Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, April 10, 2015

KHAO KHÁT - thơ Đan Thụy





KHAO KHÁT
Đan Thụy

Em hồn nhiên
vô tình như ngọn gió
Nhặt bình minh
dệt những ước mơ yêu

***
Anh rực hồng
như vầng dương tỏa sáng
Cút bắt bình minh
sưởi ấm tình thơ

***
Em thầm thì
trong mênh mông vô tận
Gửi về anh
những vạt nắng thu vàng

***
Nơi xa xăm
tình anh là bất tận
Mỉm cười
em
khao khát những yêu thương


ĐT
READ MORE - KHAO KHÁT - thơ Đan Thụy

Thursday, April 9, 2015

PHẦN SỐ CỦA ANH TÔI - Truyện ngắn của Trạch An -Trần Hữu Hội



Tác giả Trạch An-Trần Hữu Hội


    Trạch An -Trần Hữu Hội    

PHẦN SỐ CỦA ANH TÔI
  

      Nhiều năm sau khi anh tôi mất, mẹ tôi vẫn thường kể về chuyện ấy, bà kể rằng:
      -Năm ấy là năm Nhâm Ngọ, mẹ tôi cùng một người trong làng có việc phải ra Đông Hà, chiều lại, đi bộ về ngang chùa Sắc Tứ, một ngôi chùa nằm phía bắc tỉnh Quảng Trị, tọa lạc trên một vùng cát trắng, mà sau này khi chiến tranh tràn lan, vùng này mọc lên một căn cứ quân sự của Mỹ, bao quanh ngôi chùa chỉ trừ một lối vào vừa đủ cho Phật tử trong vùng vãn chùa, đảnh lễ. Khi bà cùng người làng ghé chùa, sư trụ trì cùng các sãi đang đạp lúa trước sân, mẹ tôi vái thầy rồi tỏ ý muốn xin xăm. Một chú tiểu tóc để chỏm nhanh nhạy theo lời sai của thầy, dẫn mẹ tôi vào chính điện. Mẹ tôi đặt bó nhang lớn mua từ Đông Hà, đặt thêm một đồng bạc làm lễ vật rồi khấn vái, sau đó qua bên một chiếc bàn khấn lại, rút một thẻ tre gọi là xăm, đem ra cho sư trụ trì xem, sư ngừng đạp lúa, nhìn vào xăm rất lâu rồi nói chậm rãi:
      - Mợ đang mang thai, một nam nhưng mạng này lại vắn số!
      Mẹ tôi sững sờ đáp lại:
      - Thưa thày, tôi vừa bỏ một đứa con chưa bao lâu, sao lại như vậy được?
      - Xăm nói sao tôi nói vậy, mợ về xem lại.
      Là người Quảng Trị, nhưng trong nhà tôi gọi cậu mợ, có lẽ cách gọi này là “mốt” thời thượng của những gia đình từng đi làm cho Tây thời đó, tôi gọi cậu mợ cho tới khi gia đình tôi rời quê lên tỉnh vì chiến tranh.
      Bố mẹ tôi mong mỏi một đứa con trai, nhưng hai lần sinh đều là gái, cái thai thứ ba mẹ tôi vừa bị hư cũng là gái, trong khi đó tuổi của bố tôi đã bốn mươi tám và mẹ tôi hai mươi tám.
      Chuyện của bố mẹ tôi gặp nhau là một chuyên hiếm hoi. Nguyên bố tôi đã có một đời vợ, bốn đứa con. Thời gian này, người được bổ ra làm việc ở Quảng Bình. Năm sau, một trận dịch hạch xảy ra, cả vùng Quảng Bình, Quảng Trị chết rất đông, có nhà mất cả gia đình, đi đâu cũng nghe tiếng khóc than! Mẹ đích tôi cùng các anh chị nằm trong số đó! (Trong nhà tôi gọi vợ trước của ba tôi là mẹ đích) .
       Sau khi an táng vợ và các con, người buồn rầu trở lại Quảng Bình làm việc. Trước là một người hoạt bát năng nổ, nhưng nay u uất buồn rầu.
       Ông ngoại tôi là bạn đồng liêu thân thiết với bố tôi.
       Sau hôm giỗ mãn tang mẹ đích tôi không lâu, ông ngoại tôi trong một bữa rượu, đã gợi ý gả con gái cho bố tôi, dù con mình còn quá trẻ, mới mười bảy tuổi!
       Mẹ tôi kể lại khi ông ngoại gọi, mẹ tôi đang bẻ bắp sau nhà, nghe ông ngoại nói ra ý mình, mẹ tôi cúi mặt nói lí nhí:
      - Thầy muốn vậy cũng được ạ!
       Bởi bố tôi là bạn thân thiết với ông ngoại tôi, mẹ tôi không lạ gì người đàn ông hiền lành, thích thơ phú và vui tính này!
       Trở về nhà, mẹ tôi kể chuyện lá xăm với bố tôi, ông liền đưa mẹ tôi lên tỉnh, nhờ một người bạn là bác sĩ, trong tỉnh ai cũng gọi ông là “Đốc tờ Hy”.
       Sau khi thăm thai, Đốc tờ Hy trở ra nơi bố tôi ngồi, vui vẻ bắt tay bố tôi, nói:
       - Thai bốn tháng rồì, mong là trời cho “xừ” một quý tử.
       Bố tôi theo Tây học, ít khi tin vào tử vi bói toán, nhưng rồi cũng hoang mang với lá xăm!
       Gần cuối năm thì anh tôi chào đời, cả nhà tôi, hai chị còn nhỏ, bố mẹ tôi và hai bên nội ngoại… hoan hỷ vui mừng. Nhưng mẹ tôi thì lo âu từng ngày vì tin vào số mệnh, vị sư nói “vắn số” nhưng khống biết “vắn” là tại thế được bao lâu!!!
       Nỗi lo âu thường trực trong lòng bà cho tới khi anh tôi qua đời!
       Bấy giờ chúng tôi đã lớn, dù đã thuộc nằm lòng nhưng vì thương mẹ nên cũng ngồi nghe kể, thỉnh thoảng chen vào, hỏi mẹ một vài chuyện về anh, cũng đã nằm lòng, nhưng dù đã nằm lòng vẫn không khỏi khóc. Chẳng hạn như sau khi anh tôi được ba tuổi, mẹ tôi sinh thêm chị gái tôi, năm sau, giặc Tây càn, những trận càn liên miên thời đó. Mẹ bồng chị tôi, anh tôi chạy cùng hai chị, không may đạp nhằm cái gai tre xuyên qua bàn chân, đau lắm! Thấy anh tôi không chạy được, các chị cũng còn nhỏ không cõng nổi, mẹ tôi muốn bỏ lại chị tôi bên đường để cõng anh tôi. Nhưng anh tôi không chịu, khóc lóc, nhất định là: “Con đi được, mợ đừng bỏ em!” Rồi anh tôi tấp tểnh đi bằng gót chân non nớt! Chúng tôi luôn khóc về chuyện này, khi chị tôi đã lớn khôn, chị vừa khóc vừa gọi “Anh ơi !!!” làm chúng tôi sụt sùi!
       Thời gian này bố tôi đã bỏ việc ở Quảng Bình, thoát ly lên chiến khu Ba lòng, được một vài năm, ông bị Tây bắt, phải nằm nhà lao mấy năm. Trở về, bố nhớ lại lời của lá xăm, người nguyên xin ơn trên cho thêm đứa con trai nữa, trời cho thật, anh kế tôi ra đời vào năm Nhâm Thìn, bố tôi đặt tên là Trần Như Nguyện. Vài năm sau, mẹ sinh thêm tôi khi mẹ đã bốn mốt tuổi, bố sáu mốt! Tôi thường bị trêu là con ông già. Vậy là gia đình tôi có sáu người con, ba trai ba gái.
       Tản cư lên tỉnh, gia đình tôi nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho một chỗ ở, công việc sinh nhai là nấu cơm cho thợ hồ, thợ mộc xa nhà. Ăn ngày, ăn tuần, ăn tháng tùy…
        Ông Tỉnh trưởng thường đến nhà tôi chuyện trò cùng bố tôi, ông từng là một thầy giáo dạy văn. Ông là tỉnh trưởng dân sự cuối cùng vì sau đó những tỉnh trưởng đều là Quân đội.
         Có một lần, bố tôi đọc cho ông nghe câu đối mà bố tôi mới làm xong:
        “Bán cháo, bán cơm, không bán nước,
        “Mua đồng, mua trự, chẳng mua quan.
         Ông Tỉnh trưởng khen rồi xin cắt nghĩa, bố tôi nói:
         -Tôi tản cư lên tỉnh, nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho chỗ ở, nấu cơm bữa cơm tháng sinh nhai, nên chỉ bán cháo bán cơm, còn nước thì lấy từ sông Thạch Hãn lên, ai khát thì cho người ta uống chứ không bán. Nhà tôi nghèo, chỉ có tiền đồng tiền trự, chứ làm gì có tiền quan mà mua.(Lúc này tiền tệ không còn “trự”, “quan”, nhưng ông mượn đơn vị tiền tệ cũ để nói lên ý mình trong câu đối.
         Tâm đắc với câu đối, ông Tỉnh trưởng về, hôm sau cho chở tới 10 bao gạo, rồi giới thiệu các công chức xa nhà đến ăn cơm, nhà tôi đông như quán cơm xã hội. Mẹ tôi đã vất vả càng vất vả hơn!
        Vất vả bận rộn, nỗi lo về anh tôi cũng vơi đi phần nào. Cho đến một hôm, có một thầy chấm số Tử vi từ Huế ra, chuyên chấm tử vi cho những nhà giàu, quan chức trong tỉnh… đến ăn cơm, ông thầy đau bao tử nên hơi tái xanh, gầy. Mẹ tôi chừa phần cơm của thầy thường bỏ thêm cho ông một miếng cháy bởi ông rất thich cơm cháy
        Năm trước, anh tôi thi rớt tú tài phần nhất, găp lúc tòa hành chánh tính có tổ chức “Đoàn cán bộ hành chánh lưu động”. Anh tôi được tuyển dụng.       
       Tôi còn bé nhưng cũng nhớ là đêm ấy là đêm mưa rét, bố tôi ngồi chuyện trò cùng thấy tử vi, ông ấy gọi anh tôi, bào vào trong phòng xem dưới hạ bộ có nốt ruồi đen hay không, anh tôi theo lời rồi ra xác nhận lả có. Ông cười bảo với anh không có gì, ông ngồi cùng bố tôi một lát rồi về nhà trọ.
         Hôm sau ông lại đến ăn cơm, ông nói nhỏ với bố tôi:
        - Ba mươi mốt tuổi nó hết số anh à!
         Bố mẹ tôi buồn lắm, nửa tin nửa không muốn tin!
         Ba mẹ tôi dấu không cho chúng tôi biết, nhưng cũng chẳng giấu được bao lâu, anh tôi và cả nhà đều biết, ai cũng cố không tin ông Thấy tử vi!
                                             oOo
        Lá xăm và lời thầy tử vi cũng chỉ là hé lộ mơ hồ về số phần của anh tôi, có vẻ như đã được định mệnh sắp đặt. Tin hay không tin cũng chỉ biết đợi chờ!
        Những lắng lo xoay trở tạo cho mình có được một “cái gì đó” trước khi tuổi ba mươi mốt đến là ý nghĩ luôn hiện hữu và chi phối những chọn lựa của anh tôi!
       Anh tôi thích thơ-văn, anh cùng hai người bạn ra một tập thơ mỏng chép tay, in roneo, lấy tựa là “Thi phẩm: Buồn Hôm Nay”, anh cũng gởi thơ cho các báo, một vài bài thơ của anh được đăng trên báo “Phổ Thông” và “Bách khoa”.
       Anh vào lính, thi lại tú tài rồi xin vào làm ở Đài Phát Thanh Quân đội ở Huế.
       Năm sau anh cưới vợ, ở tuổi hai mươi mốt, mặc cho gia đình phản đối!
       Làm ở đài phát thanh không bao lâu thì cuộc chính biến 1963 xảy ra cùng với chiến sự lan tràn, anh về làm lính tiểu khu Quảng trị, ở đó cho đến biến cố tết Mậu Thân.
       Những đứa con ra đời, anh tôi lại có thêm nỗi lo kinh tế! Là lính tiểu khu, ngoài những giờ gác đêm, anh tôi được tự do, anh làm thông dịch cho những nhà thầu nơi các căn cứ Mỹ để kiếm thêm thu nhập, phụ vào đồng lương ít ỏi của anh binh nhì.
       Ông Tỉnh trưởng dân sự ngày nào, sau khi thôi làm tỉnh trưởng, ông ứng cử Hạ nghị viện và lúc này dang là Bí thư hạ viện tại Sài gòn. Khi ứng cử nhiệm kỳ đầu, anh tôi đến các quận trong tỉnh để vận động cho liên danh của ông, trong lần về lại, gặp anh tôi, ông khuyên anh tôi vào trường Bộ binh Thủ đức, sau khi ra trường sẽ ứng cử Hạ viện như ông trước đây. Trong thời chiến, cứng cử viên là sĩ quan quân đội sẽ được cử tri quân nhân ủng hộ.
      Năm 1970 bố tôi mất vì bệnh phế quản. Có lẽ là di chứng của những năm nằm nhà lao.
      Theo lời khuyên của ông cựu Tỉnh trưởng, anh tôi vào trường sĩ quan Thủ Đức, khóa 3/70.
      Mãn khóa, anh nằm trong số được chọn đơn vị. Chiến sự căng thẳng khắp nơi, bốn đứa con là động lưc cho anh tôi chọn tiểu khu Phong Dinh vì nghỉ rằng Miền tây gạo và thức ăn rẽ! Chuyện ứng cử Hạ viện không còn trong tầm tay.
       Anh vẫn viết, cộng tác với các nhật báo. Anh viết những bản tin, phóng sự, thỉnh thoảng đăng một vài truyện ngắn và thơ… đem lại một khoản tiền nhuận bút cho kinh tế của anh.
       Văn thơ anh lúc này bi quan với những: “mộ phần, nghĩa trang, cái chết”, những gian truân đời lính, bên cạnh những bài thơ mang ước vọng hòa bình…
     (Tôi còn nhờ vài câu:
        “ Đường đi vào nghĩa trang,
           Buổi chiều nghiêng nắng đổ
           Em cúi mình hỏi mộ
           Mộ anh ở nơi nào?!
           ……………………
       Hay như:
          “Nếu một mai Quê hương tàn tiếng súng,
           Anh giã từ vũ khí trở về em
           Anh quên hết những oán hờn xưa cũ,
           Gối đau thương trong giấc ngủ say mềm…
            ………………………………………….)
       Gia đình tôi vẫn ở Quảng Trị cho đến tháng 4 năm 1972. Quê tôi rực lên bởi đạn pháo. Chết chóc, ly tán… Gia đình tôi nhờ chạy trước nên không qua đoạn Quốc lộ 1, nơi được gọi là “Đại lộ kinh hoàng”.
        Anh tôi từ Cần Thơ đăng báo tìm “mẹ và em”, anh cho tôi địa chỉ một người bạn gái ở đường Võ Tánh, Sài Gòn. Đến đó, anh sẽ đón mẹ và tôi đưa về Cần Thơ.
       Anh kế tôi lúc này cũng đã vào trường Thủ Đức, khóa 4/71. Các chị tôi ở lại Đà Nẵng trong các trại tạm cư, chờ khi tái chiếm được Quảng Trị sẽ hồi cư.
                                                   oOo
       Gặp lại anh ở Sài Gòn, mẹ tôi rơi nước mắt vì mừng mà cũng vì anh gầy và tái xanh, anh cười bảo là muổi nhiều nên sốt rét. Anh muốn mẹ và tôi ở lại vài ngày ở Sài gòn để anh đưa đi thăm bà con nhưng mẹ tôi không muốn, bà nôn nóng về với các cháu. Chị dâu tôi đang mang thai đứa thứ năm!
        Ngồi trên chiếc xe về miền Tây ở bến xe Chợ lớn, anh nói nhiều cho tôi biết về Cần Thơ, những bến Ninh Kiều, phi trường Bình Thủy, phà Cần Thơ rộng qua sông Cửu Long, Rạch Chanh nơi đơn vị anh đóng quân… Anh cũng nói đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, anh muốn nếu chết thì chôn anh ở đó! Câu nói như bất chợt ấy làm tôi nặng lòng!
        Một cô gái mang một chồng sách lên xe bán dạo, tôi vui trở lại. Anh chọn bốn cuốn: “Chiến Trường Tồi Tệ" của Ngô Đình Vận, “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của F. Sagan, bản dịch của Kiều Diễm Hồng, anh nói về nhà văn nữ người Pháp, nói qua về trào lưu “Hiện sinh”…mua thêm cho tôi hai số nguyệt san “Văn Học”: Một số viết về nhà thơ Quang Dũng và số về Hoảng Cầm. Hình bìa số về Quang Dũng có in hình nhà thơ, anh tôi nói đó là áo của sĩ quan Hoàng Phố, nói cho tôi nghe về trường quân sự này, cũng nói thêm về Vũ Bằng và mấy cây bút trong những số này làm tôi háo hức đến Cần Thơ, nơi căn nhà mướn của anh để xem…
        Căn nhà mướn chật chội làm tôi thương anh hơn, những ngày phép còn lại thật quý, anh em tôi ngồi chuyện trò về thơ, văn, nhạc… Tuy tuổi chênh nhau nhiều nhưng anh em tôi gần gũi nhau hơn các anh chị khác. Lúc này tôi mới mười sáu còn anh ba mươi mốt! Vốn thơ tôi không quá cuốn “Việt Nam Thi Nhân” của Hoài Thanh. Nhạc thì tôi kha khá nhờ nghe nhiều, chúng tôi cùng thích nhạc tiền chiến và Trịnh Công Sơn. Thời gian này băng nhạc “Như Cánh Vạc Bay" và "Cỏ Xót Xa Đưa” của Trịnh Công Sơn đang thịnh hành, trong những cuốn băng cassette tôi mang theo về Cần Thơ được nghe liên tục. Tôi cũng mang theo cuốn “Yêu Nhau Khi Còn Thơ" và "Khi Loài Thú Xa Nhau” của Lê Uyên và Phương, còn có một cuốn nhạc chọn lọc tôi rất quý vì tôi đã cất công vào nhà thu băng Hoa Đàm ở cửa Thượng Tứ, Huế, thu chọn những bài mà tôi thích như “Trăng Mờ Bên Suối”, “Suối Mơ”,  "Chiếc Lá Cuối Cùng”,  “Đêm Đông”… Tôi chọn cho được giọng ca Thái Thanh và Sỹ Phú. Thu chọn bài đắt gấp ba lần thu nguyên băng, nhưng tôi vẫn kiếm tiền thu cho được.
        Thế mà vài ngày sau tôi phải bán cái máy cassette ấy! Cái máy này tôi mang theo từ Quảng Trị.  Khi hết phép, anh tôi về đơn vị nhưng không có tiền, tôi đề nghị bán chiếc máy, anh không cho, nhưng rồi cuối cùng cũng phải chấp nhân vì ngoài tiền mang theo về đơn vị, còn tiền ăn cho cả nhà! Tôi nghiệp anh, tự an ủi là lãnh lương sẽ mua lại cho tôi cái máy tốt hơn!
        Hai anh em, tôi xách cái máy, anh tôi vác cài thùng loa Sharp, qua các phố Cần Thơ tìm chỗ bán. Mồ hôi đẫm chiếc áo lính của anh tôi. Khi tới một tiệm sửa máy, họ đồng ý mua lại, anh tôi rút khăn lau mặt, không biết anh lau mồ hôi hay những giọt nước mắt, có lẽ cả hai!
         Trước khi trở lại đơn vị, anh tôi xin cho tôi đi học. Tôi vừa xong lớp chín, muốn bỏ lớp mười để vào lớp mười một. Anh tôi ngại tôi không theo kịp, nhưng tôi hứa là sẽ cố gắng. Tôi vào lớp Mười một trường Nông Lâm Súc ở Cần Thơ, nhờ thầy Giám học cảm thông cho hoàn cảnh chiến tranh của Quảng Trị, không đòi hỏi hồ sơ lớp mười.
         Sáng ngày anh về đơn vị, mẹ tôi đưa cho anh ba ngàn, trong số tiền bán cái máy, nhưng anh chỉ lấy một ngàn, nói là “con chỉ đi ba ngày rồi về”,
         Những ngày ở nhà, anh thường hỏi tôi mấy giờ rồi, tôi sợ anh về đơn vị không biết giờ nên cởi cái đồng hồ hiệu Bulova, bảo anh mang theo, tôi ở nhà không cần, bởi anh nghĩ chỉ ba ngày rồi xin phép về nên cũng mang vào tay.
         Có lẽ mẹ tôi đã đếm từng ngày của năm Nhâm Tý, 1972 và mừng thầm vì đã đến tháng bảy! Anh tôi trở lại đơn vị hôm mồng một, mẹ tôi phấp phỏng âu lo, có những lúc tôi thấy bà ngồi lầm rầm khấn ông bà. Những lúc như thế, tôi thường nói rằng mẹ đừng lo lắng, anh đang bệnh, là Đại đội phó thí anh ấy cũng chỉ ở hậu cứ chứ chết chóc gì!
         Tôi cũng không buồn đi chơi đâu, dù rằng Cần Thơ là nơi tôi thường nghe tiếng là Tây Đô với nhiều cái đẹp, tôi nằm ngấu nghiến mấy cuốn sách vừa mua.
         Đúng ba ngày từ hôm anh tôi đi, sáng sớm có một bà ở cuối lộ 19 bị trúng gió độc chết, bà cũng ba mươi mốt tuổi! Mẹ tôi bần thần như người mất hồn, đúng lên ngồi xuống, đi ra đi vào!
        Chừng mười giờ sáng, có một anh lính đi ngang nhà, mẹ tôi bảo tôi chạy ra hỏi, tôi đi ra:
       - Anh tìm nhà ai?
       - Nhà Thiếu úy Dụng ở đâu ạ?
       - Tôi là em anh Dụng!
       Anh lính đứng im không nói thêm gì, mẹ tôi lao ra hỏi dồn dập:
       - Thằng Dụng sao rồi, sao rồi?!
       - Thiếu úy chết rồi ạ!
       Mẹ tôi và chị dâu thét lên rồi lăn lóc giữa đường, tôi cố trấn tỉnh hỏi anh lính là anh chết lúc nào, hiện ở đâu?
       - Ổng chết năm giờ sáng. Xe của đơn vị đang ở đầu lộ chờ đưa thân nhân xuống nhà xác quân khu…
       Mẹ, chị dâu và tôi đến nhà xác, xe vẫn chưa đưa xác anh về. Hôm ấy mất điện, nhà xác ngập ngụa máu từ các ngăn lạnh chứa xác chảy ra! Chừng hai mươi phút sau, anh tôi về trên chiếc xe cứu thương, với một mãng mặt vở nát và ba vết đạn trên ngực và bụng!
        Anh tôi bảo chỉ đi ba ngày rồi xin phép về, đúng ba ngày, anh tôi trở về như thế! Hôm ấy là ngày 03 tháng 7 năm 1972, anh tôi đúng ba mươi mốt tuổi như trong là số tử ví mà ông thầy chấm ngày nào!
        Thẻ xăm và lá số tử vi khiến anh tôi lo lắng rồi có những chọn lựa sai lầm, đưa đến cái chết đúng như lá số tử vi, hay dù có làm gì chăng nữa, cũng không qua được số phần mà định mệnh đã định dặt cho cuộc đời ngắn ngủi của anh tôi?
        Đó là câu hỏi luôn dằn vặt tôi cho đến bây giờ, không chỉ riêng định mệnh của anh tôi, mà tất cả những con người tồn tại trong cõi hiện sinh mong manh này.   
        
                                                       Tháng III, 2015.
                                               Trạch An -Trần Hữu Hội

        
READ MORE - PHẦN SỐ CỦA ANH TÔI - Truyện ngắn của Trạch An -Trần Hữu Hội

MƯA RU - thơ Phạm Phan Hòa




MƯA RU

         * Ngày mưa ru tay em lạnh...
          đôi môi nhợt nhạt cóng tình.
          Nụ hôn đặt vội giữa lòng bàn
          tay nắm lại.. khép tình mãi đẹp
          thiên thu! Nguyễn ơi?

Mưa sương buông tủi lệ hờn
Xanh bờ mắt cũ, rập rờn tóc xưa.
Người về mang nắng vào mưa
Mấy mươi năm ngỡ ngày chưa lấy chồng
Đưa nhau về đầu nguồn sông
Hoài thương một thủa má hồng chưa phai.
Quê anh xa... bước dặm dài
Nụ hôn đặt giữa bàn tay, thôi về!
Mưa se thắt chiều tái tê
Tình ơi! Buông thả đê mê một thời
À ơi... mưa trút lệ lời
Đưa người xa ngút cả trời yêu xưa.

Phạm Phan Hòa

Tháng tư 2015
READ MORE - MƯA RU - thơ Phạm Phan Hòa

NHỮNG DẤU CHÂN XA, TRINH TIẾT - thơ Trúc Thanh Tâm




THƠ  TRÚC THANH TÂM

NHỮNG DẤU CHÂN XA

Chiều hôm mưa xót phận người
Hàng song sắt lặng nỗi đời âu lo
Đêm trong trí nhớ tình cờ
Ta xuôi ý thức theo mùa lửa hương

Nàng buông tóc lệch cô đơn
Ven mây dấu bụi, xót đêm hãi hùng

Xuống đồi bóng ngựa mông lung
Ta nhìn con nắng treo rừng đong đưa
Che tình theo lớp mây đưa
Bóng người gió cát, chiều mưa võ vàng !

  30.5.70
TTT
( Thi tập - Lục Bát Thời Yêu Em - 1972 )
  

 TRINH TIẾT

 Phù sa tràn phía nhánh sông
 Đêm trinh tiết đó, áo lồng lộng bay
 Mắt cười em giấu đắm say
 Đầy vườn tinh tú men ngây ngất trời

Nầy em, hãy ngủ em ơi
Để quên dâu bể trong đời đôi ta
Gần nhau trời đất như xa 
Mùa xuân quên mất loài hoa chưa chồng.

  tháng 8. 70
TTT

( Thi tập - Lục Bát Thời Yêu Em - 1972 )
READ MORE - NHỮNG DẤU CHÂN XA, TRINH TIẾT - thơ Trúc Thanh Tâm

MỘT PHẬN ĐỜI - T.T. Quỳnh Hoa









MỘT PHẬN ĐỜI
(Viết cho những trẻ
mưu sinh vùng sông nước)

Dòng sông trôi êm ả
Có cuốn phăng nỗi sầu
Mái chèo khua sóng nước
Đưa em tôi về đâu

Đôi vai gầy bé nhỏ
Chở nặng gió mưa đời
Bát cơm lưng nuốt vội
Chân lý bỗng nghẹn lời

Con sóng đời chìm nổi
Đưa giấc mơ lạc loài
Em một ngày lam lũ
Ta ôm sầu trầm luân


        T.T. Quỳnh Hoa
READ MORE - MỘT PHẬN ĐỜI - T.T. Quỳnh Hoa

Wednesday, April 8, 2015

HÃY YÊU - thơ Lê Ngọc Phái


Tác giả Lê Ngọc Phái


Lê Ngọc Phái

HÃY YÊU

Hãy yêu trăng, sao, mây, nước, đất, trời
Yêu nắng, gió, mưa rơi, sương giá, tuyết
Sông, suối, biển, hồ, thác, rừng xanh biếc
Yêu núi, đồi, đồng lúa đẹp bao la
Yêu âm vang của dòng chảy hiền hòa
Chuyển phù sa vào đất mẹ yêu dấu
Yêu những ai có tấm lòng nhân hậu
Giúp đỡ người nghèo khó giữa trần gian
Yêu những bàn tay như bàn tay vàng
Đem nụ cười cho những ai đang khổ
Yêu những người mẹ, người cha lam lũ
Cả một đời vất vả chỉ vì con
Yêu những người hiếu thảo suốt đêm trường
Lo phụng dưỡng ông bà trên giường bệnh
Yêu những người biết thương người bất hạnh
Yêu những tượng đài, di tích anh linh
Những địa danh được muôn thuở tôn vinh
Yêu những thánh thất, đình, chùa, miếu, vũ
Những đền thờ, lăng mộ của tổ tông
Yêu những chiến công oanh liệt oai hùng
Đánh đuổi xâm lăng, giữ gìn xứ xở
Yêu những người đã làm nên lịch sử
Đã âm thầm ngã xuồng vì quê hương
Yêu hồi chuông vang vọng bên giáo đường
Những công trình mấy ngàn năm văn hóa
Những cây xanh, phố chiều trên đại lộ
Những mái nhà khói tỏa lúc hoàng hôn
Những buổi bình minh hoa, nắng ngập tràn
Yêu giang san gấm vóc thật tuyệt diệu
Tự hào thay bản trường ca muôn điệu
Em hãy yêu, hãy quý tổ quốc mình
Tình yêu ấy là tình yêu vô tận!

                                              LNP
READ MORE - HÃY YÊU - thơ Lê Ngọc Phái

MAI ANH VỀ ĐI LẠI ĐƯỜNG XƯA - Thơ Trầm Mặc




Thơ Trầm Mặc

MAI ANH VỀ ĐI LẠI ĐƯỜNG XƯA
                     gởi "thằng"Côn ngày xưa (Anh HP)
                                                           

Huế bây giờ
còn nắng hạ không em
Anh muốn vể đường xưa
lối mộng
Nơi ấy có em của một thời
không vang bóng
em có còn tóc xỏa nón nghiêng che

Huế bây giờ
có còn những trưa áo trắng
Buổi tan trường
ai đưa đón em về
Ôi nhớ quá, phượng hồng ve réo gọi
Anh nghe lòng vụn vỡ mối tình riêng
Mai em nhé
mai anh về… em nhé
được cùng em nhắc lại chuyện ngày xưa

Em bé bỏng
anh ngu ngơ, khờ khạo quá
Rồi giờ đây
thương lắm tháng ngày trôi
Anh vẫn nhớ một ngày qua Đồng Khánh
Chiều tím buồn
mưa lất phất
gió hắt hiu
Anh lúng túng, vụng về ... không nói được
Để bây giờ tiếc nuối mộng ngày xanh

Huế bây giờ
còn nắng vàng chiều Vỹ Dạ không em
Cho anh gởi chút tình xưa năm ấy
còn mãi trong anh…
kỷ niệm vàng năm tháng
Mãi mãi em ơi! dù tình yêu không trở lại
Anh muốn về ngóng mãi buổi trường tan

                              Vỹ Dạ, Huế.
                              Trầm Mặc
                            (Nguyễn Thị Bê)


READ MORE - MAI ANH VỀ ĐI LẠI ĐƯỜNG XƯA - Thơ Trầm Mặc

Tuesday, April 7, 2015

GẶP GỠ - Phan Thạch Nhân

       
                  Tác giả Phan Thạch Nhân


                                   GẶP GỠ   
                             Phan Thạch Nhân

Sớm mai thức dậy, sau khi chạy mấy vòng quanh sân vận động tôi đạp xe quay về nhà giữa lúc hồi chuông tan lễ vang lên từ thánh đường giáo xứ Hiệp Lực. Hôm nay là ngày chúa nhật, sáng sớm trời trong xanh và mát dịu, tôi tắm vội vã rồi thay đồ để chuẩn bị cho một ngày mới.
Vẫn như mọi ngày, người bạn trẻ đồng nghiệp bưng hai tách cà phê và ấm trà ra bộ ghế đá trước sân nhà mời tôi uống rồi cùng bàn bạc công việc. Sắp vào mùa phục sinh, dòng người tan lễ ở nhà thờ tràn ra mọi ngả đường, mấy cô mấy chị dịu dàng với những bộ áo dài thướt tha đủ màu sắc làm cho buổi sáng cuối tuần thêm tươi đẹp hơn. Tết nguyên đán đã qua hơn tháng, tháng Giêng trôi quá nhanh nhưng dù sao cũng còn mùa xuân để rồi sáng nay lại có một cuộc hẹn hò với anh em, với bạn bè để thực hiện một chuyến rong chơi gặp cuộc họp mặt cựu học sinh Nguyễn Hoàng tại La Gi - Bình Thuận vào ngày 22/3/2015.
Vượt qua gần chín mươi cây số, đúng bảy giờ mười lăm phút sáng, chiếc Ford bảy chỗ ngồi chạy thẳng vào sân nhà tôi, từ trong nhà, tôi vội chạy ra chào đón khách. Chuyến đi này không phải chỉ bốn anh em là anh Giang, bạn Liên Hưng, cô út Vĩnh Phước và tôi  như dạo du xuân đầu năm mà trên xe bước xuống còn có cô Giáng Hương – cựu giáo sư trường Nguyễn Hoàng và hai chị Nguyễn Hoàng lớp trước: Đó là chị Quang Tuyết ở Saigon và chị Lê Lan ở Bảo Lộc về cùng tham gia đi họp mặt hôm nay. Thật là vui và vinh dự được đón tiếp, đúng là một cuộc hội ngộ bất ngờ, bởi vì dù sao thì cũng hơn bốn mươi năm qua kể từ mùa hè năm ấy ở quê nhà tôi đã mất tất cả. Chính tôi cũng không ngờ qua những cuốn nội san của trường Nguyễn Hoàng tôi đã được biết tin tức về thầy cô, những vị giáo sư năm xưa dạy mình với những năm ngắn ngủi được vào học một ngôi trường nổi tiếng tại quê nhà Quảng Trị. Và cũng nhờ những lần họp mặt Nguyễn Hoàng đây đó mà tôi đã gặp lại được thầy cô và một số bạn bè thân yêu của một thời cắp sách. Thật tình sáng nay đối với tôi quá bất ngờ bởi vì ngoài anh Giang, Liên Hưng, Vĩnh Phước và chị Quang Tuyết đã quen thuộc, tôi chỉ biết cô Giáng Hương hay chị Lê Lan qua những hình ảnh trên sách báo. Tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn cô giáo cùng các anh chị và bạn bè trong những bộ trang phục lịch sự, quý phái mà không kém phần trẻ trung, xinh đẹp như những diễn viên điện ảnh xuất hiện ở nhà mình, tuy tuổi đời mọi người đã trên dưới sáu mươi. Tôi những muốn kêu lên: Chao ơi! Cô trò của Nguyễn Hoàng xinh tươi quá! (Mà không dám nói ra).
Từ mấy hôm trước, qua những cuộc đàm thoại tôi đã biết để có cuộc tham gia họp mặt này, cô và mấy chị em đã hẹn hò nhau tập trung tại thành phố Biên Hòa từ hôm qua và “ém quân” tại nhà bạn Liên Hưng. Bất giác tôi mỉm cười một mình với ý nghĩ “hành quân” sớm thế chắc phải dậy từ 3 giờ sáng mới chuẩn bị kịp.
Ngồi ở phòng khách uống nước, chúng tôi như người một nhà. Sau những câu thăm hỏi, câu chuyện cứ nổ như bắp rang cùng tiếng cười đùa vui vẻ. Dù ngày tháng đã đi qua hơn nửa đời người, dù nắng gió đã làm phai nhạt những mái tóc xanh ngày nào cũng như trên mỗi khuôn mặt ít nhiều đã xuất hiện những dấu ấn của thời gian, song tâm hồn người Nguyễn Hoàng luôn chan hòa tình thân ái nên dù mới gặp nhau lần đầu đi nữa thì cũng cứ như quen biết tự bao giờ, không có gì lại ngại ngùng, bỡ ngỡ. Sáng nay tôi không mời khách những ly trà như mọi ngày mà tự mình nấu bình nước chè xanh, thêm miếng gừng tươi đập dập như ngày xưa mẹ tôi thường làm cho cả nhà uống với ý nghĩ đôi khi ly nước chè xanh có hương vị gừng sẽ đưa những người khách xa quê chợt nhớ về quê nhà, để mà thương mà nhớ về những quãng ngày xa xưa ấy. Và suy nghĩ của tôi đã không sai vì sau khi nhấp ngụm nước, câu chuyện chè xanh lại tiếp nối từ người này sang người khác. Sau bữa điểm tâm nhẹ, tôi xin được ghi lại những tấm hình lưu niệm trong chuyến gặp gỡ thi vị này rồi lên xe hướng về Bình Thuận.
Đường Quốc lộ 1 sáng nay khá nhiều xe, ngoài các chuyến xe chạy đường dài ra Trung, ra Bắc; số còn lại là  đi tham quan, du lịch các cảnh quan như Mũi Né, Đồi Dương hoặc đi lễ xứ Tà Pao v.v...
 Bỏ lại cột mốc ranh giới tỉnh Đồng Nai đằng sau, chúng tôi thong dong trên đất Bình Thuận. Sáng nay gió biển thổi vào dịu dàng khiến ai cũng khoan khoái. Ngoài cậu tài xế trẻ im lặng chú ý lái xe, trên xe luôn đầy ắp tiếng cười nói của bảy nhân vật bởi những câu chuyện khá vui nhộn do các nghệ sĩ nghiệp dư của con cháu Nguyễn Hoàng sáng tác. Một Liên Hưng hoạt bát, một Quang Tuyết sôi động bên cạnh cô út Vĩnh Phước nhẹ nhàng, thùy mị. Chị Lê Lan thì ít nói nhưng nụ cười thân thiện luôn nở trên môi, còn anh cả Phan Thạch Giang dù đã vào hàng U70 mà vẫn còn nghịch ngợm vì dám sửa lời một bản nhạc nổi tiếng khiến ai cũng phì cười. Và tiếng cười dòn tan của cô Giáng Hương là một hấp lực dễ lây lan nhất với những câu chuyện mà đám học trò hết kể lại trêu nhau. Cười, cười đến đau cả ruột và cũng nhờ thế mà xe vượt qua chặng đường dài lúc nào không hay.
Đến đoạn rẽ vào Hàm Tân, tôi nhìn tấm biển báo có mũi tên chỉ về phía trái là Phan Thiết, có lẽ anh Giang cũng nhìn thấy. Hai anh em tôi cùng ngồi hàng ghế sau nên tôi liếc nhìn qua, thấy trong ánh mắt anh Giang có một chút suy tư và hơi thoáng buồn. Muốn chia sẻ cùng anh nên tôi đọc nho nhỏ bài GÁC TRỌ của anh viết từ năm 1962 và đã đăng trong tập san Xuân giới tuyến – 1962.

         GÁC TRỌ

                          Gác trọ lên màu bệnh viện
Lệ nhòa theo tiếng mưa đêm
Hẹn hò nhau về Quảng Trị
Phan Thiết có buồn không em?
Hãn Giang dâng sầu uốn khúc
Tâm tư theo bóng vai gầy
Mắt chiều vọng về Phan Thiết
Mấy mùa tay trắng bàn tay.
Đại lộ đông người không em
Mà sao không về Quảng Trị?
Hay em sợ mưa ướt áo
Hay đường phủ kín lối đi.
Gác trọ buồn thương nín lặng
Bờ mi khép kín hoàng hôn
Hãn Giang nhạc sầu thế kỷ
Con tàu gãy nát ru hồn.
Đêm nay lạnh về xứ Quảng
Nghẹn ngào viết khúc mưa đêm
Hẹn hò nhau về Quảng Trị
Phan Thiết có buồn không em?
            Ái Nghĩa 
   (Quảng Trị 1962)

        Tuy bài thơ đã viết cách đây trên năm mươi năm, nhưng có lẽ với những tâm hồn thi nhân thì thời gian ấy không là gì cả.
Theo chương trình của nhóm thì điểm đầu tiên chúng tôi dừng chân là ghé nhà thầy Lê Văn Quýt thắp nhang tưởng niệm thầy. Tuy nhiên khi đến nơi thì đồng hồ đã chỉ 9 giờ, chắc chắn giờ này người nhà của thầy đã đến điểm họp mặt nên đành hẹn sẽ ghé lại khi trở về. Xe tiếp tục di chuyển chậm về hướng trung tâm thị trấn La Gi vì tài xế sợ bị bắn tốc độ. Điểm họp mặt hôm nay ở tại một resort mới mở sau này mà tôi chưa biết, chị Quang Tuyết làm hướng dẫn viên chỉ đường bằng tấm bản đồ in sẵn trên bao thư mời nhưng đi hoài vẫn chả thấy đâu là đâu, đành phải tấp vào lề đường hỏi người dân bản xứ đến 3 lần, khi đó mới biết thì ra hướng dẫn viên đã lật ngược tấm bản đồ, vậy mà chị còn bảo tại bản đồ vẽ… sai khiến cả xe ai cũng bật cười.
Cuối cùng chúng tôi cũng đến với điểm họp mặt của Nguyễn Hoàng Bình Thuận và đây là nhóm đến muộn nhất. Đã vậy mà có ai đó còn đùa: "Mình đến muộn coi chừng hết chỗ ngồi" để rồi lại phá lên cười trước khi bước xuống xe. Mấy anh trong ban tổ chức niềm nở đón chúng tôi kèm theo những lời hỏi thăm rất vui, thoáng một vòng quanh lên sân khấu, tôi thấy thầy cô tham dự rất ít, một chút ngậm ngùi tôi chợt thầm hỏi: "Tìm đâu đây hình bóng của thầy Quýt năm nào?". Trong hội trường, anh chị em cựu học sinh Nguyễn Hoàng các nơi về dự như Sài Gòn, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai khá đông. Rải rác vài Nguyễn Hoàng các vùng miền khác còn lại là các cựu học sinh Nguyễn Hoàng của Bình Thuận. Đang ngẩn ngơ tìm bạn bè thì anh Đoàn Phú  kêu lại chụp hình lưu niệm. Tiếng nhạc trỗi lên từ sân khấu, thì ra chị Quang Tuyết đã có mặt kịp thời để cùng các chị ở NH/Saigon trình bày ca khúc giúp vui cho chương trình, một sân khấu quá vui nhộn với những tiết mục khá sôi động và giọng hát nào cũng hay cả.

           
                                       Phan Thạch Nhân và Đoàn Minh Phú

Khu resort mới này nằm giữa một khu đất trống, nhà ở thưa thớt nên gió biển thổi vào lồng lộng, mấy anh em đồng môn đứng lại trước khuôn viên chụp mấy tấm hình lưu niệm, hỏi thăm nhau và chuyện trò qua những quãng ngày phiêu bạt.
11giờ 30, tiệc mặn với những món hải sản hấp dẫn được nhà hàng dọn ra, mọi người vào bàn và giao lưu mừng ngày hội ngộ qua những chiếc ly cụng côm cốp. Sân khấu lại càng sôi động hơn với những lời thơ, những bản nhạc hay một thời đi qua giữa lúc gió biển thổi vào lồng lộng. Anh Trương Tuyến và các anh trong ban tổ chức đi qua từng bàn chào khách và hỏi thăm nhau, tôi ngồi vào một bàn cùng các đồng môn mà có mặt cả ba đơn vị: Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Thuận. Đặc biệt hơn nữa là tôi được ngồi bên cạnh thầy Văn Chương người Long Hưng - một vị cựu giáo sư của trường trung học Nguyễn Hoàng. Nhiều người đến chào thầy và thầy trả lời khiêm tốn, tôi nhận thấy thầy ít nói nhưng hay cười. Đây là một trong những người thầy được học sinh quý mến nên bạn bè tôi vẫn thường nhắc đến khi gặp nhau. Vì thế tuy chưa được học với thầy nhưng trong tôi sự quý mến không vì thế mà suy giảm. Sau những món ăn rất biển thì bầu trời La Gi cũng xuôi về chiều, nắng gió bạt ngàn trên khu resort, chúng tôi bắt tay chào ban tổ chức và những người đồng môn La Gi - Bình Thuận để về Đồng Nai, chị Quang Tuyết chia tay nhóm để theo xe về thành phố cùng đoàn Saigon. Nhóm NH 67-74 mời ra biển uống cà phê hóng gió nhưng chúng  tôi đành xin lỗi và nói một lời cảm ơn vì chương trình của nhóm nhỏ này đã sắp xếp theo dự định, chúng tôi mời anh Hiêu (NH 62-69) lên xe cùng về.
Chiếc Ford Everest chuyển bánh rời khỏi resort, bạn Liên Hưng bấm số đàm thoại với người nhà thầy Quýt, nhưng lại không có người ở nhà. Khi xe chạy ngang qua ngõ vào nhà thầy, tôi nghe văng vẳng tiếng ai đó: Lạy thầy! Lạy thầy!... Hình như của Liên Hưng và Vĩnh Phước, trên xe chợt lặng lẽ bất ngờ.
Ra khỏi thị trấn La Gi tôi nhắc tài xế ghé vào một quán cà phê sân vườn nghỉ chân, trong buổi trò chuyện ở quán sân vườn thoáng mát, cảm ơn hai vị đàn anh là Nguyễn Văn Hiêu và Phan Thạch Giang đã trang trải nỗi lòng đầy cảm xúc với những vần thơ ngày cũ.
16giờ xe về tới Xuân Lộc, khu chợ Xuân Đà vẫn đông như buổi sáng. Chúng tôi tấp xe vào một quán bánh xèo chiều trên quốc lộ 1 để thưởng thức ẩm thực món ăn miền Trung như đã dự định, rồi tiếp tục lăn bánh đưa mọi người trở về nhà trong chiều nắng nhẹ sau một ngày rong chơi gặp gỡ. Tôi chào tạm biệt cô giáo và anh chị em trong nhóm và xin hẹn một ngày hội ngộ tiếp theo để đi thăm trang trại gà ta của anh Hiêu ở Xuân Định, sau đó qua Bà Rịa - Vũng Tàu thưởng thức món bồ câu hầm đậu xanh ở nhà út NH/Vĩnh Phước làm ai cũng bật cười và Liên Hưng phải kêu lên: Ôi! Vĩnh Phước chỉ “chăn nuôi” có một cặp bồ câu làm cảnh mà Phan Thạch Nhân cứ đòi hầm đậu xanh riết.
Đến điểm dừng tôi rời xe, vẫy tay tạm biệt những Nguyễn Hoàng thân thương rồi băng qua đường về nhà. Có cậu bé trai chừng mười tuổi đầu chít khăn tang  phơi nắng tóc cháy vàng hoe đi theo bên cạnh: “Mời bác mua giùm con tờ vé số”.
Nhìn tấm thân gầy gò với chiếc áo thun quá khổ, nước da đen sạm, nhưng giọng nói Quảng Trị rất dễ thương. Trên đôi tay đen gầy xơ xác còn bốn tờ vé số, tôi cầm lấy tất cả và đưa cho cháu một tờ giấy bạc: “Khỏi thối cháu nhé!”
Cậu bé khoanh tay cúi đầu cảm ơn rồi lặng lẽ đi vào ngõ vắng.
Tôi mỉm cười vừa đi vừa hát nho nhỏ khúc ca ngày cũ  "NÓ"; hầu như đã quá  xa xôi  của  nhạc sĩ nào đó mà không nhớ tên:

Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo.
......................................................                                                                                   
                                                                 Phan Thạch Nhân
                                                                     Xuân Lộc,23/3/2015

READ MORE - GẶP GỠ - Phan Thạch Nhân