Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 16, 2014

ĐỌC THƠ LÊN TRỜI & DU ĐIA PHỦ CỦA THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

             
                          Nhà Thơ Thái Quốc Mưu


ĐỌC THƠ LÊN TRỜI & DU ĐIA PHỦ 
CỦA THÁI QUỐC MƯU
                                                                          Châu Thạch

Chẳng biết nhà thơ Thái Quốc Mưu có phải là tiên là Phật hay không?. Nếu không phải là tiên là Phật thì đích thì ông là anh chàng ngông thuộc hàng bậc nhất thế gian. Bởi vì ông làm thơ lên trời nhiều lần mà xuống địa phủ cũng lắm khi. Thường thường, những người ngông thì hay kiêu ngạo khiến cho trời không dung đất không tha nhưng cái ngông trong thơ Thái Quốc Mưu lại làm cho người vui mà trời cười thoải mái.

Đọc cái ngông của Thái Quốc Mưu nhiều khi ta cũng thấy mình lâng lâng siêu thoát như cùng ông viếng Ngọc Hoàng, thăm địa phủ.

Trước hết hảy thưởng thức vài bài thơ tiêu biểu mà ông kể chuyện lên trời:

               LÃO ĐIÊN CHẦU TRỜI

        Ngọc Hoàng hạ chiếu bảo về chầu
        Vội lái phi thuyền diện kiến tâu
        Quan chức ngồi nghe ngàn mấy trự
        Bệ tiền tấu rỗi mỗi thằng tao
        Cái tình dân tộc còn đâu - Chán!
        Hai chữ nghĩa nhân cũng hết - Sầu!
        Thượng Đế nghe xong liền vỗ án...
        Tây Vương Thánh Mẫu thét: “Đau đầu!”

Hai câu mở của bài “Lão điên chầu trời” đã cho ta thấy hai cái ngông của nhà thơ. Thứ nhất Thái Quốc Mưu tự nhận mình là quan chức nhà trời, vì chỉ có quan chức nhà trời thì mới lìa thế bay lên khi nhận chiếu chỉ Ngọc Hoàng. Người trần mắt thịt của chúng ta chỉ bỏ thế gian khi Satan mang lưởi hái tử thần đến điều đi trong đau khổ. Cái ngông thứ hai là Thái Quốc Mưu tự cho mình là phi hành gia số một trần gian, vì cho đến nay chỉ có người cởi phi thuyền bay đến cung trăng chứ chưa hề có ai cởi phi thuyền mà lên đến tận trời, nơi thượng đế định cư. Hai câu mở tưởng là Thái Quốc Mưu chỉ nói đến hai cái ngông để cười, nhưng thật ra còn thêm một cái ngông ẩn trong hai câu thơ đó vừa cao siêu vừa thú vị. Đó là Thái Quốc Mưu tự cho mình có hai thân vị trong một con người. Thân vị là tiên khi ông nhận chiếu chỉ Ngọc Hoàng và thân vị là người khi ông cởi chiếc phi thuyền bay lên. Tiên thì chỉ về trời bằng mây hay bằng cá chép chớ không cởi phi thuyền mà đi được. Người thì chẳng bao giờ nhận được chiếu chỉ của Ngọc Hoàng triệu hồi về lại thiên cung. Thái Quốc Mưu được về trời, lại vể trời bằng phi thuyền của con người chế tạo, cho nên ông có hai thân vị của thánh thần và của nhân gian. Vì mang hai thân vị đó nên qua hai câu thơ ở vế trạng, nhà thơ Thái Quốc Mưu coi mình như bình đẳng với thánh thần nhà trời mà phát ngôn bằng những từ của giới bình dân trần thế:


        Quan chức ngồi nghe ngàn mấy trự
        Bệ tiền tấu rỗi mỗi thằng tao

“Mấy trự” là mấy đồng tiền lẽ. “Thằng tao” thì thằng là tự coi mình tầm thường, “tao” là xưng hô với người ta không tôn trọng.

Quan chức nhà trời ngồi trên ngàn vị nhưng được xem chỉ như là “mấy trự”, có nghĩa là giá trị của họ chỉ bằng bạc cắt, bạc kênh thôi. “Tấu rỗi” có nghĩa thong thả tâu, lai rai trình tấu. Hai câu trạng chứng tỏ tại sân nhà trời, Thái Quốc Mưu và thánh thần không có ai trên ai dưới, phẩm cách như nhau. Chữ “tấu” ở đây chỉ là cách nói lịch sự tôn trọng đám đông. Cách chơi chữ trong hai câu thơ nầy rất hay vì tác giả tự nhún nhường hạ mình xuống làm “ thằng” sau khi xem thường gọi đối phương nhà trời là ‘trự” và xưng “tao” với họ. Quan chức nhà trời ngồi nghe ở đây không thể nổi nóng mà dễ dàng cười thông cảm vì Thái Quốc Mưu dùng cách xưng hô như người Dân Tộc: ai cũng gọi bằng thằng và xưng lại là tau.

Qua vế luận, lão điên không còn điên nữa mà lời phát ngôn nghiêm chỉnh như một hiền nhân ưu tư về thế sự:

        Cái tình dân tộc còn đâu – chán!

        Hai chữ nghĩa nhân cũng hết –sầu!

Hai chữ “chán” và “sầu” nhấn mạnh như kết luận tình hình trần thế mà lão điên trình lên hội đồng thiên thượng cùng lời ta thán bày tỏ nỗi lòng lo âu vì thời cuộc thế gian. Điều đó chứng tỏ sự tỉnh táo trong tâm thần người đứng trước bệ tiền. Cái điên vừa qua chỉ là trò giả ngây ngô của một vì thần tiên pha cốt cách con người đóng vai hài hước tạo nguồn vui. Lão điên bây giờ trở lại nguyên hình là một sứ thần đầy uy tín. Do đó nhà trời tin ngay những lời ông nói mới “vỗ án”, “đau đầu”.

Bài thơ “Lão điên chầu trời” như một nụ cười diễu cợt nhà trời. Nụ cười đó mang đầy tính chất ngông nghênh, hài hước đem đến giữa thiên triều một không khí tươi vui nhưng cũng gián tiêp tỏ ra nhân phẩm của con người không thua chi thiên thượng. Đọc bài thơ ta thấy cõi trời và cõi người hầu như rất gần nhau và cái điên của lão điên là cầu nối thân thiện giữ con người cùng thượng đế.

Qua một lần khác, Thái Quốc Mưu không chầu trời với tư cách sứ thần mà với tư cách khách vãng lai:

                      VIẾNG TRỜI
        Nhân tiện ngang qua ghé viếng Trời
        Gặp ông Thái Thượng vểnh râu cười
        Một đàn tiên nữ ra vồn vã
        Mặt ngọc Hằng Nga tỏa sáng ngời
        Phật Tổ giơ tay: “Chào Lão Đệ!”
        Quan Âm cất tiếng: “Á, Ông Lười!”
        Nước Trời trên dưới cùng tôn quý
        Khác với nhân gian lắm ngợm người

Toàn thể bài thơ trình bày một cuộc đón tiếp niềm nở của nhà trời với một người bạn thân thương. Vị thần mà tác giả gặp đầu tiên là Thái Thượng Lão Quân. Thái Thượng Lão Quân là tôn hiệu của một vị thần tiên trong Đạo giáo Trung Quốc. Trong thần thoại Đạo giáo, Thái Thượng Lão Quân có trước cả trời đất, chính là nguyên khí thời hỗn mang ngưng kết mà thành. Thái Thượng Lão Quân ở cung Đâu Suất, tại tầng trời thứ 33. Trong cung Đâu Suất có lò Bát Quái là nơi luyện các loại tiên đơn thánh thủy để trường sanh bất tử. Tiếp đó tác giả gặp Hằng Nga, Phật Tổ, Quan Âm và tiên nữ vui mừng chào thưa vồn vã. Bài thơ cho ta thấy một không khí nhu hòa, tươi vui, thân thiện chứng tỏ người đến thăm là người được nhà trời yêu thương mến mộ. Trong bài thơ nầy tác giả chỉ bày tỏ một thân vị thần thánh của ông qua lời lẽ trong thơ và qua cách đón tiếp của nhà trời. Lời thơ trong “Viếng Trời” không chế riễu, không coi nhẹ người nước trời nữa mà cuối bài ông còn ca tụng “Nước trời trên dưới cùng tôn quý”. Điều nầy dễ hiểu vì bây giờ ông và họ cùng đẳng cấp như nhau, cùng mang chung thân vị thần tiên nên không có sự tị hiềm ganh ghét. Trong bài thơ nầy tác giả thẳng thừng chê bai hạ giới: “Khác với nhân gian lắm ngợm người”. Điều nầy không đáng trách, vì khi tác giả đóng vai thần chánh hiệu thì phải nhận xét con người với tất cả công tâm. Có như thế bài thơ mới thoát tục và mang hương vị ở chốn cao sang, thánh thoát.

  Thái Quốc Mưu là một nhà thơ nhưng chính thơ ông sáng tác lại đóng vai diễn viên trên sân khấu. Khi điên thì cái điên cũng mượt mà, thanh nhã và chơn chất mà khi nghiêm chỉnh thì đường bệ, thanh cao. Dầu điên hay tỉnh Thái Quốc Mưu luôn có nụ cười hóm hỉnh, ý vị và hài hòa như lan ra giữa cõi trời một niềm vui thú, làm cho cõi trời trở nên một sân khấu cho khán giả trút đi ưu tư phiền muộn trong tiếng cười. Rất nhiều thi sĩ đã về trời trong cơn say chếnh choáng. Rát nhiều thi sĩ đã đứng trước bệ tiền miệt thị cõi bề trên. Thái Quốc Mưu thì không như thế. Khi thì ông về trời trong thân vị nửa tục nửa tiên để hiểu thấu đáo niềm đau của loài người và nỗi khổ của đấng chí cao. Khi thì ông về trời trong thân vị một vị thần để thư giản cho chính mình và thư giản cho người thưởng thức thơ ông. Dầu về trời trong cương vị thế nào, thơ Thái Quốc Mưu đều tiềm ẩn trong đó một triết lý sống vui, nhẹ nhàng và thoải mái, làm cho người đọc sau nụ cười thì chiêm nghiệm được phong cách sống ở đời cho đẹp thêm lên.

 Châu Thạch đã bàn về thơ lên trời của Thái Quốc Mưu, bây giờ ta hảy thử bàn tiếp thơ du địa phủ của tiên sinh.
Cũng như lên trời, nhà thơ Thái Quốc Mưu du địa phủ nhiều lần trong nhiều tư cách. Khi thì ông được mời, khi thì đi dạo chơi, nhưng chưa lần nào ông bị gọi đi như đã từng nhận chiếu chỉ của Ngọc Hoàng. Điều đó chứng tỏ vai vế của ông đối với nhà trời thì còn thấp đôi chút nhưng đối với địa phủ thì chẳng đứng dưới ai kể cả Diêm Vương. Cũng khác với lên trời, tâm trạng của Thái Quốc Mưu khi về địa phủ không được vui, vì ở đó ông thấy toàn nghịch cảnh.
 Bây giờ ta hãy xem xét một vài bài thơ tiêu biểu trong những chuyện về âm phủ của Thái Quốc Mưu:

                    VIẾNG CÕI ÂM
        Xuống dưới Diêm Vương dạo cảnh chơi.
        Ô hay, địa phủ khác xa đời!
        Quần thần mặt mũi như trâu ngựa
        Binh lính sai nha khác tính người
        Quan lại tham tiền nên tối mắt
        Dân đen có miệng phải câm lời
        Dưới trên một lũ y khuôn đổ.
        Có mắt nhưng mà chẳng có ngươi.

Đối với Thái Quốc Mưu, địa phủ hoàn toàn tăm tối. Dương trần còn có chuyện vui nhưng địa phủ theo hai cầu mở bài là “khác xa đời” và ở những câu thơ kế tiếp ông nêu ra toàn những hình ảnh xấu xa: Quần thần thì “mặt mũi như trâu ngựa”, binh lính sai nha thì “khác tính người”, quan lại thì  “tham tiền nên tối mắt”. Điều đau khổ nhất là cả cõi âm chỉ là một tập đoàn mù quán  “Dưới trên một lũ y khuôn đúc/ Có mắt nhưng mà chẳng có ngươi”. Sự kiện cõi âm là một tập đoàm mù quán trên dưới giống nhau như khuôn đúc là một tệ nan chung, lớn lao và đau khổ. Nó như một chiếc khóa khổng lồ cùm trói xã hội qua nhiều đời nhiều kiếp đã làm cho “ Dân đen có miệng phải câm lời”.

  Ở một lần thăm viếng địa phủ khác, nhà thơ Thái Quốc Mưu lại khẳn định thêm một lần nữa cõi âm ty là một chốn mà giới cầm quyền không có phẩm chất của người cai trị:

                       CÕI ÂM TY
        Buồn buồn xuống viếng cõi âm ty
        Mắt thấy tai nghe thật lạ kỳ
        Viên chức toàn là đồ bát nháo
        Quan quân cả thảy lũ vô nghì
        Đầu trâu, mặt ngựa luôn vênh váo
        Miệng hổ, lòng lang khó sánh bì
        Lính lác cũng đòi tiền mãi lộ
        Diêm vương thì đầu óc đen xì

Tất nhiên lên trời hay xuống địa phủ cũng là những bài thơ phát sinh từ trí tưởng tượng của nhà thơ Thái Quốc Mưu, nhưng chúng ta thử hỏi vì sao ông có thái độ cởi mở khi lên trời mà lại có thái độ hằn học khi du địa phủ? Điều đó cũng có thể lý giải được vì hai thái độ khác nhau đó phát sinh từ tâm lý của nhà thơ. Đối với Thái Quốc Mưu, lên trời nằm trong ước vọng của ông về một điều tốt đẹp  Ông muốn đồng hóa cõi trời và cõi thế. Ông muốn con người cũng tốt đẹp như thần thánh và thần thánh cũng mang bản chất như con người để gần gủi con người. Những điều tốt đẹp ông tưởng tượng có ở trên trời thì ông ít thấy có ở trần gian mà có thể chỉ nằm trong ước mơ mà ông hư cấu trong đầu óc của mình, còn nhưng điều xấu xa ông gán cho đja ngục là cái mà ông đã thấy nhản tiền giữa thế gian, là cái mà ông đã và sẽ chung đụng, là cái mà ông rất ghét và đã từng phẩn nộ vì nó.  Vì vậy dễ hiểu khi ta thấy ông bỏ qua cái tốt mà chỉ toàn công kích cái xấu ở cõi âm ty. Chỉ một lần trong bài thơ “Địa phủ Du” nhà thơ công nhận âm ty cũng còn điều tốt đẹp: “ Âm ty chẳng khác gì nhân thế/ Cũng lắm hoa thơm lắm bọ giòi”. Có lẽ vì lúc đó tác giả có niềm vui gì đó nên cái nhìn của ông về cõi dưới cũng vui lây.

 Một lần nhà thơ được Diêm Vương mời xuống đánh cờ. Đánh cờ là thú chơi tao nhã của tiên ông, nó không phù hợp ở chốn kêu la và khóc lóc, vì vậy nhà thơ tỏ ra không hứng thú : 

               NÓI VỚI DIÊM CHÚA
        Cái lão Diêm Vương cắc cớ thôi
        Nhè ta mời xuống đánh cờ chơi
        Làm như cạn ráo lòng yêu gái
        Chẳng biết dư thừa sức tắm hơi
        Ào ạt y chang xe xuống núi
        Lom khom na ná ngựa leo đồi
        Không như tướng, sĩ xua dàn pháo
        Chưa bước sang sông đã tịt ngòi.
                     Atlanta, Nov. 29. 2011
                            Thái Quốc Mưu

Đem cái thú chơi tiên mà so sánh với thú chơi dục tính của trần gian là một ẩn ý sâu sắc của bài thơ. Ta nhìn thấy ở đây Diêm vương lúng túng như một chú hề trong cái cử chỉ học đòi thanh tao đó . “ Y chang xe xuống núi/ na ná ngựa leo đồi” và cuối cùng thì “ Chưa bước sang sông đã tịt ngòi”  là tiếng cười chế diễu Diêm Vương, hay đúng ra, nhà thơ chế diễu hạng người quyền cao chức trọng, ăn chơi trác táng mà còn lòe thiên hạ sau tấm bình phong tốt đẹp.

 Đọc thơ về du hành ra khỏi trần gian của Thái Quốc Mưu ta thấy nhà thơ lên trời thì ít mà về địa phủ thì nhiều lần. Vì sao? Rỏ ràng vì ông canh cánh bên lòng những tệ đoan giữa cuộc đời, những bất công, những đau buồn trên trần thế. Nỗi lòng ông nặng bởi đời sống con người, bởi hạnh phúc nhân quần xã hội, cho nên sự phản đối sự xấu xa âm ỉ trong tâm tư ông,  khiến ông thường đi về địa phủ như đến thăm viếng an ủi lớp người bần cùng thì nhiều mà đi đến thiên đàng nơi có nhiều vinh quang thì ít.

   Đọc thơ về du hành địa phủ của Thái Quốc Mưu ta thấy ở đó tóm gọn những bản cáo trạng tố cáo mảnh liệt những điều xấu xa, nhất là những điều xấu xa ở giai cấp quan lại từ cao xuống thấp. Thật ra những điều Thái Quốc Mưu viết không chắc có ở địa phủ nhưng chính nó thật sự xảy ra ở trần gian. Thái Quốc Mưu dùng địa phủ để chỉ trích trần gian, chỉ trích những tệ nạn hoặc ít hoặc nhiều, hoặc nhẹ hoặc trầm trọng còn tùy vào cái nhìn ở mỗi góc cạnh khác nhau nhưng nó đã thật sự xảy ra trên toàn thế gian nầy không trừ một nơi đâu. Góp thêm với tiếng kêu của nhưng người có tâm huyết, Thái Quố Mưu dóng lên nhiều tiếng trống tố cáo quyền lực của sự tối tăm đã làm cho trần gian vốn chẳng thua gì tiên giới bao nhiêu lại trở thành địa phủ, nơi lòng người “đen xì” và mặt người biến ra “trâu ngựa”
                                                                   3/4/2014
                                                                 Châu Thạch
                                     
READ MORE - ĐỌC THƠ LÊN TRỜI & DU ĐIA PHỦ CỦA THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM


bon-phuong.blogspot.jpg
         Nhà văn, nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng

NÉN NHANG GỞI NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Nợ trần trả dứt, bạn đi
Bảy mươi lăm tuổi còn gì nuối đâu
Trải qua hạnh phúc, khổ đau
Sống hai thế kỷ đủ màu nhân gian

Nén nhang gởi Nguyễn Xuân Hoàng
Bên kia cõi khác, lá vàng phố xưa
Sài Gòn nắng, Nha Trang mưa
Cali gió khóc lạc mùa vào thu !


MỘT NGƯỜI NHỚ MỘT NGƯỜI

Đời đắng cay mà hương đời bát ngát
Hè chia xa, thu quyến rũ gọi mời
Mùa đông đến làm ưu tư nỗi nhớ
Để một người chỉ nhớ một người thôi

Em có nghe làn gió đưa rất nhẹ
Vào vườn tình ru hoa lá ngủ say
Thời khắc đó không gian như nhỏ lại
Hương đất trời thơm ngát ở quanh đây

Ta nhìn em làn môi như gợn sóng
Thả hồn bay qua những cánh đồng vàng
Tiếng chim hót làm rung lên chiếc lá
Hai đứa mình đắm đuối giữa thế gian

Nên từ đó mùa đông thân thiết lắm
Những hẹn hò to nhỏ của trái tim
Bởi tình yêu luôn là điều bí ẩn
Gom trăm năm đọng lại nụ hôn mềm !

               TRÚC THANH TÂM
                      (Châu Đốc)


READ MORE - CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM

MIÊN KHÚC THÁNG CHÍN - Ngưng Thu

           Tác giả Ngưng Thu

MIÊN KHÚC THÁNG CHÍN

Tháng Chín về ngang đỉnh nhớ
Hơi thu thoắt cũng đậm đà
Cúc vàng ra hoa từ độ
Hương mùa ngan ngát loang xa

Nhớ anh tìm trong ký ức
Thời gian trôi cũng phũ phàng
Tình không như là phím đá
Muôn đời trơ giữa không gian

Buồn chi ? Chùng chình nỗi nhớ
Gió lùa cong vít câu thơ
Giấc mơ trưa màu của nắng
Hạt mưa chen lấn dại khờ

Anh về ngang đồi vớt gió
Vớt cho em chút ánh vàng
Cùng vui ca lời miên khúc
Tình theo nắng cũng linh lan

Cơn mưa chiều thôi dai dẳng
Nắng về xin lỗi mây thu
Gió đưa hương mùa tháng Chín
Ngày tan đi áng mây mù
                      Ngưng Thu

READ MORE - MIÊN KHÚC THÁNG CHÍN - Ngưng Thu

CHÚT NHỚ TÌNH THƠ - thơ Hoài Huyền Thạnh


Tác giả Hoài Huyền Thanh


CHÚT NHỚ TÌNH THƠ
*Thân tặng Anh NAB

Em đến Tây Đô đỏ ráng chiều
Bần thần, gượng nhớ phố liêu xiêu
Mươi năm, có lẽ nhiều hơn thế
Góc phố, hàng cây đã đổi nhiều
   
Thuở ấy là thanh mai trúc mã
Tuổi đôi mươi đẹp những ươc  mơ.
Saigòn, Nắng Hồng thơm đôi má
Tây Đô, chuyên chở chút Tình Thơ

“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”
Chút bâng khuâng se sắt chạnh lòng
Bạn thơ xưa trên bước đường dong ruỗi
Có khi nào hội ngộ một dòng sông!?
             
Anh đứng xa xăm dáng ngỡ ngàng
Như tìm dấu cũ vượt thời gian
Tần ngần chớp mắt cùng kêu khẽ...
Cả hai đều tóc trắng ngụy trang
              
Cám ơn cuộc sống, cám ơn đời
Tri âm, tri kỷ gặp nhau rồi !
Không là một nửa, mà sao thế!
Chút nhớ chút thương chút ngậm ngùi.
                        Hoài HuyềnThanh    



   



READ MORE - CHÚT NHỚ TÌNH THƠ - thơ Hoài Huyền Thạnh

CÀNH BƯỞI - thơ Chu Vương Miện





cành bưởi

dòm lên cành bưởi ngó hoa
bấm tay mơí rõ xuân qua mặt đàng
chợp chờn dươí bóng thiều quang
lũ nhạn lũ bướm từng đàn bay vui 
dòm lên hoa rụng mặt cươì
vườn hoa cà tím áo ngươì tím hơn 
ruộng bờ hai dẫy tầm xuân
dẫy hồng dẫy trắng gió vờn ngất ngây
ngó hoa hoa ngát hương ngày
ngó hoa cà tím nở đầy trên nương
áo này chả nhuộm cũng đen
chả thêm bùn cũng chả sen dươí hồ
đến đây khung cảnh lờ vờ
trên bờ hoa bươỉ lững lờ chen cây
dưới đồng cà tím hoa bay 
ta đây tơí đó lạc ngay cả hồn 

*

con bồ câu đậu thật điên
tôi ngôì mà ngắm ngoài hiên thở dài 
hoặc là tôi có thương ai 
con bồ câu đậu chờ hoài không thư 
trên cao mây chuyển lừ đừ
bồ câu thăng mất riêng tư vẫn còn 

*

tình đơì bạc trắng như vôi 
nước trong trong vậy than ôi đục ngầu
bỏ công mua chục trầu cau
đến nơi ngươì đã đi đâu mất rồi 
về không lại dở vung nôi 
ngà ngà cũng được duyên tôi võ vàng
bỏ công múc nước dọc đường
dù trong dù đục cũng thường vậy thôi 

                                 chu vương miện


READ MORE - CÀNH BƯỞI - thơ Chu Vương Miện

ĐÀO LOẠN - thơ xưa của Nhân sĩ Nguyễn Hữu Ngung - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt thoát dịch

     Nhân sĩ  Nguyễn Hữu Ngung (1894 – 1956).
     Quê quán: Lan Đình, Do Linh, Quảng Trị.
     Nhà nho, họa sĩ thư pháp cổ điển đông phương, đông y sĩ, thầy dạy Hán văn.
     Bài Đào Loạn được viết năm 1949, khi tiền bối phải rời Do Linh vào Cố Đô Huế lánh nạn.
     Rất đa tạ nhà sưu khảo Hán Nôm Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm đã cung cấp tư liệu quý hóa này.
     Trân trọng,
     Trần Quốc Phiệt


逃亂             ĐÀO LOẠN

秋夜全家起上逞   Thu dạ toàn gia khởi thượng trình
帆風海導直來京   Phàm phong hải đạo trực lai kinh
意無高計謀何上   Ý vô cao kế mưu hà thượng
國亂多年事不平   Quốc loạn đa niên sự bất bình
桑海綿綿愁幾度   Tang hải miên miên sầu kỷ độ
人民憶憶恨長征   Nhân dân ức ức hận trường chinh
順城呂外繁都會   Thuận thành* lữ ngoại phồn đô hội
心在由靈故里情   Tâm tại Do Linh cố lý tình
         阮有隅                      Nguyễn Hữu Ngung

Sưu tầm và phiên bản của Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm.


Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


CHẠY GIẶC
(Thoát dịch)

Đêm thu lánh nạn thẳng về kinh
Đường biển buồm căng hướng hải trình
Ý bởi đơn sơ đành thất sách
Nước vì tao loạn chẳng yên bình
Đổi thay liên tục dân tình oán
Chinh chiến triền miên thế cuộc kinh
Làm khách lữ hành nơi Thuận Hóa
Mà lòng hoài vọng đất Do Linh.

               Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


READ MORE - ĐÀO LOẠN - thơ xưa của Nhân sĩ Nguyễn Hữu Ngung - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt thoát dịch

HÃY ĐỢI ĐẤY MAI TÔI VỀ NẪU NHÉ - thơ Phan Minh Châu




HÃY ĐỢI ĐẤY MAI TÔI VỀ NẪU NHÉ

(Viết nhân ngày Trung Thu 2014 )

Hãy đợi đấy mai tôi về nẫu nhé
Mai tôi về tìm lại tuổi thơ tôi
Mỗi mùa Thu khi sắc áo Thu vàng
Tôi bỗng nhớ những mùa Thu năm cũ.

Tôi bỗng nhớ một thời quên sách vở
Đi miệt mài trong suốt những đêm thâu
Gió mùa Thu rưng rức phủ qua đầu
Tôi bỗng chợt thèm mùa Thu xứ nẫu.

Quê tôi đó một vùng quê hồn hậu
Lúa bốn mùa thơm lựng bóng trăng non
Khi mùa Thu rưng rức chảy qua hồn
Tôi chợt nhớ đến mùa thu thưở nhỏ .

Khi tiếng trống rập rờn khua trước ngõ
Tay cầm đèn mẹ lại dắt tôi đi
Những con lân ngộ nghĩnh đến lạ kỳ
Đang trợn mắt phùng mang về trước xóm .

Tiếng trống căng tiếng trống dồn dập lạ
Chúng tôi chen lặn hụp giữa dòng người
Ông Địa già ngộ nghĩnh vui tươi
Phẩy chiếc quạt to đùng trông rất ngộ.

Những cây đuốc chập chờn trong bóng tối
Bóng trăng tơ lơ lững ở trên đầu
Chú cuội già tuốt tuột ở trên cao
Đám bạn nhỏ ôm bụng cười ngặt nghẽo.

Chúng tôi lại được cho quà cho kẹo
Đèn ngôi sao rong ruổi suốt Thu hồng
Trong ánh mắt chúng tôi niềm kiêu hảnh
Về một miền quê ấm bóng trăng thanh.

Và cứ thế thời gian đi rất khẽ
Tôi lớn lên nơi xứ lạ quê người
Chiếc lá rụng xuống đời tôi thêm tuổi
Thêm một mùa Thu chết ở trong tôi.

        PHAN MINH CHÂU
3b Âu Cơ Nha Trang Khánh Hòa

        d.đ  0922992662
READ MORE - HÃY ĐỢI ĐẤY MAI TÔI VỀ NẪU NHÉ - thơ Phan Minh Châu

Monday, September 15, 2014

TRÔI THEO DÒNG ĐỜI - thơ Trúc Thanh Tâm



1. SÀI GÒN NGÀY ĐÓ

Sài Gòn ngày đó xa rồi
Cột cờ Thủ Ngữ ai ngồi đợi ai
Nancy chợt nhớ áo dài
Đường về Tân Định chiều phai nắng rồi

Bàn Cờ lạc dấu tình tôi
Tóc em mây khói nghiêng trời nhớ nhung
Nhà Bè nước rẽ đôi dòng
Bao giờ cho hết đau lòng mai sau !



2. THẦN KINH THƯƠNG NHỚ

Áo em tím cả Trường Tiền
Qua trường Đồng Khánh để quên hẹn hò
Thần Kinh thương nhớ đến giờ
Chưa quên gốc phượng bên bờ sông Hương

Mắt sầu Tôn Nữ vấn vương
Cung đình Huế vẫn nét buồn rêu phong
Ngoài trời mưa mưa trong lòng
Mùa thu đẫm ướt một dòng thơ đau !



3. BA SÁU PHỐ PHƯỜNG

Nhớ ba sáu phố phường xưa
Yêu tà áo lụa tóc thề nghiêng vai
Hà Đông chim hót đầu ngày
Có con bướm hẹn lượn ngoài vườn mây

Là đà sương trắng Hồ Tây
Em như dáng liễu tháng ngày xuân xanh
Ngát hương hoa sữa đưa tình
Mai xa đất Bắc gọi mình nhớ thương !

TRÚC THANH TÂM


( Châu Đốc )
READ MORE - TRÔI THEO DÒNG ĐỜI - thơ Trúc Thanh Tâm

CHUYỆN BAO ĐỒNG - thơ Châu Thạch





CHUYỆN BAO ĐỒNG                        

Chẳng trách chi Ếch ngồi đáy giếng
Thấy bầu trời như nhỏ bằng vung
Chỉ giận thay Ếch ở ngoài đồng
Nhìn trời cũng nhỏ bằng mắt Ếch.

Thương con Cò tháng ngày lếch thếch
Mò tìm nơi nước đục béo cò
Đến một ngày lộn cổ xuống ao
Giây phút cuối mới cầu xa đục.

Khen Dã Tràng lòng son thôi thúc
Suốt một đời xe cát biển đông
Dẫu biển kía cuốn hết theo dòng
Đời đã trọn công trình trên cát.

Xin hãy nhớ làm người không khác
Mở mắt bằng sự thấy tâm linh
Sống sạch đời chẳng sống cầu vinh
Yêu lý tưởng không yêu thành, bại.

Một đời dẫu đi con đường dại
Đường ta đi phải sáng trong lòng
Sống với người không đếm, không đong
Cho là phước hơn nhiều nhận lảnh.

Lòng tự kiêu hợm mình nhớ tránh
Đừng nghĩ không ai dựng núi non
Có bàn tay mới nén vun tròn
Cho đất sét thành bình hoa đẹp.

Vào cửa mở đừng chê cửa hẹp
Đường thênh thang chỗ đóng linh hồn
Yêu một điều đào huyệt mình chôn
Yêu mọi sự tình yêu chúa tể.

Vui đời quá dông dài kể lể
Dầu khen chê đều chuyện bao đồng
Đọc xong rồi ngẫm nghĩ có, không
Sai và đúng do mình suy luận.
                             Châu Thạch
















READ MORE - CHUYỆN BAO ĐỒNG - thơ Châu Thạch

CẢM ĐỀ KHƠI XA* - thơ Kha Tiệm Ly




CẢM ĐỀ KHƠI XA*

1. 
Màu áo trinh nguyên ta vẫn nhớ,
Dù bụi thời gian cố nhạt mờ.
Từ hoa phượng em cài lên mái tóc,
Anh học trò dạo ấy biết làm thơ.

2. 
Và từ lúc tình em chưa mở ngõ,
Ta cũng từng thức trắng đếm sao đêm.
Mơ cánh phượng gói màu thương màu nhớ,
Mượn gió hè hôn trộm tóc vai em.

3. 
Lá thư hồng ta ép hoa phượng đỏ,
Tìm lời thơ nắn nót suốt bao đêm.
Rồi ta nói tiếng yêu em từ đó,
Ai thẹn thùng e ấp má môi duyên.

4. 
Sương chạm lá, lá buốt lòng rơi lệ,
Khi bước phiêu du chưa hẹn một ngày về.
Ta đi để lại trời dâu bể,
Sương đọng làm chi khóe mắt em?

5. 
Tóc biếc một lần che mặt ngọc,
Đủ ngàn năm ta ủ mối tình si.
Em một buổi lên thuyền qua bến lạ,
Đủ trăm năm hoa rụng ngập đường đi!

6. 
Lục bính năm cũ nay còn tím,
Buồn kéo ta về bên bến sông.
Khi trái tình yêu vừa đỏ chín,
Thì môi em ai lấy phượng tô hồng!

7. 
Trường ta giờ bỗng dưng xa lạ,
Đâu rồi áo trắng cũ, người ơi!
Còn đâu nữa, tóc dài che nón lá.
Cây phượng xưa hoa úa rụng tơi bời.

8. Em đi mang cả khung trời cũ,
Mới biết rượu tình cũng đắng cay.
Trăm cánh phượng hồng, trăm héo rũ,
Ta ngàn đêm nhớ, bấy đêm say!

9. 
Hay sông đời bên trong, bên đục,
Mà sông tình mới bên cạn, bên sâu.
Mắt ngày ấy đã khô chưa dòng lệ,
Mà từng đêm ta rượu uống đong sầu?

10. 
Chẳng đợi thuyền lao vào sóng gió,
Mới thấy dòng yêu lắm thác ghềnh.
Chẳng trách tình em gây bão tố,
Cho thuyền ta mãi cứ lênh đênh.
                          Kha Tiệm Ly


*KHƠI XA: Tên một tập thơ
READ MORE - CẢM ĐỀ KHƠI XA* - thơ Kha Tiệm Ly

Thơ Hoàng Yên Lynh: CỐ TRI, ĐỒNG ĐỘI, CANH THÂU



1- CỐ TRI

Này cố tri ơi giờ vạn dặm
Ngăn sông cách núi nhớ gì không ?
Trăng cứ vơi đầy theo năm tháng
Ngõ vắng thềm rêu có chạnh lòng .

2- ĐỒNG ĐỘI

Tìm mãi tên anh hàng bia mộ
Thì ra đã bốn chục năm rồi
Số quân còn nét hằn ghi rõ
Trở về đồng đội chỉ mình tôi.

3- CANH THÂU

Mưa vẫn mưa đêm hun hút sâu
Soi lại đời ta đã bạc đầu
Nhục vinh thôi cũng  mòn thiên hạ
Mà vẫn chưa vơi vạn lý sầu .


                          Hoàng Yên Lynh
READ MORE - Thơ Hoàng Yên Lynh: CỐ TRI, ĐỒNG ĐỘI, CANH THÂU

NHỚ CÁC MÓN CHÈ HUẾ NĂM XƯA - Nguyễn Hồng Trân




NHỚ CÁC MÓN CHÈ HUẾ NĂM XƯA
                                  
Từ nhỏ đến bây giờ, tôi rất thích ăn chè. Tôi cũng đã từng đi đó đây trong đất nước Việt Nam ta và thưởng thức các món chè ở nhiều nơi như ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Sài gòn, Cần Thơ… Nơi nào cũng có các món chè, nhưng theo tôi và nhiều người đã nói thì không có nơi nào mà các món chè phong phú và thơm ngon như chè ở Huế. Có thể kể ra các món chè đó như: chè hạt sen, chè đậu ván, chè xanh đánh, chè trôi nước, chè kê, chè môn, chè khoai tía, chè khoai từ, chè bình tinh, chè nếp, chè đậu đen, đậu đỏ, chè đậu phụng (lạc), chè bắp non (ngô non), chè thập cẩm… Đặc biệt ngày xưa có chè thịt quay nữa. Mỗi loại chè đều có một vị riêng rất thơm ngon.
Tôi và ba tôi ngày xưa ở Huế thường ăn chè mỗi tuần vài ba lần. Ba tôi kéo tôi đi theo ra hàng chè ở chợ Đông Ba, hoặc các quá chè trong thành nội để ăn, cũng có khi gọi các cô, các bà bán chè rong ban ngày và cả ban đêm vào nhà để ăn.Hình ảnh các cô, các bà bán chè mặc áo dài gánh chè đi rao dọc đường phố đã in đậm trong mắt tôi từ thuở còn thiếu niên.
Ba tôi ăn nhiều lắm, nhất là loại chè đậu ván và chè kê là ba tôi thích nhất. Ông ăn mỗi lần gần cả chục bát chè. Còn tôi thì thích ăn chè xanh đánh và chề khoai tía, mẹ và các em tôi thì thích ăn chè bắp non và chè thập cẩm.
Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước, tôi từ Hà Nội trở về dạy học ở trường Tổng hợp Huế và cả gia đình tôi cũng về định cư tại vùng Bến Ngự, Phủ Cam. Từ đó, tôi lại được thưởng thức lại mấy món chè Huế mà ngày xưa tôi rất thích. Nhưng không phải quán chè nào cũng có chè nấu thơm ngon đậm đà hương vị như ngày xưa. Vì một số quán chè đã dùng đường hóa học nấu chè bán cho có lời nhiều hơn, nên chè không ngon như nấu đường mía thật của thời xưa.
Nói chung, các món chè Huế sau này không còn phong phú và thơm ngon, đậm đà hương vị như chè ngày xưa nữa. Có một số chè bây giờ không còn nữa như chè thịt quay, hoặc ít nấu bán như chè kê, chè môn, chè bình tinh.
Thật là tiếc! không biết khi nào tôi mới được thưởng thức lại các món chè ấy? Chắc là các món chè đó đã theo về với tổ tiên người tạo ra món chè ấy rồi!...
                                

Nguyễn Hồng Trân-cựu GV Đại học Khoa học Huế
READ MORE - NHỚ CÁC MÓN CHÈ HUẾ NĂM XƯA - Nguyễn Hồng Trân

MÙA THU ĐẾN - thơ Lý Đức Quỳnh



MÙA THU ĐẾN

Xuân tần ngần tình người thì quyết liệt
Mở lòng ôm si siết  nụ cuồng yêu
Mốt mai kia khi màu nắng trở chiều
Gió bẽn lẽn trốn miền côi nằm vạ
Mùa thu sang mang tuổi về nhuộm lá
Tiễn xuân xanh vào tiếc nuối ngày xa
Ngoài kia sương đã giăng mắc ảo nhòa
Đời thê thiết đong đưa từng rợn gió
Thu thật rồi, nắng quạnh mờ con ngõ
Bước chân ai khe khẻ chạm lòng liêu
Giữa trống vắng lẻ lạc ngọn phong phiêu
Không bến đợi chốn đời hoang vu rỗng
Dù chấp chới vụt loáng chừng thoáng mộng
Dù đau thương dai dẳng đến vô cùng
Dẫu phải thế cũng nếm trải biển trùng
Cùng thẩm thấu trùng dương là bọt sóng !
                                         Lý Đức Quỳnh
READ MORE - MÙA THU ĐẾN - thơ Lý Đức Quỳnh