Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 23, 2018

ĐÔNG HÀ NĂM CŨ - Tùy bút- Hoàng Yên Linh




Đông Hà Năm Cũ...
                                        
Hoàng Yên Linh                                               


                  Đông-Hà tháng 2-1972. Buổi sáng cùng với những đứa bạn ngồi ở quán cà phê Văn-Tường nhìn ra bến xe, buổi sáng chia tay đầy nắng và gió. Buổi sáng vẫn còn phảng phất một chút không khí an bình của thời chiến.Tôi ra đi và vẫn nghĩ chỉ một năm sau sẽ trở về gặp lại người thân, bạn hữu...Và tôi không thể hình dung hơn 40 năm sau mái tóc đã ngã màu sương khói, tôi vẫn chưa một lần trở lại.Và từ đó, Đông-Hà còn lại trong ký ức tôi là thị trấn với con phố buồn hiu đi dăm phút đã về chốn cũ. Đông-Hà còn lại trong tôi đầy ắp kỷ niệm một thời tuổi trẻ.Và quãng đời thăng trầm nghiệt ngã, là những tháng năm trong trại tù cải tạo với nỗi ngậm ngùi cho số phận, là nỗi niềm cay đắng trên bước đường lang thang kiếm sống.Và tất cả trở về trong tôi như một thước phim dĩ vãng tràn đầy nhớ thương chua xót của một thời tin yêu, một thời đắng cay buồn thảm...

                    Những năm tháng chiến tranh, có những lúc đong đưa trên cánh võng ở một khu rừng nào đó, có những lúc đối mặt với cái chết rình rập, tôi vẫn luôn dành trong ký ức một cố hương với bao hoài vọng tưởng tiếc...Vẫn hẹn với lòng mình rồi thế nào cũng có một ngày trở về tìm gặp người xưa, tìm lại cố xứ... Nhưng rồi tất cả đã tan biến theo thân phận người thua cuộc, sau bao cuộc bể dâu mà tình đời, tình người đầy dẫy những oan trái.Vẫn cố tự an ủi với lòng mình rằng người không phụ mình thì ra mình cũng sẽ phụ người vì định mệnh vốn dĩ đã an bài bao đắng cay, nghiệt ngã. Những tháng năm trên vùng sông nước mưu sinh chăn vịt thuê, một mình trên căn chòi vắng giữa đồng không mông quạnh, đêm đêm  nằm khoanh tay gối đầu nhìn xuyên qua mái lá trông những vì sao mà lòng bất chợt bình an lạ thường. Không oán hờn, không trách móc. Mới nghiệm ra rằng cuộc đời vốn dĩ sắc sắc không không... Hay một lần ngang qua phà Mỹ-Thuận gặp lại người bạn cũ đang kéo lê tấm thân tàn phế bán từng tờ vé số mới thấy lòng chùng xuống, nỗi đau không ầm ỉ nhưng tê buốt, hóa ra cuộc đời bất hạnh đâu chỉ có riêng mình.

                      Khi viết những dòng này, tháng năm còn lại của cuộc đời chẳng còn bao nhiêu nữa, tôi vẫn mãi là kẻ tha hương bất đắc dĩ, như một kẻ cô đơn lạc loài giữa rừng chiến khu kỷ niệm, vẫn tự cố dối lòng mình bằng những giấc mơ không thật, bằng đêm đêm gối đầu lên chiếc gối êm đềm của trái mơ hạnh phúc. Không thành công thì cũng thành nhân, người xưa đã thường nói.Với riêng tôi, dòng đời vốn không xuôi chảy thì tìm một chút bình yên qua những vần thơ.Thơ đối với tôi đôi lúc như những liều thuốc an thần giúp quên đi những nhọc nhằn, gian nan khốn khó, những đắng cay tủi nhục. Những bài thơ viết trong những ngày tháng chiến tranh bão lửa, những tháng năm tha phương buồn bã, cơ cực vì miếng cơm manh áo.Thơ để an ủi, để ngậm ngùi cho những ước mong bất toại, để tưởng tiếc những mối tình dẫu chung cuộc đã để lại trong đời những đớn đau... Biết đâu đó chẳng là hạnh phúc vì mấy ai cân lượng vơi đầy với những cuộc tình đã đi qua trong đời mình.Và làm cho lòng bình an xóa hết những hận thù lẫn đắng cay phiền muộn. Dẫu thế tôi không bao giờ là thi sĩ. Không, tôi chỉ là một kẻ yêu thơ, vui đùa với thơ, và nghiệm ra rằng thơ trước sau với tôi là một người tình chung thủy.

                   Khi tôi viết những dòng hồi tưởng này tôi lại nhớ đến mấy câu thơ ngày cũ:
                   Mai còn sống bọn ta về Đà-Nẵng
                   Phố đông vui ta đập phá tan hoang
                   Mai còn sống dẫu là thân què quặt
                  Về cố hương tìm lại chút bình yên.
                                               (Đà-Nẵng,1974)
                   Vâng, một thời tuổi trẻ tin yêu và cuồng nhiệt để rồi cái giá ê chề phải trả cho cả một đời người. Dẫu vậy, tôi vẫn không bao giờ nuối tiếc, tôi tự nhủ với lòng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được và không hổ thẹn với chính mình, không cảm thấy cắn rứt khi nhớ đến bằng hữu chiến trường...

                Ngày mưa trên miền đất cao nguyên, ly rượu sóng sánh, khúc dân ca nhè nhẹ say đắm. Đôi mắt huyền hoặc, chiếc áo bà ba dịu dàng khiến lòng người tha phương bồn chồn xao xuyến.Và tôi lại thao thức nhớ về quê cũ. Đã hơn 40 năm rồi, dòng đời qua đi trong lặng lẽ với bao nỗi niềm u uất. Tôi biết quê xưa giờ chỉ còn lại trong ký ức tôi mái chùa, bến nước dòng sông, những con đường nhỏ đầy dấu chân hò hẹn... Nhưng tình xưa, bạn bè cố nhân nay đã không còn nữa...

                     Vâng, hai tiếng cố hương ngắn ngủi nhưng đeo đẳng suốt cả cuộc đời tôi. Bỏ quê hương ra đi trong lửa đạn...Và tháng năm nhọc nhằn trĩu nặng nỗi cơm áo, cuộc sống tha phương đưa đẩy tôi trôi dạt đến miền Tây sông nước, ở đó tôi có được người bạn vong niên nay đã đi vào cõi vĩnh hằng. Ông Ba Saigon người đã giúp tôi làm thuê bốc vác ở bến cảng Gành Hào để kiếm sống, đêm đêm về làm thơ uống rượu, cái giọng khản đục của ông mỗi lần hài lòng một câu thơ nào của tôi: "Sáng mai tao dẫn chú mày ra chợ Bạc-Liêu uống rượu..." Nỗi xúc động khi về tìm lại người xưa:

                    Tôi về trăng nước còn đây
                    Người xưa đã khuất chân mây cuối trời
                    Bồi hồi bạn cố tri ơi
                    Lá vàng rơi... lá vàng rơi... ngậm ngùi.

                   Những tháng năm lang thang ở Saigon còng lưng trên chiếc xích lô kiếm sống, đêm về thuê manh chiếu ngủ qua đêm ở xa cảng Miền Tây. Ở đó tôi đã được gặp nhạc sĩ Trúc Phương, cũng đêm đêm  về tá túc sau một ngày lang thang trên phố...Tình cảm dành cho nhau trong những ngày cơ cực để rồi nay kẻ còn người mất. Rồi những tháng năm ở miền Đông nắng lửa tá túc với người bạn già đốn củi đốt than. Những cơn sốt rừng dai dẳng, những bữa cơm trộn củ sắn, rau rừng, cái đói cứ chập chờn kể cả trong giấc ngủ... Những ngày lang thang với cái lý lịch màu đen bị đối xử tới tận cùng tủi cực... Rồi đến vùng cao nguyên nắng gió làm phu đập đá kiếm cơm, vừa mưu sinh bằng nghề viết thuê cho những kẻ thừa mứa bạc tiền nhưng nghèo nàn chữ nghĩa, ngậm ngùi cho những đứa con tinh thần của mình chẳng bao giờ được mang tên tuổi chính mình. Cuộc sống vốn dĩ như những dòng sông con nước lúc đầy lúc vơi, bên lở bên bồi và thế thái nhân tình  như cảnh trời sáng nắng chiều mưa. Chính những tháng năm nhọc nhằn đó đã giúp tôi trưởng thành hơn,biết yêu thương khoan dung  hơn và cuộc sống dẫu thế nào chăng nữa vẫn cứ ngọt ngào hơn cái chết.Nhưng trên tất cả tôi vẫn khao khát ấp ủ một ngày về được sống, được nhìn lại dòng sông tắm mát thời thơ ấu, được nghe lại tiếng chuông chùa khoan thai dìu dặt, được đi lại trên những con đường xưa dẫu cố nhân đã ngàn trùng cách biệt.

                Vâng, cố hương - Nơi có tiếng hò từ thuở nằm nôi,có ngôi trường với nét chữ tập viết đầu đời,có áo ai bay trắng trời lộng gió...


                                                       Hoàng Yên Linh
READ MORE - ĐÔNG HÀ NĂM CŨ - Tùy bút- Hoàng Yên Linh

GÃ - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân



Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân


          Gã rít một hơi thuốc dài rồi phả vào hư vô, gã lục tục đánh chén với thời gian để hắn vồn vập đổi màu tóc của gã: từ đen tuyền của một thời trai trẻ thành lấm tấm bạc của tuổi bốn mươi. Ngấp nghé chừng ấy tuổi gã vẫn là một kẻ độc thân, có một ngôi nhà nhỏ, và kì thực nếu thỉnh thoảng gã không đi ra đi vào thì xóm giềng còn chẳng biết có một người như gã ở cạnh. Gã ghét rượu, nhưng ai cũng nghĩ gã là một kẻ nghiện rượu. Cuộc đời vốn thế, người ta hay trông mặt mà bắt hình dong, chỉ vì cái dáng lúc nào cũng gà gật, cái giọng khi nào cũng khề khà, và ăn nói có phần chậm rãi, trông gã như một kẻ nát rượu. Vì gã lập dị nên người ta chẳng chịu giành thời gian nghĩ suy xem thử một kẻ nghiện rượu sao chẳng khi nào có mùi rượu trên người.
          Đã thế, người ta thường đánh đôi những kẻ say rượu thường là những kẻ ngốc và dễ bị lợi dụng. Chẳng khi nào gã ngớt việc, toàn là “việc không công”, “ việc được nhờ”, để “phần thưởng” là rượu chốc lại đầy nhà gã. Và khi người ta tạt ngang nhà gã, thấy cái “gia tài rượu” ấy ngươi ta lại đinh ninh gã nghiện, và thế là có việc gì nhờ lại tặng rượu. Và lại đầy nhà. Gã cũng chẳng buồn giải thích thứ gã ghét nhất trên đời là rượu, gã cứ thu  nạp đầy nhà rồi lại ngồi ngắm chúng, gã chỉ nghiện thuốc lá thôi:
          -Cứ để đó đi, nhắc cho nhớ, cũng vì rượu mà tan nhà nát cửa.
          Gã cũng từng có một gia đình. Cũng nghèo như giờ nhưng lúc nào cũng đùm bọc nhau  mà sống, vợ gã bán buôn ngoài chợ rồi mê mẩn anh lái buôn nào đó. Gã biết được, nhưng thương vợ, bất lực gã không làm gì được nên gã uống. Gã uống rồi gã say, rồi về nhà đập nhà đập cửa, gã không đánh vợ con nhưng chửi mắng um sùm. Vợ gã lấy cớ đó ôm con theo gã tình nhân, còn gã, nghĩ cũng thật buồn cười, vốn chỉ là nạn nhân trong trò chơi tình ái này, bỗng chốc thành kẻ tội đồ, để cho xóm giềng đổ lên đầu cái tội bạo hành nên vợ bỏ.
         -Thậm chí mình còn chưa đụng vào cô ấy.
          Gã tặc lưỡi mỉm cười. Thời gian đầu gã cho rằng hành động của gã là sự ban ơn cho người đàn bà tội đồ ấy, để tất cả lỗi lầm gã chịu, vì đó là người gã thương. Sau dần, nghĩ cũng thật buồn cười, khi chòm xóm đổ lên đầu gã mọi lỗi lầm, gã lại nghiễm nhiên như được “giáo dục lại”, gã cho rằng tại rượu mà vợ gã bỏ gã đi. Nhưng có lẽ như vậy sẽ tốt hơn, thà để gã nghĩ vợ gã còn thương gã… rồi cũng nhờ thế ít ra một sinh linh trên cõi đời này bỏ rượu bia thì đó cũng là điều tốt. Sau khi vợ bỏ gã mới thành một kẻ dở người, ăn uống lôi thôi lại lầm lì ít nói, bởi thế nên tất cả mọi người xa lánh gã, trẻ em còn sợ gã hơn cả ông kẹ.
          Duy chỉ có một người không xa lánh gã, đó là chị, người đàn bà lỡ thì lớn hơn gã chừng một hai tuổi gì đó nhà sát cạnh nhà gã. Thuở trai trẻ, gã cũng từng thầm thương trộm nhớ chị nhưng đó chỉ là mối tình đầu, rồi gã lấy vợ mối tình ấy cũng chìm vào quên lãng. Khi nhìn qua nhìn lại và trải qua nhiều sóng gió cuộc đời gã bất chợt nhận ra chị vẫn chưa có chồng, lo cho mấy đứa em đi học rồi dựng vợ gả chồng hết chị bỗng thành người nửa chừng xuân. Chị ý thức được điều đó và tuổi tác cứ ngày một lớn dần khiến mơ ươc về một mái ấm gia đình đã tắt lịm trong tim chị. Chị ôn hòa và lương thiện nên việc chị nấu ăn còn dư mang qua cho gã chẳng gán ghép hai người với nhau, chỉ là làm cho gã bỗng chốc khơi gợi tình cảm xưa trong mình. Gã biết gã thương chị nhưng gã mặc cảm nên không đến với chị. Còn chị, chị vẫn luôn là một người đàn bà hiểu thấu mọi điều gã kể và lắng nghe gã.
           -Chú hay ốm, nếu nhắm mai không đi ba gác được thì xin nghỉ trước, mà mai chú ráng nghỉ buổi chiều vì chị nghe nói chủ chú vắng buổi chiều, có nghỉ cũng không biết mà trừ lương.
          Chị tính cho gã mọi điều, gã cũng lầm lì giúp chị mọi thứ, khi sửa mái nhà, khi chăn bò chăn vịt. Thế rối biến cố đến, đứa em út của chị nghe theo lời xui khiến của vợ về đòi chị bán căn nhà để lên phố kiếm kế sinh nhai. Chị vùng vằng nên hắn đánh, tức quá gã phang cho hắn một trận, chị xót em nặng lời với gã, gã cũng chỉ im lặng không nói gì rồi hai người cũng xa cách nhau.
          Thể rồi gã lại uống, gã say và tìm đến nhà chị. Men rượu thường dễ dàng khiến cho tình cảm bộc lộ một cách rõ ràng, và khi tình cảm trở nên chúi muồi tới cuồng si thì nó sẽ biến hành động trở thành rồ dại. Vài tiếng bát vỡ. Vũ lực. Xô đẩy, gã bị hơi men thôi thúc cưỡng đoạt chị. Chị hơi bất ngờ, hoảng sọ, nhưng chẳng hiểu sao lúc đó chị chỉ hét lên:
         -Bình tĩnh lại đi.
          Gã bần thần nhưng dừng lại thật. Nhưng sau đó, vì hổ thẹn, gã biệt tăm, tránh mặt chị. Gã đinh ninh chị sợ hắn rồi, cả gã cũng không thể tha thứ cho mình với những điều rồ dại. Chị càng tìm gặp gã, gã lại càng lẩn tránh. Cuối cùng chị “rình” bắt gã cho được, chị níu gã lại. Những người luống tứ tuần níu giữ nhau, kẻ trốn tránh người kì kèo trông cứ như những đứa trẻ đang chơi trò đuổi bắt. Khi gã bình tâm lại, chị mới lựa lời nói nhỏ nhẹ:
          -Tại sao chú không hỏi chị lúc đó không hét lên hay gì hết mà lại chỉ nói chú bình tình? Chị sẽ không nói những câu sáo rỗng như vì chị biết chú không phải người như vậy đâu. Vì ngày hôm đó người làm việc đó là chú mà. Chỉ là chị muốn chú thức tỉnh mà thôi, vì chị biết chỉ cần chị nói chú sẽ lắng nghe.
           Gã chực khóc. Đôi gò má hằn những vết chân chim như cố ép cho những giọt nước mắt chảy ra dù đó là những giọt nước mắt chân thật nhất. Tới tận giờ phút đó chị vẫn nghĩ cho gã, và thật may mắn, thật may mắn vì tận đáy sâu trong con người gã, gã đã kịp thức tỉnh. Thật may mắn vì gã có một người bao dung sẵn sàng tha thứ cho bản chất của gã là chị, Đột nhiên, chị quay lại nhìn gã:
          -Có bao giờ chú nghĩ tại sao tôi tha thứ cho chú chưa?
          Gã nhìn chị, nụ cười của chị đột nhiên trở nên tỏa nắng, hệt như người con gái lớp trên mà gã đã từng thương nhớ thầm.


Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân,
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định.

READ MORE - GÃ - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

Saturday, September 22, 2018

CHÙM THƠ THIỀN 11 CỦA CHU VƯƠNG MIỆN






NHÂN THẾ

nhân sinh là đó đó
có trẻ phải có già
có người đầu tóc bạc
có kẻ tóc loe hoe
tre đến khi tàn lụ
nhường đất lại cho măng
cứ tre già măng mọc
cứ cứ thế xoay vầ
muốn ngăn, ngăn chả được
muốn mau, mau chả xong
chuyển kiếp này kiếp khác
bóng xe quay bao vòng
đất trời chỉ là một
đâu khác hoa phù dung


MỘT PHẦN HAI

bậu với qua tuy hai mà một
qua với bậu tuy một mà hai
cứ sao ở bánh luân hồi
nợ ai đó trả duyên ai đó thành


XA XƯA

từ xa xưa tới bây giờ
sông biển cũng đổi thay
từ du mục tới giờ
con người chưa đổi thay


TRĂNG CUỘI

trăng ở trên cao
cuội ở dưới gốc
tựa gốc đa ngó nam tào
tựa gốc đa ngó mặt a
để trâu ăn lúa
tỉnh cơn mơ
nơi cõi thế ồn ào

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ THIỀN 11 CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

Wednesday, September 19, 2018

CHÙM THƠ THIỀN 10 CỦA CHU VƯƠNG MIỆN





THƠ ẤU

trăng ơi thơ ấu mãi
người kiếp nào cũng già
trăng vằng vặc đó
người ngơi trong tha ma
trăng vòng quanh trái đất
đất trăng vòng mặt trời
ta nhìn trăng một lúc
nhìn chưa xong
đã qua đời


TRĂNG

một vầng trăng khổ nạn
mọc lên rồi lặn mau
mới sườn non chênh chếch
giờ chạng vạng đỉnh đầu
ta là thuyền trôi dạt
hết phà lại qua cầu
bồng bềnh trên luồng nước
biết trôi về phương nào ?


KHÔNG

ngồi một mình một chỗ
đầu bây giờ lãng quên
còn chút gì gợi nhớ
lâu rồi lòng đã quen
mưa ngoài song nhẹ hột
lạnh thêm nỗi nhang đèn
xuân đã qua vội vã
hoa rụng bay ngoài hiên
vẫn căn nhà giột nát
gió thổi thêm mấy miền
em chả còn nghĩ lại
một chùm hoa đỗ quyên
năm nay xuân đến vội
xoá dứt nửa mùa đông
chưa một dòng chữ nhỏ
bay mờ khoảng không


KHÓC CƯỜI

mở mắt ra đã khóc
nhắm mắt lại còn cười
bao nhiêu năm vật lộn
xuôi tay và hết hơi
ruộng cò bay thẳng cánh
bạc đấm mỏi tay rồi
của trần gian gửi lại
ngoài nhị tì rong chơi

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ THIỀN 10 CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

PHỐ MƯA - Thơ Hiệp Kim Áo Tím






PHỐ MƯA

Phố lại mưa rồi anh biết không?
Tiếng mưa tí tách ở bên song
Ta về nhớ lại chiều hôm ấy
Thổn thức mưa rơi hay tiếng lòng...

Phố cũ mưa về thiếu bóng anh
Mây trời u ám vắng màu xanh
Thông buồn se lạnh len đôi mắt
Vắng bước chân người quán lặng thinh

Con đường ngập nước chiếc xe qua
Tung những hạt mưa trắng nhạt nhòa
Hạt mưa lem khóe hay dòng lệ
Ta khóc cho tình - một cuộc xa

Phố cũ chiều mưa thêm hắt hiu
Nghe tiếng mưa rơi lại nhớ nhiều
Thuở tiễn người đi hồn trĩu nặng
Con đường xưa ướt bóng liêu xiêu

Phố vắng anh rồi buồn chơi vơi
Chia tay sao chẳng nói một lời
Để tay em gầy - thương tóc rối
Sợi nhớ thêm nhàu. cố nhân ơi...!

                    Hiệp Kim Áo Tím
                    Đà Lạt, 20/9/2018

READ MORE - PHỐ MƯA - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

HỒ SĨ BÌNH- DẰNG DẶC NIỀM RIÊNG - Phạm Xuân Dũng

HỒ SĨ BÌNH-DẰNG DẶC NIỀM RIÊNG 
Phạm Xuân Dũng

(Nhân đọc “Nhạn qua sông bóng còn in mặt nước”, tập tiểu luận-bút ký của Hồ Sĩ Bình, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2017.)



Cho đến nay, Hồ Sĩ Bình là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn chục tập sách. Từ mấy năm nay, ngoài công việc biên tập với cương vị Phó trưởng Chi nhánh NXB Hội Nhà văn tại miền Trung và Tây Nguyên, anh vẫn say mê đi và viết. Tập sách “Nhạn qua sông bóng còn in mặt nước” là ấn phẩm mới nhất của một cây bút Quảng Trị xa quê hiện sống ở Đà Nẵng.

Hai đề tài quan trọng nhất mà anh Hồ Sĩ Bình tâm huyết và theo đuổi là cố hương và văn nghệ sĩ. Anh là người con của làng Võ Thuận, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Gần nửa thế kỷ sống xa quê nên cố hương thường hay thảng thốt hiện lên trong những trang viết đầy ắp nội tâm rung rức thương nguồn nhớ cội. Nhất là khi người viết đã có tuổi, đã nếm trải nhiều vị cuộc đời, đã gần như cạn chén buồn vui của một kiếp người rồi chưng cất hoài niệm trong xao xác tâm tư một trung niên thi sĩ : “Nghe tin anh mất ở xa tôi không về thăm anh được. Phải mấy tháng sau có dịp trở lại quê mới đến thắp cho anh một nén hương, nén hương tạ tội đối với một người mà mình thật sự quý trọng và thương yêu. Ngày trước, mỗi lần về quê tôi đều đến chơi với anh. Nhà anh ở bên sông Thạch Hãn, nơi khúc sông lượn vòng quanh làng một hình cánh quạt mênh mông diệu vợi và hiu quạnh đến lạnh người. Anh dựng một cái chòi sau vườn nhà cạnh bến sông như một thảo am, bao nhiêu năm chăm lo kinh tế gia đình mình chị ngược xuôi chạy chợ gần nhà. Anh ngồi đó như một ẩn sĩ thời xưa, như một thiền sư đời nay đã bỏ ngoài tai mọi chuyện phù hư thế sự” (“Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn” trang 74, sách đã dẫn.)

Hình bóng và cả thần thái một người anh, người bạn vong niên thông kim bác cổ mang phong thái Lão Trang trong một bài viết mà tên gọi như thơ cứ hiện dần lên qua tiếc nhớ của một tâm hồn đa cảm. Chính con người kiến văn sâu dày đó đã luận về tên dòng sông quê hương theo cách hiểu của mình và điều này cũng rất đáng lưu tâm cho những ai nặng nghĩa với quê nhà : “Hai chục năm trước, ngồi tư lự bên dòng sông này, anh nói. Ai đó lãng mạn, rồi thơ với thẩn giải thích cái tên Thạch Hãn theo lối chiết tự một cách ngớ ngẩn. Thạch là đá, Hãn là mồ hôi. Mồ hôi của đá thành ra một hình tượng văn học cho một vùng đất cơ cực đến nỗi đá cũng oằn mình vì đau đớn để toát ra mồ hôi. Trời ạ, hãn là chặn lại, ngăn lại. Thạch Hãn là đá chặn lại, ngăn lại. Thạch Hãn là đá chặn, cứ lên đầu nguồn Đăc Krông mới thấy lớp đá chặn như thế nào, nhìn đá ngợp lạnh khIếp cả người, nó chặn ngang cả mặt sông. Người xưa đâu mơ mộng đến nỗi mà đẻ ra một hình tượng bay bổng viễn mộng để tưởng tượng ra mồ hôi của đá. Cơm chưa đủ ăn nói chi chuyện mơ màng…” (“Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn”trang 75, sách đã dẫn.)

Cũng trong bài viết này tác giả say sưa bàn về cơm hến dân dã và sau khi rong ruổi dọc theo những con sông đã coi món đặc sản chân quê này là có “bản quyền” Quảng Trị (chứ không phải là của Huế) hay khi nhìn lại sông đào Vĩnh Định người viết tiếc rẻ rằng đây không chỉ đề tài của sử học mà còn là cảm hứng của văn chương.

Chợ mà lại là chợ quê cố hương cứ đeo đẳng Hồ Sĩ Bình không dứt, vì đó tấm vé thông hành cho anh về lại tuổi thơ, về với mẹ xưa tảo tần, lam lũ, với món bánh ướt của làng chấm nước mắm Cửa Việt mà anh xếp hạng thuộc vào loại ngon nhất nước. Hương vị tuổi thơ không chỉ là chuyện món quà quê, chuyện văn hoá ẩm thực mà chứa chan những chuyện không thể nào nói hết cứ mãi theo anh đến hết cuộc đời. Đó quả tình là những thứ mà ta quen gọi nhiều khi mòn cũ là kỷ niệm mà mỗi khi nhớ lại dù cho người từng trải cũng không khỏi xốn xang : “Thiệt lòng mà nói tôi ngồi nhìn anh chị trong đoàn ăn một cách ngon lành không gì sướng bằng, thầm tự hào về đặc sản chợ Thuận quê miềng. Ngon dở cũng tuỳ khẩu vị nhưng có một điều cái vị giác của mình từ ngày thơ dại đã quen với hương vị đầu đời mà mẹ nấu cho ta ăn, kể cả mấy món hàng vặt mẹ mang về cho con, nó như đóng đinh vào vị giác quen thuộc của mình. Huống chi những ngày ấy trong đôi mắt mẹ ngập tràn niềm vui khi nhìn đứa con út ăn một cách say sưa. Với một không gian tâm cảm như thế đã in đậm lên tâm hồn tôi một sự tiếc nuối vì biết mọi thứ đã qua đi không bao giờ quay lại được. Ngày ấy tôi quá vô tư, để có những món quà vặt trong thời buổi mọi thứ còn khó, mẹ đã dè sẻn cắt xén chút ít chi tiêu bữa ăn của cả nhà để mua quà cho tôi”. (“Chợ Thuận trong tâm thức người xa xứ”, trang 102, sách đã dẫn.)

Người mẹ của anh vốn sinh hạ ở cù lao Bắc Phước, một người mẹ chân đất mà minh triết dầu rằng không biết chữ. Nhớ công ơn trời biển mẹ sinh thành dưỡng dục, người viết gọi quê mẹ là “miền đất Cù Lao” mà hai chữ cuối viết hoa tượng trưng cho người Mẹ vô vàn yêu dấu: “ “Mẹ tôi không biết chữ , một chữ bẻ đôi cũng không biết, vì thế đọc sách Thiền tôi rất thích Lục tổ thiền sư Huệ Năng vì ngài không biết chữ mà ngộ được những điều Phật dạy. Bù lại, mẹ tôi là một kho ca dao, tục ngữ đầy mình. Cuôc sống đụng đến bất kỳ chuyện nhỏ gì mẹ tôi cũng đều kịp ra “thơ” bằng ca dao, tục ngữ, phương ngữ để xử lý. Khi thì khuyên lơn dạy bảo con cái, những kỹ năng làm việc hay là những kinh nghiệm về thời tiết, cây cỏ, món ăn, quan hệ vợ chồng, xóm làng, láng giềng…” ("Nơi miền đất Cù Lao”, trang 164, sách đã dẫn.)

Trong nỗi cảm hoài về mẹ và cố hương, trong đêm trăng hoài niệm ngay trên quê ngoại, bước chân hiện tại cứ muốn ngược về quá khứ, muốn vượt qua những ý niệm thời gian, không gian vật lý để được một lần về bên mẹ: “Đêm rảo bước trên cây cầu Triệu Phước, trăng hạ huyền ở miền cửa sông vằng vặc một màu đáo để. Trong nỗi niềm giữa yên ba thâm xứ bỗng ray rứt nhớ mẹ vô cùng. Giá như mẹ còn sống, tôi sẽ cùng mẹ qua sông để khoả lấp nỗi mong ước đời mẹ về lại quê nhà không còn chiến tranh và đò giang cách trở” (“Nơi miền đất Cù Lao”, trang 169, sách đã dẫn.)

Kiếp người giằng xé nỗi lòng nhất vẫn là chuyện sinh ly tử biệt nên nhiều khi cứ muốn ngược về quá khứ hay níu giữ thời gian dù biết muôn phần bất khả thi nhưng tình cảm, đặc biệt là tình thân thì luôn có lý lẽ riêng của nó, thật là vi diệu. Cho nên khi nhắc đến cố xứ và những người ruột thịt, một bài viết của Hồ Sĩ Bình lấy ý một câu thơ Thiền : “Nhạn qua sông bóng còn in mặt nước” dẫu biết rằng cố định thời gian và kỷ niệm bao giờ cũng giống chuyện vớt trăng, hay mộng mị mông lung như “khắc dấu mạn thuyền”. Văn nhân kể chuyện một chàng trai gốc Việt ở trời Tây lần đầu tiên về quê nội bên dòng Thạch Hãn đã thản nhiên lội thẳng xuống sông mà không hề e ngại trong khi bao người trên bờ lo lắng. Hình như sâu thẳm chảy trong huyết quản của người con cha Việt, mẹ Tây có điều gì huyền bí thiêng liêng và thầm kín mách bảo, dìu dắt anh khi bước chân về cố quận hay một lẽ nào khác mà người ngoài, và có thể chính anh cũng khó lòng cắt nghĩa. Rồi tác giả hân hoan khi chứng kiến và phát hiện một tình yêu cảm động trước quê cha đất tổ: “Chao ôi, trên dòng sông này tôi khám phá thêm một điều kỳ diệu cho dù từ ngàn dặm xa xôi, chỉ cần động đến quê quán thì dù là người đến từ nền văn hoá nào mà khi tiếp cận bởi dòng sông quê nhà đều thao thiết nỗi niềm cố xứ. Và người ta phải làm một điều gì đó để không thẹn với dòng sông. Joen Nguyễn đã làm như thế, anh ta bốc một nắm đất để về quỳ lạy mộ cha nơi đất khách. Có lẽ cha anh cũng xúc động dưới suối vàng bởi trong hành trang trở về không chỉ là nắm đất sông Thạch Hãn mà còn là những nắm đất của làng quê, nhà thờ họ và ngôi nhà cũ bên sông” (“Nhạn qua sông bóng còn in mặt nước”, trang 138, sách đã dẫn.)

Hồ Sĩ Bình cũng đã viết khá nhiều về văn nghệ sĩ, trong đó có những người đã thành danh như các nhà văn, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trung Trung Đỉnh, Thái Bá Lợi, Tần Hoài Dạ Vũ… các hoạ sĩ như Vĩnh Phối, Hoàng Đặng, Võ Xuân Huy… Tuỳ theo cảm quan và câu chuyện cụ thể mà chân dung văn nghệ sĩ có độ đậm nhạt khác nhau nhưng hầu như bao trùm lên hết thảy là sự yêu mến, quý trọng về cách sống và lao động nghệ thuật, bàng bạc bóng dáng liên tài của người viết. Ấn tượng nhất, theo tôi là chân dung hai người dù họ không phải là những nhân vật thành đạt trong cuộc đời và nghề nghiệp, thậm chí còn ngược lại : Trần Hữu Nghiễm và Đoàn Thạch Hãn, một đồng môn và một đồng hương, cả hai đều có cuộc đời không hề phẳng lặng cho đến phút lìa trần.

Bút ký nhân vật, nói rõ hơn là bút ký thân phận về hai chân dung văn nghệ thể hiện thế mạnh trong cách tiếp cận đối tượng phù hợp với “ thể tạng” viết lách của Hồ Sĩ Bình ở những tác phẩm thành công: hiểu rõ nhân vật, nhạy cảm với những phận người truân chuyên, khả năng phát hiện những góc khuất, những éo le nhiều khi khó nói của đời người…

Nhớ nhà thơ Trần Hữu Nghiễm, một cái tên rất quen thuộc với báo chí một thời bao cấp, anh bắt đầu phục dựng chân dung bạn, một gương mặt có nhiều nét đặc dị không giống ai :” Trong đời tôi từng tiếp xúc với rất nhiều người, nhà thơ rất mê thơ, sống chết một đời với thơ nhưng có lẽ không ai như Nghiễm, nói không quá, thơ với bạn là tất cả niềm vui sống, thơ đi suốt cuộc đời bạn trong tận cùng đau khổ và hạnh phúc, tưởng như không có thơ bạn sẽ sống thế nào”. (“Nhớ Trần Hữu Nghiễm”, trang 34, sách đã dẫn.)

Cả cuộc gặp lại giữa hai người bạn gần như đồng cảnh ngộ ở đất mũi Cà Mau cũng khác thường sau bao phen cuộc đời quăng quật, họ đã phải kiếm sống và xô dạt nhiều nơi : “Nghiễm kéo tôi xuống ngồi ở một quán nhỏ dưới chân cầu gần chợ. Hai đứa ngồi uống rượu ngồi nói chuyện trên trời dưới đất, không quên nhắc về Huế, về trường xưa bạn cũ với rất nhiều uất nghẹn. Đúng là một cuộc rượu sầu nghiêng chén của Hành phương Nam…Thà cứ ngồi đây, ngồi giữa chợ/Uống say mà gọi thế nhân ơi (N.B). Rồi Nghiễm đọc thơ một cách say sưa, giọng thơ buồn da diết. Mọi người chung quanh tưởng hai thằng say nói sảng. Hình như người ta cũng không hiểu mình đang nói một thứ ngôn ngữ gì. Bạn hỏi tôi có viết lách gì không. Chữ nghĩa vứt hết trên núi rồi bạn ơi…” (“Nhớ Trần Hữu Nghiễm”, trang 36, sách đã dẫn.) Nhớ lại chuyện cũ, người viết không khỏi ngậm ngùi cho bạn mà cũng cho mình : “Cái bi kịch của chúng tôi ngày đó là hãy cố quên đi quá khứ để sống. Chao ôi sống mà để thực hiện một nhiệm vụ duy nhất trong đời là quên đi quá khứ thì còn gì để sống nữa” (“Nhớ Trần Hữu Nghiễm”, trang 38, sách đã dẫn.)

Trần Hữu Nghiễm cũng là một” người thơ phong vận như thơ ấy” đã có những câu thơ như buộc vào phận số đời mình. “Nghiễm là người nói lời vĩnh quyết với bạn bè sớm nhất lớp. Bạn đã nằm lại với Cà Mau như trong một câu thơ đầy sức tiên cảm về cố hương của một thời tuổi trẻ. Đứng thẫn thờ trông về phương cũ/Dáng ai cười sao ướt lá cây xanh…” (“Nhớ Trần Hữu Nghiễm”, trang 38, sách đã dẫn.)

Còn cuộc đời của nhà báo, nhà thơ Đoàn Thạch Hãn cũng thật nhiều uẩn khúc, đa đoan và giông bão, gần giống như một nhân vật luôn bị giằng xé của tiểu thuyết chiến tranh oan nghiệt. Nhưng dù ngả nghiêng giữa dòng đời anh vẫn còn lại trong lòng nhiều bạn bè văn nghệ: “Trong một lần về Quảng Trị mới đây, tôi cùng Lê Đức Dục, Lê Diễn và Lê Hải về Đông Dương, Hải Lăng thăm mộ Đoàn Thạch Hãn-một người bạn, một nhà thơ mà anh em chúng tôi quý mến”(“Bên mộ Đoàn Thạch Hãn”, trang 39, sách đã dẫn.)

Hoàn cảnh éo le, cuộc đời nghiêng ngả vì sự xuất thân cứ như thể gắn chặt với thời cuộc và những ngã ba số phận. Cứ thế mọi sự đã xô đẩy Đoàn Thạch Hãn vào những lựa chọn khó khăn, những thị phi nghiệt ngã và cả những ngộ nhận đáng buồn. Nhưng nhiều bằng hữu, trong đó có người viết vẫn nhận ra : “ Tội cho anh, chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì, nhiều phụ nữ đã đến rồi đi, họ xem anh như một cuộc chiếc cầu để đi qua một đoạn đời mà anh mãi mãi là người đứng lại bên kia cầu để khóc cho phận mình. Đời anh đau buồn đến thế mà chẳng bao giờ nghe anh than vãn” (“Bên mộ Đoàn Thạch Hãn”, trang 41,42, sách đã dẫn.)

Một cuộc đời trầm thống luôn biến động không yên với những phong ba không dễ vượt qua nhưng trước sau Đoàn Thạch Hãn vẫn thương nhớ khôn nguôi quê cũ, vẫn quặn lòng khi nhắc đến cố hương. “Và anh viết: Chao ôi những phố phường mơ ước/Chẳng thấy gì đâu chỉ thấy buồn. Với anh quê hương là tất cả. Những bài thơ hay nhất vẫn là những bài thơ về làng quê, về dòng Thạch Hãn nơi nhau rốn của mình. Ngay cả khi cuối đời bệnh tật đang trải qua những đau thương cho quên mấy thưở trầm luân ở đời, anh cũng ngùi ngụi hoài vọng hai chữ cố hương”.(“Bên mộ Đoàn Thạch Hãn”, trang 43, sách đã dẫn.)

Văn Hồ Sĩ Bình ở những bài viết, trang viết có chất được người đọc ghi nhận thường giàu cảm xúc, một thứ văn xuôi gần với thơ và bén duyên thơ, khá tinh tế và nhiều lúc lộ vẻ tài hoa, một thứ văn nhiều khi thiên về cảm giác, đôi lúc bảng lảng, mơ hồ nhưng nếu cần vẫn riết róng đến cùng “chẻ sợi tóc làm tư”, tạo dựng được không khí và để lại dư vị.


Hồ Sĩ Bình vẫn đi và viết, cầu chúc cho anh chín tới văn mình.

Phạm Xuân Dũng
READ MORE - HỒ SĨ BÌNH- DẰNG DẶC NIỀM RIÊNG - Phạm Xuân Dũng

CHỈ VÌ SỢ MẮC LÒNG - Thơ - Trần Thiên Thị















CHỈ VÌ SỢ MẮC LÒNG
Trần Thiên Thị


Sợ mắc lòng chị hàng bún mắm 
cô hoa khôi xóm tôi 
bây giờ ú na ú nần 

sợ mắc lòng mấy gã hào hoa công tử 
chị Hằng Nga đến bây giờ 
vẫn còn trinh 

sợ mắc lòng với cây trụ điện 
con chó hoang 
đêm nào cũng tưới 

sờ mắc lòng chị em goá bụa 
gã làm thơ bạc đầu 
một đời lặn lội 

sợ mắc lòng chiếc loa đầu phố 
Beethoven 
chọc thủng lỗ tai mình 

sợ mắc lòng với đạo nghĩa 
gã giang hồ 
sau khi say là quay về nhà 

sợ mắc lòng với lương tiền cơm áo 
gã nhà văn công chức 
ngày nào cũng hành kinh 

sợ mắc lòng với mùa xuân 
hoa ni lông 
cuối cùng cũng nở 

TTT






READ MORE - CHỈ VÌ SỢ MẮC LÒNG - Thơ - Trần Thiên Thị

GIỌT BIẾN THỂ - Thơ - Nguyễn Hữu Minh Quân


Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân

GIỌT BIẾN THỂ
Nguyễn Hữu Minh Quân

có những chiều ngồi như phỗng đá
chờ tóc bạc dài ra
lũ nhỏ tan trường như ong vỡ tổ
xôn xao niềm vui hồn nhiên
vài chén đắng nghiêng chiều vào vực thẳm
đêm hấp hối chung chiêng
hồn mưng mủ vết thương xưa em cắn
hằn thâm một góc trời chiều
vết bầm tình yêu tự chứng
em như vùng sóng xoáy
ta chừ khơi xa…
ba mươi năm thơ dài ra như gió
cuống cuồng thổi dọc cô đơn
có gì rơi đau rất lạ
hay nỗi buồn và những biến thể
loãng tan trong mù sương?
có gì xoáy ta thành từng giọt
đêm nhìn tạ ơn.


                    29.08.2017
NHMQ
READ MORE - GIỌT BIẾN THỂ - Thơ - Nguyễn Hữu Minh Quân

ĐỜI BIỂN CẠN - Thơ - Nguyễn An Bình


NGUYỄN AN BÌNH


ĐỜI BIỂN CẠN


Có từng đêm giữa những cơn biển động
Tôi nằm mơ nghe sóng đánh dội lòng
Con còng gió trốn mình trong bão cát
Kiếp dã tràng thương số phận long đong.


Lòng biển rộng không dung đời hai đứa
Đôi tình nhân trong thân xác tội đồ
Cơn hồng thủy đem người xa đất hứa
nhấn chìm theo lời thú tội ngu ngơ.


Và tháng chín - bước chân người xa quá
Ngày thu đi trên ngọn sóng phù du
Dõi ánh mắt khát khao bờ bến lạ
Vết dao đâm giữa tuyệt vọng khơi mù.


Lồng ngực đở bỗng đau ngàn tiếng sóng
Cơn bão tình trào đục chết đêm nay
Con chim lạ trốn tình nơi góc biển
Đời nghiệt oan chìm khuất những cơn say.


Người bỏ lại - tình tôi - đời biển cạn
Nhánh rong nào phiêu bạt chốn nhân gian
Tiếng hát mỹ nhân ngư bên bờ vắng
Đưa người về từ một thuở hồng hoang.
16/9/2018
N.A.B.

READ MORE - ĐỜI BIỂN CẠN - Thơ - Nguyễn An Bình

Tuesday, September 18, 2018

MỪNG SINH NHẬT BẰNG THƠ / KHÚC MỘNG .../ BÂY GIỜ... - Thơ - Tịnh Đàm

Tác giả Tịnh Đàm


MỪNG SINH NHẬT BẰNG THƠ 
(Thân tặng bác G.T.Điệp.)

Câu thơ gói trọn tấm lòng.
Mừng anh Sinh Nhật vui trong phúc phần.
Bạn nghèo chỉ có tình thân,
Ước mong đẹp mãi muôn lần không phai.

KHÚC MỘNG  ...

Em là hương
dậy men đời,
Để môi thêm ngọt
Hát lời tình yêu.

Hồn tôi,
Cánh gió phiêu diêu
Thả bao mơ ước ...
Cho chiều lên xanh .

BÂY GIỜ...

Bây giờ,
Con mắt nhăm nheo
Cái hình, cái bóng cùng theo nhau về.
Lẩn vào trong cả cơn mê,
Nào em nhân ảnh cận kề..
Giấc đêm .

TỊNH ĐÀM

(HÓC MÔN,  TP. HCM )
READ MORE - MỪNG SINH NHẬT BẰNG THƠ / KHÚC MỘNG .../ BÂY GIỜ... - Thơ - Tịnh Đàm

VÌ EM HỜN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - VÌ EM HỜN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Đông Nguyễn

Chùm ảnh LAN ÚC - Chu Vương Miện





READ MORE - Chùm ảnh LAN ÚC - Chu Vương Miện

YÊU MÃI GIO LINH - Thơ: Tuyết Mai - Nhạc: Thanh Đạm

Tác giả Tuyết Mai.



YÊU MÃI GIO LINH 

Gio Linh quê tôi mùa hè cát nóng 
Mùa đông gió lạnh rít từng cơn 
Con đường dất đỏ đến Lễ Môn 
Nghiêng nghiêng nón em nhìn e ấp 
Ngày ra đi em buồn vương mái tóc 
Gíó đèo Ba Dốc thương mãi ngàn năm 
Về Cao Xá lúa vàng như ôm ấp 
Đất Cát Sơn đã mấy dạo em qua 
Tôi yêu Hiền Lương gió bụi nhạt nhòa 
Thiên lịch sử muôn đời còn in dấu 
Về chợ cũ thăm Lại An, Mai Xá 
Qua trường xưa lòng bỗng thấy nao nao 
Tìm thầy cô, bè bạn ở phương nào 
Bao kỷ niệm dần về theo năm tháng 
Hà Thượng quê tôi ai có dịp đi qua 
Sẽ thấy Cồn Tiên, Dốc Miếu xa xa 
Lan Đình, Gia Môn chập chùng trong nắng 
Xin xuôi về thăm Nhĩ Thượng, Hà Thanh 
Ngược Cửa Tùng, Xuân Mỵ đến Hà Trung 
Đâu cũng có tình yêu và nỗi nhớ 
Tôi yêu Gio Linh yêu con đường ngọn cỏ 
Gio Linh năm xưa Gio Linh của bây giờ 
Còn biết bao điều chưa muốn ngỏ 
Gio Linh quê ơi thương mấy cho vừa.

Tuyết Mai



chovừa. Tuyết Mai
READ MORE - YÊU MÃI GIO LINH - Thơ: Tuyết Mai - Nhạc: Thanh Đạm