Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 12, 2020

ĐỌC “BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ” THƠ THÍCH TÍN THUẬN - Châu Thạch


    
                     Nhà bình thơ Châu Thạch


                                 
BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ

Hè nắng đổ sân chùa như rực lửa
Bảng hổi lên hiệu báo bữa cơm thường
Những não phiền bao hệ phược vấn vương
Tạm ngưng nghỉ để nhường đường trai ngọ

Cơm một bát tròn xoe in để đó
Dĩa muống rau mềm mại ngó mà vui
Miếng đậu tương trắng toát thiệt rõ bùi
Canh bí đỏ thêm lạc vùi thơm tháp

Nâng ngang trán một lòng y như pháp
Ngọt đắng cay chua mặn nhạt cúng dường
Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường
Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến

Búp sen mở cánh xòe trên bảo điện
Nỗi buồn lo vừa đổi chuyển lạc an
Sáu căn trần dạ chẳng buộc duyên phan
Cùng sáu thức quẳng mơ màng trôi nổi

Cơm một bát đủ ấm lòng ba buổi
Kinh vẹn thì lục khắc với năm canh
Nguyện một lòng soi rọi giúp quần sanh
Thuyền Bát nhã đáp vương thành tịnh thổ

Trưa hè nắng nhưng mồ hôi chẳng đổ
Bát cơm lành trưa đúng ngọ cùng dâng…

                                  Thích Tín Thuận
                                      02.06.2016


 
     

ĐỌC “BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ” THƠ THÍCH TÍN THUẬN
                                                                       Châu Thạch

     Nhà sư Thích Tín Thuận, chùa Chính Phước, Hải Lăng, Quảng Trị, là một một nhà thơ Phật Giáo mà tôi ái mộ. Tôi có duyên cùng với nhà thơ Trần Văn Hạng (ĐồngHà) được thăm thầy một lần. Trưa hôm đó, hai chúng tôi được thầy chiêu đãi bữa cơm chay. Bữa cơm mời đột xuất cho nên rất thanh đạm nhưng tôi lại nhớ mãi. Thú thật, trong đời tôi, lần đâu tiên được ăn bữa cơm “thanh tịnh” như thế, thanh tịnh vì chùa yên lặng mà trong lòng tôi cũng bình tịnh, an vui, thoát tục.

     Trưa hôm nay mở trang web Hai Bờ Giấy, tôi lại đọc được bài thơ “Bữa Cơm Giữa Chùa Quê” của thầy làm tôi sống lại một giờ năm ấy, trong ngôi chùa quê ấy, với bữa cơm nhà Phật cho tôi cảm thụ điều thú vị khác lạ mà tôi khó tìm được trong đời.

     Bài thơ của thầy rất rõ ràng, không có ẩn dụ gì, không có từ ngữ khó hiểu như thơ của các nhà sư hay các cư sĩ thường làm. Tuy thế trong thơ thầy, ẩn chứa một thứ hương thiền nhẹ nhàng, khiến khi đọc, tâm hồn ta tự nhiên thanh thản, trút hết “Những não phiền bao hệ phược vấn vương” như một câu thơ trong khổ thơ đầu sau đây:

              Hè nắng đổ sân chùa như rực lửa
             Bảng hổi lên hiệu báo bữa cơm thường
             Những não phiền bao hệ phược vấn vương
             Tạm ngưng nghỉ để nhường đường trai ngọ

     “Trai ngọ” là gì? Đó là bữa ăn trưa của các vị tu hành. Bữa ăn trưa của quý thầy thường được gọi là “Thọ trai”. Thọ là thọ dụng, là nhận, ăn hay dùng…. Trai là đời sống thanh tịnh, thiền định và trí huệ. Thọ trai là thọ dụng thức ăn nuôi sống thân tâm bằng đời sống thanh tịnh, phẩm hạnh, giới đức, thiền định và trí hụê.”

     “Ngày Phật còn tại thế, phần lớn quần chúng theo Bà La Môn và tu Tứ Thiền Bát Định, nhiều vị tu hành chỉ chăm chú vào thiền định mà lại không coi trọng ý nghĩa Giải Thoát. Có người thì ngồi thiền định mãi chẳng ăn uống rồi bỏ thân, có vị thì mê say trong lạc thú của thiền định an vui cho tự thân, chẳng gieo duyên giáo hóa; có vị thì ăn uống phi thời trở thành phóng dật, chẳng giữ oai nghi… Vì thế, Phật từ bi chế Giới Ngọ Trai.
     Ngọ Trai có hai phần là thọ thức ăn và giữ ngọ trai (ăn đúng giờ Ngọ)”

     Khổ thơ trên cho ta biết rằng các nhà sư không phải như ta, được gọi thì ngồi vào ăn bất cứ lúc nào mà ngược lại, họ phải ăn vào giờ ngọ tức khoản từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Khi được báo ăn, việc làm đầu tiên của họ là “Những não phiền bao hệ phược vấn vương/Tạm ngưng nghĩ để nhường đường trai ngọ”.

     Dầu người Phật tử hay người không Phật tử, tôi nghĩ nếu cũng buông bỏ được như quý thầy trước phút ngồi vào bàn ăn thì thức ăn sẽ thấy ngon hơn, tiêu hóa sẽ tốt hơn và tất nhiên niềm vui sẽ len vào ngự trị tâm hồn ta lúc đó.
     Bây giờ xin hãy nhìn vào bữa ăn của tu sĩ được mô tả sau đây:

                Cơm một bát tròn xoe in để đó
                Dĩa muống rau mềm mại ngó mà vui
                Miếng đậu tương trắng toát thiệt rõ bùi
                Canh bí đỏ thêm lạc vùi thơm tháp

     Đúng như vậy, bữa ăn mà thầy Thích Tín Thuân mời chúng tôi tại chùa Chính Phước năm nọ cũng tương tự thế. Tôi còn nhớ có một món rất đặc biệt: Bẹ môn dầm muối (dưa môn) chấm nước tương. Chúng tôi ăn hoài ăn mãi, đến nay nhớ lại thì thèm. Những món ăn này không phải ngoài đời không có, nhưng sao ăn trong chùa nó trở nên rất ngon. Có lẽ nhà chùa biết dầm muối đúng cách là một, cái ngon tâm lý trong lòng mình là hai, cọng cả hai cái lại làm cho bữa ăn thành ra rất tuyệt. Chỉ thiếu một điều là thầy thì “thọ trai” còn chúng tôi là “ăn trưa”. Tuy thế, nhờ vậy tôi cũng hiểu được một chút hương vị của buổi “thọ trai” như thế nào. Tôi nghĩ, buổi trưa hôm ấy, nếu tôi mà cũng “Trai Ngọ” được như thầy chì chắc trong bữa ăn, tâm thần tôi sẽ an vui hơn nữa, linh hồn tôi sẽ nhẹ như một tờ giấy trắng.

     Khổ thơ thứ ba cho ta biết bữa ăn của người tu hành còn nhiều thủ tục phiền phức khác ta rất nhiều :

               Nâng ngang trán một lòng y như pháp
               Ngọt đắng cay chua mặn nhạt cúng dường
               Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường
              Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến

     “Nâng ngang trán một lòng y như pháp” nghĩa là ngoài những thủ tục mà người tu hành làm trong bữa ăn thì tâm thần phải giữ cho bửa ăn phải là “Bữa cơm chánh niệm” đúng như trong Phật pháp đã dạy. Bữa cơm chánh niệm đó, thầy, tác giả bài thơ đã giãi thích một phần nào trong hai câu thơ cuối của khổ thơ nầy và cả khổ thơ sau:

               Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường
              Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến
              Búp sen mở cánh xòe trên bảo điện
              Nỗi buồn lo vừa đổi chuyển lạc an
              Sáu căn trần dạ chẳng buộc duyên phan
              Cùng sáu thức quẳng mơ màng trôi nổi

     Trước khi hiểu ý nghĩa của những câu thơ trên đây, ta phải tìm hiểu ý nghĩa của “sáu căn trần” và “sáu thức” mà tác giả đã đề cập đên trong khổ thơ trên.

     “Trong 49 năm hành đạo, đức Phật luôn chỉ dạy chúng sinh phải giữ tâm mình cho được thanh tịnh và loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, là cội nguồn của tham, sân, si. Chính nó là đại lộ kinh hoàng đưa chúng ta vào đường ác nghiệp và mãi mãi trầm luân trong lục đạo luân hồi. Cái gốc của vọng tưởng điên đảo là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh ra sáu thức. Tất cả những chủng tử nghiệp cộng với biết bao nhân duyên đều được xuất phát từ đây. “

     Vậy sáu căn là gi?

     “Lục căn là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nảy nở, tạo thành, bao gồm:

1. Nhãn là mắt, dùng để nhìn.
2. Nhĩ là tai, dùng để nghe.
3. Tỷ là mũi, dùng để ngửi.
4. Thiệt là lưỡi, dùng để nếm.
5. Thân là thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh...
6. Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt.”

     Sáu căn là như vậy còn “Sáu căn trần” trong câu thơ là gì?
     “Xung quanh chúng ta có biết bao hiện tượng, vật thể biến đổi không ngừng, chi phối từ tư tưởng đến hành động chúng ta từng giây từng phút, được gọi là “trần”. Như thế, trần có nghĩa là bụi, luôn luôn đổi dời. Trần ở đây cũng còn có nghĩa là phần vật chất, hay những cảnh vật xung quanh con người. Có 6 trần (lục trần):

1. Sắc là màu sắc, hình dáng.
2. Thanh là âm thanh phát ra.
3. Hương là mùi hương.
4. Vị là chất vị do lưỡi nếm được.
5. Xúc là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh.
6. Pháp là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên.

     Bây giờ sáu thức là gì?

     “Khi Lục căn tiếp xúc với Lục trần, có nghĩa là: mắt thấy được hình ảnh nào, mũi ngửi được mùi thơm nào đó, lưỡi nếm được chất chua, cay hay ngọt, tai nghe được điệu nhạc êm đềm, thân thì cảm thấy đau đớn, hay lạnh lẽo, còn ý thì bắt đầu suy nghĩ, thì ký ức của chúng ta phát sinh ra sự phân biệt. Và chính sự phân biệt, hiểu biết và phán đoánnày được gọi là thức. Cũng như Lục căn, thức cũng có 6 thức nên thường được gọi là Lục thức. Do đó Lục thức gồm có: Nhản thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.”

     Hiểu được căn, trần và thức thì ta hiểu được ý nghĩa thơ của tác giả trong bữa trai ngọ hay là một bữa ăn chánh niệm. Trong bữa ăn chánh niệm đó, người tu sĩ phải quán rõ sự vô ngã vô thường, sự huyễn mộng của kiếp sống, phải tách lìa sáu căn, quẳng đi sự mơ màng của sáu thức để cho tâm thần trở nên an lạc.

     Trong phần thơ còn lại, tác giả thỏa lòng với những bữa ăn trong cuộc đời tu hành của mình, nhà thơ nguyện với lòng sống vì đạo pháp để giãi cướu chúng sinh, đưa họ lên thuyền Bát nhã để về cõi Phật nơi tây phương tịnh độ:



           Cơm một bát đủ ấm lòng ba buổi
           Kinh vẹn thì lục khắc với năm canh
           Nguyện một lòng soi rọi giúp quần sanh
           Thuyền Bát nhã đáp vương thành tịnh thổ           

           Trưa hè nắng nhưng mồ hôi chẳng đổ
           Bát cơm lành trưa đúng ngọ cùng dâng…

     “Thuyền Bát Nhã là chiếc thuyền Trí huệ do pháp nhiệm của Phật tạo nên để rước các chơn hồn đắc đạo lên cõi cực lạc.

Thuyền Bát Nhã là từ ngữ để nói ví dụ so sánh. Con người sống trong cõi trần đầy ô trược nên bị tấm màn vô minh che lấp, để cho lục dục thất tình cám dỗ khiến sai. Chừng nào phá bỏ được tấm màn vô minh ấy thì vượt lên khỏi sự cám dỗ của lục dục thất tình, trở lại làm chủ chúng nó, lúc đó con người hết vô minh, tức nhiên đạt được Trí huệ, và cái Trí huệ ấy ví như chiếc Thuyền Bát Nhã, đưa con người đến cõi Cực Lạc Niết Bàn, đắc đạo thành Tiên Phật.”

     Người viết bài này, vì cảm động trước bài thơ nhẹ nhàng mà uyên thâm, thanh bai mà sâu nhiệm, lại nhớ đến bữa ăn mà mình từng được thụ lảnh, nên tra cứu sách vở để hiểu thêm bài thơ mà viết cảm nhận của mình, hầu cho những ai có đồng tâm tình thì thưởng thức nó. Những gì người viết tra cứu được để viết, đều đóng trong ngoặc kép. Kính mong qúy vị lượng thứ trước những điều sai trật.

                                                                  Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ” THƠ THÍCH TÍN THUẬN - Châu Thạch

Thursday, September 10, 2020

BÀI CA CHO HUẾ - Thơ Hồng Thúy, nhạc Liên Bình Định, ca sĩ Diệu Hiền, video clip Hùng Đặng




BÀI CA CHO HUẾ

Bao tháng năm dài xa… nhớ Huế
Ngói cũ rêu phong mái đình làng
Hương nắng chan hòa duyên dáng phố
Tóc thề... tôn nữ… nón bài thơ  

 Hồn vẫn chiêm bao Huế ngọt ngào
 Hàng cây xanh lá thắp nôn nao
 Hỏi thăm thôn Vĩ bình yên đó
 Giữ cả tơ lòng ai xuyến xao

 Lờ lững Hương Giang… dòng nước biếc   
 Lượn mình soi bóng giấc mơ say
 Đành sao… lỡ hẹn… bâng khuâng Huế
 Để giọt đầm đìa ướt mưa bay

 Từng nhịp cầu mây lùa chân bước
 Trường Tiền vương sắc áo em qua
 Tình tự câu hát Vân Lâu bến
 Dạ mãi bồi hồi khúc Nam Giao


 Chiều rơi đó Huế tím hồi chuông
 Ngân giữa không gian Huế Ngự Bình
 Em nói câu gì thao thức núi
 Bát ngát xưa về đan dấu tim

 Tìm đâu ngày cũ… cố đô ơi!
 Ngút mắt Đông Ba… khuất phương trờ
 Hoàng Thành… hun hút mờ sương khói
 Viễn xứ trăng sầu… Huế… ngàn khơi!     

                                              Hồng Thúy






Thơ: Hồng Thúy
Nhạc: Liên Bình Định
Ca sĩ: Diệu Hiền
Hòa âm: Duystudio 
PPS: Hùng Đặng

READ MORE - BÀI CA CHO HUẾ - Thơ Hồng Thúy, nhạc Liên Bình Định, ca sĩ Diệu Hiền, video clip Hùng Đặng

Wednesday, September 9, 2020

NÓI VỀ THƠ HAY CỦA NGÀN NĂM VĂN HIẾN THĂNG LONG - Phạm Ngọc Thái


Tác giả Phạm Ngọc Thái

NÓI VỀ THƠ HAY 

CỦA NGÀN NĂM VĂN HIẾN THĂNG LONG


PHẠM NGỌC THÁI


       Nói về thơ hay ở đây, nghĩa là bài thơ đó phải được lưu danh sử sách trong văn hiến của ngàn năm Thăng Long - Thí dụ: cao siêu là KIỀU của đại thi hào Nguyễn Du, thuộc thể tiểu thuyết thơ. Các loại thơ ngắn hay xưa nay, trường cửu với thời gian, như: 

      Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (BHTQ) - Làm lẽ, Hồ Xuân Hương - Thu điếu, Nguyễn Khuyến - Thương vợ, Tú Xương - Đây thôn Vỹ Dạ * Mùa xuân chín * Bẽn lẽn, Hàn Mặc Tử - Tràng giang, Huy Cận - Tương tư, Nguyễn Bính - Tương tư chiều, Xuân Diệu - Tranh lõa thể, Bích Khê - Say đi em, Vũ Hoàng Chương - Hai sắc hoa tigôn, TTKH. - Thuyền và biển, Xuân Quỳnh - v.v...

          Đó là những bài thơ hay thuộc hàng đỉnh của nền văn học nước nhà. Thơ hay như thế của các nhà thơ đương đại hiếm lắm? Theo con mắt thơ của tôi: Các nhà thơ của HNVVN hiện nay, chưa có ai vượt qua nổi bài thơ hay "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh. 

    Vậy, Thế nào mới là một bài thơ hay của văn hiến ngàn năm Thăng Long? Dứt khoát phải có hai yếu tố:

1.  Thơ của muôn đời, chứ không phải thơ chỉ một thời.

2.  Thơ phải thật viên mãn về cả nghĩa và nghệ thuật thi ca.

     a-  Viên mãn về nghĩa: Bắt buộc tình, ý trong thơ phải viên mãn. Nếu nghĩa thơ không viên mãn? dù ngôn ngữ tinh túy, hình tượng đẹp... cũng chưa tạo được bài thơ hay.

     b-  Viên mãn về nghệ thuật thi ca: Khi nghĩa bài thơ đọc lên đã viên mãn rồi - Ngôn ngữ, hình tượng thi ca hay tới mức nào? Nó quyết định bài thơ hay đến đó.

            Nếu tất cả đều đạt tới đỉnh, thì bài thơ hoàn bích.


                ĐIỂM ĐÔI NÉT MẤY BÀI THƠ NỔI TIẾNG XƯA NAY


A/. " QUA ĐÈO NGANG" của Bà Huyện Thanh Quan (BHTQ) -  Đây là một bài thơ thất ngôn bát cú, theo thể Đường luật rất mẫu mực ở nước ta. Ngôn ngữ, nghệ thuật tinh hoa. Ta bàn về ý nghĩa bài thơ xem độ viên mãn thế nào?

     Bốn câu đầu chỉ là miêu tả để giới thiệu quang cảnh Đèo Ngang: Trên trời bóng đã xế tà; quanh đèo cỏ cây, hoa lá mọc chen trong khe đá; dưới núi vài chú tiểu đi kiếm củi... và mấy quán chợ lác đác bên sông - Nhưng đến hai câu giữa:

                 Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

                 Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

     Tương truyền, BHTQ rất thạo việc quốc gia: Khi ông Huyện đi vắng, bà vẫn thay ông lên chốn công đường xử kiện. Đồng thời Bà Huyện còn là một phụ nữ rất đảm việc nhà, để ông Huyện yên tâm làm việc nước - Vậy là, chỉ bằng hai câu thơ (cũng vẫn là mượn cảnh vật), đã ôm bọc cả nỗi lòng bà: về nước, về nhà trong đó.

 - Mượn hình ảnh con chim cuốc ra rả kêu vào những tháng hè - Cái tiếng "gia gia" ở đây là xuất xứ từ con đa - đa... gọi lái sang thành "gia gia"...  nói lên nỗi nước, tình nhà của bà - Hình tượng, ngôn ngữ trong thơ thật là sâu xa, huyền thẳm. Không biết khi sáng tác BHTQ viết là "con cuốc" hay "con quốc"? Người đời sau, nhiều bản khi chép lại thơ của bà, đã viết thành con "quốc quốc"... để biểu thị cho tính nước non. Hai câu cuối đẩy bài thơ đến hoàn toàn viên mãn:

                 Dừng chân đứng lại trời, non, nước

                 Một mảnh tình riêng, ta với ta

      Nỗi niềm tâm sự giữa chốn đèo hoang vu, chỉ mình ta với ta thôi - Một câu thơ kết tuyệt bút!


B/.  HÀN MẶC TỬ -  Thi nhân Hàn Mặc Tử có một chùm thơ ba bài tuyệt hay: Đây thôn Vỹ Dạ, Mùa xuân chín, Bẽn lẽn - Tôi nói ít nét về từng bài.


     1.  Đây thôn Vỹ Dạ: Bài thơ gửi gắm tâm tư về một mối tình đơn phương của thi nhân với nàng Hoàng Cúc - Ba câu đầu của khổ thơ thứ nhất là cảnh của hồi ức: Từ hàng cau, nắng mới, đến màu xanh mướt của vườn cây vào buổi sáng - Ông nhớ về nơi ở của nàng Hoàng Cúc trong thôn Vỹ Dạ. Đến câu thứ tư:

                  Lá trúc che ngang mặt chữ điền

     Đã là câu thơ tượng trưng rồi: "lá trúc" là hình ảnh biểu tượng cho làng quê Việt Nam - Còn "mặt chữ điền", theo cách nói cổ nho, ví cho gương mặt của người đàn ông (biểu tượng cho chính thi nhân), giờ đây đã bị "chắn ngang": mãi mãi phải cách xa, không gặp lại được nhau nữa. 

     Đến khổ thơ thứ hai, phát triển còn sâu hơn. Ta gọi là tư duy trong:

                  Gió theo lối gió, mây đường mây

                  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

     Nghĩa là:

                  Em theo đường em, anh đường anh

                  Tình của đôi ta có thế thôi

     Để nói về duyên phận của hai người phân cách đôi đường, không thể đến được với nhau. Thi nhân cô đơn, ngồi nhớ người xưa: Lòng ông như dòng nước lặng lờ chảy buồn thiu, với bông hoa bắp phật phờ lay ở bên sông - Những bài thơ tuyệt hay của thi đàn xưa nay, nghĩa thơ thường được phản ảnh qua những hình tượng sâu xa, tinh tế như vậy.

      Tôi chỉ phân tích một số nét đặc trưng để toát lên cái hay của bài thơ, chứ không bình hết vì sẽ rất dài.

     "Đây thôn Vỹ Dạ" là một tuyệt tác thi ca! Có nhà bình thơ ở đương đại lại cho rằng: Khổ thơ thứ hai chỉ là tả cảnh theo cảm xúc của nỗi buồn mênh mang - Hiểu  thế sẽ không thấy được cái hay, độ sâu sắc trong tư duy về cuộc đời của nhà thơ? Tình, ý trong thơ cùng ngôn ngữ thi ca phải thật sự viên mãn vậy, mới được gọi là thơ hay! 


2/.  Mùa xuân chín:  Là bài thơ tả cảnh mùa xuân. Lúc này thi nhân đang phải điều trị bệnh tại Gành Ráng, Qui Nhơn, biệt lập xa cách với sự sống con người. Thi phẩm được rút ra từ trong thơ điên Hàn Mặc Tử (đề mục Hương Thơm). Nhưng đọc "Mùa Xuân Chín" ta thấy chẳng những thơ không điên, lòng thi nhân thanh tao, cõi hồn siêu thoát, tựa thể ông đang ngồi thụ cảnh thiên thai của bậc khách tiên sa. 

       Hoài Thanh có nhận xét về thơ HMT như sau: “... Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói...". Cảnh thơ tựa bức gấm thêu, toát lên tấm tình tha thiết của thi nhân với nơi thôn dã. Ngôn ngữ, nghệ thuật thơ sử dụng rất nhiều thi pháp của dòng thơ tượng trưng châu Âu.

    Ta hãy nghe một đoạn thơ:

                         Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi 

                       Hổn hển như lời của nước mây…

                       Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
                       Nghe ra ý vị và thơ ngây…

          Không phải là "nước mây hổn hển" đâu? Chính là lòng thi nhân đang "hổn hển". Hay những hinh ảnh: “tiếng ca vắt vẻo”, “sột soạt gió trêu tà áo biếc”, "Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc"… đều là  biểu tượng của dòng thơ tượng trưng: Bộc lộ một tâm tư, tình cảm về cuộc sống. Ngay cái tên đề "Mùa xuân chín" cũng có tính tượng trưng rồi.

        Kết thúc thơ, lòng thi nhân trào lên một nỗi nhớ thương làng quê da diết:

                     Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

                     Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng 

                             - Chị ấy năm nay còn gánh thóc,

                     Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

       Sắc thái "...sông trắng nắng chang chang", vẽ ra cảnh trắng toát trên con sông mộng. Cảnh thực trong hồi ức mà như ảnh ảo, đưa tình thơ viên mãn tới tột cùng. Tả cảnh mùa xuân, nhưng lại chứa chất nỗi tình đời sâu sắc như thế... mới trở thành một bài thơ hay!

      Tuy vậy, bài "Đây thôn Vỹ Dạ" hay hơn một chút so với "Mùa xuân chín": Chủ yếu vì ngôn ngữ, hình tượng có phần ảo hơn, nên thơ huyền diệu và sâu lắng hơn.  Như Chế Lan Viên đã từng viết trong Di Cảo, rằng:

                    Bên kia bờ hư ảo - bờ thơ  


3/.  Bẽn lẽn:

                Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
                Đợi gió đông về để lả lơi
                Hoa lá ngây tình không muốn động
                Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.

                Trong khóm vi vu rào rạt mãi
                Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
                Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
                Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

                Vô tình để gió hôn lên má
                Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
                Em sợ lang quân em biết được
                Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
     Có người lại cho rằng, bài thơ "Bẽn lẽn" hay hơn "Đây thôn Vỹ Dạ"? Thực ra, hai bài thơ này đều là thơ tuyệt hay thuộc hàng đỉnh của HMT - Về phong dáng, tính chất, chúng đứng trên hai ngọn thi sơn khác nhau: Nhưng bài "Đây thôn Vỹ Dạ"... "rất đời", nên dễ cảm hóa lòng người - Như câu châm ngôn của dân gian "Chỉ có cây đời mãi xanh tươi". Gần gũi cuộc sống nên được nhiều người thích và bình... mà nổi tiếng hơn.  
     "Bẽn lẽn" sở dĩ trở thành bài thơ rất hay: Bởi nó có những "câu thơ vàng":
                       Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
                       Đợi gió đông về để lả lơi
     Hay:
                       Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
                       Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
     Là những câu thơ hay vào hàng kiệt xuất của thi đàn xưa, nay - Ngôn ngữ, nghệ thuật thi ca thì khỏi chê rồi... Vậy, ta xem về tình, ý (tức là nghĩa bài thơ) có viên mãn không, mà lại gọi là thơ hay?
    Bốn câu đầu, miêu tả cảm xúc của thi nhân với nguyệt trên trời, như một người tình (đã được nhân cách hóa), xuống lả lơi "nằm sóng soãi" (như tấm thân trắng ngần của người con gái) để... tình ái với Người - Cảm xúc đến mức độ: "hoa lá ngây tình không muốn động", lòng người mới bồi hồi thốt lên gọi: "chị Hằng ơi"! 
          Ta hãy chú ý, Hàn Mặc Tử đã tả hai câu thơ sau đó:
                       Trong khóm vi vu rào rạt mãi
                       Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
     Hai câu thơ này thuộc về "tư duy trong": Lòng thi nhân bồi hồi, xao xuyến... Người nghe như văng vẳng tiếng mời chào của ái tình đang dậy lên ở trong mình... rồi lại lặng đi... nên hỏi: "Sao im đi"? Về nghệ thuật thi ca: Đây là cảm xúc nội tâm đang chan chứa trong lòng thi nhân, đồng họa với tiếng gió thổi qua khóm cây lau... nghe rào rạt - Về cấu tứ: Thơ được tư duy giống như trong bài "Qua đèo ngang" của BHTQ hạ hai câu thơ ở giữa bài:
                        Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
                        Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
      Hay như "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử, khi viết hai câu:
                        Gió theo lối gió, mây đường mây
                        Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
      Để nói về nỗi đời chất chứa bên trong - Chính thế mà tình ý bài thơ mới được diễn tả một cách sâu sắc để tiến đến sự viên mãn - Trở lại với bài "Bẽn lẽn", sau đó thi nhân tả: 
                        Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
                        Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
     Hình ảnh bóng nguyệt in hình trong khe nước, nhưng chính là để tượng trưng cho cái thiên thai của người con gái, qua đó hạ hai câu kết về chuyện trăng hoa trai gái:
                        Em sợ lang quân em biết được
                        Nghi ngờ tới cái tiết trinh em
      Đây chỉ là cách nói mà HMT "ví chơi": nhưng để nhân cách hóa với hình ảnh lấy làm biểu tượng về "cái ấy" của người con gái ở câu thơ trên: Ô kìa, bóng nguyệt trần truống tắm /-  Mà tạo nên sự dung dị, hoàn bích của bài thơ. Bài thơ chứa đầy những cảm xúc khao khát, vì nỗi tình quạnh vắng của thi nhân. 
      Đọc sâu về nội tâm bên trong của Bẽn Lẽn, ta thấy từ ngôn ngữ, hình tượng thi ca... đến ý, tình của bài thơ đều quyện lấy nhau mà tuôn chảy theo dòng cảm xúc.
     Tôi bình đôi nét về một bài thơ hay ở thời hiện đại.

C/.  "THUYỀN VÀ BIỂN" của Xuân Quỳnh:  "thuyền", biểu tượng cho người con trai - Và "biển", chính người con gái ấy!
        Biển và thuyền quấn quít với nhau trong tình yêu của đôi trai gái. Xuân Quỳnh viết: 
                   Lòng thuyền nhiều khát vọng
                   Và tình biển bao la...
     Hay là:
                   Những đêm trăng hiền từ
                   Biển như cô gái nhỏ
                   Thầm thì gửi tâm tư
                   Quanh mạn thuyền sóng vỗ
      Về tính cách của tình yêu, cũng có lúc say đắm - khi lại giận hờn. Nữ thi sĩ diễn tả:
                  Cũng có khi vô cớ
                  Biển ào ạt xô thuyền
                  Vì tình yêu muôn thuở
                 Có bao giờ đứng yên?
     Thơ được tư duy rất sâu sắc về nội tâm bên trong:
                 Chỉ có thuyền mới hiểu
                 Biển mênh mông nhường nào 
                Chỉ có biển mới biết 
                Thuyền đi đâu, về đâu...
      Thơ diễn đạt mọi chiều của tình yêu một cách rất lô-gích. Yêu đã thế, ngay cả khi nói về sự xa cách, cũng được lấy hình ảnh của "thuyền - biển" làm tượng trưng thật hay:
                Những ngày không gặp nhau
                Biển bạc đầu thương nhớ  
                Những ngày không gặp nhau
                Lòng thuyền đau - rạn vỡ...
     Hình ảnh "sóng biển bạc đầu"... trở thành sự "bạc đầu vì thương nhớ" của người con gái - Sự rạn vỡ của con thuyền...  để nói về sự quặn đau trong trái tim người con trai khi phải xa cô gái mình yêu.
     Đoạn kết thơ:  
                  Nếu từ giã thuyền rồi
                  Biển chỉ còn sóng gió
                  Nếu phải cách xa anh
                  Em chỉ còn bão tố...
     Nếu phải chia ly, cả đôi trai gái đều đau đớn và trái tim tan vỡ!
  -  Ý, tình bài thơ được đẩy tới viên mãn tột cùng. Ngôn ngữ hình tượng đẹp, tư duy lô-gích và giàu cảm xúc - Chính vì vậy, "Thuyền và biển" mới đạt được là một bài thơ hay, lưu mãi vào trong nền văn học nước nhà. 

                       PHẠM NGỌC THÁI  


READ MORE - NÓI VỀ THƠ HAY CỦA NGÀN NĂM VĂN HIẾN THĂNG LONG - Phạm Ngọc Thái

NẮNG ẤM QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyên Lạc




NẮNG ẤM QUÊ HƯƠNG

1.
Quê hương ơi! Chia đến tôi chút nắng
Đai Ngãi* ơi! Gởi chút ánh lam chiều
Khói đốt đồng mùi rạ thơm quê cũ
Tiếng "bâng khuâng chim vịt kêu chiều" **

Gởi đến tôi hương hoa cau thơm lự
Bao năm rồi tôi nhớ lắm mùi hoa
Tôi nhớ lắm mắt dao cau bén ngọt
Chém tim này và chắc mãi thiên thu!

2.
Thức dậy đi mặt trời xứ lạ
Chiếu rọi tôi đi những tia nắng dù không phải nắng quê hương
(Biết tìm đâu ấm hồng thắm nắng thân thương?)
Cũng đủ chút gì cho giá băng đất khách

Thức dậy đi mặt trời dù xa lạ
Xoá giùm tôi thẫm bạc sương mù
Nơi đất khách sáng nay hồn buốt giá
Tạm ấm lòng dù nắng chẳng màu xưa

Cố nhân ơi! Sáng nay trời xứ lạ
Nắng xứ người sao thay được nắng xưa?
Cố lý ơi! Sáng nay một màu tàn tạ
Nhớ lắm người ơi hoa nắng quê nhà!

3.
Sáng hôm nay chớm thu sao lạnh quá
Sương trắng màu tang vương mắt tha nhân
Thấy gì đâu? Ngoài nhạt nhoà sương lệ
Ôi ... nhớ làm sao màu nắng ấm quê hương!

                                                  Nguyên Lạc

.........

* Đại Ngãi, Long Phú, Hậu Giang quê tôi nằm bên bờ sông Hậu, gần cửa biển.
** Chiều chiều chim vịt kêu chiều/ Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau - Ca dao

READ MORE - NẮNG ẤM QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyên Lạc

“ĐÃ THUA ĐẤM LẠI CÒN THUA ĐẠP” - Hoàng Đằng



              Tác giả Hoàng Đằng



“ĐÃ THUA ĐẤM LẠI CÒN THUA ĐẠP”
(Mẩu truyện nhỏ hư cấu của Lão Gàn)


Thằng Tèo từ ngoài xóm chạy về. Khuôn mặt trắng trẻo, non choẹt của thằng bé mới mười tuổi loang lổ những vệt nước mắt nước mũi, miệng mếu máo như van nài bố nó để mong có sự an ủi hoặc sự giúp đỡ:
- Ba ơi ba, thằng Độn, con mụ Đĩu, đánh con.

Bố thằng Tèo đang ngồi đọc sách, nghe con mách chuyện, vẫn tỉnh bơ, thủng thẳng từng lời:
- Tại răng nó đánh con, con có lỗi chi với nó phải không?

Tèo sụt sịt kể:
- Con chẳng có lỗi chi với nó cả, nó lớn hơn con, mạnh hơn con nhiều, con đâu dám! Sáng nay, mạ cho con 2000 đồng, con ra ngoài vườn bông chơi, thấy chú bán kem, con thèm, mua một cây, con đang cầm nơi tay, chưa đưa lên miệng mút, thằng Độn từ đâu đến sau lưng con, nó cậy mạnh, nó giật của con, con đi theo đòi lại và nó đá con, nó đánh con.

Đáng lẽ bố nó sang nhà mụ Đỉu, hạch tội thằng Độn đã cướp kem của con ông, đằng này, ông lại mắng thằng Tèo:
- Thằng Độn giật kem thì để nó ăn cho rồi, con chạy theo đòi làm chi để bị nó đánh. Ở đời, bất cứ hành động gì, con cũng phải liệu sức. Khi tranh giành gì, nếu có thể thắng thì xông vô, nếu biết mình sẽ thua thì con phải bỏ cuộc. Ra đời, không ai giúp con trong cạnh tranh sinh tồn; đừng cậy có bố mẹ ở nhà rồi cứ nhào liều. “Chờ mạ thì má sưng”; rốt cuộc, con sẽ “thua đấm lẫn thua đạp”.

Nghe bố nó giải thích như thế, thằng Tèo không trông mong chi nữa; nó lau nước mắt, chùi nước mũi, lủi thủi bước khỏi chỗ bố nó ngồi.

Nhìn ra ngoài đường, nó thấy con chó nhỏ đang cắn cục xương chạy, sau lưng nó con chó to hơn đang rượt đuổi để giành, khoảng cách hai con chỉ còn gang tấc.

Tuy còn nhỏ tuổi, thấy vậy, nó cũng đã thấm thía lời bố nó …

                                                           Hoàng Đằng
                                                10/9/2020 (23/7/Canh Tý)

READ MORE - “ĐÃ THUA ĐẤM LẠI CÒN THUA ĐẠP” - Hoàng Đằng

NGÀY HẠNH PHÚC – Thơ Nhã My





1. HÔN PHỐI

Cuối cùng rồi cánh bướm cũng cắn xuống ngực hoa
Gió cuốn mênh mang sương mềm mỏng ướt
Trăng mơ màng soi nửa trời hẹn ước
Hoa bàng hoàng
Lời tình yêu mật ngọt
Trời đất chơi vơi
Ngày cõng bình minh sao trở về quá vội


2- NHAN SẮC

Đã chắc gì lụa mỏng hơn da em
Màu nguyệt bạch của trăng non vừa mới chiếu
Đã chắc gì hương cỏ hoa thơm hơn mái tóc mềm
Đã chắc gì những sắc màu hội họa
Khi người họa sĩ tài hoa dùng để vẽ nên bức tranh tố nữ
Thì màu xanh không bằng mắt em
Màu hồng không sánh được đôi má thẹn thùng ửng thắm
Màu đỏ không mộng bằng màu của đôi môi
Em hiển hiện
 Trong tình yêu của anh
Là dung nhan hoàn mỹ nhứt


3- HẠNH PHÚC

Em xỏa tóc
Đùa mùa xuân gió nhẹ
Anh đêm về
Khẻ động giấc mơ hoang
Ai miên man trong tiếng nhạc thơ
Vòng tay ấm
Cho đông về bớt lạnh
Nghe rất khẽ
Ôi mùa yêu đang chậm
Ôi làn hương ngây ngất thoáng qua
Hương tình yêu vừa nở nụ hoa
Tình không đợi
Nghĩa là tình rất mới
Anh không chờ giữa cuộc đời đau
Em không ngờ tình đến với nhau
Như hạnh phúc bên bờ khát vọng
Em xa lạ
Và anh xa lạ
Hai cuộc đời chia mấy chờ mong
Hai cuộc đời hai nhánh của dòng sông
Bờ hạnh phúc nay nối về một bến

                                         Nhã My

READ MORE - NGÀY HẠNH PHÚC – Thơ Nhã My

CÓ MỘT NGÀY DÀI LẮM! - Thơ Vĩnh Thuyên



                 Nhà thơ Vĩnh Thuyên


CÓ MỘT NGÀY DÀI LẮM!

Phải chi vén được màn đêm
sẽ hỏi vài điều chưa hỏi
Giữa phố đông người bước chân ngày một...
Có một ngày dài lắm trong tôi

Phải chi thời gian đứng lại
Khi dòng sông không mang số phận
Khi những câu thơ muộn vỗ về
Có một ngày dài hơn mọi ngày

Phải chi đừng đến...để còn kịp quay về
Nghe dòng sông tôi nói
Lời thì thầm buâng quơ...

                                       Vĩnh Thuyên

….
Tên thật: Dương Văn Thạnh
ĐT: 0913955275
Email: duongvnhthuyen@gmail.com
Địa chỉ : 610 QL22B Long thành Nam, Hòa Thành, Tây Ninh

READ MORE - CÓ MỘT NGÀY DÀI LẮM! - Thơ Vĩnh Thuyên