TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Wednesday, November 29, 2023
ÂM KHÚC TẶNG BẠN BÈ - Thơ Khaly Chàm
âm khúc tặng bạn bè
17/11/23 café sáng nay chợt nhớ & tưởng thấy những gương mặt bạn bè thân thương của chàm tôi… khi chàm còn mưu sinh ở vùng đất “nắng nung người...” những hồn thiêng đã hòa nhập vào cõi vĩnh hằng.
1. trần thế tuyển (vạn pháp cung. cao đài)
ngực đêm rúc gọi âm hồn
rung cuồng sóng máu càn khôn giật mình
mộ đời trào gió vô minh
dạ thưa: tiền kiếp khởi sinh bao giờ?
2. xuân quang (sở vhtt.tn)
khói hình hú ám cơn mơ
phố khuya nhọn hoắt ma chờ ngậm sương
nhấp nhô ảo giác trần truồng
mắt đêm quán tưởng sắc hương ngọt ngào
3. lê công trứ. duy văn (vhnt.tn)
lưỡi cùn mọc nhánh chiêm bao
mùa trăng lú dại loang màu tái sinh
“gông cùm gãy quặp câu kinh”
sông mê xác dạt phía bình minh chưa
4. nguyễn đức thiện (ptth.tn)
sững nhìn thần vía trong mưa
rền vang tiếng hú . . . gió đưa ngút trời
từng đêm rượu lạnh tím môi
đỉnh đầu sấm nện nước trôi mặt người
5. nguyên thị xuân khanh (bến cầu.tn)
mộng du tìm lại nụ cười
tầm ma trổ nụ trên mười ngón tay
nại hà mấy nhịp lung lay
chơn linh đã vỗ cánh bay phương nào
6. trần quang khen (tx hòa thành.tn)
cúi người lạy tạ ơn nhau
mang mang tuyệt địa vẫy chào tri âm
cuộc chơi cõi trú thăng trầm
tàn tro niệm khúc thơ nằm nhìn trăng!
7. nguyệt quế (gò dầu.tn)
hồn nhiên với đất khô cằn
vực đêm hú gọi… nhập nhằng chiêm bao
vòng quay phủ dụ niềm đau
cũng đành úp mặt tan vào ngày xanh
8. thanh nhàn (bình thạnh, tb.tn)
khói rơm níu bóng độc hành
câu thơ tạ lỗi dỗ dành hồn quê
thèm nghe tiếng mẹ vọng về
hời ru nước mắt não nề âm xưa
9. lê trí viễn (tân châu, tn)
tóc chiều vướng gió xanh xưa
hỏi rằng. thiếu phụ đã vừa nợ duyên
đàn bà trăng nhập linh thiêng
chắt chiu nước mắt tưới triền mộng xanh
10. la ngạc thụy (tx hòa thành. tn)
bóng cười chết sửng âm thanh
an nhiên sỏi đá lệ dành riêng ta!
trợn trừng nhẵn ngón yêu ma
cầm tay phiên bản tụng ca ái tình
tptayninh ngày đông
NGỤ NGÔN Ê-DỐP (183-186) - Ngọc Châu phỏng dịch sang thơ song thất lục bát
183. The Ass and the Charger
An Ass congratulated a Horse on being so ungrudgingly and
carefully provided for, while he himself had scarcely enough to eat
and not even that without hard work. But when war broke out, a
heavily armed soldier mounted the Horse, and riding him to the
charge, rushed into the very midst of the enemy. The Horse was
wounded and fell dead on the battlefield. Then the Ass, seeing all
these things, changed his mind, and commiserated with the Horse.
183.
Lừa
và ngựa chiến
Lừa ta chúc tụng anh ngựa chiến
Được chăm nom cung hiến đủ đầy
Mà thường đứng nghỉ suốt ngày
Trong khi Lừa chịu đọa đày thiếu ăn
Cho đến lúc khó khăn, chinh chiến
Dũng sĩ mang giáp, kiếm nặng nề
Đóng yên cương phóng ngựa đi
Xông vào giữa đám giặc kia sống còn
Chiến mã cũng nhận đòn tới tấp
Gục nằm nơi xác ngập chiến trường
Bấy giờ Lừa mới xót thương
Không còn ganh tị ngày thường
Ngựa chơi.
184.
The Flea and the Ox
A
Flea thus questioned an Ox: "What ails you, that being so huge
and strong, you submit to the wrongs you receive from men and slave
for them day by day, while I, being so small a creature, mercilessly
feed on their flesh and drink their blood without stint?'
The
Ox replied: "I do not wish to be ungrateful, for I am loved and
well cared for by men, and they often pat my head and shoulders."
"Woe's me!" said the flea; "this very patting which
you like, whenever it happens to me, brings with it my inevitable
destruction."
184. Bọ chét và bò thiến
Bọ chét hỏi xỏ xiên Bò thiến
“Thật là đau, đáng tiếc cho anh
thân hình to khỏe rành rành
cớ sao qui phục cái anh dân cày
cam chịu mãi tháng ngày nô lệ
như ta đây nhỏ bé tí hon
Vậy mà cắn chỗ thịt ngon
máu thì chọn chỗ tươi ròn mới châm?”
“Tôi không muốn vong ân bội nghĩa
Bác ta luôn tử tế chăm nom
Vỗ đầu, vai tôi cám ơn
Bạn bè như vậy ai còn mong hơn…»
Bò thiến định nguồn cơn diễn giải
Bọ chét đà kinh hãi kêu la:
«Ôi chao, nếu hắn vỗ ta
giống như mi - hẳn ra ma tức thì
Chí nguy, thậm cấp chí nguy!!!»
185.
The Ass and His Purchaser
A man wished to purchase an Ass, and agreed with its owner
that he should try out the animal before he bought him. He took the
Ass home and put him in the straw-yard with his other Asses, upon
which the new animal left all the others and at once joined the one
that was most idle and the greatest eater of them all.
Seeing
this, the man put a halter on him and led him back to his owner. On
being asked how, in so short a time, he could have made a trial of
him, he answered, "I do not need a trial; I know that he will be
just the same as the one he chose for his companion."
A
man is known by the company he keeps.
185. Con lừa và người định mua
Một người muốn tậu con lừa
Nhưng giao kèo trước khi mua một điều:
“Được quyền dẫn nó theo về trại
Thả cùng đàn ở bãi xem sao
Ưng thì sẽ trả tiền mau
Không thì cũng lại nhanh trao nó về.”
Người mua thả lừa kia vào bãi.
“Mới” tỏ ra chẳng hãi sợ gì
Các con khác nó lờ đi
Kết
thân ngay với con đi một mình
Đó là con lười kinh lười khủng
Ăn thì nhiều dế thủng nồi trôi
Vậy nên cu cậu được mời
Về nơi chủ cũ tức thời trao tay.
Ông
chủ cũ mặt ngay đuồn đuỗn
Hỏi làm sao lại muốn chối từ
Dẫn về thử mới vài giờ?
Người mua nói không cần chờ thử lâu
Nó giống hệt bạn bầu nó chọn
Con tôi đang muốn dọn khỏi đàn
***
Xét người cũng thế chẳng oan
Xem bạn bè, hiểu tâm can tức thì…
186.
The Eagle and the Jackdaw
An Eagle, flying down from his perch on a lofty rock,
seized upon a lamb and carried him aloft in his talons. A Jackdaw,
who witnessed the capture of the lamb, was stirred with envy and
determined to emulate the strength and flight of the Eagle. He flew
around with a great whir of his wings and settled upon a large ram,
with the intention of carrying him off, but his claws became
entangled in the ram's fleece and he was not able to release himself,
although he fluttered with his feathers as much as he could.
The shepherd, seeing what had happened, ran up and caught him. He at once clipped the Jackdaw's wings, and taking him home at night, gave him to his children. On their saying, "Father, what kind of bird is it?' he replied, "To my certain knowledge he is a; but he would like you to think an Eagle."
186. Quạ Xám muốn làm Chim Ưng
Từ chỗ đậu, cao trên vách núi
Chim
Ưng lao như mũi tên bay
Chộp cừu non, bốc lên ngay
Mỏ cùng móng vuốt ra tay diệu kì
Quạ xám nhìn tức thì bốc hỏa
Tị với Ưng, quyết tỏ tài năng
Cũng bay, cánh vỗ phăng phăng
Rồi lao nhanh hạ xuống lưng một cừu.
Định bay lên bắt theo cừu lớn
Nào ngờ trò xí xớn toi công
Móng Quạ bị mắc vào lông
Bay đi cũng đã khó lòng lắm thay!
Bác chăn cừu đến ngay tóm cổ
Lông cánh, đuôi cắt nhổ tức thời
Chiều về cho đám trẻ chơi
Cu con mới hỏi: “Bố ơi, chim gì?”
Bố nó cười hì hì gãi tóc:
“Chỉ là con quạ nhóc thôi à.
Hình như nó nghĩ nó là
chim ưng con ạ… đúng là quân điên!”
ĐÊM VẮNG | THÁNG 10 | TỈNH MỘNG | ĐIẾM TRỌ TRẦN GIAN - Chùm thơ của Đặng Xuân Xuyến
ĐÊM VẮNG
Ơ hay đêm vắng còn chưa ngủ
Mải đứng dòm khuya mãi gật gù
Ờ nhỉ tháng Mười giăng ngõ cũ
Xáo xác cuối vườn tiễn gió Thu.
*.
Làng Đá, 03:26/13-11-2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
THÁNG MƯỜI
Lạ nhỉ, tháng Mười đã về chưa
Mà sao vạt nắng trải đủ vừa
Và sao gió lạnh gom đủ lựa
Se giọt mưa chiều rắc lưa thưa...
*.
Hà Nội, 16:37 - 20/11/2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
TỈNH MỘNG
Lật khật ghé chân vào cửa động
Gặp em lụi hụi mé triền sông
Giật mình tỉnh rụi cơn say mộng
Ờ, đã tháng Mười, đã sang Đông!
*.
Hà Nội, 03:53/24 tháng 11-2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐIẾM TRỌ TRẦN GIAN
Đã biết trần gian là điếm trọ
Sao còn gian díu tổ tò vò
Thế nhân vốn sẵn lời xiên xỏ
Nhân nghĩa xù ra chỉ diễn trò.
*.
Hà Nội, đêm 26 tháng 11-2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
MÙA ĐÔNG – Thơ Lê Văn Trung
MÙA ĐÔNGHình như mùa đông!Mùa đông!Lòng xưa giờ đã mù sương lối vềMắt người thắp ánh sao khuyaSoi giùm tôi chút tình phai cuối cùngMùa chớm đôngLòng chớm đôngGió nghìn phương thổiNghìn phương áo vàngMùa đã sangLòng còn ươmNắng mùa xanh cũ áo hoàng hôn phaiTìm nhau giữa hội trùng laiLạc nhau từ bóng mây bay cuối trời.Lê Văn Trung
Tuesday, November 28, 2023
MÙA GIÓ CHƯỚNG, NẮNG ẤM ĐẦU ĐÔNG – Thơ Tịnh Bình
Men chiều lam khói cong cong
Chợt nghe gió chướng mùa đông đang về
Đồng xanh chấm trắng cò quê
Liêu xiêu dáng mẹ triền đê tảo tần
Chạm mùa gió cũ bâng khuâng
Chân cầu sóng gợn tình bần chát chua
Vàng sông điên điển ban trưa
Thương ai nón lá nắng mưa qua cầu
Đắng môi ngọt dạ sầu đâu
Nước trong leo lẻo tình đầu chưa phai
Phất phơ lau sậy vì ai ?
Trở mùa chướng gió rét ngày sang đêm
Chưa nghe ấm áp buồng tim
Cành khô rơi một tiếng chim năm nào
Ngỡ như thức dậy chiêm bao
Ta cùng với gió cồn cào âm xưa...
NẮNG ẤM ĐẦU ĐÔNG
Đã vàng chưa sợi nắng ấm đầu đông
Phố vắng cơn mưa chùng chình ngang ngõ
Thu chầm chậm vỉa hè buông gót mỏi
Phía hoàng hôn sương khói cũng nhạt nhòa
Mông lung nhớ nụ cười ai một thuở
Gió vườn xưa xao xác vọng âm thừa
Từng vệt chổi những ban mai thức dậy
Trên cành tre líu ríu nắng gọi mùa
Bước co ro nép vào chiều tấp nập
Phố xá nơi này bình thản những buồn vui
Thương chiếc lá đi về đâu chẳng biết
Gió tàn thu se sắt nỗi ngậm ngùi
Loang lổ vệt nắng vàng buổi sớm mùa đông
Tiếng chổi khua từng nhịp buồn riêng lẻ
Thềm rêu ngỡ dáng bà đang quét lá
Gió quê nhà từng sợi nhớ rưng rưng...
Tịnh Bình
(Tây Ninh)
PHIẾM LUẬN VỀ BÀI BÌNH THƠ “TUỆ SỸ” CỦA BÙI GIÁNG - La Thụy
Trong quyển “ĐI VÀO CÕI THƠ”, Bùi Giáng viết về Tuệ Sỹ:
“Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u...
Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùyHiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùyHiện tiền vị liễu lạc hoa phiPhiêu bồng tâm sự tân toan lệTrí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “KHÔNG ĐỀ” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ”
*
Có lẽ Bùi Giáng là người phát hiện và bình bài thơ KHÔNG ĐỀ này đầu tiên trong tập 1, ĐI VÀO CÕI THƠ.
Thế mà, bỗng dưng bài thơ biến cái tên thành KHUNG TRỜI CŨ và từ ngữ CUNG TRỜI trong bài thơ lại biến thành KHUNG TRỜI.
“Cung trời” như là một cõi trời, một cảnh giới còn “khung trời” chỉ là một không gian bị hạn chế, bị đóng khung…
CUNG TRỜI trong Phật giáo được biết qua sáu cõi, đó là:
1. Tứ thiên vương thiên.
2. Đao lợi thiên.
3. Dạ ma thiên.
4. Đâu Suất thiên.
5. Hóa Lạc thiên.
6. Tha hóa tự tại thiên.
6 “cung trời” đã nêu ở trên thuộc về Dục giới. Ngoài ra còn có Tam thanh thiên giới, Phạn Thiên giới, Vô sắc giới, Sắc giới nữa, gồm tất cả 36 cung trời.
Xin chỉ đề cập vài CUNG TRỜI nhiều người biết:
- Cung Trời Đao Lợi:
Đây là phẩm mở đầu của Kinh Địa Tạng. "Đao Lợi" là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là "tam thập tam", tức là chỉ cõi trời Ba Mươi Ba. Tuy gọi là cõi trời "Ba Mươi Ba", nhưng đó không phải do đếm từ dưới lên trên theo thứ tự, như tầng trời thứ nhất, tầng trời thứ hai, rồi đến tầng trời thứ ba,... cho tới tầng trời thứ ba mươi ba. Cõi trời Ba Mươi Ba này vốn nằm chính giữa, và ở bốn phía đông tây nam bắc của cõi trời này thì mỗi phía lại có tám cõi trời. Do đó, tổng cộng có ba mươi hai cõi trời phân bố chung quanh cõi trời Ba Mươi Ba.
Thiên chủ của cõi trời Ba Mươi Ba là Đế Thích. Trong Kinh A Di Đà có nói đến "Thích Đề Hoàn Nhân", tức là vị Đế Thích này vậy. Ngoài ra, trong Chú Lăng Nghiêm có câu "Nam Mô Nhân Đà La Da", thì Nhân Đà La Da cũng chính là Thiên Chủ Đế Thích. Ở cõi trời thì Đế Thích là một vị Thiên Chủ; còn trong Phật Giáo thì Ngài là một vị Hộ Pháp.
- Cung trời Dạ Ma:
Dạ Ma thiên (夜摩天)là tầng trời thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục. Cũng gọi Diệm ma thiên, Viêm ma thiên, Tu viêm thiên, Li tránh thiên, Tô dạ ma thiên (Phạm, Pàli: Suyàma), Tu dạ ma thiên.
- Cung trời Đâu Suất:
Đâu suất thiên 兜率天 thường gọi tắt là Đâu-suất, dịch ra Hán ngữ là Tri-túc thiên có nghĩa là:
Theo từ điển Phật học Hán Việt của nhà nghiên cứu Đoàn Trung Còn, từ Đâu Suất, Đâu Suất Đà có nghĩa là Tri Túc, Hỷ Túc, Diệu Túc, Thượng Túc.
Trước kia, Đức Thích Ca Mâu Ni chưa thành Phật, thì làm Bồ tát Hộ Minh ngự nơi Cung trời Đâu Suất. Chừng ngài từ giã cung Đâu Suất mà xuống trần làm Phật thì ngài phó chúc lại cho đức Di Lặc, dặn đức Do Lặc kế tiếp ngài nơi cung ấy mà giáo hóa chư Tiên và chư Bồ Tát.
- Cung Trời Hóa Lạc:
Hoá lạc thiên (化樂天) Phạm: Nirmàịarati-deva. Dịch âm: Ni ma la thiên, Duy na la nê thiên. Cũng gọi Hóa tự tại thiên, Hóa tự lạc thiên, Bất kiêu lạc thiên, Lạc vô mạn thiên, Vô cống cao thiên, Lạc biến hóa thiên. Tầng trời thứ 5 trong 6 tầng trời cõi Dục, tức là tầng trời ở dưới cõi trời Tha hóa tự tại và ở trên cõi trời Đâu suất. Vì người cõi trời này tự biến hóa ra 5 trần cảnh để vui chơi, cho nên gọi là Hóa tự lạc.
Cung trời này cùng với các cung Dạ ma, Đâu suất, Tha hóa tự tại đều có 3 việc thù thắng hơn cõi Diêm phù đề là: sống lâu, xinh đẹp và vui thú.
*
Trong 2 câu thơ Bùi Giáng làm nối tiếp thơ Tuệ Sỹ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Cụm từ “Trí Hải đa tàm” được hiểu như thế nào đây?
- Cách hiểu thứ nhất:
“Đa” 多 nghĩa là “nhiều”
Trí Hải là tên ni cô được Bùi Giáng nhắc đến hai lần trong lời kể ở trên, nên cụm từ “Trí Hải đa tàm” có thể hiểu là “Trí Hải nhiều lông mày, lông mày Trí Hải dày, đẹp”
Đây chỉ là lời đùa cợt cho vui của Bùi Giáng. Mà Bùi Giáng đã từng đùa gọi ni cô Trí Hải là “mẫu thân Phùng Khánh” đó thôi:
“Trí Hải Ni Cô vừa rời bỏ Vạn Hạnh đi tu tiên ở trên núi. Nguyên nhân là: các vị sư ở Vạn Hạnh chế ni cô đã đẻ ra Bùi Giáng già nua, ni cô bẽn lẽn bèn giũ áo ra đi.
Sự tình nông nỗi ấy, Thích Minh Châu phải chịu trách nhiệm một phần lớn.
Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Tôi là con người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?
Phân tích nghiêm mật luận lý học ra như thế, rành rành Phùng Khánh là mẹ của tôi.
Huống nữa là: trong cõi mộng mơ chiêm bao tại bình diện thi nhạc phiêu bồng, Phùng Khánh đích nhiên cũng lại là mẹ của tôi nốt. Tôi vốn là Trung Niên Thy Sỹ.
Ai đâu có ngờ rằng những bài thơ bất tử tôi làm ra là do Phùng Khánh cả đấy?
Mỗi phen tôi mơ màng nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ bát ngát lại tuôn ra ào ào. Vậy thì hiển nhiên như nhiên thiên tài của tôi là do liên tồn Phùng Khánh đẻ ra vậy.
Tôi suy ngẫm suốt bao nhiêu năm trời, nhận ra sự tình cố kỳ nhiên đó, mới dám mạo muội mạnh bạo gọi Phùng Khánh bằng một tiếng Mẫu Thân. Há đâu dám bốc đồng mà gọi bướng!”
(Trích: Bùi Giáng Thi Ca Tư Tưởng - Saigon 1969)
Cho nên, 2 câu thơ
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí Hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Trí Hải viết hoa, tức là ám chỉ tên của ni cô.
Có thể hiểu là:
“Nỗi lòng xôn xao nước mắt chua cay rơi
Nhìn đôi mày đẹp của Trí Hải làm tâm hồn rối như tơ.”
Tâm sự lâng lâng, dòng lệ chua cay
Trí Hải mày tằm, đàn trúc rối cung tơ
Phải chăng “Trí Hải đa tàm”, Trí Hải mày tằm với nhan sắc như thế đã lắm phen làm Bùi Giáng “mơ màng nghĩ tới dung nhan diễm lệ Phùng Khánh thì giòng thơ bát ngát lại tuôn ra ào ào”.
- Cách hiểu thứ hai:
TÀM 惭 nghĩa là hổ thẹn
Câu “trí hải đa tàm trúc loạn ty” có thể hiểu là “biển học mông mênh làm thẹn lòng vì đầu óc mình thiếu minh mẫn lúng túng chưa ngộ được như đàn trúc rối loạn cung tơ”
Trở lại 2 câu thơ đầu của Tuệ Sỹ
“Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vi liễu lạc hoa phi”
Nên hai câu thơ:
“Phiêu bồng tâm sự, tân toan lệ,
Trí hải đa tàm, trúc loạn ty.”
Tâm sự bâng khuâng, dòng lệ chua cay
Hổ thẹn với ‘biển trí’ (vì chưa ngộ được), đàn trúc rối cung tơ.
Hiểu như vậy thì bài tứ tuyệt “Vô đề” ý mới liền mạch được.
Quý bạn nghiêng về cách giải thích nào nhỉ!
*
Xin dẫn những bài thơ có dùng chữ Đa tàm 多慚 (nghĩa là hổ thẹn nhiều)
Thơ Trần Tung:
Đa tàm thân trọc phùng thời trọc,
Tiểu tại tâm thanh ngộ quốc thanh.
(Thoái cư-Ẩn cư)
Thân đục thẹn sinh thời buổi đục,
Lòng trong may gặp nước nhà trong.
Có nghĩa:Thượng quốc ân thâm tình dị cảm,
Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm.
(Tống Bắc sứ Ma Hợp)
Ơn thượng quốc sâu sắc dễ cảm tình người,
Phong tục nước nhỏ đơn giản, thẹn lễ nghi có phần sơ suất.
Thơ Trần Nhân Tông:
Nhất thị đồng nhân thiên tử đức.
Sinh vô bổ thế trượng phu tàm.
(Họa Kiều Nguyên Lãng Vận)
Có nghĩa:
Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu.
Bùi Giáng viết nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thi ca.
Thơ của các thi sĩ được Bùi Giáng cảm nhận theo một phong cách riêng “rất Bùi Giáng” thật dí dõm. Tuệ Sỹ là nhà thơ đầu tiên được Bùi Giáng bình thơ trong tập ĐI VÀO CÕI THƠ. Bùi Giáng viết cảm nhận thơ như người bạn tri âm đồng điệu và bài TUỆ SỸ của ông để lại những “dư vang nghệ thuật” trong lòng người đọc.







.jpg)



