Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 14, 2025

TẢN MẠN VỀ TRÀ TRƯỚC THỀM XUÂN BÍNH NGỌ - Lê Thi

 


TẢN MẠN VỀ TRÀ TRƯỚC THỀM XUÂN BÍNH NGỌ

                                           Lê Thi

     Các loại trà trên thế giới có thể được phân loại thành các nhóm chính như trà xanh, trà đen, trà ô long, trà trắng và trà phổ nhĩ, dựa trên mức độ oxy hóa. Ngoài ra còn có các loại trà thảo mộc, trà trái cây và trà ướp hương, mang đến sự đa dạng về hương vị và công dụng. 

    Người Việt chúng ta thường uống trà móc câu.

    Trà móc câu chứa nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe như polyphenol, catechin, caffeine, L-theanine, vitamin C, vitamin nhóm B, và các khoáng chất như kali, magie, mangan. Các chất này có tác dụng chống oxy hóa, tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ chức năng não bộ, và giúp giảm căng thẳng. 

    Trà Việt Nam không chỉ là một thức uống quen thuộc mà còn là một phần quan trọng của văn hóa truyền thống. Qua hàng thế kỷ, nghệ thuật uống trà đã được gìn giữ và phát triển, biến trà thành một sản phẩm không chỉ mang lại sự thư thái, mà còn là biểu tượng của sự tinh tế và lịch lãm. Trong số những loại trà nổi tiếng, có 04 loại chè đắt nhất Việt Nam, mang trong mình không chỉ giá trị kinh tế mà còn chứa đựng tinh hoa văn hóa và nghệ thuật chế biến trà. 

1-Trà Thái Nguyên hương vị thuần tuý.

2- Trà Sen Tây Hồ.

3-Trà Shan Tuyết cổ thụ

4-Trà cổ thụ Bạch Long. Đắt nhất Việt Nam.

Tác giả xin sơ qua đôi nét về các loại trà:

    Trà Thái Nguyên từ lâu đã trở thành biểu tượng của sự tinh tế trong nghệ thuật thưởng trà tại Việt Nam. Vùng đất Thái Nguyên, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đặc biệt, đã sản sinh ra những búp trà xanh mướt, có hương vị đặc trưng mà khó có nơi nào sánh được. Trà Thái Nguyên nổi tiếng với hương thơm nhẹ nhàng, vị chát dịu, và đặc biệt là hậu vị ngọt sâu khi uống.

     Trà Sen Tây Hồ là một trong những loại trà nổi tiếng và đắt giá ở Việt Nam, được mệnh danh là “thiên cổ đệ nhất trà Việt”. Loại trà này được chế biến từ trà xanh nguyên chất, ướp cùng với những cánh hoa sen tươi từ Hồ Tây, Hà Nội. Hương sen tự nhiên được thấm vào từng búp trà qua nhiều lần ướp, tạo ra một loại trà có hương vị thanh tao, dịu nhẹ và rất đặc trưng.

    Để ướp 1kg trà sen ngon, bạn cần khoảng 1300- 1500 bông sen để lấy gạo sen. Quá trình này đòi hỏi sự tỉ mỉ, lặp đi lặp lại nhiều lần để trà thấm đượm hương thơm của hoa sen. 

    Do mất nhiều thời gian và kỳ công vậy nên giá nó cao. Và khi được gia chủ mời ấm trà ngon ta biết trân trọng và thưởng thức cùng gia chủ.

    Trà Shan Tuyết Cổ Thụ được ví như báu vật của núi rừng Việt Nam, với những cây chè cổ thụ mọc tự nhiên trên các vùng núi cao từ 1.200 đến 2.000 mét ở các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai. Loại trà này nổi tiếng với lớp lông tơ trắng như tuyết bao phủ bên ngoài búp trà, từ đó có tên gọi “Shan Tuyết” với 5 cái nhất: hiếm nhất, sạch nhất, ngon nhất, đắt nhất, quý nhất.

    Để sản xuất được loại trà này, các nghệ nhân phải leo núi, vượt qua địa hình hiểm trở để thu hoạch những búp trà non. Sau khi hái, trà được chế biến theo phương pháp thủ công truyền thống, đảm bảo giữ được hương vị tự nhiên và tinh túy nhất của trà.

    Với sự quý hiếm và công phu trong sản xuất, Trà Shan Tuyết Cổ Thụ luôn được săn đón và có giá trị rất cao trên thị trường.

    Đây là món trà biếu cao cấp, hay tiếp đón các đoàn ngoại giao, thượng khách để thể hiện sự tôn kính của chủ nhà.

    Trà Cổ Thụ Bạch Long, được xem là loại chè đắt nhất Việt Nam, là một sản phẩm vô cùng quý hiếm. Loại trà này được làm từ những cây chè cổ thụ có tuổi đời hàng ngàn năm, mọc tự nhiên trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ở độ cao 2.400 – 2.700 mét.

    Với giá trị lên tới 680 triệu đồng/kg, loại trà này có độ hiếm cực kỳ cao, chỉ còn khoảng 50-60 gốc cây tồn tại. Mỗi năm, người dân chỉ thu hoạch được từ 2-3 kg trà, với quy trình thu hoạch tỉ mỉ kéo dài nhiều giờ.

    Mọc ở nơi núi cao, hấp thụ dưỡng chất của đất trời, hương vị thuần túy của đất trời dường như đã thấm nhuần vào loại trà này. Chính vì vậy trà có hương vị rất riêng say đắm lòng người. Theo cách nghĩ chủ quan của tác giả do số lượng có hạn, nên để được thưởng thức chum trà này chắc cũng ít có dịp, đôi khi có tiền chưa chắc đã được trải nghiệm và cảm nhận hương vị.

    Ngoài trà ngon ra, để pha một ấm trà cũng kỳ công và mang đậm bản sắc văn hoá. 

    Nhất nước - Nhì pha - Tam trà - Tứ ấm.

    Nước pha trà ngon nhất là nước tinh khiết, không tạp chất, có độ pH trung tính, có thể là nước giếng, nước suối hoặc nước được lọc sạch. Để đạt được hương vị tối ưu, bạn nên tránh sử dụng nước máy chưa qua xử lý hoặc nước có clo, vì những tạp chất này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến mùi vị của trà. Kỳ công buổi sáng lấy những giọt nước (sương mai) đọng trên lá sen để pha. Nhưng thực tế làm được vậy rất khó.

     Để pha một ấm trà ngon, bạn cần tráng ấm chén trước, sau đó cho trà vào ấm và đánh thức trà bằng cách tráng nhanh với nước nóng rồi đổ đi. Tiếp theo, bạn hãm trà trong khoảng 10-40 giây tùy loại trà. Cuối cùng, rót hết nước trà ra chuyên rồi từ chuyên mới rót ra các chén để thưởng thức. Nếu bộ ấm trà bạn không có chuyên bạn nên rót đều, rồi ngược vòng trở lại làm cho nước ra đều trong mỗi ly trà. Nếu bạn rót từng ly xong thì 6 tách trà có có màu khác nhau. Rượu thì rót đầy ly, trà bạn rót 2/3 để tỏ lòng kính khách. Khi mời trà nên chú ý để quay cầm( nếu có )vào tay thuận của khách. Chú ý quan sát và rót trà khi khách đã nhâm nhi gần hết.

    Đến việc chọn trà thì tuỳ theo sở thích, mức thu nhập, và khách nào trà đó do bạn quyết định. Khi bạn muốn giữ chân khách lâu, bạn pha trà, bạn muốn khách về sớm vì bạn không có thời gian nên mời nước lọc. Khi ta là khách chúng ta nên ý tứ và hiểu gia chủ. Bản thân tác giả thường có trên 10 loại trà, hơn 20 bộ ấm, hiểu gu của khách và thời tiết để uống cho thích hợp. Vì đôi khi trà đắt tiền quý hiếm nhưng khách không thích mùi vị và cảm nhận hết hương vị ngon của nó. 

    Các loại ấm pha trà phổ biến bao gồm ấm đất (như ấm Tử Sa, ấm gốm), ấm sứ, ấm gang, và ấm thủy tinh. Mỗi loại ấm phù hợp với từng loại trà và nhu cầu thưởng trà khác nhau, ví dụ như ấm Tử Sa để giữ trọn hương vị, ấm gốm Bát Tràng cho hương vị đậm đà, ấm sứ phù hợp trà xanh và ấm thủy tinh giúp quan sát lá trà. 

    Trong văn hoá trà đạo Việt Nam và Trung Hoa, khi nói đến “độc ấm”, “song ấm”, “quần ấm”, người ta thường phân loại theo số lượng người uống và số ấm chén dùng để pha trà. Cụ thể:

​     Độc ấm (độc ẩm)

    “Độc” nghĩa là một mình.

    ​Là hình thức uống trà một người, thường để thưởng trà, ngẫm sự đời, đọc sách hay làm thơ.

    ​Dụng cụ: chỉ cần một ấm trà nhỏ và một chén.

    Mang tính tĩnh lặng, cá nhân, thiên về thưởng thức và thiền định.

    Song ấm (song ẩm)

    ​“Song” nghĩa là hai người.

    ​Là hình thức hai người cùng thưởng trà, thường là bạn tri âm, tri kỷ hoặc khách quý.

    ​Dụng cụ: một ấm, hai chén trà.

    Mang ý nghĩa giao tình, tâm giao, thể hiện sự tôn trọng và hòa hợp.

    Quần ấm (quần ẩm)

    ‘’Quần” nghĩa là nhiều người.

    Là hình thức nhiều người cùng uống trà, thường trong dịp sum họp, tiếp khách, hoặc bàn chuyện lớn.

    Dụng cụ: một ấm trà lớn hoặc nhiều ấm, nhiều chén nhỏ.

    ​Mang ý nghĩa hòa khí, đoàn tụ, giao lưu.

    Khi thưởng thức trà, ta như ngồi tâm sự với một người đẹp, cảm nhận được hương trong đó, nét đẹp tao nhã, thanh cao. Dù trà có ngon bạn bảo quản không kỹ mất hương không còn phần hồn nữa. 

    Nhân dịp trước thềm Xuân Bính Ngọ tác giả xin tản mạn đôi nét về Trà và cầu chúc mọi gia đình đón một mùa Xuân an lành và hạnh phúc. 

    Lê Thi

    Ohio

 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ TRÀ TRƯỚC THỀM XUÂN BÍNH NGỌ - Lê Thi

Monday, November 10, 2025

TRANG THƠ PHONG NGUYỄN - Có về thăm Huế / Tình quê / Mùa nắng chướng

Phong Nguyễn và phu nhân.


Phong Nguyễn

Có về thăm Huế

 

Nếu em có về thăm Huế

Ghé qua bên Nội... Thử xem

Hàng phượng vẫn còn hay mất

Chiều đưa... lá rụng... tóc mềm

Tịnh Tâm hồ sen có nở

Hương đưa... dìu khách... xa thăm

Tóc thề thả nghiêng vành nón

Lầu son...  gác bóng trăng rằm

Nếu em có về thăm Huế

Sông Hương ắt vẫn còn trong

Thương thu... Mờ giăng...  sương phủ

Đò qua lặng lẽ xuôi dòng

Bên tê vườn ai... Vĩ Dạ

Cau xanh nắng nhuộm mấy chiều

Gió đưa tình chi trong mộng

Mà em thả nụ cười yêu

Nếu em có về thăm Huế

Áo xưa nhớ mặc một lần

Đôi tà... thả bay... trong gió

Trắng chiều…  áo trắng...  trường tan

Nhớ chăng gót chiều chân sáo

Bâng quơ...  ai đó... đang nhìn

Chao ôi!... Người răng...  mà lạ

Không nói ... chỉ đứng... lặng im

Nếu em có về thăm Huế

Cho anh... Ừ ... Chỉ thế thôi !

Nhạn chiều... quay về núi Ngự

Chừ răng... Huế... Chỉ một người...

                   26-10-2017, PN

 

 

Tình quê

 

Đã thơm lừng!

mùa lúa chín quê tôi

Con chiền chiện

nghiêng chiều bay đón gió

Nắng hoàng hôn... tim tím chừng thật lạ

Mênh mông trời... Êm ả bóng đò trôi

Thương làm răng!

Cô gái đứng bên sông

Lục bình chở

Nỗi buồn xa vời vợi

Hoa cà tím... Tháng ba mùa nở vội

Để tình ai... Sâu lắng mãi bên lòng

Quang gánh nhớ!

Bờ vai thơm mùi rạ

Cọng rơm mùa

Vàng óng cả chân đê

Gió xa đưa... Tóc bồ kết hương quê

Mà day dứt... Để chiều hoa khế rụng

Nhớ đến thế!

Tiếng guốc khua khẻ động

Tao nôi về

Ru ngọt giọng em thơ

Con chim cu... Cất tiếng gáy trong mơ

Và gió hững... Trưa bờ tre cuối bãi

Em đứng đó... Ô Lâu chiều chậm rãi

Hoa lục bình... Chở nỗi nhớ về xa...

                    8-11-2017, PN

 

 Mùa nắng chướng

 

Nắng chiều ni! Cớ chi vàng đến lạ

Phải chăng vàng vì lụa áo em bay

Thu chưa tới mà nghe lòng cứ nhớ

Chút hương mùa trên đôi má ai say

Trời tháng sáu bổng dưng hóa heo may

Vườn ai đó rưng rưng chùm hoa khế

Chiều thương ơi! Nắng thấp dần bóng xế

Để vết chiều chìm sâu dưới hoàng hôn

Có chút gì trên đôi mắt ai hờn

Bởi câu nói đã bao lần bỏ ngỏ

Vết chân chừ mất dần bên lối nhỏ

Guốc mộc nằm thương nhớ mấy mùa qua

Nắng đã vàng... vàng nhuộm cả vườn xa

Bờ tóc rối đêm nằm say hương bưởi

Đêm gió lạ buồn răng nghe rười rượi

Thoảng ai cười như văng vẳng đâu đây

Nắng chiều ni! Răng nắng cứ vơi đầy

Để cho hạ xót đau mùa nước lỡ...

                  15-7-2023,  PN

 

 

 

 

 

READ MORE - TRANG THƠ PHONG NGUYỄN - Có về thăm Huế / Tình quê / Mùa nắng chướng

HAI THẾ GIỚI MỘT ĐƯỜNG TÀU - Thế Lăng

 

Tác giả Thế Lăng

HAI THẾ GIỚI MỘT ĐƯỜNG TÀU

Thế Lăng

 

Tuổi thơ tôi gắn liền với đường lộ Một. Ngày tôi đi, con đường trước mặt nhà bị cày lên loang lổ, người ta đang nắn thẳng Quốc Lộ đoạn từ cầu Mỹ Chánh ra thẳng cầu Quảng Trị chạy song song với đường sắt. Công trình này ngắn hơn, tiện lợi hơn, bỏ đi ít nhất là ba bốn khúc cua quẹo, lên dốc và xuống dốc. Với tiến độ thi công bằng cơ giới do hãng RMK thực hiện được xem là nhanh, đường rộng và đẹp hẳn lên. Có điều tôi không hiểu được tại sao phải phá banh con đường cũ, mục đích là gì?

 


Bây giờ khi trở lại con đường đã được trùng tu và làm mới, dưới một cái tên khác, âu đó cũng là thay đổi, cũng là bể dâu, có một chút gì tiếc nuối, nhớ nhung...

Chạy theo đường tàu, mà đường tàu thủa đó tịnh không có một bóng người, ga tàu lúc bấy giờ toàn là ga nhỏ, người ta gọi là ga xép, gồm ga mỹ Chánh, ga Trường Sanh, ga Diên Sanh và ga lớn Quảng Trị. Nhà ở gần với đường tàu nhất cũng phải hơn hai trăm mét. Đường tàu như lằn ranh phân chia, bên trên đường tàu là vùng oanh kích tự do, bất cứ lúc nào, chỉ cần một di biến động lạ là sẵn sàng đón nhận pháo cấp tập. Từ năm 1966, hầu như xe lửa không còn lưu thông từ Huế ra và chiều ngược lại. Cũng trên đoạn đường này, các khu vực như Lương Điền, Trường Vĩnh,Trường Xuân, Trường Thọ,... gần như hoàn toàn mất an ninh. Bên dưới đường tàu là vùng được xem là an toàn, đêm đêm người ở vùng trên xuống vùng dưới tá túc ở nhà người quen, sáng sớm lại trở về với nhà cửa, nương rẫy, hình thành hai thế giới một con đường.

Khi trở lại nhìn đường rầy thẳng tắp, từng chuyến tàu  rú còi khi qua cầu Bến Đá, hai bên bờ lộ của Quốc Lộ Một, nhà cửa, xí nghiệp, công sở, trường học... đông vui, hồi sinh kỳ diệu, không có thù, chỉ có bạn, dấu trong lòng dù có kẻ cho là đau xót, cũng có người xem là hào hùng, ai cũng vậy tránh nói ra, bởi lẻ vết thương đã kéo da non hay đã lành hẳn. Hai bên đường rầy đó, trên những trạng cát đó, bạn và thù nằm cạnh nhau, giả thử có một cảnh đời khác, ắt hẳn họ sẽ mời nhau đi uống cà phê, hay lai rai vài lon bia, nhắc nhớ làm chi, qua rồi mà, chừ con tui cháu tui, con anh cháu anh... chúng nó đã được sống tuy có hơi chật vật, nhưng cũng đủ đầy hạnh phúc.

Đường bây giờ là đường chung, người ta đốt nhang ở đài Địa Tạng chỉ là tưởng nhớ.

Đã trở lại rất nhiều lần, đi qua khe ông Tè, đi qua Bến Ông Quản, đi sâu vào vạt rừng tràm để nhớ ngày xưa đã một vài lần qua nơi đây, có lần tưởng tượng những hòn đá trấy xưa lăn lóc giũa đường tàu. Cũng thương cho một số người, ở bên trên đường tàu thuở ấy, họ bị giằng xé giữa ở hay đi, đi thì lấy gì để sống. Cho đến một ngày tất cả cùng đi.

Bây giờ mấy ai về mà làng trên xóm dưới vẫn đông vui. Ông bà ta dạy: Có mợ chợ cũng đông, không mợ chợ chẳng không bữa nào. Về để thấy, để nghe, khi đi vương vương một chút nhớ, một chút thương, một chút hờn, một chút lẫy...

Trời bắt đầu vào đông, như có một chút rét len lỏi vào lòng.

     SG 10.11.2025

     THẾ LĂNG

FB: Văn Thăng Lê

 

READ MORE - HAI THẾ GIỚI MỘT ĐƯỜNG TÀU - Thế Lăng

TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Thẫn thờ nỗi quê / Rú cát Hải Lăng / Chiều Hồ Xá

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình


Thẫn thờ nỗi quê

 

Tìm về thăm lại cảnh quê

thăm đàn em nhỏ mô tê nô đùa

thăm đồng lúa chín ươm vàng

bâng khuâng lòng lại, rộn ràng bước chân

 

Thăm người bạn cũ ân cần

một thời đèn sách đồng hành bên nhau

thăm con đường mới sau làng  (1)

nhớ thời chạy nhảy, đuổi chuồn bắt ve

 

Vẳng nghe tiếng gáy chim gù

từ trong vườn ổi, vườn chè nhà bên

khói lên bếp lửa chiều quê

mông mênh sương trắng, tỉ tê cõi lòng

 

Về quê nhớ đến giếng làng

nhớ người gánh nước, dịu dàng duyên xinh

nhớ vành nón lá che nghiêng

giấu trong nhan sắc gái quê thục hiền

 

Người quê mộc mạc chân quê

cùng nhau đùm bọc đi về sớm hôm

làng quê ôm ấp nôi đưa

tiếng ru của mẹ dịu trưa nắng hè

 

Chiều quê cảnh cũ bờ tre

chim ca ríu rít, mà nghe rộn ràng

quê hương, làng nước, tuổi thơ

vấn vương nỗi nhớ, thẫn thờ nỗi quê…

 

                    Đông Hà, 2018

 

(1) Con đường bờ bao, men theo Sông Hiếu, chạy dọc phía sau làng Lạng Phước.


Rú cát Hải Lăng  

           

Chiều về rú cát Hải Lăng (1)

chập chùng đồi cát rú cây um tùm

cuối trời tít tắp chân mây

cát như bất tận, dịu dàng bước chân

bần thần rú cát ven đường

thoảng hương hoa dại trên đồi cát bay

dấu chân bước vội cuối ngày

gió về lấp cả núi đồi hoang vu

khúc ru miền cát một thời

nơi vùng ẩn nấp, cho người đấu tranh

để giành độc lập nên ngày hôm nay

cát bay dấu tích còn lưu

ưu tư đứng lặng, giữa cơn gió chiều…

 

 

Chiều về rú cát Hải Lăng

gió như thịnh nộ cát xây nên đồi

bồi hồi đứng ngắm xương rồng

trông hoa khoe sắc lung linh đất trời

điểm tô vùng cát, một đời cằn khô

nhấp nhô hạt cát nhỏ nhoi

nhưng mà cứng rắn, dễ đâu coi thường

chẳng vương bụi bẩn trắng tinh

chẳng bao giờ chịu lẫn mình vào ai…

 

Chiều về

rú cát Hải Lăng

mịn màng đồi cát, dáng cây ngập ngừng

lưng chừng bóng ngã chân đồi

xa xôi thấp thoáng, một vùng cỏ may

hoa may níu bước chân trần

vấn vương chút cát, đi về nhớ thương

câu thơ viết vội, lời thề uyên ương

người đi lưu luyến xương rồng

dấu chân trên cát, mong đừng vội tan

lòng ai trang trải cát vàng

trái tim lỗi nhịp, bàng hoàng cát bay…

 

                            Hải lăng, 2019

                             

 (1) Rú: Tiếng Hải Lăng Quảng Trị là rừng. Rú cát là rừng cây trên cát.



Chiều Hồ Xá

     

Về thăm Hồ Xá chiều nay

lâng lâng vị ngọt, nồng say hương chè

 

Gió đan tóc rối trong chiều

liêu xiêu dáng nhỏ, hao gầy liêu xiêu

 

Đường chiều lối cũ còn xa

em tôi mắt biếc điệu đà làm duyên

 

Vườn tiêu trĩu hạt vào mùa

bâng khuâng đứng lặng sân phơi gió lùa

 

Lao xao quán, lao xao chiều

mình tôi lẻ bóng, xa xăm nỗi niềm…

 

Về thăm Hồ Xá chiều nay

ngỡ ngàng phố mới, mỗi ngày khang trang

 

Bê tông, rải nhựa đàng hoàng

đường ngang, lối dọc tựa ô bàn cờ

 

Giấc mơ lên phố từ làng  (1)

bù khô Hồ Xá xanh xang bao ngày (2)

 

Chiều buông cõi lặng mơ hồ

một ta với phố, nhớ về xa xưa…

 

Hồ Xá một thời đạn lửa

mảnh đất kiêu hùng, lũy thép Vĩnh Linh

 

Gan dạ, anh dũng, kiên trung

Hồ Xá ngày ấy, anh hùng vang danh …

 

                             Hồ Xá, 2019

 

(1) Hồ Xá thuở trước là làng. Do nhiều tộc họ thời nhà Hồ di dân vào lập nghiệp mà lập nên làng, nên phố như ngày nay.

(2) Trái bù khô: Dân gian có câu “ Hồ xá có trái bù khô”.

Người dân Hồ Xá, Vĩnh Linh gọi công trình cấp nước tập trung được xây dựng trên địa bàn Hồ Xá từ rất lâu rồi là “ Trái bù khô”,vì không có nước. 

READ MORE - TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Thẫn thờ nỗi quê / Rú cát Hải Lăng / Chiều Hồ Xá

Sunday, November 9, 2025

TÔI ĐỌC “CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG” CỦA LA THỤY- Nguyễn Văn Trị


                     

Mình nhận được tác phẩm "Chữ Nghĩa Văn Chương" của nhà văn La Thụy (Đoàn Minh Phú) gửi tặng qua đường bưu điện, cùng lời nhờ chuyển tặng đến một vài thầy cô và bạn đồng môn.
Trước hết xin cám ơn tình cảm bạn dành cho mình và cũng có vài cảm nhận sau khi đọc (dù tuần lễ này khá bận rộn).
 
Về tác giả La Thụy
 
La Thụy là bút danh của Đoàn Minh Phú, cựu học sinh trường TH Nguyễn Hoàng Quảng Trị niên khoá 1968 -75, giáo viên về hưu tại La Gi, Bình Thuận (cũ).
Ngoài công việc giảng dạy, anh dành trọn đam mê cho văn chương, thể hiện qua vai trò thành viên Hội Văn học Nghệ thuật Bình Thuận và là đồng quản trị trang blog Văn Nghệ Quảng Trị (cùng anh Nguyễn Khắc Phước, cựu học sinh Nguyễn Hoàng khóa 64-71). Trang blog này là nơi giới thiệu những cây bút có gốc gác quê hương Quảng Trị và các tỉnh miền Trung, kho lưu trữ bài viết được chọn lọc từ năm 2008 đến nay.
 
Tác phẩm "Chữ Nghĩa Văn Chương" như tác giả giới thiệu, là tập hợp những ghi chép, tạp luận về nhiều phương diện:
 
•  Ghi lại các sự kiện thú vị đáng nhớ kèm theo lý giải chuyên sâu: Truy nguyên về câu từ, điển tích, ca dao, tục ngữ. Có những từ như mưa Ngâu nghe đơn giản nhưng cũng có cả khối lý giải, trong thiệp cưới ghi Út nam, Út nữ , Quý nam, Quý nữ có thuận không? Trau dồi hay trau giồi?… nghe thì lan man nhưng thiết thân trong đời thường.
 
• Phân tích tác phẩm: Đề cập đến thơ văn của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng mà tác giả quen thuộc từ thời còn đi học như Guillaume Appolinaire với Hoa Thạch Thảo, Đinh Hùng với bài Cảm Thu rồi mạn đàm qua nhạc phẩm Hoài Thu của nhạc sĩ Văn Trí… rồi đoản văn La Rentrée Des Classes (Tựu Trường) trứ danh của  văn hào Anatole France là niềm cảm hứng cho Tôi Đi Học của Thanh Tịnh, kèm theo các bản dịch hay của các dịch giả khác.
 
• Địa danh & Nguồn gốc: Tác giả thích thú viết về cách phiên âm từ tiếng Hán về tên gọi các quốc gia… có lý, phi lý nhưng cũng đã có một thời được xã hội chấp nhận.
Lý giải và truy nguyên về địa danh La Gi, quê hương thứ hai của anh sau khi rời Quảng Trị...
 
Xuyên suốt hơn 20 bài viết, cuốn sách thể hiện một quá trình tìm tòi công phu và đọc rộng của tác giả. Từ những bài thơ Hán Đường xa xưa cho đến tác phẩm của các nhà văn hiện đại Việt Nam và châu Âu, tất cả đều được ghi chép lại một cách bài bản. Sự dẫn chứng cụ thể, cùng với vốn liếng đáng nể về Hán Nôm, tiếng Anh, tiếng Pháp, khiến người đọc không khỏi ngưỡng mộ về cách làm việc nghiêm túc và say mê văn học của La Thụy.
 
Xếp lại trang cuối, bài viết Chập Chờn Tỉnh Mê cho thấy trò chơi với chữ nghĩa không phải là đùa, không khéo là tẩu hỏa nhập ma phải không La Thuỵ ( hi hi). Không chừng trở thành Giáng Bùi thi sĩ!
 
Mặc dù có đôi ba bài viết (theo tôi) còn khá lan man (chẳng hạn như bài viết về cây vối, cây vả trong chuyến sáng tác tại Đà Nẵng) nhưng nhìn chung, đây là một tác phẩm đáng đọc đối với những ai yêu thích sự tìm tòi cội rễ của ngôn ngữ và văn học.
 
LỜI KẾT
 
Lần nữa cám ơn bạn La Thụy đã gửi tặng cuốn tạp luận thú vị nhưng hữu ích này.
Cũng xin thưa rằng, những lời mạn đàm này được viết ra trong tâm thế "cưỡi ngựa xem hoa"; nếu có gì sơ suất, bỏ qua  những bông hoa đẹp mà người viết đã dày công vun trồng, mong rộng lòng bỏ qua.

Sài Gòn chiều mưa - 8/11/2025
Nguyễn Văn Trị

READ MORE - TÔI ĐỌC “CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG” CỦA LA THỤY- Nguyễn Văn Trị

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Trăng muộn / Chợ chiều bên bến cá / Anh vẫn nhớ những điều có thể / Tiếng sấm rền âm âm khu phố cổ

Nhà thơ Lê Thanh Hùng



Trăng muộn


Kìa em, rối bước bờ trăng mộng

Lấp lóa trôi trên sóng bạc đầu

Bờ cát trắng xõa trăng lẹm óng

Vội vã mây, không biết về đâu

 

Hờ hững trước không gian lãng mạn

Em quay ngang nhìn sóng dập dềnh

Một ký ức, bóc ngày tách tháng

Chỉ còn đây, nỗi nhớ cong vênh

 

Không phải của mình, sao níu giữ

Ngẩn ngơ trăng trên sóng đổ dồn

Đứng một mình, đăm chiêu tư lự

Vỗ về xa, sương khói cô thôn…

 

Bồi hồi gió, mơn man tóc rối

Ngày theo mùa trăng mộng ngày xưa

Sao tấm tức, vạt mây gấp vội

Hoen mờ trăng, đổ bóng nhặt thưa

 

Đôi mắt biếc trong, ngân ngấn nước

Một nỗi buồn nguyên ủy bủa vây

Đâu một thuở, trâm cài, gương lược

Chỉ còn đây, trăng muộn vơi đầy…

 

Chợ chiều bên bến cá


Khung cửa sổ mở ra góc chợ

Nét tươi vui sinh động nhịp đời

Tiếng mặc cả, lòng nghe day trở

Một nỗi niềm, rộng hẹp đường khơi

 

Bao gian khó cuộc đời ngư phủ

Mà thị trường đầy chuyện rủi may

Quy luật mở những điều ẩn dụ

Dòng lưu thông, tâm thế phơi bày

 

Cuộc sống, thị trường là mạch máu

Người với người va chạm ở đây

Nết ăn ở sao cho phải đạo

Chuyện bán mua, tâm thế đủ đầy

 

Trên biển cả, đua tranh quyết liệt

Lưới cá đầy, gọi bạn cùng chia

Dù thuyền lạ, quen không phân biệt

Tình ngư dân, không thể phân lìa

 

Biết tất cả, cũng vì lợi ích

Sẽ so đo, thua thiệt được hơn

Lời cha ông, có chiều thuận nghịch

Đi buôn có bạn, bán có phường…

 

Anh vẫn nhớ những điều có thể

 

Cả tin, mà chờ đợi

Sẽ có một lời, Zalo mang tới

 

Một tin nhắn nhẹ bâng, mà sao nghe trĩu nặng lòng

Lời em nói hôm nào bên bờ biển rộng

Mà cho đến bây giờ, anh mới thấy biển mênh mông

 

 

Tiếng sấm rền âm âm khu phố cổ

 

Lặng lẽ nhìn, dõi mắt phía trời xa

Biết ngoài ấy có vụ mùa trầy trật

 

Trời hạn quê mình, tháng bảy tháng ba

Bát ngát mùa xanh trôi đâu mất

Nhìn Zalo đau đáu quê nhà…


Lê Thanh Hùng

      Bắc Bình, Lâm Đồng

       lethanhhung4625@gmail.com

READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Trăng muộn / Chợ chiều bên bến cá / Anh vẫn nhớ những điều có thể / Tiếng sấm rền âm âm khu phố cổ

Thursday, November 6, 2025

RỒI NẮNG QUA ĐÈO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 


Huỳnh Liễu Ngạn

RỒI NẮNG QUA ĐÈO

 

tôi đi phố vắng đêm hè

tay che thời tiết nặng đè lên vai

cố quên đi tiếng thở dài

cho đời nhẹ lại hình hài của tôi

 

tôi đi nhung nhớ bồi hồi

năm châu bốn biển một thời héo hon

trăng rằm hiu hắt đầu thôn

tôi đi lạc mất linh hồn nơi đâu

 

qua ngày tháng giữa bể dâu

mà nghe thiên cổ vùi sâu hướng nào

con sông thuở nhỏ cây cầu

mười phương tám hướng nỗi sầu đuổi đeo

 

bỏ quên rồi nắng qua đèo

tôi đi mang nặng quê nghèo trên vai

đời chôn hết cả đời trai

nhưng sao tôi vẫn miệt mài tâm tư

 

bao nhiêu mộng ước hư phù

lá rơi vàng cả mịt mù lối xưa

tôi đi sớm nắng chiều mưa

mà thương nhớ lại ngày chưa phai mờ

 

tôi đi ngàn kiếp bụi bờ

cho trăng nhỏ máu vì chờ đợi tôi

bởi vì tôi rất đơn côi

nên không cần biết luân hồi làm chi

 

tôi đi em nhắn gởi gì

hay là em có thầm thì với tôi

đành thôi lời ở đầu môi

để cho gió thổi pha phôi lên trời.

 

14.9.2025 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

Tramh minh hoạ do tác giả cung cấp.

 

READ MORE - RỒI NẮNG QUA ĐÈO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

LỤT MIỀN TRUNG – Thơ Lê Phước Sinh


 

Thụt lên Thụt xuống
chưa đã mà sao ?!
lấp ló Sân trước
lại tràn Nhà sau...
 
Chơi chi mà bẩn
làm điên cái đầu
vừa dọn vừa bỏ
chưa đâu vào đâu...
 
Trên Nguồn ục xuống
như kiểu Băng trôi
thật chán ông Trời
hôm Lờ mai... Lút !
 
     Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT MIỀN TRUNG – Thơ Lê Phước Sinh