Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 14, 2015

ĐÊM HUẾ - SÔNG HOÀI - thơ Huy Uyên




        ĐÊM HUẾ

Là đêm đi bên sông
thoáng nghe giọng ca Huế buồn da diết
là hai bờ cách biệt
chia tay cho đến bây giờ.

Thả hồn theo những chuyến đò
hỏi nước xao buồn mấy thuở
chỉ màu mây thôi vắt ngang sóng vỗ
đũ cho người níu lại phút giây
ngờ bên thành thoáng tóc ai bay
che kín Huế sắc màu lụa tím.

Là những đêm thơ thẩn
nhớ đớn đau về một mối tình
người đi lâu rồi sao không quay lại.

(Em có biết là tôi hoài chờ đợi
một chút gì tuyệt vọng một chút mong
tội cho tôi và tội cả dòng sông
rêu đã phủ dưới chân người buổi trước).

Còn lại Huế với đêm mộ khúc
bước theo người từng đoạn sông trôi
trong vườn xưa hoa lá cũng buồn thôi
hát tiếng yêu người
và ngậm ngùi cùng Huế.

Huy Uyên

             SÔNG HOÀI

Em bạc lòng chi
chảy hoài dòng nước
mái rêu buồn ngậm mây
chiều bão rớt.

Sông Hoài
nổi nhớ ngũ quanh môi người
dập duềnh hơi thở.

Ơi những cột đèn hiu hắt
chìm sầu nghiêng nước trời mây
đã qua chiều đi không hết
đêm quanh chân ngày.

Phố nước
và biển đen
những ngọn cây cụt đầu đứng khóc
và thở dài .

Người ngồi một mình
không nói
bầy chim bay đi cùng bóng tối.

Những chiếc thuyền cũng một mình
khua chèo vội vàng
ngã ba đời sông đời nước
ngỡ ngàng mấy nhịp
lặng thinh
trôi đi, trôi đi .

Mưa, mưa chi hoài mãi
ai đó mắt hoen màu lệ
nhìn mưa!

Huy Uyên



READ MORE - ĐÊM HUẾ - SÔNG HOÀI - thơ Huy Uyên

LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ - Minh Tự


Bình  minh ở Mỹ Thủy, Quảng Trị. Ảnh: Mai Lĩnh


Minh Tự
LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ
Tản văn

          Phải đến năm thứ tư đại học, 22 tuổi, tôi mới đặt chân đến Quảng Trị. Đó là mùa đông 1990, khi mà thế kỷ 20 đã sắp sửa chấm dứt. Khi mà tôi đã đọc, đã nghe, đã hát, đã viết về hai chữ Quảng Trị đến cả ngàn lần. Khi mà tôi đã thân thiết với nhiều bạn bè Quảng Trị đến mức nhiều người cứ tưởng tôi là “dân Quảng Trị”. Dù cái miền đất đó chỉ cách Huế có một giờ đạp xe, và tuồng như không có khoảng cách nào trong lòng tôi.

          Tôi nhớ mãi buổi sáng mùa đông năm đó, mưa dầm dề, trời lạnh buốt. Tôi và Hùng đen (tên khai sinh Phạm Xuân Hùng, bút danh Từ Dạ Thảo) lên chuyến tàu chợ Huế - Đồng Hới lúc trời còn tối mờ mịt. (Xin cám ơn ngành đường sắt Việt Nam thời bao cấp, đã giúp cho hàng vạn sinh viên nghèo, nếu tính lãi mà đòi nợ vé tàu thì chúng tôi không trả nổi !). Không vé và không một miếng sắn khoai gì trong bụng, nhưng hai thằng vẫn say sưa trò chuyện cho đến khi tàu dừng ga Đông Hà. Tôi bước xuống sân ga và thấy một cảm xúc dâng trào: vậy là mình đã đặt chân lên đất Quảng Trị.
          Tôi đề nghị Hùng nên đi bộ, cứ lang thang như thế trên những con đường phố thị lấm lem bùn đất đỏ, để ngắm nhìn cái thị xã ngã ba đường vẫn chưa hết vẻ xác xơ dù chiến tranh đã lùi xa hơn 15 năm. Chúng tôi tiếp tục đón xe lên Tân Lâm. Chiếc xe đò chật ních người lao động, chạy hun hút giữa bốn bề gò đồi đất đỏ, hoa quì nở vàng rực hai bên đường. Và gió cứ thổi bạt ngàn từ ngọn đồi này qua đồi khác đến tận chân trời. Cảnh tượng đó khiến con người tôi cứ rung lên một cách đầy phấn khích. Sau đó, tôi đã trở lại và tiếp tục theo đường 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và lại đón nhận những ngọn gió ào ạt hào phóng trên những ngọn đồi chập chùng như vó ngựa nối nhau đến tận chân trời. Đường 9, có lẽ là không gian lãng mạn duy nhất của Quảng Trị, tạo ra cho con người ta một cảm giác bay lên cùng trời đất. Còn lại thì… buồn lắm.
          Chúng tôi bước xuống xe đò và một nỗi buồn vô hình ập đến. Có lẽ là nỗi buồn từ những mái nhà tranh vắng lặng và cô đơn (ở đây đất rộng và nhà rất thưa !). Có lẽ là nỗi buồn dậy lên từ đất đai vẫn còn đầy bom mìn rình rập. Có lẽ là từ những bụi môn mọc lúp xúp dưới những vườn hồ tiêu rậm rạp (hồi đó giá hạt tiêu còn thấp lắm). Cái nỗi buồn đeo đẳng đã theo tôi mãi đến sau này, trong những chuyến đi đến Vĩnh Linh, Gio Linh hay Triệu Phong, Hải Lăng. Quê tôi cũng nghèo và buồn nhưng ở đây còn nghèo và buồn hơn. Ngay lúc đó, cái lúc đặt chân lần đầu lên đất Quảng Trị, tôi đã hiểu vì sao cho đến lúc này tôi mới đến nơi này, cái vùng đất có thể nói là hàng xóm “tối lửa tắt đèn có nhau” của Huế tôi. Mặc dù lúc đó tôi đã lãng du khắp những vùng đất xa xôi Đà Lạt, Nha Trang, Qui Nhơn, Buôn Ma Thuộc… Tôi hiểu đó là cảm giác chạy trốn. Chạy trốn cái nghèo đói và buồn bã. Thú thật, đó cũng là cảm giác khi tôi xách ba lô rời ngôi làng của mình lên đường nam tiến ngay sau khi nhận tấm bằng tốt nghiệp đại học. Nó như thể là bản năng, bản năng chạy trốn. Xin lỗi Quảng Trị và bạn bè của tôi về sự từ chối này, nó cũng chỉ là bản năng của một con thú chạy trốn khỏi hoang mạc khô cằn và thiếu thức ăn mà thôi. Và hơn hết, xin cảm ơn vùng đất này đã dạy cho tôi biết rằng đừng bao giờ chạy trốn trước nỗi khổ đau của người khác !
          Ngay trong chuyến đi đó, trong đầu tôi đã thì thào những câu thơ mà mãi đến hai mươi năm sau (2010) tôi mới viết ra được:
“Tôi yêu Quảng Trị ngay từ lúc đó
Tôi ứa nước mắt khi chuyến tàu chợ đêm lầm lũi chạy qua trảng cát dài Hải Lăng
Tôi nhớ không nguôi một sớm mai đường 9 nở đầy hoa dã quì
Tôi quên sao được bữa rượu giang hồ dưới chân cầu Đông Hà nửa đêm lạnh buốt”…
    
*
      *       *
          Ngay buổi chiều hôm đó, tôi và Hùng đen được mạ nấu cho một nồi canh môn với cá tràu nêm ruốt và lá lốt, ngon tuyệt đỉnh. Đối với cái bụng lép kẹp suốt gần 24 giờ nếu tính luôn cả đêm hôm trước, cộng thêm cái lạnh buốt và màn mưa rả rich bên ngoài trời nhá nhem tối, thì cơm nguội cũng thành cao lương huống chi là nồi canh môn nóng hổi với mùi lá lốt thơm ngào ngạt. Đó là một trong những bữa ăn ngon nhất của đời tôi, mà sau này khi điểm danh lại, nó không phải là món cao lương mỹ vị nào cả. Hai thằng ăn hết một nồi cơm và một nồi canh môn to đủ cho một gia đình tám người. Nhưng có vẻ như vẫn còn thiếu một cái gì đó, vậy là ông cụ liền mang ra một chai rượu cười tủm tỉm rất hiểu ý… Đêm đầu tiên với Quảng Trị, tôi nằm nghe mưa rơi và nghĩ miên man đủ điều.
          Sáng hôm sau, Hùng đưa tôi đi thăm cầu Đầu Mầu, đồi Phu Lơ, những cái tên mà cứ nhắc đến là nghe tiếng bom đạn gầm rú. Chúng tôi đi lên những ngọn đồi trồng bạt ngàn tiêu của nông trường Tân Lâm. Tiêu ở đây chi chit trái. Mỗi trụ tiêu hình tam giác xanh tươi, tạo hình như một cây tùng thường gọi tên là tùng bút. Cảnh quan nơi này khiến tôi liên tưởng đến những khu trù mật trên Tây Nguyên, nó khác hẳn với những làng quê Quảng Trị ở Hải Lăng, Triệu Phong, chang chang cồn cát.  Đất đỏ bazan này còn có thể trồng cà phê, cao su hoặc những thứ cây công nghiệp khác. Sao đất màu mỡ và bạt ngàn thế này mà lại nghèo đói ? Hai mươi năm sau trở lại Tân Lâm, cuộc sống vẫn không thay đổi mấy, tôi thật sự không trả lời được câu hỏi năm nào đó. Chịu thôi, không trả lời được…
                                                          *
                                                     *         *                    
          Sau khi ăn hết hai nồi canh môn, một nồi cháo môn và một nồi cá mương kho dưa môn, chúng tôi đón chiếc xe chở đá trên đường 9 về ga Đông Hà để trở lại cư xá đại học Tổng hợp Huế, không quên vác theo một trái mít to làm quà cho lũ bạn. Chuyến tàu chợ Đồng Hới – Huế chạy lầm lũi giữa bóng đêm. Tôi và Hùng ngồi trên bậc cửa cuối cùng của toa chở hàng (để trốn vé). Im lặng giữa bốn bề bóng tối và tiếng tàu chạy rì rầm giữa trảng cát Hải Lăng. Bên cạnh đường tàu là con đường quốc lộ nơi một thời được gọi tên là “đại lộ kinh hoàng”. Thỉnh thoảng một ngôi nhà hiện ra bên đường tàu với ánh đèn dầu leo lét và những bóng người dân quê. Một không gian buồn da diết đến quặn lòng. Ngay lúc đó, tôi chợt hỏi, có phải đây là “địa chỉ buồn” của vùng đất nước mấy trăm năm chiến tranh và chia cắt ? Và tôi tìm thấy câu trả lời trong những câu chuyện tiếu lâm cùng tính cách hài hước, lúc nào cũng hài hước, của những người bạn Quảng Trị.

Huế, ngày cuối đông 2012
Minh Tự



          
READ MORE - LẦN ĐẦU ĐẾN QUẢNG TRỊ - Minh Tự

Sunday, September 13, 2015

CHIỀU NHỚ - Thơ Cao Hoàng Trầm


       Tác giả Cao Hoàng Trầm



CHIỀU NHỚ


Thoảng Chiều
Tôi đến La Gi
Mái tóc huyền mơ
Gọi gì trong ta
Người thiếu nữ
Kiêu sa mà đằm thắm
Vẻ đẹp dịu dàng
Thẳm sâu tâm hồn.
Thoảng Chiều  
Tôi đến La Gi
Phố buồn xa vắng
Cát mềm chân đi
Bờ liễu rủ xa
Vương tà áo trắng
Đường xuân
Chưa lộ ánh rằm bờ mi.
Thoảng Chiều
Tôi đến La Gi
Thu vàng hoa cúc
Hương lay thầm thì
Sao còn tiếng ve
Đượm càng phượng vĩ?
Đôi mắt bồ câu
Ngời sáng mùa thi.
Thoáng Chiều
Tôi đến La Gi
Gọi bao mùa nhớ
Động gì trong ta
Người em thiếu nữ
Duyên thắm mặn mà
Để bao mùa nhớ
Thiết tha bao điều./.                                             
Ngày 08 tháng 03…..
CAO HOÀNG TRẦM        
READ MORE - CHIỀU NHỚ - Thơ Cao Hoàng Trầm

Ở ĐẦU NỖI NHỚ - Thơ Hoàng Yên Lynh





Ở ĐẦU NỖI NHỚ
                  

Chiều ở nơi đây
Khói rừng quyện mây trắng bay
Nao lòng lắm nhớ khói quê xưa
Nhớ tiếng ai hò cánh võng đong đưa.

Chiều ở nơi đây
Tiếng chim rừng gọi nhau tìm tổ
Nhớ mắt ai cười e ấp đầu ngỏ
Em nơi nào  bên trời thương nhớ.

Chiều ở nơi đây
Không lính thú sao làm người lưu lạc
Có phải trăng xế bên đồi  tóc bạc
Cứ hỏi lòng tìm mãi quê hương.

Chiều ở nơi đây
Sơn nữ mang gùi qua suối
Nhớ cánh đồng quê ươm vàng lúa mới
Nhớ dòng sông tắm mát thuở vào đời.

Chiều ở nơi đây
Khúc dân ca ngọt ngào lay động
Mơ một ngày rực thắm vạn sắc hoa
Nồng ấm quê hương bừng sức sống.


                     HOÀNG YÊN LINH


READ MORE - Ở ĐẦU NỖI NHỚ - Thơ Hoàng Yên Lynh

Friday, September 11, 2015

TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC - Đặng Xuân Xuyến


Hiển thị s TU VI KG.jpg


TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC
- Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến -

Nói đến Ngũ hành tương khắc là nói đến sự xung khắc giữa các hành với nhau, hay gọi đúng tên bản chất của sự tương khắc là hành này khống chế và làm cho hành kia bị suy yếu, hủy diệt.
Nếu Ngũ hành tương sinh được hiểu là sự nuôi dưỡng, bồi đắp của hành này cho hành kia phát triển và lớn mạnh, được coi như là tốt giữa 2 hành đó, thì Ngũ hành tương khắc lại được coi là xấu giữa 2 hành. Ví dụ: Kim khắc Mộc, có nghĩa Kim khống chế, làm cho Mộc bị suy yếu, hủy diệt;  Thủy khắc Hỏa, Thổ khắc Thủy ... cũng tương tự như vậy.
Vậy Ngũ hành tương khắc có nghĩa như thế nào? Hiểu đơn giản, có quy luật tương khắc vì:
1. Mộc khắc Thổ: Cây cối cắm rễ vào đất, hút chất màu mỡ của đất, làm khô nẻ đất đá nên mới nói Mộc khắc Thổ.
2. Thổ khắc Thủy: Đất hút cạn nước, hoặc ngăn chặn dòng chảy của nước nên nói Thổ khắc Thủy.
3. Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa hoặc làm suy yếu cường độ của lửa nên mới nói Thủy khắc Hỏa.
4. Hỏa khắc Kim: Lửa nóng làm cho kim loại biến dạng, suy yếu, hoặc tan chảy nên mới nói Hỏa khắc Kim.
5. Kim khắc Mộc: Kim loại làm đổ cây cối, chế tác cây cối thành vật dụng nên mới nói Kim khắc Mộc.
Quan hệ tương khắc của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:
 (Hình minh họa đính kèm tập tin)
Không giống như Ngũ hành tương sinh, cơ bản như là tốt cho cả 2 hành vì không có sự khắc, đặc biệt tốt cho hành được sinh (tình trạng sinh nhập) và tốt ít, hoặc không xấu cho hành bị sinh (tình trạng sinh xuất). Trong mối quan hệ tương khắc của Ngũ hành thì dù khắc xuất hay khắc nhập đều xấu, sự xấu ít hay xấu nhiều, phụ thuộc vào hành đó ở trong tình trạng khắc xuất hay bị khắc nhập.
Khắc xuất hiểu nôm na là mình khống chế được người khác, làm cho người đó bị suy yếu, hủy diệt. Còn khắc nhập là mình là người yếu thế, bị người khác khống chế, làm cho mình bị suy sụp, hủy diệt. Dù ở tình trạng khắc xuất thì sự hao tổn, suy kiệt vẫn sảy ra. Ví dụ, muốn dập tắt được lửa buộc phải tiêu hao lượng nước nhất định, muốn ngăn được nước buộc phải có lượng đất đủ để đắp đập, ngăn bờ, thấm hút... Như vậy, dù ở tình trạng khắc xuất hay khắc nhập thì sự suy yếu cho bản thân vẫn sảy ra, đặc biệt là xấu nhất khi ở tình trạng khắc nhập, vì đó là tình trạng bị đối phương làm cho suy yếu, rất dễ dẫn đến bị huỷ diệt.
Vì Ngũ hành được biến sinh từ 2 khí Âm - Dương nên khi tìm hiểu về Ngũ hành tương khắc, nguyên tắc chú ý đến tính Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành không thể bỏ qua.
Chúng ta đều biết, hai hành có cùng Âm (-) hoặc cùng Dương (+) thì sẽ không sinh cũng như không khắc vì hai hành này có tính đối kháng, sẽ đẩy nhau ra xa, mỗi hành lại ở một vị trí nên không thể có chuyện sinh, khắc.
Ví vụ: Dương Thổ không sinh Dương Mộc
Âm Kim không khắc Âm Mộc
Mối tương quan sinh - khắc của Ngũ hành được hiểu như vậy nên trong khoa Tử vi mới có sự lưu ý đặc biệt:
4 cung Thìn - Tuất - Sửu - Mùi đều thuộc Thổ và chia ra 2 cặp cùng khí Dương (+) là Thìn - Tuất và cùng khí Âm (-) là Sửu - Mùi. Nên sẽ không có sự đối kháng giữa Thìn và Tuất, Sửu và Mùi như các cặp còn lại như: Tý - Ngọ, Mão - Dậu, Tỵ - Hợi, Dần - Thân.
Tại sao vậy? Vì Thìn - Tuất đều là Dương Thổ, Sửu - Mùi đều là Âm Thổ nên không có sự đối kháng. Nhưng các cặp còn lại Tý (Dương Thủy) - Ngọ (Dương Hỏa), Mão (Âm Mộc) - Dậu (Âm Kim), Tỵ (Âm Hỏa) - Hợi (Âm Thủy) và Dần (Dương Mộc) - Thân (Dương Kim). Tuy các cặp này đều cùng thể chất khí (cùng Âm hoặc cùng Dương) nhưng đặc tính của hành lại khắc nhau nên mới có sự đối kháng (Thủy >< Hỏa, Kim >< Mộc) như vậy.
Trong mối quan hệ vợ chồng, nếu tuổi vợ và chồng ở thế tương khắc thì trường hợp tuổi chồng khắc tuổi vợ còn khả dĩ chấp nhận phần nào, nhưng nếu tuổi vợ lại khắc tuổi chồng (ví dụ tuổi vợ là Bính Thìn khắc tuổi chồng là Bính Ngọ) thì quả thật trường hợp này đúng là “nghi bại nghi vong” - Người vợ sẽ đem lại những bất hạnh, đắng cay cho người chồng. Đây là điều tối kỵ trong việc kết duyên đôi lứa theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.


           Hiển thị TV 02.jpg

Nghiên cứu về sự tương khắc của Ngũ hành, thì nguyên tắc căn cứ vào Ngũ hành của nạp âm thủ tựơng nhất quyết phải được chú trọng. Đây là yếu tố quan trọng để lý giải tại sao tương sinh mà lại không tương sinh, tương khắc mà thực chất lại không tương khắc.
Chẳng hạn, tuổi Bính Ngọ và Bính Thìn
Xét về đặc tính của Ngũ hành thì tuổi Bính Ngọ có bản mệnh là Thủy, còn tuổi Bính Thìn có bản mệnh là Thổ, sẽ xung khắc vì: Thổ làm cho Thủy (Thổ khắc Thủy) bị hao kiệt, suy yếu, thậm chí bị hủy diệt. Xét đến âm dương của ngũ hành thì Bính Thìn là dương Thổ, Bính Ngọ là dương Thủy, thì hai tuổi này cũng sẽ không có sự tương khắc mà chỉ đối kháng nhau, đẩy nhau ra xa và không thể có sự hủy diệt nhau vì đều là Dương (+), nhưng nếu xét về bản chất lý tính (nạp âm Ngũ hành) thì Sa Trung Thổ (đất bồi bờ biển, còn gọi đất trong cát) không thể làm hại được Thiên Hà Thủy (nước sông trên trời, còn gọi nước trời mưa) vì các loại Thổ (đất) không thể hút được nước trên trời, ngược lại còn bị nước sông trời (nếu nhiều) sẽ
 làm cho tan rã, hư hại.
Như vậy, tuổi Bính Thìn và Bính Ngọ về cơ bản không có sự xung khắc gay gắt, không dẫn đến cảnh “hủy diệt” lẫn nhau, nhưng vì đều là khí dương (+) nên sẽ không hợp nhau, không làm tốt cho nhau mà luôn đẩy nhau ra xa, cản trở nhau trong mọi công việc.
Lưu ý: Đây là xét về Âm Dương Ngũ hành thì là vậy nhưng không thể cứ là nữ Mệnh Bính Thìn (Thổ) và nam Mệnh Bính Ngọ (Thủy) sẽ đều như vậy. Sự gia giảm về hệ quả của sự kết hợp vợ chồng phần lớn phụ thuộc vào lá số của mỗi người trong mỗi cặp vợ chồng, vì thế mới có sự khác biệt khi so sánh hạnh phúc giữa các cặp vợ chồng có bản Mệnh giống nhau. Tuy nhiên, tất cả các cặp vợ chồng trong trường hợp này đều gặp trục trặc, không ít thì nhiều trong cuộc sống lứa đôi, chứ không thể thuận hòa như những cặp vợ chồng các tuổi khác được.
Hay như tuổi Nhâm Tuất, Quý Hợi có bản mệnh là Đại Hải Thủy (nước biển rộng mênh mông), đặt cạnh Thiên Thượng Hỏa (nạp âm thủ tượng của tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi) thì lại tốt bởi Đại Hải Thủy dung nạp tất cả nước sông ngòi đổ xuống nên rất cần có Thiên Thượng Hỏa chiếu xuống làm thành cách thủy bổ dương quang. Như vậy, trong trường hợp này tưởng như khắc mà lại không xung khắc.
Luận bàn về Ngũ hành tương khắc, cổ nhân có 3 cách như sau:
Cách 1: Lấy đặc tính Ngũ hành và Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
Cách 2: Lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản (nạp âm Ngũ hành).
Cách 3: Kết hợp cả 2 cách trên.
Theo kinh nghiệm, chúng tôi chọn cách 3 làm cơ sở cho việc luận giải. Thực tế, sự tương sinh - tương khắc - tương hòa của Ngũ hành không đơn giản. Để lý giải được mối quan hệ tương sinh - tương khắc - tương hòa nào đó, nếu chỉ lấy đặc tính của Ngũ hành và Âm - Dương Ngũ hành làm căn bản sẽ dễ dẫn đến kết luận phiếm diện. Nếu chỉ lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản sẽ có nhiều trường hợp người đoán giải đành chịu bó tay. Vì vậy, khi xét về Âm Dương Ngũ hành bạn đọc nên lưu ý nguyên tắc:
- Lấy đặc tính của Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy lý tính của nạp âm Ngũ hành làm căn bản.
Cần lưu ý, khi luận giải về tương sinh - tương khắc - tương hòa hoặc quy luật chế hóa của Ngũ hành, người đoán giải phải phải linh hoạt, không được tuân thủ một cách máy móc, tùy theo từng trường hợp, mà có sự linh hoạt, không vì quá coi trọng một yếu tố nào mà đưa ra lời kết luận phiến diện, dẫn đến lời luận giải thiếu chính xác, thậm chí còn bế tắc.


                                                                     Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC - Đặng Xuân Xuyến

TÌM NHAU - thơ Trầm Mặc


Sông Hội An. Ảnh Nguyễn KP


TÌM NHAU                       

                        Trầm Mặc


Một sớm mai hồng sương    
Nơi phố cổ yêu thương
Sông Hoài dào dạt sóng
Gió lộng vút ngàn phương

Người ơi tìm về đây
Mây đan xen tầng mây
Lá dạo phiên khúc nhạc
Ai phối gam màu này ?  
  
....Vẫn còn đó gốc cây
Trưa bóng đổ hao gầy
Tìm nhau sao chẳng thấy...
Mà nghèn nghẹn cay cay...

Dừng lại bên chiếc cầu
Triền sông tím nhạt màu
Mắt xa xăm vời vợi...
Người bây giờ nơi đâu?

Chiều tà ánh dần phai
Hoàng hôn phủ dặm dài
Mình em còn đứng mãi..
Lịm tắt ... tiếng thở dài...

Lạnh giá thấm bờ vai
Còn chút tuổi heo may
Thiên thu tình gọi nhớ...
Tìm ai ... ơi!  tìm hoài...
                       NTB - Vỹ Dạ Huế

                               T9/2015
READ MORE - TÌM NHAU - thơ Trầm Mặc

XA LONG-KHÁNH - thơ Huy Uyên




XA LONG-KHÁNH

Tình trao em Bảo-quang,Xuân-lộc
qua vườn sầu riêng em lại sầu chung
ngày chia tay ngã-ba-ông-Đồn em khóc
vây quanh anh cây lá xót xa lòng. 

Ngồi "cà-phê-Thật" chiều trôi trên sông
em treo tim ai đứng nhìn cuối dốc
ở quán "Thúy-Kiều" má em hồng không
về Long-Khánh trên cầu ai thả tóc.

Ngờ gió qua thành xưa chở nhớ
vườn của ai hoa đỏ rụng hiên người
gắn nụ hôn trên môi từ buổi đó
chợ chiều em hỏi về chi đây.

Em đưa tôi xuôi Bà-Rịa,Vũng-Tàu
Xa Long-Khánh, xa người tôi quá nhớ
Kim-Sơn mùa này vườn đầy trái sa-pô
ngã ba Tân-phong tiễn người đi bóng lẻ.

Tôi yêu em bằng trái tim của Chúa
đóng đinh tôi trên thập-tự mù lòa
vây quanh tôi  tràn lời phủ-dụ
dấu hiên người đắng lệ trời thu.

Long-Khánh mùa thu chín lá vàng
mênh mông đất,mây,trời yên-lặng
chạy theo em sầu mãi vây quanh
tình đất đỏ chôn sầu bao kỷ-niệm .

Trần gian xưa  tôi và em mê thiếp
cầm trong tay nỗi nhớ vô cùng
Long-Khánh chiều đi ai đang khóc
thu dỗ lòng về xa xót hơi sương.

Em rưng sầu trong hai mắt có đuôi
dấu kín  tình chi mà không nói
vườn nhà ai em mãi đứng chờ
xa nhau sân người hiu buồn từ buổi 
(tàu qua ga sao không dừng lại) ...

Huy Uyên


READ MORE - XA LONG-KHÁNH - thơ Huy Uyên

Thursday, September 10, 2015

VIDEO CLIP THƠ NHẠC "TIẾNG LÒNG" - La Thụy, Trần Kiềm



  

                Thơ: La Thụy.

                Nhạc: Trần Kiềm.
                Giọng hát: Quốc Duy.

                Hòa âm phối khí: Trần Nhàn.


 THƠ TẶNG NGƯỜI NGHỈ HƯU

        Ừ thì mình cũng qua cầu
  Rồi đây bục giảng thành màu khói sương
        Còn đâu bụi phấn rắc vương
  Một thời sinh hoạt học đường mê say...!
        Giã từ giáo nghiệp hôm nay
  Giao thoa : khoảng lặng ... , nhẹ bay cung trầm
        Tơ vương ý kén lòng tằm
  Miên man kỷ niệm bâng khuâng dặm về
        Thì ừ ! Chào biệt bạn bè
  Chia tay trường lớp, lắng nghe tiếng lòng
        Chúc người ở lại tâm đồng
  “Trồng người” góp sức , thành công bội phần
                                                       LA THUỴ
                                                     (31/12/2010)    

 

READ MORE - VIDEO CLIP THƠ NHẠC "TIẾNG LÒNG" - La Thụy, Trần Kiềm

TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH - Đặng Xuân Xuyến


Hiển thị s TU VI KG.jpg


TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH
- Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến -

Khi nghe nói Ngũ hành tương sinh, ví dụ như Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim thì hiểu nôm na là hành này bồi đắp, nuôi dưỡng cho hành kia được lớn mạnh và phát triển. Chẳng hạn hành Kim nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Thủy lớn mạnh và phát triển, hành Thổ nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Kim lớn mạnh và phát triển...
Quan hệ tương sinh của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:

(Hình đính kèm tập tin)

Giải thích về ý nghĩa của Ngũ hành tương sinh, có thể hiểu đơn giản như sau:
- Mộc sinh Hỏa: Mộc là cây cối, có Hỏa ẩn phục bên trong, xuyên thủng Mộc sẽ sinh ra Hỏa. Vì thế mới nói Mộc sinh Hỏa.
- Hỏa sinh Thổ: Hỏa đốt cháy cây cối thành tro, tức là Thổ. Vì thế mới nói Hỏa sinh Thổ.
- Thổ sinh Kim: Kim bị vùi lấp trong đất đá nên có Thổ tất có Kim. Vì thế mới nói Thổ sinh Kim.
- Kim sinh Thủy: Khí của Kim chảy ngầm trong núi, hoặc nhiệt độ làm kim loại nóng chảy. Vì thế mới nói Kim sinh Thủy.
- Thủy sinh Mộc: Nhờ có nước mà cây cối sinh trưởng được nên mới nói Thủy sinh Mộc.
Khi tìm hiểu về nguyên lý của Ngũ hành, cũng cần lưu ý một điều: Không phải cứ tương sinh là được tốt, mà phải hiểu Ngũ hành tương sinh được coi như là tốt giữa hai hành đó với nhau.
Trong mối quan hệ tương sinh đó sẽ có hai tình trạng sinh xuất và sinh nhập chứ không thể cùng tình trạng là sinh xuất hay sinh nhập. Có nghĩa, sự tương sinh chỉ có tính chất một chiều.
 Chẳng hạn: Kim sinh Thủy chứ Thủy không sinh Kim, Thổ sinh Kim chứ Kim không sinh Thổ.
Cũng có quan điểm cho rằng, sự tương sinh sẽ diễn ra hai chiều. Chẳng hạn: Mộc sinh Hỏa và Hỏa cũng có thể sinh Mộc. Quan điểm này được lập luận: Thủy sinh Mộc bởi nước đã giúp đất bớt khô, làm cho cây cối sinh trưởng tốt, còn Hỏa làm cho trời nóng, cây cối khỏi cóng rét nên cũng có thể nói Hỏa sinh ra Mộc. Quan điểm này không thực tế bởi cách lập luận như thế thật hết sức miên man, khiên cưỡng nên không thuyết phục.
Quan hệ sinh một chiều sẽ dẫn đến có sự khác biệt giữa hai hành trong mối tương sinh đó. Cái này sinh cho cái kia thì đó là sự sinh xuất, có nghĩa tình trạng sinh xuất sẽ thể hiện sự thua thiệt, vất vả để phù trợ cho cái được sinh (tình trạng sinh nhập). Cái này được sinh do cái kia sẽ được lợi, được phù trợ do cái kia đem lại. Hiểu nôm na, đơn giản: hành sinh xuất là cha mẹ, hành được sinh là con cái. Vì cha mẹ sinh ra con cái nên hết lòng vì con cái, bồi đắp và nuôi dưỡng cho con cái phát triển, còn con cái, được cha mẹ sinh thành, dưỡng dục nên người, sau này sẽ báo đền ơn nghĩa của cha mẹ, tuy nhiên, sự báo đáp đó không thể ngang bằng với công lao trời biển của bố mẹ.
So sánh như vậy để bạn đọc dễ hình dung về mối quan hệ Ngũ hành tương sinh, dễ đưa ra lời kết luận khi nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là trong văn hóa tín ngưỡng như Tử vi, Lý số...
Trong quan hệ vợ chồng, sự tương sinh giữa hai bản mệnh là rất cần thiết vì có sự tương sinh thì vợ chồng mới yêu thương, hòa thuận, mới cùng nhau vun đắp cuộc sống gia đình được viên mãn. Tuy nhiên, bản mệnh của người vợ phải ở tình trạng sinh xuất cho bản mệnh của người chồng thì sự tương sinh ấy mới thật sự là tốt đẹp, hoàn mỹ. Sự sinh xuất đó sẽ giúp người chồng gặp nhiều may mắn, con đường công danh, sự nghiệp của người chồng sẽ ít gặp những trắc trở, hoặc nếu có gặp thì sẽ dễ dàng vượt qua. Trường hợp này, dân gian gọi là người có số vượng phu ích tử. Ngược lại, bản mệnh người vợ được sinh nhập từ bản mệnh của người chồng thì người vợ sẽ được người chồng yêu thương, chở che, bao bọc. Vì ở tình
 trạng sinh xuất nên người chồng không nhận được sự giúp đỡ của vợ, dù chỉ là “nhờ lộc tuổi của vợ” ... Dù sao, bản mệnh của hai vợ chồng rất cần có sự tương sinh về ngũ hành để cuộc sống gia đình được hạnh phúc.
Vì có tính chất Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành nên khi nói đến tương sinh, cần chú ý đến nguyên tắc về Âm - Dương của 2 hành tương sinh đó. Sự tương sinh chỉ sảy ra khi hai hành đó có  tính chất Âm (-), Dương (+) khác nhau, ví dụ:
Âm Kim sinh Đương Thuỷ
Dương Thổ sinh Âm Kim
chứ nhất quyết không có chuyện:
Âm Kim sinh Âm Thuỷ
Dương Thổ sinh Dương Kim


                  Hiển thị TV 07.png
Có quan điểm cho rằng: Sự tương sinh chỉ sảy ra một chiều, theo hướng khí Âm (-) sinh khíĐương (+), chứ không thể khí Dương (+) sinh khí Âm (-). Chẳng hạn: cùng là Thổ và Kim nhưng chỉ có Âm Thổ sinh Dương Kim, chứ Dương Thổ không sinh được Âm Kim. Quan điểm này không chấp nhận được vì đã hiểu không đúng về nguyên lý Âm Dương trong dịch lý. Cổ nhân nói: Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, Âm cực sinh Dương và Dương cực sinh Âm. Ví dụ: Không khí là Dương, nước là Âm. Trong không khí (Dương) có hơi nước (Âm) và trong nước (Âm) có bọt khí (Dương).
Dịch lý cho rằng: Âm Dương thuận lý (tức là khí Âm (-) và khí Dương (+) dung nạp, hòa hợp nhau) để biến sinh ra vạn vật, con người. Triết lý Âm - Dương khẳng định: Âm và Dương là hai thực thể ngoại tại, tự thân chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ: Không khí khi gặp lạnh sẽ tạo thành mưa, nước khi gặp nóng sẽ bốc hơi tạo thành khí; hoặc hết ngày thì đến đêm, hết mưa thì sẽ nắng.... Vì thế, quan điểm cho rằng chỉ có khí Âm (-) mới sinh được khí Dương (+) còn khí Dương (+) không thể sinh được khí Âm (-) là sai với thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Bên cạnh việc căn cứ vào Âm Dương của Ngũ hành, cần phải cân nhắc, xem xét đến yếu tố thứ 3 là bản chất lý tính của Ngũ hành (tức nạp âm thủ tượng, còn gọi nạp âm ngũ hành) của các hành đó để đưa ra kết luận: Thực chất mối quan hệ tương sinh của các hành đó như thế nào? Không thể cứ thấy đặc tính Ngũ hành tương sinh là khẳng định luôn các hành đó tương sinh, cũng không thể chỉ thấy thuận lý Âm (-) Dương (+) thì cho rằng như thế là được.
Biết rằng Thủy sinh Mộc nhưng phải biết đó là Thủy gì, Mộc gì ... chứ không thể cứ thấy Thủy với Mộc là khẳng định đó là tương sinh. Phải biết bản chất lý tính của các hành đó là gì để căn cứ mà luận giải. Chẳng hạn Bình Địa Mộc (Mậu Tuất - Kỷ Hợi: Cây đất bằng) rất cần có Thiên Hà Thủy (Bính Ngọ - Đinh Mùi: nước mưa trên trời) tưới xuống để tốt tươi, lớn mạnh, ngược lại, nếu Bình Địa Mộc gặp Đại Hải Thủy (Nhâm Tuất - Quý Hợi: Nước biển rộng) thì cây non mới đâm cành trổ lá làm sao mà tồn tại nổi.
Tương tự như vậy, khi nói Hỏa sinh Thổ cũng không thể hiểu Hỏa nào cũng sinh được Thổ, ví dụ, Thiên Thượng Hỏa (Mậu Ngọ - Kỷ Mùi: Lửa trên trời) không sinh được Bích Thượng Thổ (Canh Tý - Tân Sửu: Đất trên vách) mà còn làm cho Bích Thượng Thổ bị hủy diệt.
Ngay cả khi bản chất lý tính của Ngũ hành được tương sinh nhưng chắc chắn sẽ có ý kiến khác nhau, thậm chí còn trái ngược. Chẳng hạn, lấy tuổi Mậu Tuất với tuổi Bính Ngọ làm ví dụ.
 - Ý kiến thứ nhất cho rằng rất đẹp vì được tương sinh hai cấp độ (đặc tính và lý tính).
- Ý kiến thứ hai cho rằng không được đẹp lắm vì không thuận lý Âm Dương.
- Ý kiến thứ ba cho rằng bình thường, vì Ngũ hành từ khí mà ra nên Âm (-) Dương (+) là quan trọng. Dù được tương sinh ở 2 cấp độ nhưng sự nghịch lý Âm (-) Dương (+), coi như vứt bỏ.
Đây chính là sự phức tạp của thuyết Âm Dương Ngũ hành, làm cho người mới tìm hiểu, tiếp cận với Lý số học sẽ như lạc vào một trận đồ bát quái, khó tìm được đường ra.
Như vậy, mối quan hệ tương sinh của Ngũ hành không đơn giản như cách hiểu nôm na theo sơ đồ tương sinh đã nêu ở trang trước, mà khá phức tạp. Cũng lưu ý rằng, khi tìm hiểu về Ngũ hành tương sinh, bạn đọc nhất định phải chú ý đến 3 yếu tố sau:
1. - Đặc tính của Ngũ hành và tình trạng sinh xuất - sinh nhập.
2. - Tính chất Âm - Dương của Ngũ hành.
3. - Bản chất lý tính của Ngũ hành (còn gọi là nạp âm Ngũ hành).
Trong dân gian, có quan điểm cho rằng chỉ cần yếu tố thứ (3) là đủ, không cần thiết phải thêm 2 yếu tố (1) và (2), vì như thế chỉ thêm phức tạp, rối rắm. Nhưng cũng có quan điểm lại chú trọng tới yếu tố (1) và (2), bỏ qua hoàn toàn yếu tố nạp âm của Ngũ hành vì cho rằng như thế chỉ tăng thêm sự rối ren không cần thiết. Theo quan điểm của chúng tôi, sự kết hợp cả 3 yếu tố là điều cần thiết, không nên coi nhẹ bất kỳ yếu tố nào.
Chúng ta đều biết nạp âm Ngũ hành là sự phân chia ra 30 hành chi tiết của 5 hành cơ bản, để giải thích những sự phức tạp của quá trình sinh - khắc một cách hợp lý hơn khi áp dụng năm sinh để dự báo sự xung - hợp của tính tình con người.
Chúng tôi nghĩ rằng: Trong các trường hợp, khi bản chất lý tính của ngũ hành được xác định rõ ràng (nạp âm ngũ hành), thì sự kết hợp cả 3 yếu tố để luận giải sẽ tăng thêm độ chính xác, tin cậy của lời giải đoán, nhưng trong các trường hợp khác, khi lý tính của ngũ hành không thể xác định thì việc cân nhắc 2 yếu tố (1) và (2) là điều tiên quyết. Chẳng hạn, khi luận giải về giá trị của các sao trong lá số tử vi, người luận giải đương nhiên phải căn cứ vào đặc tính ngũ hành của các sao và vị trí Âm Dương của các sao để đưa ra lời kết luận. Trong những trường hợp như vậy, chỉ chú trọng tới yếu tố thứ 3 sẽ làm cho người đoán giải hoàn toàn rơi vào bế tắc.
Chúng tôi đưa ra nguyên tắc hội tụ 3 yếu tố trên để bạn đọc linh hoạt trong từng trường hợp. Chúng tôi cũng sẽ không đề cập lại vấn đề này khi bàn về Ngũ hành tương khắc, tương hòa hay quy luật chế hóa của Âm Dương ngũ hành ở những trang sau.


                                                                                Đặng Xuân Xuyến 

READ MORE - TÌM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH - Đặng Xuân Xuyến

MỘNG DƯỚI TRĂNG SÀI GÒN - Thơ Nguyễn An Bình


Hiển thị mongduoitrangsaigon.jpg


MỘNG DƯỚI TRĂNG SÀI GÒN

Mộng về thơm bàn tay nhỏ
Mưa bay trắng đất trắng trời
Dòng kênh uốn quanh thành phố
Mang tình tôi đó em ơi!

Phố xưa đã thành cao ốc
Đường quen lạc dấu đá mòn
Chỉ còn giọt trăng lặng lẽ
Đêm đêm soi bóng Sài Gòn.

Mộng về dưới làn mưa bụi
Chim buồn ngậm hạt mơ xưa
Tháng chín tầm xuân chưa nở
Vội chi trăng đã sang mùa.

Hàng me vừa thay lá mới
Nên tình sủng ướt mùa ngâu
Tiếng chuông nhà thờ vang tới
Xanh ngời mắt nhớ tình nhau.

Mộng về thắp lên bếp lửa
Ấm bờ vai nhỏ yêu em
Hương cà phê thơm quán cốc
Biết người còn nhớ hay quên.

Dấu chân qua thành phố trẻ
Mang theo gió bụi đường dài
Tình tôi xin em độ lượng
Để lòng thương mãi tóc mai.

                Nguyễn An Bình

                     7/9/2015
READ MORE - MỘNG DƯỚI TRĂNG SÀI GÒN - Thơ Nguyễn An Bình

CHÙM THƠ VÀO THU - Thơ Nguyễn Khôi





 CHÙM THƠ VÀO THU
 (Tặng Chu Vương Miện - USA)   
                 
 Mùa thu vàng sáng rồi đây
Áo em giặt suối hong đầy nắng trưa.
                    
Người  ở phương trời- nhớ- nhắc ta
Trùng dương cách trở chẳng giao hòa
Sớm nay hoa Cúc tưng bừng nở
Muốn gửi thu vàng tới bạn xa.
                    
Biền biệt xa quê sáu chục năm
Lòng yêu bỏng buốt một cái "dằm" !
Chao ôi, Chim Việt bay mỏi cánh
Bao giờ về đâu ở Cành Nam ?
                      
Thương nhớ nhau hoài để nhớ thương
Nỗi buồn nhuốm bạc tóc pha sương
Trái tim có đỏ, vận không đỏ
Thăm thẳm  đêm trường vọng cố hương.
                       
Nhân loại đang điên "đóa" đánh nhau
Người đông như Kiến, kiếp con Sâu
Kính ông Malthus tài dự báo
Mà lũ người ngu có tỉnh đâu ? !
                       
Mừng đón hơi thu mát cả lòng
Kinh mùa nắng nóng thích mùa đông
Nhớ ơi, tuyết trắng hơi thở ấm
Ấm cả hồn thơ để nhớ mong.
         
                   Nguyễn Khôi 
                Hà Nội 11-9-2015

READ MORE - CHÙM THƠ VÀO THU - Thơ Nguyễn Khôi

CÁNH CHUỒN CHUỒN KIM - Thơ Lynh Thy





CÁNH CHUỒN CHUỒN KIM

Chiều xưa trên đồi cỏ non
Con chuồn kim nhỏ lon ton bay vòng
Gió no lượn giữa tầng không
Trời giăng mây tím cánh cong ướt mèm

Nhẹ chân đậu tựa vai em
Nâng đôi cánh mỏng anh đem để dành
Chiều nay lên đồi sim xanh
Nhớ cánh chuồn nhỏ long lanh mắt buồn…

Chuồn chuồn ơi ! Chuồn chuồn ơi ..!!!

                                        Linh Thy
           Nhớ đồi sim Lâm Hà ngày ấy !

READ MORE - CÁNH CHUỒN CHUỒN KIM - Thơ Lynh Thy