Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 27, 2015

CON TIM TRỞ CHỨNG - Truyện ngắn của Lão Gàn


           
           Tác giả Lão Gàn 

              CON TIM TRỞ CHỨNG

Trong cái phòng trọ chiều rộng chỉ 3 mét, chiều sâu chỉ 5 mét, nằm bên cô Diễm, ông Trọng ngáy phì phò, tiếng ngáy to đến nỗi người hàng xóm ở cách đó khoảng 5, 7 mét vẫn nghe được. Tiếng ngáy không đều, thỉnh thoảng ngưng một chốc rồi bao nhiêu hơi trong lồng ngực, trong bụng theo đàng miệng phụt ra thật nhanh, thật mạnh và tiếng ngáy nghe trở lại.
Cả đêm, cô Diễm – vợ ông Trọng - trằn trọc qua về. Nghe ngóng đứa con riêng của mình ở giường bên kia đã ngon giấc, cô nghiêng người, xoay mặt áp sát vào thân ông Trọng, đưa tay nhẹ nhàng vuốt xuôi rồi vuốt ngược trên đầu ông – cái đầu lưa thưa tóc, chỗ có chỗ không. Cô ngồi dậy, trong màn tối, mằn mò mở các khuy áo của ông; bàn tay cô đi một đường nhẹ trên thân mình ông từ cổ xuống ngang rốn, dừng lại đó. Rồi như có cái gì thôi thúc, cô bạo gan, luồn tay vào quần ông, xoa nhiều lần; ông vẫn nằm yên, cô không nhận được một phản ứng gì đặc biệt, cô nằm ngửa lại, thở ra một tiếng thật dài.

Cô Diễm tục hôn với ông Trọng đã mấy tháng rồi. Tuy độ chênh tuổi tác rất lớn, hai người vẫn xưng hô với nhau “anh anh em em” ngọt xớt. Mỗi tháng, sau khi nhận tiền hưu, ông Trọng đưa cho cô Diễm năm triệu bạc phụ vào để trang trải chi phí sinh hoạt gia đình.

Ông Trọng sinh năm 1921 – tuổi Tân Dậu - tại một làng quê nghèo miền Trung Việt Nam. Thuở ấy, thực dân Pháp đang đô hộ nước ta. Năm 1939, Chiến Tranh Thế Giới II bùng nổ, quân Phát Xít Đức đánh chiếm nước Pháp rất nhanh; thanh niên Pháp, theo lệnh tổng động viên, lên đường bảo vệ chính quốc. Đế quốc Pháp cần lao động làm việc trong các công binh xưởng, yểm trợ chiến trường; thế là thanh niên từ các thuộc địa bị bắt sang Pháp sung vào lực lượng này.
Ở Việt Nam, chính quyền ra quy định là gia đình nào có nhiều con trai trưởng thành phải nộp một người. Gia đình Ông Trọng đông anh em trai; lúc ấy, ông Trọng đã 18 tuổi, thân hình cao to, dáng vẻ khỏe mạnh, được lệnh phải gia nhập vào đoàn quân sang Pháp làm lính thợ.
Tội nghiệp cho hoàn cảnh của ông! Ông đang tính chuyện trăm năm với một cô gái làng. Tuy lễ hỏi, lễ cưới chưa tổ chức, bố mẹ ông đã đôi ba lần sang thăm bố mẹ cô gái, lần thì cặp bánh đường đen, lần thì be rượu, lần thì miếng thịt heo …; thủ tục ấy ở thôn quê được gọi bông đùa là “bỏ nhành nè” – nhánh nè chận lối tấp đường những nhà khác có con trai đừng vào nữa.
Cuộc sống chồng vợ sau lũy tre làng, sáng ruộng chiều nương, đối với ông Trọng, tưởng không còn xa nữa. Oái oăm thay chiến tranh! Vậy là ông phải xa nhà.

Một sáng mùa đông, trời lạnh lắm, mưa lất phất, ông Trọng lên đường, cô gái theo tiễn; chiếc nón ngả màu nghiêng che một nửa khuôn mặt; cái tơi xoay cản rét, che khuất cả quần áo; dáng bước bẽn lẽn; đôi má ửng hồng. Hai người đi cách nhau một khoảng khá xa; ông Trọng đi trước, cô gái theo sau, thỉnh thoảng, ông ngoái cổ nhìn lén người mình yêu.
Gần tới cổng làng, bỗng ông bước chậm lại, cô gái bắt kịp. Hai người sắp chia tay; đảo mắt nhìn, thấy không ai để ý, ông chuồi vào tay cô gái cái gì đó mà từ nãy đến giờ ông nắm chặt trong tay mình. Cô gái bịn rịn, đưa tay lên dụi mắt; hai mắt đỏ hoe, nhấp nháy lia lịa, nước mắt túa ra mấy giọt lăn chầm chậm xuống đôi má, tựa như hai viên ngọc.
Ông Trọng được chở vào tỉnh lỵ, nhập với đồng đội tuyển từ các làng khác trong tỉnh. Dù là lính, cả đoàn thanh niên ngơ ngác, vẻ mặt lo lắng, không lộ một tí gì hào hùng; đúng là dân thuộc địa bị cưỡng bức đi lính bảo vệ chính quốc.

Đoàn tân binh được hướng dẫn lên tàu hỏa. Tàu rời ga vào một buổi chiều, bầu trời xám xịt, tàu hú còi, đầu máy chuyển động, khởi hành. Hàng toa dài kết nối với nhau lăn bánh vang âm thanh “xụt xịt” ồn ào, nghe uất nghẹn như tiếng khóc nức nở của những người con chào từ giã quê hương để đến một nơi lạ lùng, xa lắc xa lơ.
Tàu đến Hà Nội. Trong sân rộng của một doanh trại, mấy chục ngàn lính tân tuyển từ khắp các tỉnh ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ tập trung, phân thành tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn rồi tuần tự xuống cảng Hải Phòng. Tại đây, một chiếc tàu thủy lớn há miệng nuốt vào cả đoàn người không khác chi một con cá mập đang nuốt mồi.
Tàu thủy rít mấy hồi còi dài rồi từ từ ra biển lớn. Tàu lênh đênh trên đại dương. Nhiều lúc, ông Trọng cảm thấy buồn da diết, buồn vì nhớ quê hương, buồn vì nhớ người thân, nhất là nhớ cô vị hôn thê ở làng; ông thường ngồi trệt giữa sàn tàu, hai tay choàng ôm trọn hai đầu gối chống lên, mặt úp xuống, khóc thầm; ông cứ tưởng tượng nếu chiến tranh không xẩy ra, giờ này ông đã cưới vợ; ngày đêm kề vai sát cánh cùng người vợ thân yêu tạo dựng một tiểu gia đình hạnh phúc. Ông che giấu nỗi buồn, không muốn cho ai biết lòng mình như thế nào vì e ngại người ta chê cười mình là thanh niên mà quá yếu đuối về tình cảm.
Bốn tháng sau, tàu cập cảng Marseille – một cảng ở miền Nam nước Pháp bên bờ Địa Trung Hải.

Lúc chia tay, cô gái ở quê nhận mảnh giấy xếp tư có dòng chữ: “Em cố gắng đợi, chắc chắn không lâu nữa anh sẽ về. Dù chân trời góc bể nào, hình bóng em vẫn luôn trong tim anh”. Ông Trọng đã học xong bậc Yếu Lược; hồi ấy, những ai đậu bằng Yếu Lược đã có trình độ tương đối khá, đặc biệt là chữ viết phải ngay ngắn, rõ ràng; vậy mà chỉ chừng ấy chữ, ông Trọng lại viết nguệch ngoạc, nét chữ run rẩy, chắc lúc viết, ông mang tâm trạng bối rối, bồi hồi lắm.
Dù ông Trọng và vị hôn thê chưa một lần trực tiếp nhỏ to tâm sự, qua nhiều lần bố mẹ thăm viếng nhau, tình yêu đã có chỗ dựa để nẩy nở trong con tim của mỗi người. Thời đó, việc dựng vợ gả chồng hoàn toàn do cha mẹ hai bên định đoạt, tình yêu của đôi lứa thường đến sau sự dàn xếp của bố mẹ. Bây giờ thì khác, trai gái tìm những nơi kín đáo, tối tăm, tâm tình trao đổi, tình yêu bùng ra lửa mới cậy bố mẹ đôi bên tác hợp. Ngày xưa ấy, bố mẹ kén vợ, chọn chồng cho con dựa vào khá nhiều tiêu chuẩn: dòng giống, nết hạnh, sắc diện, công ăn việc làm; nhờ được kén lựa kỹ vậy, vợ chồng dễ có cuộc sống hạnh phúc lâu dài, trường hợp đổ bễ ít - ly dị, ly hôn hiếm khi xẩy ra. Còn thời nay, việc tạo lập gia đình là do con tim của trai gái thôi thúc. Trai, gái mới lớn làm sao tránh khỏi bị lèo lái do sự bồng bột của cảm tính, sự mù quáng của con tim.
Đọc những dòng thư nhắn nhủ của ông Trọng, cô gái quê cảm động lắm, ngày đêm thầm thương trộm nhớ. Thân thể hao gầy, phát bệnh và qua đời hai năm sau khi ông Trọng đi xa.

Nhận được tin nhà báo qua vị hôn thê của mình không còn nữa, ông Trọng buồn rũ rượi, cuộc sống mất định hướng.
Rồi Chiến Tranh Thế Giới II kết thúc (1945), lính thợ được lệnh hồi hương, ông Trọng xin ở lại; đối với ông, hình ảnh vị hôn thê chính là quê hương, thúc giục ông sớm trở về để hiện thực hóa những gì trong lời nhắn mà ông viết gởi lại ngày ra đi; nay người ấy không còn, ông trở về làm chi nữa để đối diện với mất mát, buồn đau, lẻ loi.
Ở lại Pháp, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy nhóm lính thợ Đông Dương đến khai phá vùng Camargue trồng lúa gạo. Dự án tiến triển tốt, một vùng đầm lầy chẳng bao lâu biến thành đồng lúa phì nhiêu.
Ông lấy vợ người Pháp và sinh được hai người con: một trai, một gái. Gia đình bên vợ thuộc giới trung lưu; hai vợ chồng ông có công ăn việc làm đàng hoàng, tạo lập được cơ ngơi tử tế. Ông đã là dân Pháp, hưởng hạnh phúc bên vợ con; ông muốn quên và, với thời gian, thật sự đã quên nơi chôn rau cắt rốn; ông chưa một lần về thăm cái làng quê nghèo nơi ông sinh ra và lớn lên. Hai con ông trưởng thành, học hành thành đạt; hiện tại, cậu con trai tên Jean đã 67 tuổi là giáo sư đại học, cô con gái tên Sylvie đã 64 tuổi là bác sĩ. Hai người con có gia đình riêng, định cư ở các thành phố rất xa nơi ông bà ở; do công việc, họ cũng ít về thăm ông bà. Trong ngôi biệt thự lọt giữa một vườn hoa bốn mùa rực rỡ, hai ông bà già sống với nhau, cảnh trông vắng lặng đến nỗi người ngoài cảm thấy lạnh lẽo.
Cách đây mấy năm, người vợ Pháp của ông qua đời do tuổi già; ông sống một mình. Con ông hợp đồng thuê người, hàng ngày, tới dọn vén nhà cửa và săn sóc ông bán thời gian. Đêm về, ông nằm gác tay lên trán, suy nghĩ cách giải quyết phần còn lại ít ỏi của cuộc đời. E đằng nào ông cũng phải vào nhà dưỡng lão thôi!

Một đêm nọ, chưa ngủ được, nằm thao thức, bất chợt, ông nảy ra một ý tưởng chưa từng đến trong đầu. Phải về thôi, về Việt Nam, về với nơi chôn rau cắt rốn, về để đến ngày lâm chung mộ chôn được nằm bên cạnh mộ cha mẹ, ông bà … về để có dịp xin lỗi các Ngài vì đã bỏ các Ngài ra đi gần 80 năm rồi không đoái hoài lui tới.
Ở quê nhà, anh em ông đều qua đời hết, chỉ còn đứa cháu trai đã trên 70 tuổi gọi ông bằng chú đang ở trong khu vườn xưa. Các cháu khác đứa thì tha phương cầu thực trong Nam Bộ hay trên Tây Nguyên, đứa thì đã chết trong cuộc chiến dai dẳng mấy chục năm trên quê hương. Mảnh vườn xưa khá rộng, đến 2000 m2 lận. Ông Trọng viết thư về cho đứa cháu, trước là thăm hỏi, sau giải bày tâm nguyện của ông.
“Ngày ….
Cháu thân,
Chú là chú Trọng bên Pháp đây. Cháu nhận thư này chắc lấy làm ngạc nhiên lắm vì lâu nay chú cháu mình chưa hề liên lạc với nhau lần nào. Chú tin là ở quê đại gia đình mình vẫn bình an. Chú gởi lời thăm hỏi gia đình cháu và bà con họ hàng làng xóm ...............................................................................................
Sau đây, chú muốn hỏi ý kiến cháu một việc như sau:
Hiện tại, chú sống một mình. Thím đã mất, hai con của chú thím - em của cháu - định cư xa. Chú muốn về quê, chú đã 95 tuổi rồi – tuổi gần đất xa trời. Chú muốn khi qua đời được chôn bên cạnh ông mệ. “Chim có tổ, người có tông”. Chú như con chim, bay kiếm mồi khắp bốn phương trời, nay mỏi cánh, muốn về tổ ấm nghỉ ngơi.
Chú về. Ở chung với cháu, chú ngại bất tiện, chú sợ phiền cháu vì cuộc sống gia đình cháu nhiều hay ít sẽ xáo trộn, và cũng phiền chú vì chú không được thoải mái.
Chú muốn cháu dành cho chú một khoảnh đất trong vườn, chú sẽ cho xây một ngôi nhà nhỏ, nội thất trang bị đầy đủ tiện nghi. Chú sẽ ở đó, gặp trái gió trở trời, có gia đình cháu bên cạnh chạy qua chạy lại. Mai kia mốt nọ, chú qua đời, ngôi nhà sẽ là nơi thờ phượng chú; và một đứa nào trong số các con của cháu ở đó để lo hương khói cho chú.
Chú mong thư này sẽ đến tay cháu và sớm nhận được hồi âm của cháu.
Chú của cháu
Trọng”
Người cháu nhận được thư, mừng quýnh, đi đâu, gặp ai cũng khoe có ông chú Việt kiều ở Pháp sắp về.
Do hậu quả của chiến tranh, đời sống nông thôn thiếu thốn, ai có bà con thân thuộc sống ở nước ngoài lâu lâu nhận được quà, hãnh diện lắm. Người cháu nghĩ thầm trong bụng: ông chú về ở cạnh mình, các con ông ấy thỉnh thoảng về thăm, nếu không về thăm được, cũng gởi tiền về để nhờ chăm sóc bố của họ, số tiền thế nào cũng khá, chi tiêu cho nhu cầu của ông xong chắc chắn có phần dư. Xa hơn về tương lai, mồ mả của ông ở đây, đời cháu, đời chắt của ông thế nào cũng sẽ quan tâm.
Người cháu viết thư phúc đáp, lời lẽ tha thiết:
“Kính chú,
Cháu rất sung sướng khi nhận được thư chú. Từ trước đến giờ, chú luôn hiện diện trong tâm trí cháu dù ngày chú ra đi cháu còn quá nhỏ dại chưa biết rõ mặt mày chú như thế nào.
…………………………………………………………………………..
Chú sớm sắp xếp về đi, chú không muốn ở chung với cháu, cũng được thôi! Với tiền chú gởi về, cháu sẽ cho xây một ngôi nhà vào vị trí nào đẹp nhất trong vườn để chú dưỡng già. Gia đình cháu sẽ phục vụ chú mọi nhu cầu hàng ngày; cha cháu không còn, người đời nói: “Mất cha còn chú, mất  mẹ bú dì.” Chú được coi như cha của cháu.
…………………………………………………………………………..
Cả gia đình cháu và bà con làng xóm đang chờ ngày đón chú hồi hương.
Cháu của chú”

Chiếc Boeing 777 của hãng Air France hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất – Thành Phố Hồ Chí Minh. Cùng mấy trăm hành khách, ông Trọng cùng cô Sylvie – con gái ông – xuống máy bay. Ông Trọng trông rất phương phi, da trắng hồng, râu cằm và râu mép nắn tỉa, chải chuốt tươm tất, đúng là một ông già đẹp lão. Ông bước, một tay có cô Sylvie dìu, còn tay bên kia chống cái gậy. Vào gần cửa ra, để người đón nhận diện, cô Sylvie đưa cao tấm giấy cứng màu trắng có ghi vỏn vẹn 2 chữ: ÔNG TRỌNG. Mới ra khỏi cửa, ông Trọng được người cháu xông tới ôm choàng, hôn vào má thắm thiết nhiều lần.
Gia đình người cháu gồm hai vợ chồng cùng hai con lớn từ quê vào đây để đón ông. Hai người con của cháu ông, mỗi đứa cầm một bó hoa, trao mừng ông và cô Sylvie. Trên đường về quê bằng chuyến bay nội địa, đoàn người râm ran thăm hỏi nói cười; cô Sylvie không biết tiếng Việt, ngơ ngác, ông Trọng phải đóng vai thông dịch.

Nhà xây cho ông Trọng về ở chưa xong, mới hoàn thiện một phòng và cái toilet. Dự toán ngôi nhà là 500 triệu đồng; ba tháng trước, để khởi công, người cháu ông đã nhận, theo đường chuyển tiền Western Union, 12.000 Euos, quy ra tiền Việt Nam là 300 triệu. Lần này, trước khi trở về Pháp, cô Sylvie đã giao nốt số tiền 200 triệu cho ông anh họ.
Trong lúc các kíp thợ đang tiếp tục công việc, ông Trọng vào ở cái phòng vừa làm xong. Trên cái giường lót nệm, trải ra (drap) trắng tinh, tấm chăn và chiếc gối màu nâu nhạt ủ nước hoa, bốc mùi thơm phức; sát tường, cái tủ áo bằng gỗ gụ đánh BU bóng láng; gần giường, cái bàn vừa dùng để dọn ăn uống vừa để đọc và viết phủ chiếc khăn rực rỡ hoa văn; bên cạnh, hai chiếc ghế dựa có lót nệm ở chỗ ngồi và ở chỗ tựa lưng.
Hàng ngày, cứ đúng 7 giờ sáng, 11 giờ trưa và 6 giờ tối, vợ cháu ông bưng phần cơm nước qua đặt lên bàn, vòng tay, cất lời mời:
Cháu mời chú dùng bữa.
Phần cơm dành cho người cao tuổi, không có chi cao lương mỹ vị, nhưng trông lúc nào cũng sạch sẽ tươm tất: một tô nhỏ cơm, một tô canh khi nấu cá khi nấu thịt, một dĩa đồ kho mặn và một dĩa đồ xào cộng thêm đồ uống là một lọ sữa Ensure.

Tuổi già cộng thêm môi trường sống thay đổi, ông Trọng thường nhức mỏi trong người. Chiều chiều, ông gọi taxi đến, chở ra một khách sạn ngoài phố để mát-xa (massage) cho máu huyết lưu thông.
Cô Diễm, người phục vụ ông, trước đây tốt nghiệp kỹ thuật viên vật lý trị liệu, hiện vừa công tác tại bệnh viện tỉnh vừa tranh thủ làm thêm tại khách sạn. Cô mới khoảng trên 40 tuổi, ly dị chồng, có một con, hai mẹ con ở thuê tại một phòng trọ; khuôn mặt trái xoan, đôi má hồng hồng, miệng luôn nở nụ cười rất tươi, cô dễ gây cảm tình ở người tiếp xúc; cũng vì ưu điểm ấy nơi cô, người chồng cô ghen tuông, hậu quả là hạnh phúc vợ chồng tan vỡ. Cô Diễm có cái duyên ngầm níu kéo khách; nhiều người từng được cô mát-xa (một hình thức tập vận động trị liệu), khi xa cô thì nhớ đến nỗi dù không có vấn đề gì về sức khỏe cũng đến khách sạn chịu tốn một số tiền để được gần cô.
Ông Trọng đến khách sạn, nằm sấp trên giường; hai bàn tay mềm mại của cô vuốt vào hai bên sống lưng của ông từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên, người ông chuyển từ cảm giác khoan khoái sang ngây ngất. Ông Trọng nằm ngửa, cô khom người lên ông, hai bàn tay cô nắm hai bàn tay ông kéo thẳng vô ra theo chiều ngang, rồi duỗi lên xuống theo chiều dọc. Cô quỳ dưới chân ông, hai tay nắm, nâng đôi chân ông lên xuống, qua về; trong động tác tập, da thịt cô đụng vào da thịt ông, ông cảm nhận như hai dòng điện âm dương chạm nhau;  mùi thơm từ mái tóc, thân thể cô bốc lên thoang thoảng len vào mũi tạo ra một cái gì đó kích thích làm cho ông phấn chấn, tươi tỉnh, khỏe khoắn cả người..
Đến khách sạn, cứ mỗi lần, ông Trọng phải tiêu tốn tiền taxi lượt đi lượt về hết 200,000 đồng, lại phải mất thời gian chuẩn bị: thay quần áo, gọi xe … vừa mất công vừa phiền phức. Ông nảy ra sáng kiến, mời cô về phục vụ tại nơi ông ở, cho tiện.
ÔÔng già rồi, việc đi lại khó khăn. ÔÔng muốn cháu tranh thủ thời gian đến nhà tập cho ôông, được không? Cháu có xe máy, chắc được hi? Ông Trọng gợi ý khi đang nằm trên giường tập ở khách sạn. ÔÔng không để cháu thiệt thòi công lao mô! ÔÔng sẽ thanh toán đích đáng từng buổi tập cho cháu.
Cô Diễm nhận lời. Tới nhà tập cho ông, cô sẽ nhận nguyên tiền, không như ở khách sạn, tiền công của cô bị trích bớt.
Ở nhà ông, trong căn phòng riêng, chỉ có hai ông cháu. Mỗi buổi tập, cô Diễm được ông trả 500,000 đồng – số tiền gấp mười lần số tiền mà cô nhận qua ban quản lý khách sạn sau mỗi lần tập cho khách.
Khoảng hai tháng sau, ông Trọng báo cho cháu ông:
Chú sống cô đơn quá, chú thấy con kỹ thuật viên vật lý trị liệu đến tập cho chú dễ mến, lại rành việc săn sóc người cao tuổi, chú có hỏi ý nó và nó đồng ý về đây ở với chú làm ôông làm mụ, săn sóc chú trong tuổi già.
Nghe nói vậy, người cháu sửng sốt, không biết xử trí sao. Nếu cô ấy làm vợ ông, khi ông lâm chung, ngôi nhà sẽ do cô ấy thừa kế. Ngồi xuống bên ông, người cháu giải bày thiệt hơn:
Chú gần đất xa trời rồi, tính chuyện lấy vợ làm chi cho nhọc. Ở đây, chú cần gì đã có vợ chồng cháu lo. Chú không sợ làng xóm cười chú là ôông già mất nết hay răng?
Hai từ “mất nết” đập vào tai, ông Trọng tự ái, đỏ bừng mặt, ông gượng đứng dậy, tay đưa gậy đánh, đuổi người cháu,  miệng lằm bằm chưởi bới:
- Cha tổ tụi bây, con cháu hỗn láo với chú bác, đồ ẻ, ba vạn cũng bỏ, nhà tau xây ra đó, còn dang dở, bây tiếp tục hoàn chỉnh đi mà ở, tau không thèm nhìn mặt tụi bây nữa mô!
Ông Trọng lảo đảo bước ra khỏi nhà, hai chân run run, thỉnh thoảng khựng lại. Ông bấm số điện thoại gọi taxi đến chở ông đi.

Ông đến phòng trọ của hai mẹ con cô Diễm. Cái phòng nhỏ nằm trong một dãy ở sâu tận góc một khu vườn um tùm cây cối bên một con đường lớn của thành phố. Phòng có 2 giường; từ trước đến giờ, hai mẹ con cô ngủ chung cái giường lớn, cái giường nhỏ để không. Ông Trọng ra ở cùng, đứa con chuyển qua ngủ trên giường nhỏ, ông và cô nằm trên giường lớn.
Hưu từ bên Pháp chuyển qua, ông giao cho cô lo cơm nước và phục vụ ông.
Mấy tháng nay, sống chung, cô Diễm không ưa ý, nhưng bên ngoài, gượng vui vẻ, biểu tỏ tình cảm nồng thắm. Mỗi lần, cô Diễm đi ra khỏi phòng hay từ ngoài bước vào phòng, quen với tập quán bên Tây, ông Trọng gọi cô tới gần, níu mặt xuống, áp môi hôn một cái “chụt”.
Lấy ông Trọng, cô Diễm đinh ninh rằng cô sẽ ở với ông tại ngôi nhà mới, và sẽ là người thừa kế ngôi nhà ấy khi ông qua đời . Nào ngờ bây giờ ra nông nỗi này!

Sáng nay, sau bao đêm nằm bên cạnh ông già “bất lực”, cô dậy sớm hơn thường lệ, cằn nhằn, cố ý lớn tiếng cho ông Trọng đang nằm có thể nghe được:
- Số chi mình mà cực dữ ri. Thằng chồng trước rượu chè bê tha không lo ăn lo làm, lại ghen tuông bậy bạ, rốt cuộc, vợ chồng phải chia tay. Giờ lấy ôông già này, không được chi hết, mỗi tháng nhận mấy triệu bạc, chẳng qua là tiền ôông đưa cho mình để lo ăn lo uống và thuê mình tập cho khỏi nhức mỏi. Mình là con ở, mình là ô-xin không hơn không kém.
Cô Diễm đẩy chiếc xe máy ra khỏi phòng, đề máy nổ rẹt rẹt, cô phóng xe đi. Đồng hồ trên tường mới điểm sáu giờ sáng. Không biết cô đi đâu vào giờ này; giờ làm việc ở bệnh viện đến 7 giờ 30’ mới bắt đầu lận.
Lời nói và hành vi của cô Diễm đến tai và mắt của ông Trọng, ông thốt lên hai từ “chết cha” não nuột rồi lặng im …

                                                         Lão Gàn
                                                    26/7/2015 (11/6 / Ất Mùi)

READ MORE - CON TIM TRỞ CHỨNG - Truyện ngắn của Lão Gàn

VỀ ĐÂY ANH - Thơ Hồng Tâm


                    Tác giả Hồng Tâm



VỀ ĐÂY ANH

Các anh về đây các anh ơi!
Hãy về đây ăn chung với đồng đội
Ngày vào thu vang vang câu hát
Hát mãi khúc quân hành
Những chiến sĩ áo xanh

Em còn nhớ trang sử nước mình khi đất nước chia đôi
Trăm mái nhà lửa bốc khói cháy ngùn ngụt
Bao bà mẹ lần lượt tiễn con đi âm thầm khóc
Đợi chờ mỏi mòn chẳng thấy con đâu!

Những chiến hào bao người ngã xuống nơi đây
Máu thấm đất, xác vùi trong lòng đất
Những kỷ vật cái còn cái mất
Nay đem về chôn tại nghĩa trang

Bến Cầu quê em giờ đổi thay
Vàm Cỏ Đông xuôi dòng nước chảy
Vùng đất Ngũ Long cha ông để lại
Di tích một thời thuở mới khai hoang

Về đây anh về tại nghĩa trang
Đồng đội anh đi thăm từng khu mộ
Khói hương trầm, phút giây mặc niệm
Nhớ mãi muôn đời những người lập chiến công

                                           27/07/2015
                                          HỒNG TÂM 
                                          (lyminhly456@gmail.com)
READ MORE - VỀ ĐÂY ANH - Thơ Hồng Tâm

Thơ đầu tay: THU RƠI - Phan Nam

Tác giả Phan Nam


THU RƠI

Chiếc lá vàng gợn sóng biếc về không
Trôi lơ đãng nhìn chòm mây trong lòng
Bóng người xưa nhè nhẹ rung mặt nước
Khẽ khàng nhịp tim đánh thức vô hình
           
Có lẽ ngắm hoàng hôn mơ màng
Có lẽ rơi trong giấc mơ câm lặng
Có lẽ xoá ánh chiều mông mênh
Có lẽ ngủ quên ru giọt cuối mùa

Trôi xa mãi lá thu nặng riêng mang
Đọng chút tình thắm đôi môi cổ tích
Rơi, rơi hoài… còn đậm sầu hương hoa
Rơi, rơi hoài… men say cay lệ nhoà

Nay dặt dìu đôi chân nhỏ hắt hiu
Thu chớm nở thu xa xôi nhiều quá !
Ngắt cành non mở cánh hoa úa tàn
Ve sầu chiều còn đứt cánh chia xa.

Thu chiều xứ Tiên, 2015 
Phan Nam
Quê quán: Tiên Phước – Quảng Nam.
Sinh viên lớp Báo chí, Khoa Ngữ Văn, Trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng.
Email: phanvannamsp@gmail.com. 
READ MORE - Thơ đầu tay: THU RƠI - Phan Nam

XIN SỐNG TRỌN MỘT NGÀY KHÔNG BÃO TỐ - thơ Trương Đình Phượng













XIN SỐNG TRỌN
MỘT NGÀY KHÔNG BÃO TỐ

Neo những giấc mơ vào gió
chiều hồn nhiên rơi
phía cuối chân trời là mùa xuân
nơi những mầm non tin yêu tách vỏ
phía cuối con đường là bình yên
nơi nụ hôn và bàn tay kỳ ngộ
cớ gì em phải dối lòng giữa một ngày như thế
mặt trời lạc theo chiêm bao vào đêm
lũ lá căng những vòm ngực rộng
chờ mưa về ban phước...
cớ gì không dốc men vào chiếc cốc trái tim
và khướt say một lần
gạt bỏ những sắc màu của ngày mai úa héo
ngã hồn vào nhau em ơi
mở mở ra bức mật thư tình ái ...
cho trọn vẹn một ngày tuyệt đích yêu thương!


Trương Đình Phượng
READ MORE - XIN SỐNG TRỌN MỘT NGÀY KHÔNG BÃO TỐ - thơ Trương Đình Phượng

Thơ đầu tay: MÙA THU VÀ NỖI NHỚ - Uyên Khuê




Lần đầu gởi cho VNQT:

MÙA THU VÀ NỖI NHỚ

Mùa thu về rồi anh
Trời đất hòa trong lành
Hương cốm mùa dịu ngọt
Bao người thèm muốn ăn

Một chiếc lá rời cành
Khẽ khàng rơi trên mặt
Hồ nước thu phẳng lặng
Lòng yên bình biết bao

Một tiếng chim vành khuyên
Trên nền trời cao vút
Rồi vụt bay xa tít
Vào bầu trời biếc xanh

Đôi mắt em long lanh
Dõi nhìn theo chiếc lá
Sao anh xa em quá
Để nỗi buồn mênh mang

Bước chân đi lang thang
Chiều về nắng nhạt dần
Bâng khuâng nhìn nơi ấy
Đếm lá vàng nhớ anh.

Uyên Khuê

uyenkhue8686@gmail.com
READ MORE - Thơ đầu tay: MÙA THU VÀ NỖI NHỚ - Uyên Khuê

LỖI HẸN HÒ - thơ Chu Vương Miện


Sông Ô Lâu. Ảnh NK Phước


lỗi hẹn hò

trăm năm đã lỗi hẹn hò
mười năm còn sót con đò chèo chơi?
sông sâu bên lở bên bồi
sông nay rút ruột để trôi cả làng
đá dăm trộn lẫn cát vàng
vét bao năm để làm đàng xe đi
giận nhau chả giải quyết gì
thương nhau bến Cộ xanh rì cỏ loang
cầu ngăn bên ngoại hai đàng
bắc nam giờ cũng nỗi buồn y nhau
lời thề hồi nớ cầu âu
làm cho mực nước Ô Lâu thấp hoài
sao hôm rồi lại sao mai
cùng một ngôi hai phía trời đông tây
còn tiền nắm chặt bàn tay
không tiền thì vội bỏ ngay chả cầm
mơi về đến nẻo Diên Sanh
có qua La Trữ trầu xanh trầu già
còn gì bãi lúa Hành Hoa
làng Tri Bưu với lòng ta mấy bờ
bến à? ba bến ngày thơ
sông Hiền Lương lại hai bờ nối nhau
hóa ra dư mất cây cầu?

chu vương miện


READ MORE - LỖI HẸN HÒ - thơ Chu Vương Miện

Sunday, July 26, 2015

GỌI MỜI THU XA - thơ Tuyền Linh

Tác giả Tuyền Linh


Gọi Mời Thu Xa

Mến gởi các cô gái Việt ở Na Uy




Xin Người một chút cô đơn
Chút hương xa xứ bên trời Na uy?
Bao mùa thu đến thu đi
Người còn giữ lại được gì trong tim?

Mùa thu về tận bên thềm
Có ve vãn được con tim của Người?
Những ngày lá đổ chiều rơi
Có gieo xao xuyến gọi mời tình lên?

Nỗi buồn không thể đặt tên
Có len lén đậu trên rèm mi cong
Có hôn lên nụ má hồng
Và… tim Người có bềnh bồng cùng thu?

Xin Người một phút lãng du
Đi vào giấc mộng mùa thu xứ mình
Biết bao sắc thái lung linh
Mùa thu đậm chất hương tình Việt Nam

Xin Người đừng có ngỡ ngàng
Khi tim thức giấc mùa sang thu về
Bên trời liễu khuất sương che
Người ơi, có thấy thu se sắt lòng?


Tuyền Linh
READ MORE - GỌI MỜI THU XA - thơ Tuyền Linh

THƠ CẦN CHO AI HAY LÀ AI CẦN THƠ - Nguyễn Trọng Tạo đọc sách Thơ Cần Thiết Cho Ai của Nguyễn Đức Tùng



Bìa sách “Thơ Cần Thiết Cho Ai” của Nguyễn Đức Tùng,
Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà văn ấn hành 2015.



Nguyễn Trọng Tạo

THƠ CẦN CHO AI HAY LÀ AI CẦN THƠ 


Người ta nói, người đọc thơ đang ngày càng ít đi. Nhưng các nhà thơ thì hình như ngày càng nhiều, và tất nhiên, những tập thơ cũng ngày càng gia tăng.

Người ta nói, thơ càng ngày càng khó đọc (khó hiểu). Nhưng các nhà thơ thì hình như không an bài với các kiểu thơ cũ đã trở thành mẫu mực; họ muốn vượt thoát, muốn khám phá sáng tạo ra sự bất thường của ngôn ngữ, thậm chí là tạo ra những “ma trận ngôn ngữ” thách đố người đọc. Người ta nói, thơ là sở hữu của mỗi người. Nhưng người ta cũng nói, thơ không của riêng ai.

Và tôi nghĩ, khi người ta yêu, người ta đã là một thi sĩ, cho dù họ không diễn giải thành thơ. Bởi thế, họ cần thơ để chia sẻ nỗi lòng, để hát lên vẻ đẹp bất tận của tâm hồn hay xua đi sự tuyệt vọng tận cùng của ngôi sao số mệnh. Còn Nguyễn Đức Tùng thì cho rằng: “Thơ giúp một người sống đến cùng các giới hạn của cuộc đời. Di chuyển giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thành công và thất bại, anh ta bắt đầu nhận ra những mơ ước của mình chỉ là ký ức đến từ tương lai”. Chính vì thế mà anh đã đi tìm những bài thơ, những nhà thơ để soi sáng hồn mình. Khi Nguyễn Đức Tùng đặt ra câu hỏi “Thơ Cần Thiết Cho Ai” cùng có nghĩa trước hết là thơ cần cho chính anh, một bác sĩ, một nhà thơ, một nhà khám phá thơ.

Voznexenxky viết: thơ sinh ra vì thơ, dù tôi không “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Với cuốn sách “Thơ Cần Thiết Cho Ai”, Nguyễn Đức Tùng đã lý giải đến tận cùng cả hai điều “trái khoáy” đó khi anh đi sâu vào tận đáy của những bài thơ và tác giả của nó. Mười bài thơ (và hơn thế) của mười nhà thơ mà anh lựa chọn không phải là ngẫu nhiên, mà trước hết là từ nó mà anh chiêm nghiệm ra các vẻ đẹp của nghệ thuật tâm hồn với những trạng huống hết sức bất ngờ trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Anh như soi kính lúp vào các mạch nguồn của chữ để thấy các dây tơ li ti nối liền cảm xúc. Lại có lúc phải nhắm mắt lại cho tâm hồn trôi theo những ẩn dụ xa xăm va chạm với hư vô nơi tư tưởng phát sáng. Một lối bình thơ đa phức, kết hợp cảnh ngộ và tiểu sử, hồi ức và hiện tại, trường phái và thi pháp, thực tiễn và kinh nghiệm, tự sự và nghị luận… với một văn phong nhẹ nhàng, thông minh và quyết đoán, nhằm làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu. Nhưng đôi khi ngòi bút nghị luận sắc sảo của anh bỗng trở nên mềm mại và gợi mở cho người đọc những cảm giác được tiếp tục sáng tạo cùng văn bản.

Cái hay của cuốn sách này còn nằm trong sự lựa chọn đối tượng để phẩm bình. Anh chọn cả những nhà thơ mà ở Việt Nam chưa từng biết đến, nhưng các nhà thơ đó đều có những đóng góp to lớn cho nền thơ bản địa và thế giới: 8 nhà thơ Mỹ và 2 nhà thơ Canada: William Carlos Williams (1883-1963), Billy Collins (1941-), Mary Oliver (1935-), Leonard Cohen (1934-), Elizabeth Bishop (1911-1979), Robert Frost (1874-1963), Naomi Shihab Nye (1952-), William Stafford (1914-1993), Patrick Lane (1939-), Wallace Stevens (187-1955). Có nhà thơ trong sáng giản dị, có nhà thơ cầu kỳ phức tạp… và Nguyễn Đức Tùng đã “phẫu thuật” cơ thể tinh thần của họ và thơ họ nhằm làm sáng tỏ những đóng góp cho dòng chảy thi ca suốt hơn thế kỷ qua. Họ là điển hình thu nhỏ của các trường phái thơ trong nhiều thời kỳ của Mỹ và Bắc Mỹ với tính khác biệt không lẫn vào đâu được. “Đó là sự khác biệt giữa một bên là các nhà thơ tin rằng nhiệm vụ của họ là tìm cách tương thông với độc giả. Muốn được như thế, câu thơ phải trong sáng, người đọc có thể tiếp cận được. Một bên là những nhà thơ, đa số trẻ hơn, tin rằng bài thơ của họ có thể là ngôi nhà đóng kín cửa, ngôn ngữ của họ không nhất thiết dễ hiểu, khi người đọc thơ đến trước bài thơ, không có ai mặc đồng phục đợi ở cửa mời họ vào”. Những kiến thức đó bồi đắp cho dân trí thơ thêm cao dày phù sa màu mỡ.

Là một nhà văn - bác sĩ Việt kiều ở Canada, Nguyễn Đức Tùng có điều kiện khám phá sâu sắc tâm lý sáng tạo của nhà thơ với kiến thức sâu rộng của mình. Vì anh đọc nhiều, đọc rộng và đọc sâu. Tôi đã từng theo anh vào một hiệu sách văn học to lớn ở thành phố Vancouver là nơi anh vẫn thường lui tới, và có khi ngồi cả buổi ở đấy với sách trước khi mua sách về. Anh đọc sách có khi quên cả bữa trưa, và tôi cũng đã bị đói cùng anh. Nhưng điều quan trọng, anh là một người viết. Anh từng thoát bỏ thơ có vần thuở ban đầu để tiếp cận với trường phái không vần hiện đại Tây-Mỹ với ngôn ngữ và thi ảnh Việt, tạo được dấu ấn trong làng thơ Việt hải ngoại, có tiếng vang về trong nước. Anh cũng đã từng làm một loạt cuộc phỏng vấn, trò chuyện với hàng chục nhà thơ Việt khắp nơi trên thế giới về cuộc đời và quan niệm thơ của họ và tập hợp lại thành cuốn sách dày “Thơ Đến Từ Đâu” xuất bản ở trong nước như một hiện tượng văn học với cái nhìn cởi mở và đổi mới. Anh cũng viết riêng một cuốn sách về nhà thơ Du Tử Lê, và một cuốn song thoại với nhà thơ Trần Nhuận Minh. Đó không chỉ là tình yêu thơ đến cháy bỏng của Nguyễn Đức Tùng, mà còn cả một sự tích luỹ, trải nghiệm và tung phóng những ý tưởng nghệ thuật của bản thân anh.

Với “Thơ Cần Thiết Cho Ai” xuất bản lần này, Nguyễn Đức Tùng, con người cật lực tận hiến cho thơ lại mang đến cho bạn đọc yêu thơ, cho các nhà thơ (trong đó có tôi) những trang viết đầy ý nghĩa mới mẻ và bổ ích. Nó không chỉ giải đáp câu hỏi “Thơ cần thiết cho ai” mà đọc nó, ta cũng có thể biết được, rồi ai cũng phải cần thơ. Vậy đó…

Hà Nội, ngày hẹn cuối cùng, 19.4.2014
NGUYỄN TRỌNG TẠO


READ MORE - THƠ CẦN CHO AI HAY LÀ AI CẦN THƠ - Nguyễn Trọng Tạo đọc sách Thơ Cần Thiết Cho Ai của Nguyễn Đức Tùng

ĐÁ KHÓC - TÌNH XUÂN - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân



ĐÁ KHÓC 
                  Tặng Lê Văn Trâm

Cạn chai
Bạn về…
Một mình ngồi thao thức với đá
Nghiêng lòng rót nửa cô đơn
Bài thơ
Mười năm trăn trở
Đốt!
Lửa tàn
Đá bỗng rưng rưng…
 



TÌNH XUÂN
                   Tặng NHLV

Mùa xuân loang đều ngọn cỏ
Vun dùm ước vọng lên xanh
Ai hong tóc chiều trước ngõ
Câu thơ tìm đến tự tình

Cỏ xanh hát lời ca mới
Đời qua bao nỗi gian truân
Em qua chuyến đò mỗi sáng
Khi về lòng có bâng khuâng

Chờ em tím chiều Thành Cổ
Quán nhỏ rưng rưng mưa buồn
Giật mình Nhan Biều pháo nổ
Em về dáng nhỏ mù sương

Chợ đời chờ xuân đã vãn
Tình anh vũ khúc giao thừa
Tất niên nỗi buồn năm cũ
Cùng em cùng nắng cùng mưa…

Nguyễn Hữu Minh Quân
READ MORE - ĐÁ KHÓC - TÌNH XUÂN - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

ĐÊM TRẮNG TÌNH XA - thơ Huy Cận Đông Hà





Đêm Trắng Tình Xa

Ta yêu người đong đầy từng đêm trắng
Sao bây giờ tình vội vã chia xa
Những ngọt bùi giờ rệu rã... phôi pha
Bao giọt đắng rơi xuống đời... lơ lửng
Mảnh tình đó theo ta ngày chập chững
Để muôn chiều ta khắc khoải chông chênh
Đêm xa Người ta uống cạn chênh vênh
Cho nỗi nhớ say mèm cùng dĩ vãng
Giữa hai ta giờ nhạt nhòa quên lãng
Khúc nhạc tình dang dở nhịp yêu thương
Ta sẽ về gói lại một làn hương
Cho thơm ngát nữa góc tình còn lại
Ta sẽ trồng muôn ngàn hoa cỏ dại
Chờ người về mềm mại bước chân côi
Những nỗi đau rồi sẽ mãi xa trôi
Cho tình ái luôn nồng nàn người nhé...

Huy Cận Đông Hà
READ MORE - ĐÊM TRẮNG TÌNH XA - thơ Huy Cận Đông Hà

Thơ đầu tay: QUAY VỀ ĐI - Minh Trí



Tác giả Minh Trí



Minh Trí, hiện là sinh viên ngành Văn học ĐHSP TPHCM, lần đầu gởi bài vào trang Văn Nghệ Quảng Trị, rất mong được quý cô, quý bác, quý anh chị góp ý chân thành để thơ anh được hoàn thiện và hay hơn. Thư về: minhtrixita@gmail.com.

VNQT xin trân trọng giới thiệu.


QUAY VỀ ĐI 
         (Tặng người bạn thân Quốc Bảo)

Nếu nơi đó bình yên xin hạnh phúc
Nếu xô bồ hãy quay lại nơi đây

Đi xa rồi chợt bây giờ hối tiếc
Những ngày qua không trân trọng tình này 
Đi xa rồi chẳng khi nào trở lại
Nỗi buồn sầu ướt đẫm khóe mi cay 

Đá xanh rêu thấu bao niềm thương nhớ 
Nước bờ hồ sao mặn chát con tim 
Gió mùa thu sao giờ này se lạnh 
Tựa đông về tuyết phủ trắng đôi tay 

Còn đâu nữa tiếng nói ngày xưa ấy 
Nghe thân thương đôi lúc cũng giận hờn 
Còn đâu nữa bóng hình người trong nắng 
Cơn mưa chiều tắt hẳn ánh ban mai 

Nếu nơi đó bình yên xin hạnh phúc
Nếu xô bồ hãy quay lại nơi đây 
Bước ra đi và nếu còn nhung nhớ 
Hãy quay về khi những lúc cô đơn!


                   Minh Trí
READ MORE - Thơ đầu tay: QUAY VỀ ĐI - Minh Trí

CÓ PHẢI LÀ ANH? - thơ Phương Hà



CÓ PHẢI LÀ ANH?

Hãy đến ngồi đây, tựa sát em
Trăng đang toả sáng trước hiên thềm
Bụi quỳnh trắng muốt hoa vừa nở
Nụ quế ngọt ngào hương mới lên
Lác đác sương rơi loang áo mỏng
Mơn man tóc xõa phủ vai mềm
Nghe trong tiếng gió lời âu yếm
Có phải là anh ... trong bóng đêm ?


                          Phương Hà
READ MORE - CÓ PHẢI LÀ ANH? - thơ Phương Hà

DƯ ÂM - thơ Nhật Quang


Tác giả Nhật Quang


DƯ ÂM

Ta úp mặt vào tường
nghe thời gian nức nở...
Hanh hao tháng ngày vụn vỡ, tàn phai
Lay lắt mình ta bóng nghiêng dài
Lênh đênh kỷ niệm, sóng xô bờ thương nhớ

Còn gì nữa đâu em !
Ta lạc lõng giữa bóng đêm mịt mờ
nằm nghe những vì sao cô đơn bật khóc
nghe côn trùng rên rỉ khúc hoang mơ
Đêm lao xao tìm trong giấc mộng ban sơ,
vòng tay ấm ru nhau vào giấc ngủ
Đôi bờ mi khép - hờ hững mong manh...
vẫn đắm hồn nhau những trưa nồng.

Thôi,còn gì nữa đâu em !
Trả lại thời gian mặn nồng hương yêu
để mây cuốn trôi vào miền dĩ vãng
Ta chôn chặt những ước mơ nồng nàn
có bờ môi em thơm ngát
có ánh mắt em dịu dàng đong đưa
những chiều nhạt nắng đón ta về men say ngây ngất

Thôi trả lại thời gian
những câu thề hẹn ước...
Em về vui với đời, với cuộc tình em mong đợi
Ta cúi mặt nghe kỷ niệm òa vỡ xót xa
miên man ký ức nhạt nhòa
Ta lầm lũi bước đi trong bóng đêm tàn tạ,
mệt nhoài ,ray rứt bóng hình em.

Nhật Quang
(TP, HCM )
READ MORE - DƯ ÂM - thơ Nhật Quang