Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 14, 2025

BAO LA, MÊNH MÔNG, BÁT NGÁT GIỐNG VÀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? La Thụy sưu tầm và biên tập

 

BAO LA
 
Chúng ta thường dùng “bao la” để chỉ thứ gì đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”“biển rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rõ.
 
Thực tế, “bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
 
Nói đến không gian rộng lớn, ta còn có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ, lo buồn" (xem Tiếng Việt ân tình, tập 1)
Tóm lại, “bao la” là một từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.
                                                                                Lê Trọng Nghĩa
 
Bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.

*
Phiếm luận của La Thụy:
 
Từ định nghĩa trên, tôi liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga(Ω), là Khởi nguyên và là Cùng tận!”
Điều này nói lên rằng Vua Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ này, Người đã hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.
Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.

MÊNH MÔNG
 
Mênh mông   (chữ Nôm):  rộng lớn đến mức như không có giới hạn
Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có MÊNH chữ Nôm, không có MÊNH chữ Hán
Có 5 kết quả về MÊNH chữ Nôm đều nói về “mênh mông”
 mênh •  mênh •  mênh • 𣷠 mênh • 𫸏 mênh

MÔNG (chữ Nôm) 

Cả MÊNH và MÔNG chữ Nôm, mỗi từ không có nghĩa riêng biệt, đều chỉ về MÊNH MÔNG

MÔNG (chữ Hán) có đến 20 kết quả và nhiều nghĩa khác nhau, tôi thấy có chữ Hán có thể có ý nghĩa liên quan đến chữ “bao”  trong “bao la” đó là:
MÔNG 蒙 (chữ Hán): Che, đậy, trùm.
 
Phiếm luận của La Thụy:
 
Như vậy MÊNH MÔNG là từ thuần Việt từ láy âm đầu, và là từ láy tượng hình có nghĩa “rộng lớn đến mức như không có giới hạn”

Vd:
đồng ruộng mênh mông
"Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!"
                                        (Ca dao)
 
BÁT NGÁT
 
Bát ngát 叭兀 (chữ Nôm):
Đây là một từ thuần Việt, có nghĩa là rộng lớn, mênh mông, vượt xa tầm nhìn của con người
- Tra chữ Hán thì BÁT có đến 32 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, nhưng tôi không tìm thấy ý nghĩa nào có liên quan đến “sự rộng lớn”
- Tra chữ Nôm thì BÁT có đến 17 kết quả với những ý nghĩa khác nhau, trong đó có  được dùng với “bát ngát”
Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có NGÁT trong chữ Nôm, không thấy có NGÁT trong chữ Hán.
Có 6 kết quả về “ngát” chữ Nôm đều nói về “bát ngát” hoặc “thơm ngát”
 ngát •  ngát •  ngát • 𠯪 ngát • 𠿸 ngát • 𬳜 ngát

 Cả "bát" hoặc "ngát" riêng biệt đều không có nghĩa cụ thể.

Trang “Tiếng Việt giàu đẹp” viết:
 
“Ngày nay, hầu hết chúng ta đều dùng “bát ngát” với nghĩa là “rộng lớn, mênh mông”. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cũng giảng: “Bát ngát: Rộng lớn đến mức tầm mắt không bao quát hết được. Cánh đồng bát ngát. Bốn bề bát ngát”. Ít ai biết được rằng, từ này xưa kia vốn được dùng với nghĩa hoàn toàn khác.
 
Từ điển từ cổ của Vương Lộc giảng: “Bát ngát: Ở trạng thái lo buồn, thương nhớ dai dẳng, bâng khuâng”. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của ghi chép ngắn gọn hơn: “Bát ngát: Lo xa, lo buồn nhiều nỗi”. Từ điển Việt - Pháp của J. F. M. Génibrel cũng đồng tình: “Bát ngát: U sầu, lo âu, nghĩ ngợi”.
 
Các tư liệu này không hề giảng sai. Bằng chứng là sắc thái “lo âu, thương nhớ” của “bát ngát” đã xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm văn học xưa, chẳng hạn:
 
“Bát ngát mặt ngừng chau giọt ngọc,
Dùng dằng chân ngại bước đường mây”
(Hồng Đức quốc âm thi tập, Nhân đạo, bài 34)
 
“Cảnh li biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi”
(Ai tư vãn, câu 145, 146)
 
“Bát ngát thay cành hoa trôi nước,
Chiếc nhạn về nam”.
(Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế chị)
 
Như vậy, rõ ràng “bát ngát” xưa kia vốn được dùng với nghĩa lo buồn, thương nhớ. Và có lẽ từ đó mới hình thành nên cụm “bát ngát mênh mông” là cảnh vật rộng lớn, hiu buồn. Chắc hẳn do lưu truyền trong dân gian, “bát ngát” dần bị mất nghĩa, và do thường đặt cạnh “mênh mông” nên người ta đã hiểu từ này thành “rộng lớn”.
                                                                          (Tiếng Việt giàu đẹp)
 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=4122771034467773&id=296435410434707&set=a.4352358648175676
 
Phiếm luận của La Thụy:
 
Sự rộng lớn đến mức như không có giới hạn của “mênh mông” và “bát ngát”, làm tôi liên tưởng tới từ ngữ “vô thủy vô chung”
 
Vô thủy: không có điểm bắt đầu.
Vô chung: không có điểm kết thúc.
 
Cụm từ "vô thủy vô chung" có hàm ý chỉ những điều vô cùng vô tận, không có điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc. Tôi liên tưởng đến chữ ĐẠO  của Lão Tử
 
Theo Đạo Đức Kinh:

“Đạo là Nguồn gốc của Vũ Trụ. Vì nó là một cái gì Lớn tuyệt đối nên mới nói: “nghinh chi nhi bất kiến kỳ thủ, tùy chi nhi bất kiến kỳ hậu” 迎之不見其首隨之不見其後 
(Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi). Tức là “vô thủy vô chung” 無始無終 vậy.”
 
 Cụm từ "vô thủy vô chung"  làm tôi liên tưởng đến Phật giáo

Cụm từ này đồng nghĩa: Vô lượng vô biên 無量無邊
Chỉ PHẬT, theo tín ngưỡng, là không đếm được, không có giới hạn.
 
Như vậy, BAO LA là từ ghép Hán Việt,  nhưng MÊNH MÔNG và BÁT NGÁT là từ láy thuần Việt. Chúng có ý nghĩa gần giống nhau, nhưng vẫn có điểm khác biệt. 
Kỳ sau, nếu có thời giờ, chúng ta sẽ thử so sánh chúng với các từ "bạt ngàn""ngút ngàn" nhé!

                                                         
La Thụy sưu tầm và biên tập

READ MORE - BAO LA, MÊNH MÔNG, BÁT NGÁT GIỐNG VÀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? La Thụy sưu tầm và biên tập

Saturday, December 13, 2025

CHÙM LỤC BÁT VĂN ĐOÀN (NGUYỄN VĂN DÒA) - Hồn quê / Trằm Trà Lộc - Lá phổi xanh / Biển Cửa Tùng - Thiên đường biển xanh / Thánh địa Đức Mẹ La Vang /

Nhà thơ Văn Đoàn (Nguyễn Văn Dòa)

 


HỒN QUÊ

 

Trăng lên chiếu rọi sân nhà

Gió đưa nhè nhẹ ngân nga câu hò

Ngoài đồng lúa trổ vàng no

Hương thơm ngào ngạt gọi đò sang sông

 

Nhớ ai tóc xõa bềnh bồng

Bờ vai nghiêng nắng, má hồng thẹn thùng

Trưa hè ve hát tưng bừng

Tiếng quê quen thuộc muôn vùng thiết tha

 

Mẹ ngồi đan áo hiên nhà

Cha chăm luống đất mặn mà tình thân

Dòng sông nước chảy trong ngần

Chở bao ký ức một lần nhớ thương

 

Chiều về nắng tắt bên đường

Khói lam bảng lảng vấn vương quê mình

Ước mơ đất nước thanh bình

Nhân dân no ấm thắm tình quê hương.


 

TRẰM TRÀ LỘC – LÁ PHỔI XANH

 

Trà Lộc trằm biếc giữa trời,

Miền quê cát trắng một thời hoang vu.

Ngàn năm rừng thẳm mịt mù,

Nay thành báu vật thiên thu ban dành.

 

Cây xanh che mát trời xanh,

Nước trong soi bóng long lanh nắng chiều.

Chim muông ríu rít sớm chiều,

Bầy cò sải cánh phiêu diêu giữa trời.

 

Mỗi mùa thu hoạch khắp nơi

Phá trằm lễ hội tiếng cười rộn vang.

Nước xưa xả bớt nhẹ nhàng,

Lòng hồ cải tạo, cá càng sinh sôi.

 

Hè về du khách khắp nơi,

Tìm về sinh thái vui chơi thỏa lòng.

Mát lành rợp bóng cây cong,

Nước trong gió mát thong dong dập dềnh.

 

Giữ gìn rừng thẳm tươi xanh,

Cho quê hương mãi an lành đẹp tươi.

Trà Lộc – báu ngọc rạng ngời,

Muôn đời lá phổi xanh trời quê hương...


 

BIỂN CỬA TÙNG – THIÊN ĐƯỜNG BIỂN XANH

 

Cửa Tùng sóng vỗ dịu êm,

Biển xanh cát trắng bên thềm nắng mai.

Trời trong không chút mây dài,

Gió mang hương biển trải hoài mênh mông.

 

Bazan đất đỏ ven sông,

Cát ôm bờ đá, lượn vòng biển khơi.

Mũi Si, Mũi Láy xa vời,

Như vòng tay lớn ôm trời bao la.

 

Ngày hè nắng rót chan hòa,

Biển xanh mát rượi gọi ta ghé gần.

Dịu dàng sóng vỗ tần ngần,

Nhẹ ru câu hát, ân cần thiết tha.

 

Du khách về với quê nhà,

Đắm trong cảnh sắc chan hòa trời mây.

Thịt trâu xào lá trơn cay,

Hải sản tươi ngọt, lòng đầy vấn vương.

 

Cửa Tùng một cõi thiên đường,

Ai qua một chuyến vấn vương suốt đời.

Về đây tắm biển thảnh thơi,

Hòa trong gió biển rạng ngời niềm vui...

 

 

 THÁNH ĐỊA ĐỨC MẸ LA VANG

 

La Vang thánh địa sáng ngời,

Đức Mẹ hiện đến, lòng người kính tin.

Năm xưa bức hại điêu linh,

Giáo dân lánh nạn giữa miền hoang vu.

 

Lá vằng nước suối sương mù,

Cứu người lữ khách, bệnh thù tiêu tan.

Bóng đa che chở bình an,

Mẹ hiền hiện giữa muôn vàn khổ đau.

 

Lời vàng khuyên bảo thâm sâu,

Ai nương nhờ Mẹ, nhiệm màu ơn thiêng.

Cúi đầu cầu khẩn lòng riêng,

Mẹ luôn đoái đến, lời nguyền chẳng sai.

 

Thời gian xây đắp hình hài,

Nhà thờ đồ sộ tầm vai đất trời.

Đoàn người hành lễ xa xôi,

Về đây cầu khẩn, nguyện lời kính dâng.

 

Trăng soi đồi núi xa gần

Chuông ngân vọng mãi từng tầng trời cao.

Mẹ ban phép lạ dạt dào,

Muôn người lương – giáo, đồng bào an vui.

 

La Vang thánh địa uy nghi,

Tháp chuông cổ kính khắc ghi tháng ngày.

Chiến tranh bom đạn tàn bay,

Vương cung dấu tích vẫn đây muôn đời.

 

Nhà thờ mới giữa mây trời,

Màu xanh thánh thiện rạng ngời không gian.

Mẹ hiền che chở muôn ngàn,

Yêu thương nhân thế, chứa chan ân tình.

 

Linh Đài Đức Mẹ hiển vinh,

Cây đa hình tượng lung linh nhiệm màu.

Mẹ ôm con cái nguyện cầu,

Cứu qua nổi khố , bể dâu an lành.

 

Quảng trường rộng lớn bao quanh,

Giếng xưa nước mát, tượng thành khắp nơi.

Phù điêu chạm khắc rạng ngời,

Ngợi ca Thiên Chúa sáng soi muôn trùng.

 

Ba năm một hội kiệu bưng,

Người người cung kính hành hương mấy ngày

Mẹ ơi ban phước tràn đầy,

Dắt dìu nhân thế dựng xây nghĩa tình.

 

Nguyện cho đất nước thanh bình,

Nhà nhà no ấm, dân sinh đẹp đời

Vương cung thánh địa rạng ngời,

La Vang lưu dấu ngàn đời không phai...

 

 

Văn Đoàn

nguyenvandoa51@gmail.com

READ MORE - CHÙM LỤC BÁT VĂN ĐOÀN (NGUYỄN VĂN DÒA) - Hồn quê / Trằm Trà Lộc - Lá phổi xanh / Biển Cửa Tùng - Thiên đường biển xanh / Thánh địa Đức Mẹ La Vang /

CHỌN CHỒNG - Truyện ngắn Hoàng Thị Bích Hà

   



CHỌN CHỒNG

Truyện ngắn

Hoàng Thị Bích Hà


Nguyễn Thị Mì sinh ra ở một vùng quê nghèo. Cha mẹ quanh năm vất vả, ruộng đồng cằn cỗi nhưng vẫn chắt chiu từng đồng cho con ăn học. Nhờ chăm chỉ và quyết tâm, Mì thi đỗ vào Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng - cánh cửa lớn đầu tiên mở ra trước cuộc đời cô gái thôn quê.

Mì mang nét duyên thầm sở hữu khuôn mặt trái xoan thanh tú, nụ cười trong trẻo, đôi má hồng phơn phớt, làn da trắng mịn và dáng người mềm mại, nữ tính. Giữa giảng đường đông đúc, nàng nổi bật như một nhánh lan rừng lạc vào phố thị.

Trần Văn Việt-lớp trưởng, cũng đến từ một miền quê. Chàng học giỏi, cao ráo, gương mặt sáng sủa, phong thái điềm đạm. Hai người đến với nhau tự nhiên như hơi thở, kết thành cặp đôi đẹp nhất nhì lớp. Bạn bè trầm trồ khen, thầy cô cũng mỉm cười ngầm thừa nhận. Họ đi bên nhau, vừa đẹp đội hình, vừa đúng nghĩa “nam thanh nữ tú”. Những ngày tháng sinh viên, họ dìu nhau trong học tập, chia nhau từng bữa cơm bụi, từng buổi tối học nhóm dưới ánh đèn vàng hiu hắt. Ai cũng nghĩ tình yêu ấy bền như sam, khó gì chia lìa.

Cho đến một buổi chiều.

Buổi chiều gió từ sông Hàn thổi lên, mang theo hơi nước mát lạnh, làm hai hàng cây ven đường xao xác lá. Mì sang chơi nhà một người bạn ở xóm trọ quận Liên Chiểu. Bên cạnh dãy phòng trọ chật hẹp, một căn biệt thự hiện đại hiện ra sừng sững, cổng sắt cao, sân lát đá sáng bóng. Mì đứng lặng, ngước nhìn, trong lòng bỗng dâng lên một cảm giác vừa ngỡ ngàng vừa khao khát.

“Biệt thự đẹp quá… hiện đại quá! Ước gì mình được sống ở nơi như thế này…”

Nàng còn đang mải mê ngắm thì Liên- bạn nàng chạy ra, cười xòa:


-Ngắm nhà đẹp à? Gắng học đi, mai mốt đi làm kiếm tiền xây một căn giống vậy!

Hai đứa vào phòng. Trong câu chuyện râm ran, Mì nghe Liên kể về chủ nhà trọ – một gia đình giàu có. Bà Bạch Phê làm ngân hàng, còn ông Lê Bê là một sếp lớn trong ngành tài chính, phụ trách khu vực miền Trung. Gia đình có một cậu con trai cả tên Lê Viết Kê, vẫn chưa lập gia đình.

Từ đó, Mì thường xuyên qua chơi với Liên hơn. Có khi còn ở lại qua đêm. Một hôm, bà Phê sang thu tiền trọ, thấy Mì đang trò chuyện cùng Liên. Bà hỏi han vài câu, biết Mì là sinh viên Đại học Kinh tế, lại xinh xắn, lễ phép, nói năng nhẹ nhàng. Trong bụng bà chợt nảy ra một ý nghĩ: Con bé này mình chấm làm dâu mình được nè! Từ đó bà nhắm Mì cho đứa con trai của mình. Bà biết con bà hơi biếng, nếu bà không ra tay, con trai bà khó có vợ.

Gia đình bà Bạch Phê chỉ có một cậu con trai duy nhất - “hũ mắm đầu giàn”. Hai cô con gái đều lanh lợi, học hành đến nơi đến chốn, đã đi làm và yên bề gia thất. Riêng Viết Kê thì chậm nhất nhà, học hành chểnh mảng. Gia đình đã cố gắng hết cách rồi! Nào là thuê thầy dạy kèm từng môn một nhưng cậu lười lắm, học không vô. Cuối cùng, cậu bỏ học khi chưa xong lớp 9. Ông bà thương con nhưng cũng buồn lòng. Trong thâm tâm bà luôn để ý tìm vợ cho con mình. Gặp Mì, bà rất vừa ý.

Bà khéo léo mai mối, dò hỏi. Còn Mì, thấy bà chủ nhà quý mến mình, lòng nàng cũng nhanh chóng tính toán. Một ý nghĩ hiện lên rõ ràng: Làm dâu nhà này thì đời mình sẽ khác. Giàu có, chức quyền, công việc- tất cả như đã được bày sẵn trước mắt. Việc xin cho nàng một chỗ làm ổn định, với gia thế ấy, chỉ là chuyện trong tầm tay. Bà Phê rủ Mì về nhà chơi. Bước chân vào căn biệt thự, Mì choáng ngợp trước nội thất sang trọng, ánh đèn vàng ấm áp, những món đồ đắt tiền bày biện khắp nơi. Nàng thấy Viết Kê từ trong nhà bước ra: người hơi thấp, đậm, gương mặt hiền lành nhưng không có nét điển trai, phong độ như Trần Văn Việt.

Mì khẽ tặc lưỡi trong lòng:
Thôi kệ! Đời có luật bù trừ. Người ta không đẹp, không giỏi thì người ta giàu. Còn mình và Việt, hai đứa tay trắng, biết bào giờ mới khá! Mới có được cơ ngơi thế này…

Bà Phê rũ nàng qua dùng cơm, những bữa cơm thịnh soạn, những lần bà Bạch Phê dẫn nàng ra phố sắm vòng vàng, bông xuyến, bà cho nàng chọn. Bên cạnh đó ông bà cũng nhắm cho Mì một chỗ làm, sẽ gửi cô con dâu tương lai vào làm kế toán ở công ty xổ số kiến thiết trong thành phố. Mọi thứ diễn ra nhanh đến mức Mì chưa kịp suy nghĩ sâu. Đám cưới được ấn định vào cuối năm thứ ba đại học.

Còn Viết Kê với trình độ lớp 9, vợ đại học, cảm thấy chênh lệch quá nên để “xứng đôi”, gia đình cho Kê đi học bổ túc văn hóa, rồi học đại học tại chức, sau đó xin cho vào quân đội, hưởng lương quân nhân chuyên nghiệp.

Mì lặng lẽ rời xa Trần Văn Việt. Nàng bỏ lại chàng lớp trưởng đẹp trai học giỏi, từ giã những buổi hẹn hò lãng mạn. Những buổi họ bên nhau tay trong tay, những lời hứa hẹn ngày sinh viên… tất cả khép lại khi nàng bước lên xe hoa. Việt đau, rất đau. Nhưng nỗi đau ấy dần lắng xuống.Trong nỗi nghèo mất vợ là bài học đầu đời chàng nhận được. Đó cũng là lý do để cho chàng có chí khí vươn lên với lời hẹn âm thầm trong lòng được khắc sâu: Năm năm, mười năm nữa chàng sẽ là ai và như thế nào, hãy đợi đấy!

Ai dúi vào tay chàng một bài thơ sau. Chàng đọc xong gấp lại, và đi về phía giảng đường.


Đôi mình đôi tình nhân

Vẫn trai tài gái sắc

Anh điển trai, học giỏi

Nhánh lan rừng là em

 

Chúng mình từng yêu nhau

Vâng em hiểu điều đó

Nhưng duyên mà không phận

Chúng ta đành chia phôi

 

Chúng ta từng yêu nhau

Cưới lại là chuyện khác

Trong tay không cắc bạc

Tương lai biết về đâu

 

Em đi lấy chồng đây

Quên em đi anh nhé

Em đã tìm bến đỗ

Lo cho mình ấm thân.

 

Ngày, 12/12/2025

Hoàng Thị Bích Hà

  habich1963@gmail.com

READ MORE - CHỌN CHỒNG - Truyện ngắn Hoàng Thị Bích Hà

Friday, December 12, 2025

ĐỌC "THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU - Châu Thạch

  
    


THEO MỘNG TA VỀ
 
Ta thấy ta từ Sông Núi cũ
Trôi như con suối biệt xa nguồn
Rơi như chiếc lá không về cội
Chạm tới vô biên những nỗi buồn!
 
Trôi đ! Như thể chim lìa tổ
Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi
Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi
Búc ruột mà đi… hỡi Đất Trời!
 
Ta đi như trốn ta vào núi
Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi
Đốt than nửa gánh ta vào chợ
Nửa gánh “Hoàng hoa” sưởi mộng đời
 
Ta đi! như bóng ma lìa xứ
Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ
“Dâu biển” tang thương sông núi hởi!
Khúc tàn chinh lệ hóa thành thơ
 
Rồi mai! Gửi xác bên trời vắng
Đất lạ hồn linh cũng dật dờ
“Theo mộng ta về” Sông Núi cũ
Quê mẹ xanh rờn những giấc mơ.
  
                        Long Khánh 1994
                         Vũ Đức Tô châu
  
ĐỌC ‘THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU
                        Châu Thạch
 
Mộng là một giấc mơ, một giấc chiêm bao trong khi ngủ. Ngoài ra mộng còn có ý nghĩa là một mơ tưởng, một ước vọng, mong muốn hay hoài bảo thành hiện thực một vấn đề gì đó. “Theo Mộng Ta Về” là cụm từ xuất hiện trong ngữ cảnh văn học, thường để diễn tả hành trình trở về cội nguồn tìm lại cảm hứng tình yêu và tâm hồn mình. Bài thơ “Theo Mộng Ta Về” của Vũ Đức Tô Châu là giấc mộng không quay lại quê hương, nhưng  lại mộng thấy thuở mình bỏ quê hương ra đi lưu lạc. Đây là một bài thơ chan chứa nỗi niềm cố xứ, nơi sông núi trở thành biểu tương của cội nguồn, của ký ức, của sự thiêng liêng nhất thuộc về mẹ .
 
Sông núi cũ hiện lên tổng quát trong khổ đầu bài thơ, để trên sông núi đó, một khúc tống biệt hành xảy ra trong đời nhà thơ mà nỗi buồn chạm tới vô biên:
 
Ta thấy ta từ Sông Núi cũ
Trôi như con suối biệt xa nguồn
Rơi như chiếc lá không về cội
Chạm tới vô biên những nỗi buồn!
 
Khổ thơ đầu có 4 câu thơ, thì 3 câu là 3 bức tranh gợi hình tổng quát, cho ta ý niệm về một cuộc ra đi bất đắc dĩ. Nhà thơ theo giấc mộng để về lại quê hương nhưng không thấy ngày tái ngộ mà thấy ngày mình ra đi. Sông và núi hiện lên trong mơ.  Nhà thơ là một phần rất lớn mà cũng rất nhỏ trên sông núi đó. “Trôi như con suối biệt xa nguồn” là phần rất lớn mà nhà thơ muốn nói, đó là phần tinh thần gắn bó với quê hương. Phần tinh thần ấy phải rời quê hương, như dòng sông trôi đi ra biển, để phải “Nước non vẹn một lời thề/Nước đi đi mãi không về cùng non”.  “Rơi như chiếc lá không về cội” là phần rất nhỏ. Rất nhỏ nhưng cũng rất quan trọng vì đó chính là thân thể của nhà thơ. Thân thể ấy rơi như chiếc lá nhưng không về gốc của cây, mà bay biệt  xa cây. Câu thơ “Chạm tới vô biên những nỗi buồn” so sánh hình ảnh nỗi buồn bao la như không gian, như vũ trụ. Cả bốn câu thơ cho ta cảm giác đánh mất những điều thiêng liêng nhất, và hiểu được tấm lòng hoài hương của thi nhân da diết đến nhường nào.
 
Khổ thơ thứ 2 như những nhát dao cắt vào tâm hồn, vết cắt ấy xẻ thịt xé lòng, quay quắt trong tim, làm tím luôn dòng máu:
 
Trôi đ! Như thể chim lìa tổ
Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi
Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi
Búc ruột mà đi… hỡi Đất Trời!
 
“Chim lìa tổ” ở đây không phải là chim thiên di mà là chim vỡ tổ. “Máu, xương bọc giống nòi” chớ không phải giống nòi bọc máu, xương, nghĩa là tình quê hương có sẳn trong máu trong xương, mà giống nòi che chở, bao bọc, chớ chưa dùng tình yêu thương đó phụng sự gì quê hương. Cũng có thể “Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi” là bỏ lại mồ mả, đền thờ cha ông đã từng xây đắp quê hương.  Hai câu thơ sau “Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi? Búc ruột mà đi…hởi Đất Trời” là tiếng rên thảm thiết, không phải trách đất trời, mà hỏi đất trời có hiểu thấu cho tôi không!
 
Toàn khổ thơ thứ 2 mang âm hưởng bi tráng, bày tỏ sự bất bình khôn nguôi trong lòng tác giả, như tiếng kêu của loài chim vỡ tổ, như tiếng rống của con hổ bị lìa hang động. Bốn câu thơ không chứa ẩn dụ nhưng chứa tâm tư buồn bực, phẩn uất, của người bị đuổi đi như con suối xa nguồn, như chiếc lá không về cội, như con chim lìa tổ ấm, mãi mãi bay đi không về. Nếu có về được chăng, chỉ về bằng mộng mà thôi.
 
Ở khổ thơ thứ 3, nhà thơ cho biết mình đi “như trốn ta vào núi”. Núi nầy không phải núi ở quê hương mà núi ở một miền xa cách quê hương. Bởi vì nếu ở trên quê hương thì nhà thơ không thể “Theo Mộng Ta về” quê hương được. Nói thế thôi, nhưng cũng có nhiều người trốn vào chính núi quê hương mình, nhưng tâm tư họ luôn nghĩ mình đang lưu vong trên chính quê hương mình:
 
Ta đi như trốn ta vào núi
Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi
Đốt than nửa gánh ta vào chợ
Nửa gánh “Hoàng hoa” sưởi mộng đời
 
Câu “Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi” mang ý nghĩa sâu sắc về sự hoài niệm. Thời gian trôi qua không ngừng và nhiệt huyết vẫn cháy bỏng dầu tuổi đã cao. Hình ảnh rừng xanh là biểu tượng cho lý tưởng tuổi trẻ, còn tóc bạc là dấu hiệu của năm tháng. Hình ảnh lửa vẫn cháy, thể hiện một tâm hồn không bao gờ nguôi lạnh lý tưởng của mình. “Đốt than nửa gánh” không có nghĩa đen là chỉ đốt một nửa gánh than, mà có nghĩa bóng gợi lên sự lam lủ, là biểu tương của sự nhọc nhằn. “Nửa gánh” là không hoàn thành đủ một gánh, nói lên sự khó khăn trong mưu sinh. “Đốt thang nửa gánh ta vào chợ” có ý nghĩa về cuộc sống nghèo khó, vất vả của người lao động nhưng vẫn kiên trì bám trụ với cuộc đời, đồng thời ẩn chứa tấm lòng sắc son, thủy chung theo đuổi lý tưởng của mình. “Nửa gánh Hoàng Hoa sưởi mộng đời” là một ẩn dụ sâu sắc, đặc biệt liên quan đến tác phẩm “Gánh Hàng hoa” của Khái Hưng, thể hiện một khát vọng tình yêu bình dị. “Gánh hoàng hoa” tượng trưng cho cuộc mưu sinh vất vả nhưng cũng là nét đẹp văn hóa. Nửa gánh chỉ sự dang dở trong tình trường, hay nỗi cô đơn, sự chia cách của mối tình. Ở đây nhà thơ lấy tình yêu dang dở đó để sưởi ấm cho mộng của đời mình. Cả bốn câu thơ nói lên một kiếp đời phiêu bạc, dường như nhà thơ càng đi xa thì càng thấy mình lạc lỏng quê hương và lạc lỏng chính nơi mình trú ngụ.
 
Vào khổ thơ thứ tư, Vũ Đức Tô Châu dùng hình ảnh đầy u tối, diễn tả sự mất mát của người xa quê hương. Người đó vất vưởng trong cuộc sống như một chiếc bóng dại khờ. Những nỗi bi thương đó kết thành thi ca, phần nào cứu rỗi được linh hồn của người biệt xa xứ:
 
Ta đi! như bóng ma lìa xứ
Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ
“Dâu biển” tang thương sông núi hởi!
Khúc tàn chinh lệ hóa thành thơ
 
“Ta đi như bóng ma lìa xứ” là sự rời đi một cách âm thầm, đột ngột, không để lại dấu vết, không chia tay với ai. Câu thơ gợi cho ta cảm giác trống vắng, chia ly trong nỗi buồn như sự chết. “Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ/ “Dâu biển” tang thương sông núi hởi!” là vòng biến thiên nghiệt ngả mà quê hương, núi sông, những điều bất biến cũng nhuộm màu tang thương. “Tàn chinh” là cuộc chinh chiến đã hết. Với nhà thơ, lệ chảy nhiều sau cuộc chinh chiến, và lệ ấy đã biến thành thơ. Cả khổ thơ là của người lưu lạc, ra đi như bóng ma, chịu đựng sống dật dờ, hồi quang một thời trôi nổi. Khổ thơ vang lên như tiếng quê hương than thở. nhưng ở câu cuối thơ bật sáng. Câu thơ cuối  tạo độ nặng, làm toàn bộ vượt khỏi sự bi lụy để chạm đến sự thăng hoa.
 
Cuối bài thơ, khổ thơ thứ năm là khát vọng trở về với núi sông quê mẹ:
 
Rồi mai! Gửi xác bên trời vắng
Đất lạ hồn linh cũng dật dờ 
“Theo mộng ta về” Sông Núi cũ
Quê mẹ xanh rờn những giấc mơ
 
Khổ thơ nầy là một dự cảm, dầu thân xác chết đi nằm nơi miền đất lạ, linh hồn vẫn không nằm yên nếu chưa về với quê hương. Hai câu thơ kết như một lời thệ nguyện, dầu sống hay chết ta vẫn sẽ “Theo mộng ta về” an trú nơi quê hương.
 
Toàn bộ bài thơ “Theo Mộng Ta Về” Của Vũ Đức Tô Châu bày tỏ nỗi nhớ quê hương da diết của người tha phương. Nỗi đau bị đánh bật khỏi cội nguồn. Khát vọng trở về trong giấc mơ và trong tâm linh, lấy hình ảnh giàu tính biểu tượng: suối xa nguồn, chim lìa tổ, bóng ma lìa xứ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi cảm. Giọng thơ bi thiết, giàu nhạc tính. Cách lặp điệp từ “Ta đi!” tạo nhịp thơ dồn dập, nhấn mạnh. Đây là tiếng nói của hàng triệu người xa xứ bất đắt dĩ mà lòng luôn đau đáu với quê hương.                                                                                                                
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC "THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU - Châu Thạch

Thursday, December 11, 2025

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Còn lại niềm mơ / Phôi pha lời hứa cũ / Rồi một ngày

 

Nhả thơ Nguyễn Văn Trình

Còn lại niềm mơ

                

Những ký ức về thời áo trắng

bao hẹn hò thầm lặng xa xưa

nay bỗng hóa ra, thành kỷ niệm

biêng biếc xanh, mưa nắng học đường

 

Những ký ức gửi miền thương nhớ

dấu yêu xưa thuở còn bở ngở

ôi, tin yêu dang dở bể dâu

còn đâu ước hẹn, ngày xưa nữa…!?

 

Những ký ức về một ngày mưa

nơi gặp gỡ giữa bờ sông vắng

thương con đò thầm lặng qua sông

xót xa bến đợi cuối chiều đông

 

Những ký ức thêm lòng vương vấn

vẫn ngày dài ấp ủ buồn, vui

vẫn đêm về vùi sâu nỗi nhớ

mà xa xưa, còn lại niềm mơ…

 

                       Đông Hà, 2019

                         

  

Phôi pha lời hứa cũ

  

Tôi trở về nơi xưa cũ

nơi hẹn hò một ngày thu

bông cúc vàng vừa chớm nụ

báo hiệu mùa thu đã sang

 

Tôi trở về ngày nắng vàng

lang thang giữa mùa thay lá

cây bàng đã nẩy chồi non

 nhịp thời gian còn đi mãi

 

Tôi trở về miền dấu ái

một dáng hình xưa mảnh mai

cho ai dài thêm nỗi nhớ

khúc tình thơ, rồi duyên nợ

 

Tôi trở về nơi bến bờ

con đò xưa còn chờ đợi

nhưng nước sông, giờ mãi trôi

nên phôi pha lời hứa cũ…

 

                   Đông Hà, 2020

                         

  

Rồi một ngày

(Tặng cuộc tình của một ngưởi bạn)

         

Rồi một ngày, cuộc tình này cũng hết

sáo sang sông, là kết thúc hành trình

em đã chọn người mình không nhung nhớ

chưa từng yêu, chưa một lần duyên nợ

 

Rồi một ngày, ta chẳng nhớ gì nhau

và trở lại như ngày chưa quen biết

chưa yêu thương, chưa thân thiết ngày đầu

bởi giờ này tình đã chết còn đâu… ?!

 

Rồi một ngày, dẫu thành người xa lạ

gặp trên đường chẳng dám nhận ra nhau

sắp đối diện mà bàn chân bước vội

ngoảnh mặt đi, rồi rẽ lối người dưng

 

Rồi một ngày, tất cả hóa dửng dưng

và tất cả rưng rưng về cát bụi

chẳng buồn, vui như thể đã từ lâu

mặc bể dâu, cho nhân thế xoay vần…

 

                           Đông Hà, 2018

                          Nguyễn Văn Trình

                             

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Còn lại niềm mơ / Phôi pha lời hứa cũ / Rồi một ngày

Ca khúc MẮT NHẮM NGHỈ NGƠI - Vân Khánh hát - Mai Hoài Thu phổ thơ PhamPhanLang



MẮT NHẮM NGHỈ NGƠI

Như một vết thương 

Không bao giờ lành 

Tháng ngày mong đợi 

Nhìn quanh tìm quanh


Như loài chim biển 

Không bến không bờ 

Bay vào hải đảo 

Lạc loài bơ vơ


Như một nỗi nhớ 

Hồn chơi vơi buồn 

Lệ tuôn khóe mắt 

Xa vọng tiếng chuông


Như cây liễu rũ 

Cúi đầu trong mưa 

Mong sao mưa tạnh 

Người sắp về chưa?


Như chiếc lá rơi 

Chao nghiêng xuống đời 

Nằm bên cạnh mộ 

Mắt nhắm nghỉ ngơi

phamphanlang



READ MORE - Ca khúc MẮT NHẮM NGHỈ NGƠI - Vân Khánh hát - Mai Hoài Thu phổ thơ PhamPhanLang