ấy Tường còn học Sư phạm Huế. Có lẽ anh nghĩ tôi học văn và cũng tấp tễnh làm thơ nên đưa tôi biên tập.Tôi đọc xong, chẳng đổi thay một dấu phẩy, chỉ đảo vị trí một khổ thơ để bài thơ "có đáy". Và bài thơ đó được đăng và có diện mạo như bây giờ. Sau đó, vào thập niên 90 của thế kỷ trước, thơ Tường nổi đình nổi đám ở Huế. Sinh viên bọn tôi nhiều người thuộc thơ Tường, không thuộc cả bài thì cũng một vài khổ thơ.Và rồi Tường học y một cách chuyên tâm và trở thành một bác sĩ thực thụ và vẫn say mê làm thơ rồi đàng hoàng được gọi tên thi sĩ.
   Thơ Tường dường như chẳng ảnh hưởng một ai, kể cả các thi hào, thi bá. Anh viết thơ tự nhiên, hồn nhiên, nhi nhiên. Nhiều câu thơ, đoạn thơ được viết ra như thể tâm linh cầm tay phóng bút. Anh như là thi sĩ từ trong huyết quản:
    Có một dòng sông chảy hoài trong tâm thức
    Thưở nào ta yêu em
    Sự hoang vu của buổi chiều kiệt sức
    Hiện ra như một kết cục đê hèn.

    Bao nhiêu đêm ký ức về đập cửa
    Lôi ta đi nạm cỏ ngậm ngang mồm
    Thành phố của những mê lộ
    Tiếng chổi dài quét vội những nụ hôn...

    Bao nhiêu mặt trời không giữ được giùm ta chút lửa
    Đêm ơi cùng cạn chén trăng rằm
    Có một dòng sông tâm thức
    Xác ta bồng bềnh như thể trăm năm...
                                                              (Thưở xa em)
    Tường là người có lương tâm.Tôi nghe bạn bè kể lại rằng: khi thấy nhiều người quen, bạn bè bị K nhập viện, Tường đã than: chắc phải đổi nghề! Do áp lực nghề nghiệp vậy thôi, rồi anh vẫn theo đuổi con đường mình đã chọn.Tâm huyết với nghề y, anh đã tìm cách giãi bày bằng tập ghi chép được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành với tên gọi khá ấn tượng "Chết như thế nào".Trong đó nhiều trang viết về tình trạng bệnh nhân ung thư. Kết thúc bài viết "Lời nguyện cầu", đau xót và sẻ chia trước số phận của người bệnh ung thư, bác sĩ Phạm Nguyên Tường đã viết:"...Mà sao chán thật đúng vào ngày Thầy thuốc Việt nam tôi lại đi kể lan man toàn chuyện chết chóc thế này. Biết làm sao được. Cuộc đời hành nghề của tôi đã gắn với những giọt nước mắt của biết bao phận đời,phận người. Như những giọt nước mắt bằng sứ trong tác phẩm sắp đặt Jason Lim ngày nào, đổ từ giếng trời xuống mỗi một lần lại găm buốt tâm can.
    Tôi thuộc về nơi ấy."
    Tự nhiên tôi nhớ đến bác sĩ NAOE trong tiểu thuyết "Đèn không hắt bóng" của Nhật đọc từ thời sinh viên Huế.
    Một bác sĩ còn biết đồng cảm với số phận người bệnh nan y. Một thi sĩ còn biết trăn trở trước cuộc hồng trần biết bao thao thức. Nên tôi vẫn còn hy vọng trong cuộc đời còn cần nhiều lắm thuốc thang.      
    
Phạm Xuân Dũng
Đài PT- TH Quảng Trị
Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Đt: 0985.972.975 
READ MORE - PHẠM NGUYÊN TƯỜNG BÁC SĨ VÀ THI SĨ - Phạm Xuân Dũng

Sunday, December 16, 2012

Lê Vũ - LÀNG QUÊ CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG, NHỮNG CÂU THƠ IM LỜI




LÀNG QUÊ 
Nguyễn Đức Tùng


Khi anh trở về
Người vợ đã chết

Vết máu khô trên ngực 
Trong bụi tre cú rúc liên hồi 

Tiếng thứ nhất: anh không nghe
Tiếng lần thứ hai: anh dừng lại
Tiếng thứ ba: anh lờ mờ nhận ra


Anh đặt thang thuốc bắc lên thềm nhà 
Cúi đầu, lùi lại

Rồi nhổ sào
Rời bến.


Không! Những câu thơ chẳng phán bảo loan truyền thông điệp gì cả. Thơ là thơ và vọng âm cứ bằng bặt im lời trong chiều muộn đêm trăng xế.

Một bậc cửa, vết máu khô, tiếng cú rúc. Chữ không trau chuốt đẹp, hình không lóng lánh sắc màu và thanh âm chẳng hề dịu ngọt. Thơ là đời và cuộc sống bừng hiện, dừng lại trong những khoảnh khắc đậm đặc nhất của tuyệt vọng, nỗi chết, của chia ly tàn mục. Ngọn sào nhổ lên, thuyền rời bến và cuộc sống cứ chảy đi trên dòng thời gian bất tuyệt. Không thể khác. Người sống phải sống và người chết cũng đã chết rồi.

Thơ còn là người. Đã tràn lan những câu thơ nôn thốc nôn tháo kinh nguyệt và đờm dãi khoe mông má thịt đùi chỉ để bày biện cái libido, cũng ê hề đây đó những tụng ca sáo rỗng. Lý Bạch “cúi đầu nhớ cố hương”; còn anh cúi đầu như một mặc niệm, một nhớ thương. Tôi nghĩ, thơ là nhan sắc và người cần có diện mạo. Diện mạo đó, trước hết, là diện mạo của văn hóa Việt. Thang thuốc bắc, ở đây, dù không còn tác dụng gì, vẫn là nghĩa tình chồng vợ đậm chất Đông Phương, giàu tính Việt.

Nhưng “Làng quê” của Nguyễn Đức Tùng ám ảnh ám thị tôi, không phải vì câu chuyện sinh lão bệnh tử mà vì thanh âm của tiếng đêm cú rúc. Rờn rợn, khàn đục, the thắt. Và không phải vô tình, nó lặp lại đến ba lần. “Quá tam ba bận”. Vâng! Có là người hoài nghi chủ nghĩa cũng phải tự khẳng định: cuộc sống không chỉ có ríu rít xuân ca. Nó trăm ngàn the thía mùi vị đấy! Đối mặt với nó và sống!

“Làng quê” vỏn vẹn 11 câu thơ nhưng từng con chữ nén lại, giấu một tiếng thở dài, chưng cất một nỗi đau và đặc biệt, trong chừng mực, đã hóa giải tâm thế vực ngờ của người đương đại.

Lê  Vũ 
(Sài Gòn)
Website counter
READ MORE - Lê Vũ - LÀNG QUÊ CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG, NHỮNG CÂU THƠ IM LỜI

LỄ HỘI KỲ YÊN Ở ĐÌNH LÀNG NẠI CỬU - Trần Quang và Lê Văn Hà

Đình làng NẠI CỬU



Tìm hiểu và phân tích kỹ một lễ hội dân gian ở vùng nông thôn tỉnh Quảng Trị quả là không dễ. Dù Quảng Trị là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa nhưng qua hai cuộc chiến tranh, nhiều kiến trúc văn hóa vật chất như: đình, chùa, miếu mạo bị tàn phá nặng nề cái còn cái mất. Cái còn thì đã rêu phong hoang phế, hoặc là những kiến trúc mới được xây dựng lại trong những năm gần đây. Những lễ hội dân gian gắn liền với đình, chùa, đền miếu do vậy cứ bị mai một dần đi, mặt khác dù nhu cầu văn hóa tinh thần của đời sống tâm linh là lớn nhưng đời sống hiện tại còn gặp muôn vàn khó khăn chế ngự nên lễ hội có tính quy mô, rầm rộ ít được diễn ra.


Tuy nhiên, lễ hội dân gian là khát vọng tinh thần, là sinh hoạt văn hóa làm nên diện mạo của một vùng đất, tạo nên nhân cách, bản sắc riêng của người dân sống trên vùng đất đó. Nó là yếu tố cơ bản tạo nên sức sống mảnh liệt trong tâm thức của con người, tồn tại cùng con người thuở khai khẩn vùng đất mới, đồng hành trên bước đường con người kiếm tìm hạnh phúc, tạo lập và xây dựng nên những mảnh làng. Tất nhiên bất kỳ một lễ hội dân gian nào đều có những mặt phải và mặt trái của nó. Dưới đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là đất nước đang triển khai cuộc vận động lớn “xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa”, vấn đề tìm hiểu và khôi phục một lễ hội dân gian để phát huy những giá trị truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu mang màu sắc mê tín là một việc làm có ý nghĩa nhân bản.

Với suy nghĩ này, chúng tôi đã tìm về làng Nại Cửu thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị để tìm hiểu. Đây là một làng có bề dày lịch sử khá lâu đời gắn liền với những cuộc "nam tiến" của ông cha, có nhiều thành tựu vẻ vang trong chống giặc ngoại xâm, trong lĩnh vực giáo dục, gắn liền với nhiều tên tuổi của nhiều người được cả nước biết đến. Tên làng Nại Cửu có nghĩa là "chịu đựng lâu" thể hiện tính cách bền bỉ, kiên nhẫn chịu đựng mọi khó khăn gian khổ để vươn tới khát vọng ấm no, hạnh phúc của người dân nơi đây; và trong tiến trình đi lên, dân làng Nại Cửu đã đạt được những thành tựu không nhỏ để tạo nhân cách riêng của một làng quê Việt Nam.

Làng Nại Cửu từ xưa có nhiều lễ hội như: Lễ thành hoàng, lễ hạ canh, lễ hạ ương, hội thi cày đất khô, hội thi kéo co, thi bơi trãi, hò giả gạo...Tuy nhiên qua nhiều thời gian và hoàn cảnh sống có những đổi thay nên đã dần dần mất đi chỉ còn lại một lễ hội đáng chú ý hơn cả là lễ hội Kỳ yên (hoặc là Cầu an hay siêu yên) được dân làng Nại Cửu duy trì hàng năm tại đình làng Nại Cửu vào ngày rằm tháng bảy.

1. Vài nét về lịch sử làng Nại Cửu:

Năm 1347, kỷ nhà Trần, biên giới Đại việt chỉ từ Quảng Bình trở ra Bắc. Sau cuộc hôn nhân Việt-Chăm, Vua Chăm pa là Chế Mân dâng 2 châu: Châu Ô và Châu Lý để đổi lấy Huyền Trân Công Chúa. Nhà Trần đổi 2 Châu này thành Châu Thuận và Châu Hóa. Để mở mang bờ cõi, nhà Trần đã kêu gọi dân chúng ở phía Bắc (Thanh Hóa, Nghệ An, một số ít người Nam Định) vào khai khẩn vùng đất mới.

Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc chinh phạt quân Chiêm Thành lần thứ 2. Nhiều chiến binh sau cuộc "Chinh Tây" thắng lợi đã lưu lại vùng đất mới khai khẩn lập ấp, tiếp tục đưa thêm con cháu vào hiệp lực tạo nên làng Nại Cửu. Qua 18 thế hệ kế tiếp nhau mà qua gia phả của 6 họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Võ, Phan, Trần còn lưu trữ thể hiện một bề dày lịch sử với một quá trình phát triển mạnh mẽ tạo nên cộng đồng Nại Cửu hôn nay với diện tích đất tự nhiên 232 ha, đất canh tác 138 ha, với gần 3000 người chưa kể số người xa quê đây đó, làm ăn sinh sống tiếp tục tạo dựng những quê hương mới trên đất nước Việt Nam thân yêu.

Làng Nại Cửu có vị trí địa lý Bắc giáp ba làng: Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam( đồng thuộc xã Triệu Đông), Nam giáp hai làng: Thâm Triều, An Tiêm (xã Triệu Tài và xã Triệu Thành), Đông giáp 2 làng: Anh Tuấn, Tả Hữu (xã Triệu Tài), Tây giáp 3 làng: Cổ Thành, Hậu Kiên, Bích Khê (Thuộc xã Triệu Thành và xã Triệu Long). Là một làng nông nghiệp nên nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp, có một số nghề khác như dịch vụ buôn bán, may, mộc, nề...Tổng thu nhập bình quân đạt trên 300USD/người/năm. Mặc dù mức sống chưa cao nhưng người dân Nại Cửu rất chú trọng đến vấn đề giáo dục, 100% phổ cập tiểu học, nhiều tiến sĩ, phó tiến sĩ, bác sĩ, kỷ sư, cử nhân... đang công tác ở nhiều ngành và đặc biệt có một đội ngủ đông đúc làm nghề giảng dạy ở khắp mọi miền đất nước, đó chính là hệ quả tất yếu của một truyền thống hiếu học vốn có từ xưa. Lần tìm gia phả các Họ có thể thấy được nhiều vị đổ đạt làm quan qua các triều đại phong kiến trở thành niềm tự hào của hậu thế.

1. Tiến sĩ Trần Văn Thoại (Đời Lê Hiển Tông)

2. Cử nhân Lê Trọng Điều (Làm quan phủ đời Minh Mạng)

3. Cử nhân Lê Trọng Huy (Làm quan phủ đời Thiệu Trị)

4. Cử nhân Lê Trọng Huyên (Làm quan phủ đời Tự Đức)

5. Cử nhân Lê Văn Trung làm cận vệ cho phụ chính Đại thần Tôn Thấy Thuyết.

6. Nguyễn Đức Nghi (Tham tri Bộ Lễ thời Tự Đức)

7. Phó Bảng Võ Tử Văn, thời đại Tự Đức được tôn vinh "Bậc thơ thánh thổ thần" là Thái Tử Thiếu bảo (dạy con vua) văn minh điện học sĩ, một chủ khoa tài ba.

Thời hiện đại có các vị tiêu biểu sau:

1. Trần Quỳnh (Nguyên Phó Thủ Tướng chính phủ)

2. Lê Lăng ( Nguyên Thứ trưởng Bộ ngoại thương)

3. Hoàng Hữu Bình (Tiến sĩ, cục trưởng cụ Hóa chất)

4. Nguyễn Liêm ( Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam)

5. Lê Sơn (Thiếu Tướng Quân đội nhân dân Việt Nam)

6. Lê Hữu Thỏa (Thiếu Tướng Quân đội nhân dân Việt Nam)

Và nhiều vị có chức sắc, học hàm, học vị không thể thống kê hết được.

Trải qua trên dưới 500 năm tồn tại và phát triển, đất và người Nại Cửu của 18 thế hệ kế tiếp nhau đã chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, bền gian, kiên nhẩn, tương thân, tương ái, đùm bọc nhau trong tình làng nghĩa xóm để xây dựng và bảo vệ quê hương và đất nước. Đó là một truyền thống quý báu đáng tự hào và trân trọng của người dân làng Nại Cửu. Truyền thống này chính là xuất phát từ tác động của những sinh hoạt văn hóa lễ hội, của tính hiếu học đúc kết nghìn đời mà ta đang đề cập ở trên lễ hội Kỳ yên ở đình Nại Cửu.

2. Nại Cửu đình và lễ hội Kỳ yên:

a. Đình Nại Cửu không xác định được xây dựng từ năm nào trong lịch sử, chỉ có thể nói sơ lược như sau:

Năm 1886 bị giặc Pháp đốt, năm 1900 được làm lại bằng tre, năm 1935 lại bị đốt, 1942 làm lại, năm 1958 được sửa chữa thêm, năm 1972 chiến tranh tàn phá, năm 1990 xây lại như hiện tại. Đình Nại Cửu có một đặc trưng riêng biệt là có mái đình (có sắc chỉ của Vua ban) khác với Đình của nơi khác, ngôi đình hiện nay có chiều rộng 6m, chiều dài 14m tọa lạc trên khu đất rộng, quay mặt về hướng nam. Cổng đình có hai câu đối bằng chữ Hán đã mờ vì gió bụi thời gian. Phần sân đình ở giữa là bức bình phong có trang trí một con Nghê làm bằng mãnh vỡ, trên lưng nghê mang một chiếc hộp màu vàng có thắt nơ kiểu bướm (chiếc hộp này tượng trưng bằng sắc của các học sĩ). Phía dưới là âm hồn, phía trên là văn chỉ, phiá đông sân đình là bức thờ âm hồn, phía tây sân đình thờ bức có hai chữ Hán "Thánh Tiên" (chỉ bậc thánh hiền đời trước là Khổng Tử). Mái đình lợp ngói móc, trên nóc có biểu tượng âm dương ở giữa, hai bên nóc có hai rồng đối xứng, 4 góc mái đình là 4 con chim phượng. Mặt trước đình ở trên gần sát mái có 5 bức tranh vẽ chim, thú, cây cảnh, bên trái của đình có bức tranh vẽ rồng trên mây, bên phải là hổ trong rừng (tả thanh long, hữu bạch hổ).

Trong điện thờ gồm có năm gian đặt năm bàn thờ. Ngày xưa thờ thần chủ, nay thờ bằng lư hương.

1. Bàn thờ thứ nhất (ở phí tây): Thờ thổ thần, hai chữ thổ thần viết bằng chử Hán ở trên tường, hai bên có hai câu đối như sau:

"Địa hậu bát tiết thảo mọc sum

Tổ vương trí thời nhân tài tụ"

Tạm dịch:

"Đất màu mở, tám tiết trời trong năm cỏ cây đều tươi tốt

Phúc tổ lớn, bốn mùa tụ hội lắm người tài"

Trên bàn thờ của thổ thần có hai lư hương

2. Bàn thờ thứ 2 (giáp bàn thờ thổ thần): Thờ bốn vị tiền khai khẩn của bốn họ: Lê, Nguyễn, Võ và một vị tiền khai khẩn của họ Đinh nhưng vì họ Đinh ở Nại Cửu về sau vô tự nên hình thức thờ chỉ còn là "Đinh gia phụ hưởng". Trên tường sau bàn thờ có hai chử Hán "Khởi thủy". Trang trí hai bên chữ "Khởi thủy" (mở đầu) là hai con chim phượng ngậm đóa sen đứng trên lưng rùa.

3. Bàn thờ thứ ba (tức bàn thờ chánh giữa): Thờ 11 vị thần gồm 7 lư hương, trên tường có ba chữ hán "Kỉnh như tại" (nghĩa là cung kính mời ngồi) lúc hành lễ ông thần nào to thì mời ngồi lên bàn thờ này. Mười một vị thần của bàn thờ này được nhà Vua sắc phong cho làng Nại Cửu thờ tự (Theo “Quảng Trị tỉnh thành hoàng chí” của Triều Tự Đức hiện có lưu ở thư viện Khoa học trung ương số 26 Lý Thường Kiệt - Hà Nội), 11 vị thần đó là:

1. Cao các quảng độ gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần

2. Bổn thổ thần hoàng gia tặng tịnh hậu trung hưng thượng đẳng thần

3. Ngủ hành sắc phong tán hóa mặc vân thuận thành tự điều, tư nguyên trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần

4. Chúa ngọc sắc phong nhân uyển gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần (Huyền Trân Công Chúa)

5. Hồng nương tiên phi gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần ( thờ bà vú nuôi của Huyền Trân Công Chúa)

6. Cai trị nam dương hầu Hoàng tôn thần.

Năm vị ngũ hành thờ vào một lư hương, sáu vị kia thờ vào một lư hương. Trang trí hai bên chữ "Kỉnh như tại" giống như ở bức bàn thờ thứ hai.

4. Bàn thờ thứ tư: Thờ ba vị tiền khai khẩn ba họ: Hoàng, Phan, Trần và Lê nhị vị quý công (vị hậu khai canh - khai canh thêm một phường Nại Cửu ở vùng trung du thuộc xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Trên tường sau bàn thờ có hai chữ "khai nguyên" (nghĩa là mở một kỷ nguyên mới). Trang trí ở hai bên chữ này giống như ở bàn thờ thứ hai và thứ ba.

5. Bàn thờ thứ năm (bàn thờ cuối cùng ở phía đông): Trên tường phía sau bàn thờ có hai chữ " Khoa hoạn" (nghĩa là đổ đạt làm quan). Ngày trước là: Lịch triều khoa hoạn quan viên trùng tự (có thờ mà không lạy). Thờ những vị đỗ đạt trên con đường khoa cử, làm quan qua các triều đại phong kiến và cả thời hiện đại, biểu hiện của một niềm tôn vinh, tự hào về truyền thống hiếu học. Đó cũng là cách giáo hóa cho các thế hệ hậu sinh noi theo. Hai câu đối bên chữ "Khoa hoạn" là:

"Quang tiên dư hậu võ, văn, toán

Tích tụ kim ba khoa hoạn đạt"

Tạm dịch:

"Rạng rỡ tổ tiên mãi về sau vì võ, văn, toán

Tích tụ truyền đi ánh vàng của khoa bảng làm quan"

Về mặt tổng thể kiến trúc đình Nại Cửu là kiến trúc đối xứng nhau tạo nên sự hòa điệu theo đúng kiến trúc văn hóa phương Đông.

b. Lễ hội Kỳ yên:

Lễ hội kỳ yên ở Nại Cửu đình thực chất là sinh hoạt văn hóa nhằm thỏa mãn khát vọng tinh thần, là cầu mong cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc, là niềm tôn kính hướng về trời đất, hướng về các vị anh hùng có công với nước, các vị khai khẩn lập làng, các vị khai canh, các vị khoa bảng làm rạng danh tổ tiên. Đình Nại Cửu ngày xưa không chỉ là nơi tế tự, hành lễ mà còn là trụ sở để các vị nhân sĩ, trí thức hội họp bàn định kế sách ích nước lợi nhà. Từ ngôi đình làng này, bao thế hệ người dân Nại Cửu đã hun đúc được hồn thiêng của ông cha, nguyên khí trời đất, tinh hoa của văn hóa làng được đúc kết qua các tấm gương hiếu học, tiếp tục đóng góp nhiều công lao cho đất nước.

Như đã nói lễ hội Kỳ Yên ở đình Nại Cửu diễn ra ngày rằm tháng bảy hàng năm. Ngày xưa ban tế lễ gọi là ban "Đại hào tộc biểu", thường gồm các lý trưởng, các tộc trưởng, trùm xóm. Ngày nay ban tế lễ gọi là hội đồng gồm các trưởng họ, đội trưởng sản xuất tiến hành họp để tổ chức các bước lễ và phân công người phục vụ lễ, gồm:

- Chấp sự: gồm hai người đánh chiêng trống (phải là những người đứng đầu làng có uy tín cao)

- Một tự chúc: Là người đọc văn tế

- Một tư văn xướng lễ: Là trưởng ban lễ tế

- Bốn tư xướng: (hai đông xướng, hai tây xướng)

- Sáu tư hiến: ở ba bàn, một bàn hai tư hiến

- 29 đồng hầu: đội múa đèn lúc hành lễ - có một đội trưởng chỉ huy

- 16 cận vệ: (mang các thứ vủ khí giáo mác tượng trưng)

- 4 vị cầm tán để che trên kiệu rước thần

- Một chánh tế được che lọng xanh

- Hai bồi tế được che hai lọng xanh

- Hai chấp sự được che hai lọng xanh

- Một ban nhạc cổ gồm bốn người (một trống, hai kèn, một sao)

Trước chiến tranh làng Nại Cửu có một kiến trúc văn hóa liên quan đến lễ Kỳ Yên này có tên gọi là Nghè, nằm ở Bèng (vùng đất đầu làng Nại Cửu, tiếp giáp với làng Bích Khê, xã Triệu Long), đây là nơi thờ các vị thần đã nói ở trên (phần mô tả đền thờ, nay đã bị chiến tranh tàn phá). Trước khi đi vào tế lễ Kỳ Yên có ba lễ: Lễ cáo giang sơn, Lễ giết bò lợn để cáo trời đất, quỷ thần (cáo tế sanh) ở sân đình. Lễ thứ hai là lễ nghinh thần tiến hành khoảng giờ mùi (2giờ chiều tại Nghè), thành phần tế lễ như trên.

Sau đó, Ban lễ lên tại Nghè để cáo nghinh đánh chiêng trống rước thần về đình. Đi trước thần gồm có ba kiệu, có ba tàn vàng che. Trình tự các kiệu được rước đi như sau:

Kiệu các vị tiền khai khẩn (trong kiệu có bảy bào vị)

Kiệu ngũ hành, Chúa Ngọc hồng nương tiên phi (có năm bài vị)

Kiệu thứ ba gồm hai bài vị (một bài vị sâu và một bài vị cạn), bài vị sâu là "Cao các quảng độ đại vương và Thành hoàng", bài vị cạn là "Thổ thần"

Ba kiệu này được rước đi từ Nghè trong tiếng chiêng, trống, sao, kèn rộn rã trên những nẻo đường của thôn làng Nại Cửu.

Về tới đình, giờ Thân (bốn giờ chiều) ban tế tiến hành tế túc yết (cáo sơ bộ). Lễ vật gồm bò hoặc heo (nguyên con) gọi là tế đại hiến, và chỉ có đình làng Nại Cửu mới được tế đại hiến (Theo ý chỉ của vua Đồng Khánh) còn các đình làng khác thì chỉ được phép tế tiểu hiến (thịt vai) hoặc trung hiến (thịt đầu và bốn móng giò). Ngoài bò hoặc heo ra còn có thêm hương hoa, quả, trầm, trà. Ở am thờ Khổng Tử ngoài sân thì cúng gừng muối.

Lúc "tế túc yết" vị tư chúc đọc bài văn tế có nội dung như sau: (đây là một ví dụ một bài văn tế đình)

"Duy Bảo đại thập bát niên, tuế thứ Nhâm Ngọ thất nguyệt thập tứ nhất (năm thứ 18 thời Bảo Đại, năm Nhâm Ngọ, ngày 14 tháng 7 Âm lịch)

Đại Nam quốc, Quảng Trị tỉnh, Triệu Phong phủ, Bích La tổng, Nại Cửu thôn.

Kim tế chủ, chánh tế cử nhân cập đệ, ngũ phẩm văn giai, hàn lâm viện thị học, bản triều hình bộ tả chủ sự, tiên chỉ Lê châm.

Đồng hương xã, nam phụ lão ấu đẳng. Ngôn niệm, vũ thuận, phong điền, an cư lạc nghiệp nhân kiệt địa linh, bao hàm chi đức. Tư giả bổn nguyệt, khí nhật, thiết lễ cúng tạ thù ân.

Cẩn dĩ hương đăng hoa quả phù lưu, thanh chước bạch soạn, phẩm vật thứ phẩm nghi ghi.

Hữu Cẩn Cung Tiến vu!

Cao các quảng độ gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Bổn thổ tịnh hậu thành hoàng, gia tăng bảo dực trung hưng thượng đẳng thần.

Ngũ hành sắc phong tán hóa, mặc vận thuận thành. Điều tư tương nguyên trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Chúa ngọc sắc phong nhàn uyển gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Cai trì nam dương hầu Hoàng tôn thần

Cai tổng hùng thắng bá Phan tôn thần, bổn thổ chi thần.

Lục tộc tiền khai khẩn Lê, Nguyễn, Võ, Hoàng, Phan, Trần sắc phong linh phù bảo ứng đại lang tôn thần.

Đinh gia hậu khai canh. Lê nhị vị quý công

Thị tùng nhất thiết, tả hữu chư vị thị vệ quí nhân. Phúc nguyện hoàng thiên giáng phước, phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng, hậu thổ thi ân giáng miên miên bất tận. Hương dân thanh cát, trưởng ấu hòa bình. Trụ đông, tây, nam, bắc chi tài; nạp xuân, hạ thu đông chi lợi.

Ngưỡng lại tôn thần phò trừ chi gia huệ giả.

Cẩm cáo!"

Tạm dịch:

"Năm thứ 18, Triều Bảo Đại, năm Nhâm Ngọ, ngày 14 tháng bảy

Nước Việt Nam, tỉnh Quảng Trị, phủ Triệu Phong, tổng Bích La, thôn Nại Cửu.

Nay chủ trương tế, ngài chủ tế là Cử nhân hàm ngũ phẩm văn giai, chức này của Triều đình, làm trưởng phòng của Bộ hình là tiên chỉ Lê Châm.

Cùng với dân làng già trẻ. Nghĩ rằng mưa thuận, gió hòa, an cư lạc nghiệp, người giỏi đất thiêng là do cái đức của đất trời. Nghĩ vậy, tháng này bày lễ cúng tạ báo ân.

Kính dâng hương, đèn, hoa, quả, cau trầu, nước trong, đồ giấy, các loại phẩm vật không đáng kể để làm nghi lễ.

Kính cẩn cúng lên!

Thần cao các tên Quảng Độ (thời Lê Huy Tông) ban sắc phong là thượng đẳng thần.

Ngài thần hoàng tên là Tịnh Hậu được phong là thượng đẳng thần.

Năm vị tên ngũ hành cũng được phong là thượng đẳng thần.

Chúa ngọc (Huyền Trân Công Chúa) cũng được phong là thượng đẳng thần.

Hồng nương tiên phi (vú nuôi Huyền Trân Công Chúa) được phong thượng đẳng thần.

Ngài cai trị nam dương được phong thần.

Ngài cai tổng Hùng thắng bá được phong thần.

Sáu ngài khai khẩn sáu họ được phong thần.

Ngài họ Đinh là hậu khai canh.

Hai vị khai canh họ Lê (khai canh phường Nại Cửu thuộc xã Triệu ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).

Đi theo các vị thần có tả hữu các ngài thị vệ.

Trời ban phước xuống thì phước còn mãi mãi, đất làm ơn thì ơn đất cũng mãi mãi không hết. Dân làng trong sạch, già trẻ hòa bình, nhận được tiền tài bốn phương đưa lại và thu hoạch đều được cả bốn mùa.

Cúi mong các vị tôn thần giữ gìn và gia ơn.

Kính cẩn cáo nghênh!

Sau khi đọc văn tế xong, chánh tế và bối tế vái lạy, khấn nguyện trước ba bàn thờ thứ hai, thứ ba, thứ tư (tức hai bàn thờ lục tộc và một bàn thờ 11 vị thần) còn bàn thờ phía đông và phía tây không lạy. Tiếp theo chánh tế và bồi tế, dân làng lần lượt vào ba bàn thờ trên để vái lạy với tất cả sự tôn nghiêm và thần kính.

Sau tế Túc yết, ban nhạc cổ tấu nhạc các điệu “Lưu Thủy, Hành Vân, Kim Tiền hoặc cổ bản”, đồng thời đội đồng hầu 29 người dưới sự chỉ huy của một đội trưởng, mổi người cầm hai đèn hoa sen vừa múa, vừa hát một bài hát có tên “Giang sơn cẩm tú”: “Nại Cửu giang sơn cho được lâu dài, tối sớm hôm mai dân cư, dân cư được no ấm, tiền của đầy vơi, bình an vô sự, sinh sự mặc ai, mặc ai. Nay sĩ tử mở mắt với đời theo kịp với người rõ mặt trai, mặt trai, đèn văn minh soi khắp mọi nơi. Ơn vua là vua nợ nước, trên nhờ thần thánh phòng dữ ách tai, ách tai, sinh sự mặc ai, mặc ai”. Nội dung bài hát ca ngợi đức tính kiên trì, nhẫn nại của người dân làng Nại Cửu.

Trang phục của đội đồng hầu này là áo dài, quần trắng, thắt lưng bằng lụa năm sắc còn bắt chéo qua vai, chân quấn xà cạp, đầu đội khăn màu đỏ. Trong quá trình múa và hát giữu điệu hành vân, lưu thủy như mây trôi nước chảy, đội đồng hầu múa và sắp thành tầng nhà lầu (nhiều tầng người chồng lên nhau thành nhiều thang bậc) rồi toả xuống lộn hàng xà (lộn qua lộn lại), tiếp đến là chạy khu ốc lớn nhỏ (chạy theo hình trôn ốc rồi sắp thành bốn chữ “Thiên hạ thái bình” bằng chữ Hán. Lúc này ở trước hồ sen của đình làng có đốt pháo hoa làm cho đêm tế lễ càng lung linh, kỳ ảo và thiêng liêng.

Về khuya dân làng tập trung trước sân đình thi hò giả gạo, bên xướng bên hò đến là náo nhiệt để chờ đến giờ Tý, ban tế vào điện “tế tạ” triệt soạn lễ tất.

Trình tự tế gồm các bước như sau:

- Xướng thị lập (tất cả đều đứng dậy)

Chấp sự giã các tư kỳ sự, tế viên dự chấp sự giả, các nghệ quán tại sở (Các người đến chổ rữa tay)

- Quán tẩy (rữa tay)

- Thuế cân (lau tay)

- Khởi chinh cổ (đánh chiêng, trống).

- Cũ soát tế vật (soát lại lễ vật)

- Ế mao huyết

- Tả hữu hiến các tự vị (các vị hai bên tả hữu vào chổ)

- Bồi tế viên tự (chỉ vị bồi tế)

- Trung hiến tự vị (chỉ lễ trung hiến)

+ Chánh tế viên tự vị (chỉ vị chánh tế)

+ Phần hương, nghệ hương án tiền (đối hương ở tiền án)

+ Quì

+ Phần hương (đốt hương)

+ Thượng hương (đưa hương lên)

+ Phủ phục

+ Hương bái (hai lần cầm hương bái)

+ Hưng (đứng lên hai lần)

+ Bình thân phục vị (về tại chổ cũ)

+ Nghinh thần cúc cung bái (bái nghinh thần một cách cung kính)

+ Hưng (lạy bốn lạy)

+ Bình thân

- Hành sơ hiến lễ (chuẩn bị lễ sơ hiến)

+ Tế viên các nghệ thần vị tiền

+ Các hiến chước tửu (rót rượu)

+ Cử thủ hoành mi (nâng ly rượu lên ngang mày), (lúc này trống chiêng đổ hồi).

+ Tấn tước (đi chân chữ bát-các hiến)

+ Giai quì (quì vái một vái rồi đứng dậy)

+ Hiến tước (đặt rượu lên bàn thờ)

+ Các hiến hồi vị (các hiến về chổ)

+ Phủ phục (Hưng bái hai lần)

+ Bình thân

+ Phục vị

Xướng tiếp:

+ Độc chúc, nghệ đọc chúc vị (chỉ ba ông chánh tế)

+ Độc chúc viên nghệ giá chúc vị

+ Chuyển chúc (lấy văn trên bàn thờ xuống)

+ Giai quì

+ Đọc chúc (đọc văn tế)

+ Hoàn chúc (đặt văn lại trên bàn thờ)

+ Đọc chúc viên hồi vị (vị đọc văn về chổ)

+ Phủ phục

+ Hưng bái (hai lần, hai lạy)

+ Bình thân

+ Phục vị

- Hành á hiến lễ, hành chung hiến lễ (hai lễ này cũng gồm những bước như sơ hiến lễ)

Phần lễ tạ:

+ Ẩm phước nghệ ẩm phước vị (chỉ một mình chánh tế)

+ Quì

+ Ẩm phước (lấy một chén rượu đưa chánh tế uống)

+ Thụ tộ (ăn một lát thịt vai họăc cau trầu)

+ Phủ phục

+ Hưng bái (hai lần)

+ Bình thân

+ Phục vị

+ Tiến trà (dâng trà)

+ Tống thần cung bái (lễ bái tiển các thần)

+ Hưng (bốn lạy)

+ Bình thân

+ Phân bái

Xướng tiếp

+ Hương trưởng

+ Quan viên chức sắc

+ Lão hàm

+ Lão dân

+ Ba hạng

(mời các vị thuộc thành phần trên vào lạy)

+ Phục vị

+ Lễ từ cúc cung bái (bốn lạy)

+ Bình thân

Phần bạch soạn ( đốt vàng và văn sớ)

+ Triệt soạn (hạ đưa)

+ Lễ tất (hết lễ)

Lễ hội Kỳ Yên ở đình Nại Cửu cứ ba năm mới tế to một lần còn các năm khác thì tế thường (tế chay), lễ vật cũng đơn giản chỉ là hương, hoa, trầm, trà, rượu, hoa quả mà thôi. Ngày xưa sau đêm lễ có rất nhiều trò chơi như thi thổi cơm, thi đua thuyền, thi chọi trâu, hội thi chọi gà, hội thi kéo co, thi bơi trãi, thi vật, thi cày, thi cuốc đất khô…

Hội thi thổi cơm dành cho phụ nữ có con nhỏ dưới một năm tuổi. Người phụ nữ này là đại diện xuất sắc đã qua vòng sơ tuyển của xóm. Trước lúc đi vào cuộc thi, ban tổ chức vạch sẳn một vòng tròn cho từng người (đường kính vòng tròn khoảng một mét), chính giữa tâm vòng tròn có cắm một cọc. Người ta dùng một sợi dây dài hơn một mét buộc một đầu vào cọc, còn đầu kia buộc vào một con cóc khoẻ. Bước vào cuộc thi, người phụ nữ một tay vừa bồng con dại đang khóc vì đói sữa, tay kia giữ cho con cóc không nhãy ra khỏi vòng tròn, đồng thời tiến hành thổi một nồi cơm nếp ở trong niêu đất đun bằng rạ (sau này thì bằng bã mía). Người nào nấu xong nồi cơm nếp chín trước mà con cóc không nhãy ra khỏi vòng tròn, người đó thắng cuộc. Hội thi này thể hiện tính đảm đang, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ trong việc nội trợ gia đình.

Hội thi đua thuyền thì gồm một xóm một chiếc ghe trang trí kiểu thuyền rồng. Mỗi thuyền gồm chín thanh niên mạnh khoẻ, quen sông nước, trong đó có một thuyền trưởng cầm lái, còn lại tám người cầm bơi chèo. Trang phục của các đội không giống nhau, tuỳ theo sở thích thiết kế. Khi nghe tiếng trống, các đội dàn hàng ngang từ điểm xuất phát bước vào cuộc đua. Ai về đích trước thì thắng cuộc.

Hội thi chọi trâu thì chọn khoảnh đất bằng phẳng có dựng hàng rào bao quanh kiên cố. Những con trâu được chọn vào cuộc đấu là những con trâu đực to khoẻ, bộ sừng vuốt hình vòng cung được chuốt nhọn ở đầu sừng. Khi nghe tiếng lệnh, hai chủ trâu sẽ thả trâu của mình ra đấu trong ba hiệp; trống thúc liên hồi, tiếng cổ vũ náo nhiệt, để kích thích sự hăng máu của chúng. Con trâu nào thắng hai hiệp thì thắng cả trận, nếu hoà hai hiệp đầu thì vào chung kết.

Hội thi chọi gà cũng lắm công phu. Trước ngày vào hội, các chủ gà thường săn sóc gà chọi rất kỹ lưỡng cho nó ăn, tẩm bổ chế độ cao, dùng rượu có pha mã tiền nắn bóp đầu, ức và đôi chân, cựa gà được vuốt nhọn và thường có những cuộc đấu tập dợt để rèn cho nó tính can đảm, khả năng chịu đòn cao. Thể lệ thi đấu cũng đơn giản, một vòng tròn được vạch ra, hai chú gà đấu ở vòng tròn đó, con nào ra khỏi vòng coi như thua.

Bên cạnh những hội thi trên có một số hội thi khác như thi kéo co, thi vật, thi cày, thi cuốc đất khô… nhưng ngày nay do hoàn cảnh sống có những đổi thay nên những trò chơi ấy không được duy trì nữa, và chúng tôi không thể kể hết ra đây được. Đây quả là điều đáng tiếc vì những cuộc thi này không chỉ nhằm giải trí, giải toả những mệt nhọc sau những ngày tháng lao động vất vả của người dân mà còn là sự giao lưu trí tuệ, tình cảm con người, cố kết thêm mối quan hệ cộng đồng bền vững.

Lễ hội Kỳ Yên trước hết là một tín ngưỡng, thể hiện niềm khát vọng về một cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc. Nó cũng phản ánh một đời sống tâm linh hết sức phong phú của dân làng Nại Cửu đúc kết thành một chữ đạo với tất cả ý nghĩa nhân bản nhất của từ này: thành kính, hướng vọng về tổ tiên, về cội nguồn khởi phát làng, biết ơn những vị anh hùng có công với quê hương, đất nước, kính trọng và sùng bái những vị khoa bảng mang lại tiếng thơm muôn thưở làm rạng danh hậu thế. Lễ của làng chắc chắn sẽ thấm sâu vào máu thịt từng con người biến thành chữ lễ trong bản thân họ, một phẩm chất không thể thiếu được trong “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) mà đạo đức học phương Đông đã dạy. Hơn thế nữa, lễ hội Kỳ Yên này còn là một sinh hoạt văn hoá tinh thần lành mạnh làm phong phú thêm bản sắc con người làng Nại Cửu giúp họ vững tâm hơn trước sóng gió cuộc đời, chống lại một cách có hiệu quả nguy cơ của những sản phẩm văn hoá độc hại, tư tưởng lai căng sùng ngoại, lối sống thực dụng từ trong mặt trái của cơ chế thị trường.

Đất nước ta ở vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đang ở trong quá trình mở cửa, giao lưu, hội nhập với văn hoá thế giới thì vấn đề khôi phục và giữ gìn một lễ hội dân gian với tất cả những yếu tố tích cực của nó là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, nhân bản và đó chính là một trong những cách để bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ Kỳ Yên ở đình Nại Cửu hàng năm cứ được diễn ra, từ đây biết bao con người của thôn làng Nại Cửu đã thành danh trên nhiều lĩnh vực và hàng năm vào ngày rằm tháng bảy dù ở đâu, bận rộn công việc gì cũng đều cố gắng tìm về cuội nguồn, thắp nén nhang cầu nguyện trước bàn thờ tổ tiên. Đó cũng chính là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam ta. Vì thế, đứng về phương diện văn hoá học, lễ hội Kỳ Yên ở đình làng Nại Cửu là nên duy trì và phát triển những yếu tố tích cực của nó, vì đó là niềm tin, niềm khát vọng hết sức trong sáng của dân Nại Cửu và cũng rất phù hợp với đường lối văn hoá mới của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên ở đây phần lễ thì nhiều nhưng phần hội hầu như không còn, nên chăng cần khôi phục các trò chơi như đã nói trên và có thể thêm phần sinh hoạt văn nghệ quần chúng sau khi hành lễ để góp phần phong phú và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần người dân.

Trần Quang và Lê Văn Hà

Nguyễn Hồng Hiến (người làng Nại Cửu) gởi đăng.
chuyenluan2008@yahoo.com
READ MORE - LỄ HỘI KỲ YÊN Ở ĐÌNH LÀNG NẠI CỬU - Trần Quang và Lê Văn Hà