Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 7, 2014

NGÀY XUÂN MẠN ĐÀM VỀ CÂU ĐỐI TẾT - Ngọc Châu






          Từ hồi thơ trẻ, mỗi lần năm hết tết đến hầu như lứa U50 ai cũng được biết cặp câu đối mà các cụ hay đọc :
          a- THỊT MỠ, DƯA HÀNH, CÂU ĐỐI ĐỎ
          b- CÂY NÊU, TRÀNG PHÁO, BÁNH CHƯNG XANH
          Có người lại đọc vế hai là:
          b1- NÊU CAO, PHÁO NỔ, BÁNH CHƯNG XANH
          Vế "b1" xét theo luật thì không chuẩn đối bởi không cân nhau về từ loại, nhưng vẫn được nhiều người thuộc lòng như vế "b" bởi cặp đối này tóm tắt những thứ có thể coi là đặc trưng cơ bản của ngày Tết Nguyên Đán, chỉ hội tụ đầy đủ vào dịp Tết cổ truyền của dân Việt ta mà thôi.
          Trong 6 hạng mục cặp đối trên liệt kê ra thì 5 hạng mục hoàn toàn là dạng vật chất, có thể mua ở chợ hoặc do các bàn tay nội trợ làm ra với chất lượng không chênh nhau bao nhiêu. Riêng mục CÂU ĐỐI ĐỎ thì tính tinh thần đậm nét hơn rất nhiều và chất lượng thì thực sự không đồng đều. Giờ thì mọi công việc hối hả của năm Tỵ đã được Táo công báo cáo lên Thiên đình rồi, ta có thể thảnh thơi mạn đàm đôi chút về Câu đối trước khi bước vào những ngày vất vả tiếp theo của năm Giáp Ngọ.
          Câu đối (cũng như thơ luật Đường) đều có nguồn gốc từ Trung Quốc với quan niệm: "nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa" nhưng hàng ngàn năm nay dân ta cũng đã quen sáng tác và sử dụng hai loại hình văn chương này trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều sáng tạo  theo phong cách riêng của dân tộc Việt, rất cần được duy trì và phát triển.

Tác giả Ngọc Châu
          Hiện nay số người ham thích Thơ luật Đường (tạm coi là cô em ruột của chàng Câu Đối) ngày càng đông, sinh hoạt ở rất nhiều CLB thơ luật Đường ở khắp nơi nhưng vẫn ít người dám bước vào sân chơi Câu Đối, xuất hiện khá vui vẻ mấy năm nay ở một số trang Web văn chương như Đônthưquêmẹ (Hà Nội), Đấtđứng (Tây Ninh), Trannhuong.com, ViệtNamthihữu…
          Tham gia các sân chơi nói trên hiện nay thường là lớp U50 trở lên, thi thoảng mới xuất hiện một vài cao nhân (cũng khá cao tuổi) tái xuất giang hồ. Với mong muốn kéo thêm lớp trẻ vào sân, nên dù chẳng phải người học Cổ văn hay Hán học tôi cũng gắng tìm hiểu và mạn phép trình bày đôi điều về luật viết câu đối như sau:

          Với tên gọi là CÂU ĐỐI nên nguyên tắc cơ bản của loại hình này là phải ĐỐI: Đối về ý (tứ của hai vế), đối về số chữ (số chữ phải bằng nhau giữa hai vế), đối về thanh (Bằng phải đối với Trắc nhưng yêu cầu cụ thể còn phù thuộc vào loại câu đối) và đối nhau về từ loại của các từ tương ứng (Danh từ đối danh từ, chủ từ đối chủ từ, hư từ đối với hư từ, số lượng đối số lượng, tên riêng đối tên riêng, âm thanh đối âm thanh, màu sắc đối màu sắc, hình ảnh đối hình ảnh, tục ngữ đối tục ngữ, điển tích đối điển tích, chữ nước ngoài đối với chữ nước ngoài v.v... )

Xin nêu một ví dụ:
Vế xuất: Năm Ngọ đến, tới phố Mã mua con ngựa giấy
Vế đối:   Tháng Thìn qua, thăm chợ Rồng kiếm chú giao long
          Phân trích theo yêu cầu nêu trên sẽ thấy:
Về ý:
         Xuất nói về  ngựa (là chủ thể của các năm Ngọ)
          Đối nói về  rồng (là chủ thể của các năm Thìn)
Số chữ:
          Hai vế đều cùng có 10 từ, mỗi câu đều có 1 dấu phẩy tách thành 2 phân  câu.
Về thanh:
          Từ ở vị trí tương ứng giữa hai câu đều giữ đúng luật Bằng (gồm những chữ không có dấu hoặc mang dấu huyền viết tắt là B) đối với Trắc (là những chữ mang dấu sắc (') hỏi (?), ngã (~), nặng (.) viết tắt là T)
             Chi tiết hơn:
             Năm (B) đối với tháng (T)
             Ngọ (T) đối với Thìn (B)
             đến (T) đối với qua (B)
           Phần sau dấu phẩy tuân theo biệt lệ của hai cặp đối trong thơ luật Đường nên được phép du di về B với T.
Về từ loại:
          "Năm Ngọ" đối với "tháng Thìn" (cùng là tập hợp danh từ)
          Động từ "đến" đối với động từ "qua"

Phân loại câu đối:
A-  Theo số chữ và cách đặt câu, từ xưa  phân ra làm  ba loại câu đối:
1Câu tiểu đối: là những câu ngắn 4 - 6 chữ trở xuống.
          Ví dụ như các cặp sau:           
Cháy chợ, chớ chạy
Bể   vò,   bỏ  về
Ô!  Quạ tha gà
Xà! Rắn bắt ngóe
Trời sinh ông Tú Cát
Đất đẻ con bọ hung
Trẻ cưỡi mo cau
Già chơi hạc gỗ
Cá đối nằm trong cối đá
Cò lửa đậu giữa cửa lò
Trồng môn trước cử
 Bắt ốc sau nhà.

Câu tiểu đối thường không quá câu nệ với việc đối thanh khi có tứ hay ở hai vế đã đối khá đắt với nhau.

2- Câu đối thơlà câu đối có 5 hay 7 chữ

          Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
          
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
                                  (Nguyễn Đình Chiểu)

hoặc:

          Quê người đón Tết không nghe pháo
          Đất khách chào Xuân chẳng thấy mai

        Loại câu này phải giữ đúng luật bằng trắc như 2 cặp thực & luận trong một bài Đường luật, khi có tứ hay người ta cũng thường được phép du di theo nhất-tam-ngũ bất luận.

3- Câu đối phú: là những câu làm theo lối đặt câu của thể phú, chia làm ba loại:
       - Câu song quan là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền:

          Con ruồi đậu trên mâm xôi đậu
          Cái kiến bò dưới đĩa thịt bò

       - Câu cách cú là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài:

          Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
          Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên

          Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
          
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

(cặp này viết để vừa khen vừa trêu một viên quan võ chột mắt )

          - Câu gối hạc hay hạc tất là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

          Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai (Đặng Trần Thường)
          Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế (Ngô Thời Nhậm)

          Yêu cầu về bằng trắc với câu đối phú là: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải Bằng đối với Trắc hoặc Trắc đối với Bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là Trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là Bằng và ngược lạiNếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.
Câu đối phú thường dài và ngày nay cũng ít người làm, chỉ xin nêu một ví dụ để mọi người cùng tham khảo:
          Đám công danh có chí thì nên: ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng; chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, ngôi tiên chỉ đó cũng là rất đáng.
          Nhờ phúc ấm sống lâu lên lão; anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu; đàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ nên tranh.

B- Phân loại theo mục đích sử dụng của Giáo sư Dương Quảng Hàm thì có những loại câu đối sau:
          - Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới...
          - Câu đối phúng: làm để viếng người chết.
          - Câu đối Tết:  để dán nhà, cửa, đền, chùa... về dịp Tết Nguyên Đán. -  -   -        - Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.
          - Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.
          - Câu đối đề tặng: là những câu đối để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.
          - Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.
          - Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.
          - Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.
          - Câu đối thách (đối hay đố): nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...

*
*   *
          Không khí Tết ngày nay không còn quá bận rộn, miền Bắc (vốn được coi là miền đất văn hiến) bây giờ cũng đã giống như miền Nam: CHƠI TẾT là chính, không tập trung vào mục đích ĂN TẾT như xưa. Vậy nên xin phép mời độc giả cùng điểm lại một số câu đối vui và ý nghĩa từ xưa để lại:
          - Lý Công Uẩn (sau là vua Lý Thái Tổ) hồi còn là chú tiểu ở chùa đã có khẩu khí đế vương, một lần không thuộc bài bị Thiền sư Vạn Hạnh hạnh trói hai cẳng co lại, đặt trước Phật đài, đã tự vịnh:
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Vì ngại sơn hà xã tắc xiêu
   - Trên là "nhà vua non", còn đây là ông thợ rèn ra câu đối và Học sĩ Lê Văn Hưu đối lại:
          Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt
          Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên
          - Chuyện vua Trần Nghệ Tông với Hồ Quý Ly
          Tương truyền Hồ Quý Ly lúc hàn vi thường theo cha nuôi họ Lê đi buôn đường biển, một lần thuyền ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên câu thơ: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai (Quảng Hàn cung nọ một cành mai). Quý Ly thấy hay liền nhẩm thuộc lòng câu thơ đó. Sau này làm quan một hôm hộ giá vua Trần Nghệ Tông đi chơi, nửa chừng ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện rất nhiều cây quế, vua liền ra câu đối:
          Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế (Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế)
           Quy Ly chợt nhớ lại câu thơ trước đây liền đọc luôn:
           Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
          Tự nhiên thành một vế đối chuẩn. Vua lấy làm lạ vì trong cung tả có một công chúa tên là Nhất Chi Mai, tòa lầu của công chúa là cung Quảng Hàn chính do vua đặt tên làm sao mà Quý Ly lại biết. Quý Ly thuật lại chuyện ngày trước, vua Nghệ Tông cho là do duyên trời định bèn gả con gái cho.
          - Chuyện câu đối về tình yêu: Vua Lê Thánh Tông khi còn là hoàng tử một lần dạo chơi trên sông đào vùng Tống Sơn (Thanh Hóa) tình cờ gặp một cô gái đang vo gạo bên bến nước. Vốn hay chữ, hoàng tử buột miệng đọc:
          Gạo trắng nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả…
Không ngờ cô gái nghe được liền đối lại:
          Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hãy lo cho…
          Hai bên đều sử dụng nghệ thuật tàng tự, chữ ẩn không nói ra nhưng ai cũng hiểu. Cô gái ấy là Ngọc Hằng, con gái một vị quốc công, mẹ bị tình phụ nên phiêu dạt đến xứ Thanh. Sau này Lê Thánh Tông lên ngôi và nàng Ngọc Hằng trở thành hoàng hậu.
            - Chuyện sứ thần Đại Việt Giang Văn Minh đã bị vua  Minh Sùng Trinh bên Tầu xử tử vì vế đối bảo vệ danh dự quốc gia và chủ quyền dân tộc.
          Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu đã xanh).
Sùng Trinh ra câu đối như vậy. Nguyên xưa Mã Viện sau khi đánh bại hai Bà Trưng đã dựng một cột đồng ở biên giới Giao Chỉ và khắc lên đó mấy chữ: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" nghĩa là khi nào cột đồng gẫy thì Giao Chỉ sẽ diệt vong. Đến khi Minh Thành Tổ đánh bại nhà Hồ đã sai quân chặt gẫy cột đồng này, ở đây Minh Thần Tông có ý muốn hỏi rằng cột đồng đó đâu mà rêu nay đã xanh, nghĩa là cột đồng đã gẫy mà sao Giao Chỉ chưa bị diệt.
          Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ). Sứ thần Việt không chịu kém đã nhắc cho vua Minh biết rằng nhiều xương máu của người phương Bắc vẫn còn đỏ cả sông Đằng vậy.
          Thẹn quá hóa giận Sùng Trinh lại ra:
          Nhật hỏa, Vân yên, bạch trú thiêu tàn Ngọc Thỏ.  (Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng)    .
          Hiểu rõ dụng ý và mục đích đe dọa của vua Minh nhưng cần phải khẳng định ý chí và sức mạnh quật cường của Đại Việt, sứ ta đã trả lời:
          Nguyệt cung, Tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc Kim Ô. (Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời)
          Vế đối lại thật giỏi về nghĩa về chữ. Lại thấy trăng lưỡi kiềm như cánh cung, những vì sao tròn như viên đạn, đây là sự hình dung thật tuyệt. Song, hay hơn cả là vế đối tỏ rõ sức cứng rắn của người nước Việt, không lời đe dọa nào có thể làm cho run sợ, luôn sẵn sàng đối phó với kẻ thù.
          Rất nhiều những câu đối hào hùng như vậy được lưu lại trong sử sách nhưng câu đối vốn đa dạng nên xin được giới thiệu thêm vài dạng khác. Có những vế xuất đối ra từ ngày xưa, đến nay nhiều người cố đối lại nhưng vẫn chưa thật chỉnh lắm, ví dụ như câu của Bà Đoàn Thị Điểm đố Trạng Quỳnh:
          Da trắng vỗ bì bạch
          Đã có nhưng vế đối như sau:
          Rừng sâu mưa lâm thâm (Nguyễn Tài Cẩn)
          Quạ vàng đội kim ô (không rõ)
          Tay tơ sờ tí ti (khuyết danh)
          Nhà vàng ngồi đường hoàng (không rõ)
          Áo vàng mặc trang hoàng (khuyết danh)
          Trời xanh cao thiên thanh (khuyết danh)
          Đêm đen nhìn tối thui (không rõ)
          Riêng người viết bài này cũng góp vào hai vế sau:
          Mấn đen chùm váy thâm (NC)
          Đá đen chèn hắc thạch (NC)
          Trong dân gian cũng có nhiều chuyện về câu đối không kém phần hài hước và thú vị: ông nọ có tính thích làm câu đối nhưng rất sợ vợ, ngày nào ông ta cũng đặt nhiệm vụ cho bản thân phải nghĩ ra được một câu. Hôm đó đã là cuối buổi chiều 30 Tết, mãi chưa nghĩ ra được câu nào, đang mải suy nghĩ thì bỗng thấy một con chó sủa rất hăng về phía mình. Vị này tức quá, nhưng cũng chợt nảy ra được một câu:
           Chiều ba mươi con chó sủa.
          Tận sáng hôm sau, lúc đang ngủ nghe thấy tiếng vợ ho nhiều nghĩ mà thương, bèn viết luôn:
           Sáng mồng một vợ tôi ho.
          Phấn khởi ra mặt, ngay đó ông ta đọc cả hai vế  đối để khoe, nào ngờ bà vợ lại nổi tam bành lôi phắt chồng ra khỏi giường, định làm to chuyện vì dám đặt vợ ngang với con chó! "Đối sĩ" cuống lên vội giải thích: "“Sáng” đối với “chiều”, “mồng một” đối với “ba mươi”, “vợ” đối với “con”, “chó sủa” đối với “tôi ho”. Đấy bà thấy không, tôi ví tôi ho với con chó sủa đấy chứ…!
          Nghe giải thích như vậy sư tử Hà Đông bỗng phì cười, không làm chuyện om xòm trong ngày mùng một Tết!
          Câu đối xưa nay nhiều khi rất hiểm hóc, có hiểm hóc thì mới hay và để người ta phải nhớ mãi, ví dụ như câu "Thử chuột một tí, xem mày tốt xấu" (Yên Thao). Cũng có nhiều vế đối đưa ra nhưng chỉnh nhất có lẽ là câu "Kê gà vướng dậu, bay được thấp cao"
*
*   *
          Phần trên do người viết sưu tầm từ các nguồn và mạn phép giới thiệu khái quát về câu đối với CLB Thơ luật Đường Hải Phòng. Những phép tắc viết câu đối trên đã hình thành  từ rất lâu rồi, nhưng ở các  Sân chơi Câu đối - mấy năm nay luôn tổ chức ở một số trang Web văn chương như Vanthoviet.com (Bình Định), Đôn Thư quê mẹ (Hà Nội), Đất Đứng (Tây Ninh) Việt Nam thi hữu… - thì không phải  "đối sĩ" nào cũng đã nghiên cứu và biết một cách tường tận về luật.
          Vậy nhưng các sân chơi này rất vui vẻ, lí thú và càng ngày số người tham gia càng đông hơn lên, mỗi năm lại xuất hiện thêm một vài cao thủ "tái xuất giang hồ". Môn chơi tuy khó nhưng rất thú vị, tôi thường rủ các thi hữu là người đã viết thơ luật Đường vào loại cứng tay tham gia sân chơi này nhưng một số bạn lắc đầu bảo "khó lắm anh ạ!". Tôi thì lại nghĩ luật là luật, mình cần biết để khi muốn tham gia cuộc thi câu đối nào đó thì giữ cho đúng luật mới có hi vọng giật giải, còn khi viết câu đối để vui chơi với nhau thì ban đầu hãy  phiên phiến đi, nếu như ta tìm được ý nào đắt và phù hợp với ngữ cảnh.
          Ví dụ vừa rồi khi nghe tin về vụ án anh em nhà họ Dương tố cáo một nhân vật lớn dính dáng đến tham nhũng và làm lộ bí mật quốc gia, tôi đưa ra vế xuất:
          Chưa Giáp Ngọ, ngựa quí đã lở mồm long móng!
          Câu tự đối là:
          Hết Canh Dần, hùm thiêng đà rơi bẫy cạn cơ!
          Ngay lập tức nhận được những vế đối:
          Sắp Đinh Mùi, dê non đang mở mắt, mọc râu. 
          Quá Đinh Mùi, dê già còn dương cổ vểnh cằm!
          Lỡ Tân Mùi dê đen vừa teo cẳng gãy sừng!
          Chẳng Tân Mùi, dê non còn trông mặt đặt tên
          Sắp Ất Mùi, dê hiếm đừng bán chó treo dê
          …….
Không khí của sân đối rất vui tuy rằng cả vế xuất lẫn vế đối đều sai luật. Vế xuất sai vì đây là câu Hạc Tất mà phần sau dấu phẩy không theo đúng Bằng, Trắc của hai cặp Thực & Luận của thơ luật Đưởng. Các vế đối còn sai luật nhiều hơn, thôi thì cũng gọi là có chỗ vui vẻ với nhau là chính, bao giờ tham dự cuộc thi câu đối hẵng hay!
Đấy là nói về chuyện sai luật  nhưng ở các sân chơi này cũng có nhiều cặp đối chỉn chu và trí tuệ. Vế xuất dạng câu Hạc tất của bác Phan Tự Trí (Đồng Nai) phải nói là trái khoáy:
          Năm Dần, cứ tu sửa dần dần, khỏi hổ danh gái Dốc Mơ vừa dơ vừa mốc.
          Phải chữa vài lần tôi mới có được vế đối khả dĩ:
          Tết Ngọ cần xếp trò ngọ nguậy, đừng lưu tiếng trai Dương Tễ thấy dễ lại tương.
          Sau đó trong không khí đông vui bạn bè tham gia tôi còn xuất hoặc đối thêm một số cặp khác góp với mọi người, cũng vào loại tàm tạm như:
          Tết Giáp Ngọ, ngồi xe tư mã, chơi bài tam cúc, mất xe - pháo - mã, buồn như "Tái ông mất ngựa". (Diên Minh)
          Xuân Tân Mùi hám tiệc tam dương, hóng khúc bốn mùa, toi chó - trâu - dương, cực quá Tô Vũ chăn dê (NC)
          - Giáp Ngọ, ngựa  quen đường cũ, mã đáo thành công, họ Cựu hồn kinh 
          Nhâm Thìn, long đến nhà tôm, ăn như rồng cuốn, làng Tép chết khiếp (NC)
          - Giáp năm Giáp Ngọ, lũ Ngựa chứng giở chứng, bung chuồng Ngọ nguậy (Kim Lão Tà)
          Tân tháng Tân Mùi, bày Dê non ăn non, kiếm bãi Dương dê (NC)
          - Xuân Giáp Ngọ, bác Ngọ mặc áo giáp, vênh vang lên xe xuống ngựa, dạo phố Mã Mây, lễ đền Bạch Mã. (Ngọc Thanh )
          - Tết Đinh Mùi, cu Mùi dù lên đinh vẫn thích bịt mắt bắt dê ra đồng Dương Cỏn cầu cụ Hoàng Dương
 (NC)
          - Quí Tỵ qua, rắn ráo em chiên, nhâm nhi rượu ngũ xà chúc tết (Ngọc Thanh)
          - Nhâm Thân lại, đười ươi một dạ, cố nhóm đoàn tam khỉ bày trò (NC)

          Thiển nghĩ Câu đối là một di sản quí giá của dân tộc ta. Xã hội dần Phú quí lên thì Lễ nghĩa cũng tăng theo, nhu cầu có một cặp câu đối cho ngày tết, để mừng nhà mới, phúng viếng, thờ phụng, đề tặng sẽ ngày càng nhiều hơn. Theo thiển ý của tôi thì đã là nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là người ham thích thơ luật Đường – tức là những người mang tính có chữ nghĩa và chấp nhận cách làm thơ gò bó cao hơn người bình thường – chẳng lẽ chúng ta lại không dám bước vào sân chơi này. Nói cho đúng ra, các câu đối viết theo mục đích sử dụng thường không khó như các câu tôi giới thiệu trên. Sân Câu đối là sân chơi trí tuệ nên mọi người cố nghỉ những câu khó và hóc hiểm, cũng chỉ để vui là chính, còn viết câu đối theo mục đích sử dụng nếu chúng ta để tâm một chút sẽ thấy là đơn giản hơn nhiều.
          Ví dụ để mừng ngày tết người ta viết những câu:
- Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc
Đời vui, sức khoẻ, tết an khang
- Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
Xuân khắp dương gian, phúc khắp nhà
- Tết trong nhà, Tết ra ngoài phố
Lộc trên trời, lộc xuống nhân gian
Để mừng thọ người ta viết:
- Tuổi thọ chín mươi mừng phúc lộc
Hoa tươi muôn đóa chúc an khang
- Tám chục tuổi đời, người vẫn trẻ
Ngàn năm gia tộc,  phúc vô biên
Câu đối ở đám tang:
- Nghĩa nặng gửi theo về chín suối
            Tình sâu để lại đến ngàn thu
Có nghĩa là chúng ta ai cũng có thể nghĩ ra một vài vế đối dùng cho từng hoàn cảnh. Xin các "tân đối sĩ" đừng e ngại, hãy cứ thử xem sao.
Tuy các cụ có câu "Ra giêng ngày rộng tháng dài" nhưng bàn về câu đối thì còn lâu mới hết, cũng còn nhiều chuyện hay lắm, vì bài viết cũng đã dài, xin phép được dừng ở đây.
Xin cám ơn tất cả mọi người đã để mắt đến những dòng viết có phần lan man này.
Ngọc Châu
READ MORE - NGÀY XUÂN MẠN ĐÀM VỀ CÂU ĐỐI TẾT - Ngọc Châu

Thursday, February 6, 2014

XUÂN NHỚ - thơ Lê Hoàng



Thương thương nhớ nhớ nỗi niềm yêu
Sắc tím bâng khuâng vệt nắng chiều
Lãng đãng sương mờ hơi lạnh giá
Xuân về nhuộm trắng mảnh đời xiêu

Ta sống Xuân này nhớ Xuân xưa
Bao nhiêu ấp ủ tựa như mơ
Xuân ơi! có biết ta nhớ lắm
Nhớ cả tâm tình đầy ắp thơ

Xuân ở xứ này lạnh buốt xương
Ôm gối nhìn ra trời đầy sương
Ôi chao thấm thía niềm đơn độc
Em ở đâu nào chốn cố hương!

Có phải Xuân này ta vắng em
Không nghe em gọi, tiếng êm đềm
Thao thức khó ngủ đêm dài mộng
Biết thế chi bằng ta trống không.

Hẹn nhau năm tới mình có Xuân
Có vòng tay ấm nắng đầy trong
Đem Xuân vào trong từng hơi thở
Cho cả tình thương ấm cỏi lòng.

Đầu Xuân Giáp Ngọ.

LÊ HOÀNG
READ MORE - XUÂN NHỚ - thơ Lê Hoàng

TẾT NÀY THẬT VUI - Trường Hải Lê Văn Đông

(Tiễn Quý Tỵ đón Giáp Ngọ)



Tết này nhà mình vui ghê,
Con cháu thành phố về quê sum vầy. 
Tết được nghỉ sớm dài ngày,
Khí trời nắng ấm, cháu hây má đào.
Cờ hồng lộng gió trên cao,
Trước sân hoa nở đón chào Xuân sang.
Cả nhà vui gói bánh chưng,
Bập bùng bếp lửa, sáng bừng tiếng reo.
Tất niên đào thắm, đèn treo,
Hương trầm ngào ngạt mang theo nỗi niềm! 
Sáng Xuân tặng cháu phong tiền,
Mua may lấy mắn, ngoan hiền, thông minh…
Cả nhà vui tiệc linh đình,
Du Xuân, thưởng lộc bình minh cuộc đời.
Tết này nhà mình thật vui,
Xuân lai, Xuân đáo, tuyệt vời Mùa Xuân !     

Đỉnh Sơn, đầu Xuân Giáp Ngọ
Trường Hải Lê Văn Đông


READ MORE - TẾT NÀY THẬT VUI - Trường Hải Lê Văn Đông

VALENTINE TUỔI SÁU MƯƠI - Phan Kỷ Sửu

Phan Kỷ Sửu


Valentine tuổi sáu mươi
Là từ hai cặp mắt cười nhìn nhau
Ngỡ như là phút ban đầu
Rụt rè như mới qua cầu gió bay...!
Lặng nhìn em tóc nhòa mây
Nhớ ơi! thuở xỏa bờ vai hẹn thề
Kể nhau nghe những vụn về
Trao em cánh phượng chiều hè ngẫn ngơ
Nhắc từng nét tím vần thơ
Nửa quên, nửa nhớ, bất ngờ biết đâu!
Valentine vẫn ngọt ngào
Nhổ dùm em sợi tóc sâu lạc loài
Mà yêu từng phút, từng giây
Hiểu câu, muối mặn gừng cay thế nào?
Valentine có khác đâu
Tiếng đôi tim vẫn dạt dào gọi tên
Cái ngày không thể nào quên
Mặc thằng cháu ngoại ngôi bên quấy mình
Hãy say cả đất trời tình
Để còn trẻ mãi bóng hình thời gian!

                                      PHAN KỶ SỬU

READ MORE - VALENTINE TUỔI SÁU MƯƠI - Phan Kỷ Sửu

Đầu năm nhớ lại 17 năm tình lận đận - Huy Uyên

Huy Uyên


Dấu trong ai mà mắt em buồn thế
em cầm tinh cú, quạ hồn đêm
đã khép đời nhau chua xót lệ
thương nhau phai mấy môi mềm.

Sao đêm không dài mà em ngủ mê
hồ dễ tôi một đời chìm ly rượu
đi mãi bên em năm rộng tháng dài
đêm về một mình
đứng dưới cột đèn khi mờ khi tỏ.

17 năm, 17 năm tình lận đận
khúc sông nào đò tình đưa em qua
để tôi mộng người thời hoang tưởng
phiêu lạc tình nguôi quên xót xa.

Gió quạnh hiu bờ xua ngang mặt đường
ai gởi sầu vào tim
cho người đầy tê tái
cuối trời khuất chìm mấy độ dương gian
người sương giá để không bao giờ quay lại.

Tôi bỗng thương em chiều cuối tuần đơn lẽ
về mà chi giây phút quá vội vàng
cầm tóc thả trôi sông ngã ấy
xa xót tim ai người vội vàng chôn .

Giờ em còn lối hoa mộng đi về
bàn chân trần qua một thời dại dột
tôi cháy lòng theo từng khúc đêm say
nhà người bên đường, rượu người đắng chát.

Em dấu chi tôi vạn lời hờn dỗi
có mơ sao ngày về ngồi lại bên em
"u-uẩn tình em chiều qua vội"
nhớ thương người mà có đâu quên.

Em dỗi hờn xưa cùng tháng năm
má hồng lung linh trời pha sắc nắng
chưa kịp xuân theo mấy mùa vàng
não lòng chưa? mà tim ai xót đắng.

Ru em bằng những giọng buồn
tôi khách lạ giữa thành phố lạ
mai kia xa em còn đợi không
hay bay đi như mây trời gió núi.

Đã 17 năm cách xa quá đổi
mắt ai trông như tượng đá cuối vườn
sao không khóc như ngày xưa em nói
để nước mắt người chìm nổi theo sương.

Tôi trả về em những giấc mơ xưa
ngày trai trẻ mộng người thơ dại
chỉ một lần thôi hay đến bao giờ
hái nụ hôn đầu
để nhớ ai mãi mãi .

Khi xuân và chim ngang thành phố
đêm bỏ đi rót lạnh bao mùa
một mình em và con đường nhỏ
phai hết rồi ký-ức ngày xưa.


Huy Uyên
READ MORE - Đầu năm nhớ lại 17 năm tình lận đận - Huy Uyên

LỜI CHÚC ĐẦU NĂM - Thương Yến Tử






Chiều ba mươi
Trời còn lạnh
Người người tất bật ngược xuôi
Mua nhành mai, chậu cúc
Gọi là đón tết, mừng xuân

Sáng mồng một
Nắng tràn trước cửa
Đường phố thưa người
Cửa đóng, lựa người đạp đất
Mong cầu lợi lộc quanh năm

Riêng mình có lời xin chúc
Nhà nhà ngày một thêm thân
Mong ngựa sớm về nước kiệu
Lòng người bớt nỗi phân vân

                     1/1 /Giáp Ngọ

                           Thương Yến Tử
READ MORE - LỜI CHÚC ĐẦU NĂM - Thương Yến Tử

XÓA BỎ MẶC ĐỊNH - truyện ngắn Nguyễn Vinh Nguyên Hiển




I
Một phụ nữ tóc ngắn, ngoài bốn mươi tuổi, mặc áo chẻn, quần Jean bước vào ngõ lên cốc tôi. Tôi đã thức dậy thời công phu khuya, cửa chính mở đón nắng mới, chuẩn bị tập khí công. Huế gần Tết, trời có sương mù trưa nắng to. Nắng hiếm cuối Đông thường ấm và cần thiết cho bà con lo Tết… Chị đứng trước bàn thờ Phật, không chắp tay vái hoặc thắp hương dâng Phật. Cốc tôi, thi thoảng các cô, chú Phật tử, các chị đạo tràng thăm, họ đều đảnh lễ Phật. Tôi ngạc nhiên khi chị đứng ỳ ra thế? Bỗng tôi nhớ một e.mail gần đây: “Em không tìm hiểu về Phật giáo vì lúc sinh ra tôn giáo của em đã mặc định như vậy rồi. Nói như vậy không phải là em hối tiếc khi không có quyền lựa chọn. Cũng như anh, em xác tín về tín ngưỡng mình đang theo và cố gắng hoàn thiện mình. Bây giờ con người không dí súng vào đầu để buộc ai bỏ đạo cả anh ạ. Phật giáo lại càng không, ít ra là trên lãnh thổ của ta. Thời nay có nhiều cái tinh vi hơn để làm cho người ta chối bỏ đạo. Anh thừa biết như vậy chứ.”. À, chị tên Khanh, đạo Thiên Chúa. Tôi mời:
- Anh không ngờ Khanh ra Huế. Lên cốc thăm anh!
- Anh không nhớ em đã viết khi anh nhã ý tặng tập thơ cho em: “Có dịp nào ra Huế em sẽ đến chào anh và xin nhận lại, nhờ anh giữ hộ, có được không ạ? Cái thời mà các cô cứ ở một chỗ mong ngóng chàng lãng tử, với em thì ngược lại nhé.

Tôi đã quen chị trên Twoo. Chị giới thiệu tôn giáo Catholic. Đối với Thiên Chúa Giáo tôi rất kính trọng. Quen với chị tôi học hỏi thêm nhiều điều. Tôi kể chuyện: “Một hôm tôi đi thể dục, vào rừng thông chùa Từ Hiếu, tôi nghe một giọng hát ngân vang, một cô gái đứng trong rừng thông hát thánh ca với vẻ thánh thiện. Tôi đi nhẹ đến làm quen. Cô sợ, lên xe đạp bỏ đi. Tuy vậy, tôi kịp cho cô tên tôi và mời cô vào google đọc tác phẩm của tôi. Ngay hôm ấy, tôi nhận được mail của cô, biết cô là soeur. Tu ở một Nhà Dòng. Khanh trả lời: “Những lúc đi thể dục em cũng hay hát lắm nhưng đa phần chỉ hát thầm thôi anh ạ, chỉ những lúc vắng người thì em mới hát khe khẽ ra tiếng. Hôm nào tâm trạng không vui em thả hồn đi hoang bằng những bản tình ca. Có lúc trống vắng chơi vơi cần một điểm tựa vững chắc em hát Thánh ca. Nhưng phần nhiều là lần chuổi tràng hạt, đọc kinh. Tuy không đi tu nhưng em biết khá rõ về luật Nhà Dòng, vì 3 chị em từng ở đặc cách trong 2 Nhà Dòng.... Sau lại làm việc mấy năm với các soeur Dòng Vicent De Paul (tiếng Việt gọi là Dòng Vinh-Sơn hay Nữ Tử Bác Ái Vinh-Sơn). Và chị Cả của em là nữ tu. Kể với anh như vậy để cho anh biết là em không phải nói vu vơ. Luật tu sĩ của Nhà Dòng nam hay nữ đạo Công Giáo rất nghiêm. Muốn viết thư thăm hỏi gia đình cũng phải xin phép và được sự đồng ý của Bề Trên (Chủng viện thì có Cha Giám quản, Nhà Dòng Nữ thì có Soeur Bề Trên). Không có chuyện tự tiện dùng email đâu anh ạ. Và tập hát thì có người chuyên trách trong nhà dòng đảm nhiệm, có nơi có chốn có giờ. Em xin lỗi anh nhé, em nghe thấy đúng là như vậy nhưng vì có thể chị ấy không nói chi tiết với anh (Vì thấy không cần thiết chăng?). Nên nghe anh kể chuyện chị nào đó luyện giọng trong rừng thông em ngỡ như nghe một chuyện cổ tích đẹp vậy đó. Chuyện này anh bị ngộ nhận như chuyện của nhạc sĩ Vũ Thành An đây.”. “Để em nói rõ hơn nhé. Vì luật Nhà Dòng rất khó và vì những lý do khách quan khác (Thí dụ: không đủ sức khỏe ) nên trong quá trình tu tập cho đến lúc được khoác lên người chiếc áo dòng lần đầu (gọi là khấn lần một, lần thứ n... cho đến lúc đạt lần KHẤN TRỌN ĐỜI) sẽ vơi đi ít nhiều. Điều này trong đạo gọi là: Người được gọi thì nhiều mà kẻ được chọn thì ít. Thế nên cung không đủ cầu, số các nữ tu phân bổ về giúp việc cho các xứ đạo thiếu. Và có những việc tuy được học, hiểu rõ một số vấn đề thuộc lĩnh vực nhạy cảm trong xã hội, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng tiếp cận để giúp đối tượng, nhất là không tiện cho các soeur còn quá trẻ (cũng là để bảo vệ tu sĩ). Thế nên sau này có một đội ngũ được thành lập gọi là MẾN THÁNH GIÁ TẠI THẾ. Các bà, các mẹ, các chị trong giáo xứ đều có thể đăng ký gia nhập đội quân này. Nôm na như những tình nguyện viên vậy đó. Họ cũng giữ một số luật nhất định của nhà dòng, có khấn, có đồng phục nhưng dứt khoát không phải là áo dòng như anh từng thấy (đồng phục hiện nay là áo dài màu xanh dương đậm). Em cũng được các bà, các chị mời gia nhập nhưng vì thấy chưa toàn tâm toàn ý phục vụ tốt được nên khất.”.

Trước đây, tôi Chat với Khanh, tôi nghe nhạc sĩ Vũ Thành An đi tu. Tôi hỏi vì sao một nhạc sĩ viết những bài KHÔNG TÊN từng yêu thương, không nguyên vẹn sao được thụ phong Linh mục. Khanh Chat lại: “

NS VTA không phải là linh mục, chỉ là phó tế. Nhưng còn phải xem lại là chức phó tế này của Thiên Chúa Giáo hay là bên Tin Lành. Em nghĩ là mục sư của đạo Tin Lành. Vì mục sư được phép lập gia đình như người thường. Còn TCG thì rất khắc khe khi xét phong chức linh mục. Phải là người toàn tâm toàn ý hiến dâng phục vụ, nói như anh là còn nguyên (em thêm vào là:" còn nguyên đai nguyên kiện".Hi…hi…). Ngay cả gia đình người ấy khi cho con đi tu làm linh mục, thì cha mẹ cũng ý thức rõ điều đó. Nếu trong quá trình đi tu mà gặp trắc trở gì phải rời nhà dòng quay về (thí dụ như sức khỏe kém, đau ốm liên tục không thể tiếp tục đường tu được nữa, hoặc hạnh kiểm kém, học lực kém sau mỗi năm kiểm tra) thì cả gia tộc rất buồn phiền, thậm chí xấu hổ nếu dính đến hai yếu tố sau. Có người đã làm đến chức Thầy 6, hay còn gọi là Phó tế, tức là sắp thi xét tuyển lần cuối để thụ phong linh mục. Có khi còn bị trả về gia đình (tuy hiếm khi xảy ra,xác suất 1/300).

Tiểu sử của NS VTA: là người đã lập gia đình rồi nhé. Vậy thì chắc chắn không thể có chuyện được phong phó tế của Thiên Chúa Giáo đâu.

Em không có " Ơn kêu gọi đi tu" vì thứ nhất là em không hề có chút ý tưởng nào cho điều này, mặc dù gia đình cũng có ý đó khi cho cả 3 chị em em vào ở trong Nhà Dòng (sau này em mới biết). Thứ hai là em nghịch lắm, và cuối cùng là học không giỏi. Đi tu làm soeur cũng kén người có tiêu chuẩn không kém gì làm linh mục đâu nhé. Em.......ngã nón chào anh.”.

Ngày xưa lúc em 11-12 tuổi, cùng 2 em gái, cả 3 chị em là con nuôi của Đức Cha. Nhớ lại cảm giác thuở ấy, hàng tuần ba chị em được Đức Cha cho xe đón từ nhà dòng nữ về Tòa Giám Mục chơi. Cả ba chị em lang thang lủi thủi trong khuôn viên Tòa Giám Mục, như 3 con gà con lạc đàn dù được chăm sóc miếng ăn chốn ngủ chu đáo. Thôi em không nói nữa kẻo khóc đến nơi rồi. Em có đọc TIẾNG CHIM HÓT TRONG BỤI MẬN GAI được quay thành phim luôn và còn một tác phẩm nữa (em quên mất tên) cũng về đề tài này. Họ tưởng tượng thêu dệt sai sự thật quá đáng. Không phải em bênh vực vì mình là dân Catholic. Nhưng có phẩn nộ vì sự thêu dệt quá đáng ấy. Em cảm ơn anh đã nhắc nhở. Trong 3 điều anh nói nên tránh, thì em tránh được cái THAM, cái gì không phải là của em thì tuyệt đối chẳng tranh chấp làm gì. Em cũng biết "Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc". Ở những nơi em đến cuộc sống con người đầy khốn khó, em nghiệm ra rằng thực ra nhu cầu của mình không nhiều như mình từng muốn, hay chỉ tự mình làm khổ mình vì những thứ phù phiếm ấy? Sân Si thì làm người sao tránh khỏi hả anh. Có chắc là các bậc tu hành đã dứt bỏ hết nó khi khoát lên người chiếc áo của nhà tu không? Thôi thì tự nhủ cố gắng từng giờ từng ngày để hoàn thiện bản thân thôi.”

II
Khanh ra Huế trong chuyến thăm trường cũ. Ghé thăm tôi. Chúng tôi chưa dịp loanh quanh Huế. Nhưng trong tôi, hình ảnh Khanh loanh quanh trái tim mình. Về nhà, Khanh mail:
Anh chừ ở nơi tịnh độ. Nơi anh thật yên bình. Xin anh một góc nhỏ trong tâm hồn anh. Không phải thứ tình cảm bồng bột hồi mới lớn, chỉ xin những vần thơ và tâm hồn vời vợi của anh. Đọc thơ, đọc văn anh viết, em biết rằng anh là của mọi người, anh yêu nhiều người, và trái tim giàng trải. Em thấy mình nông nổi khi nghĩ rằng sẽ sở hữu được một trái tim, và đã chùng lại khi hiểu sâu hơn về anh. Có cái gì đó như mơ hồ xa ngái. Chúc anh yên bình và hãy cầu nguyện cho em thôi nông nổi anh nhé. “Em đi về tâm hồn tơi tả quá. Ngâm cuộc đời nhớ tiếc mọc thành cây”
Em đã đọc chùm thơ anh gửi. Anh chỉ hơn em mấy tuổi mà như xa lắm lắm về cảm nhận cuộc sống. Em khi chưa cảm nhận hết cuộc sống, bởi bận rộn với công việc từ khi rời ghế đại học, rồi vào đời, làm nghề đưa đò cho nhiều thế hệ học sinh. Em nếm mùi cuộc sống từ khi anh ấy không còn che chở em. Anh ra đi! Rồi quen anh, anh đã sẻ chia và nói lời tri âm như lời hò hẹn làm em chợt tỉnh và tự nhủ, đâu cứ phải vùi vào những niềm đau! Bên mình còn ít nhất là một tấm lòng ở Huế. “Bên Khanh vẫn còn anh”. Ấm áp quá! Được anh cầu nguyện cho em, em thấy vui hơn. Đêm qua ngủ một giấc yên bình và mơ đẹp nữa. Cám ơn anh về tất cả. Không biết làm gì để đáp lại . Anh cho em mail cho anh hằng ngày để tạ ơn nhé. Anh không cần viết lại cũng được. Em đọc thơ, truyện anh viết và độc thoại cũng đã vui rồi. Anh yên bình và khỏe nghe. Em thương anh nhiều. Bye anh.”
Khanh gửi tôi một tấm hình. Tôi khen. Khanh vui: Được khen vui như thời con gái. Muốn đi quanh đâu đó để tận hưởng nỗi niềm. Em không nở bị đời lãng quên vì đã có anh đồng hành. Em trân trọng anh như một sứ giả đã kết nối em lại với cuộc đời. Không phải tự nhiên mà em quyết định gặp mặt anh như một sự tự nguyện”. Tôi gửi Khanh bài thơ:

TẬP CHẾT

Tôi tập chết
Mỗi ngày lẵng lặng chết
Chết chút si, ham muốn tục trần

Ai cứ nghĩ chết là rất dễ
Một cái buông rơi thẳng vô minh
Buông vì dục là buông u tối
Buông cho người tỏa sáng, tái sinh

Thuở ra đời mẹ cha tập sống
Lớn lên mình dạy chết cho mình
Chết rất khó cuối đoạn đời về đích
Tự thắng mình mới thắng tử sinh

Tôi tập chết không hề mong sống mãi
Chỉ cầu xin léo sáng một hành trình…
                          Nguyễn Vinh Nguyên Hiển

Và viết, em có khi nào thấy người đồ tễ, kẻ đại ác chết yên lành không? Không bao giờ! Khi chết, có điều gì không bằng lòng, quằn quại, đau đớn người chết thường tái sinh cõi thấp. Anh từng thấy, ngay đang sống có người đã hiện nhiều tướng xấu đến sợ, môi trên họ cong lên, lòi răng nanh... Ấy là, ác nghiệp như ăn óc khỉ đang sống, ăn cá đang nhảy, đầu bếp nấu chín phần đuôi, cá còn thở ngóp ngóp. Có khi nào đoạt sinh mạng của sinh linh để ăn ngon miệng mà mình cầu chết yên lành? Cho dù em không theo đạo Phật. Không tin có đời sau. Nhưng tất cả ai cũng mong được chết yên lành, ít đau đớn. Muốn chết yên lành phải buông bỏ tham, sân, si và tu sửa. Anh nói vậy, em có cho anh là người bất bình thường không? Nhưng từ lâu, anh đã tập sống không toan tính, cố lành lặn tâm hồn, chơi với ai anh cũng nhận phần thua thiệt, được thua người là tập chết tốt đó Khanh.
Khanh trả lời: “Tâm hồn anh có niềm tin mãnh liệt quá. Anh viết về cái chết. Em đọc, em thấy sợ sợ. Vẫn biết nhà văn là tài sản của chung cho đời, anh lại là người tu hành nữa, thế mà từ bài thơ đầu tiên em đọc được trên Twoo của anh đã làm em có suy nghĩ lệch lạc, em tự thấy xấu hổ với tư tưởng đời thường của mình khi thấy anh đúng vị chân tu! Văn anh viết thật hay. Anh tu chợ thanh tịnh. Anh cho em niềm vui được chia sẻ, chỗ bám víu cho tháng ngày tưởng như không còn chút kỳ vọng nào vào cuộc sống. Rồi em đã nói được nỗi lòng em, anh đã làm cho ngày còn lại của em không cô độc. Ơn anh anh nhé. Anh sống bình yên trong không gian tịnh độ. Em không giữ được mái gia đình trọn vẹn là một bất hạnh. Có khi em lang thang với nỗi buồn đầy ắp tâm hồn, tự thấy nổi bất hạnh gậm nhấm nát ruột gan. Nhưng rồi cũng phải trở về trong quay quắt. Khác với anh, anh tìm quên ở chốn bình yên vắng vẻ, trái tim được vỗ về với những thiện nguyện anh làm cho những mảnh đời khốn khó. Em thương anh. Bye anh”.
Anh tu để đạt an bình... Những điều ấy anh sẽ lây truyền đến em và nhiều người khác. Em biết không lòng từ bi, tình thương vẫn có thể lây truyền sang người mình thương mến. Người ấy sẽ bị lây bệnh TỪ BI như mình. Khi tư tưởng mình nghĩ đến ai đó, luồng tư tưởng sẽ phóng tới họ. Yêu, ghét họ, họ biết ngay. Hãy tập cầu nguyện cho kẻ mình không ưa của mình được vui khỏe. Em sẽ vui khỏe và thiết lập cảm thông với người mình khó ưa nhất đấy em ạ. Mọi cánh cửa đều mở ra cho người hiền lương. Những bà cùng học với em ở Đại học Sư phạm năm ấy (trong ảnh), em là người anh chú ý nhất, muốn lây truyền cho em tình thương và thi ca. Tuy rằng anh chỉ tập tễnh trên bước đường tìm cầu chân lý. Không chỉ các đại sư mới trao truyền được những gì họ đạt. Những người bạn của mình, họ cũng trao truyền bước khởi hành của họ bằng chính sự nỗ lực của họ và tình thân mến. Chúc lành!
Em đã đọc nhanh chùm thơ về mẹ. Bài nào cũng hay. Thơ anh nhẹ nhàng và gần gũi. Lớp em họp mặt năm ngoái. Em học ngoại ngữ trường Đại học Sư phạm, ở trong cư xá Đội Cung, gần cầu Trường Tiền đó. Anh ơi! Em đã xem hình mới anh gửi. Thích nhất hình anh đứng chắp tay ở tịnh cốc và hình ở sân bay với các em nhỏ. Anh vui hẵn. Mong nụ cười nở mãi trên khuôn mặt đầy nhân hậu của anh”.
Tôi có dịp đi Hội An. Tôi nhắn tin cho Khanh rằng: Muốn gặp Khanh. Khanh nhắn: “Em đợi anh trên cầu Rồng lúc 9 giờ”. Từ lâu, tôi không vào Đà Nẵng nên tôi không biết cầu Rồng. Tôi tưởng cầu Rồng là cầu sông Hàn. Tôi OK. Tôi chạy xe qua cầu sông Hàn từ 9h. Chạy hai vòng và đứng chờ gần 30 phút. Không thấy Khanh tôi gọi điện, không người bắt máy. Tôi chạy thẳng vào phố Hội. Giữa đường Khanh điện theo. Tôi cắt máy hai lần. Đến Hội An, Khanh điện lần thứ ba. Tôi mới biết là Khanh đã đợi tôi ở cầu Rồng cùng với hai chai nước khoáng. Vì vội, Khanh không đem theo điện thoại. Nên không biết tôi chờ ở cầu sông Hàn. Ra Huế, trong ngày tôi lại nhận mail của Khanh:
Tâm hồn em đã thổn thức suốt đêm vào cái ngày lạc anh. Thương và buồn nữa. Phải chi mình đem theo máy thì đã nghe anh gọi. Làm anh giận em. Em không cầu ở anh bất cứ điều gì ngoài cần một người chia sẻ kể từ khi anh ấy ra đi. Chắc chắn đó không phải là thứ tình cần sở hữu. Em chưa tưởng tượng ngay cả đến một cái ôm, dẫu đôi vai em trống rỗng từ lâu. Em cô độc nhưng không phải vì thế mà kết nối với anh. Anh ơi, em cần ở anh cái không gian tịnh độ. Anh chia sẻ cho em nhé. Đừng lạnh lùng với em. Chúc bình yên cho anh.
Anh yêu Phật yêu thiền hơn bản thân mình, hơn gia đình mình. Cái thân anh xin cúng dường cho Phật. Em thâm nhập kinh tạng. Tu hành phát tâm Bồ đề sẽ nhận ra. Giàu có, làm to, quyền thề đều là không. Hãy bước ra ánh sáng với tất cả những lành lặn và khuyết điểm của mình. Những lành lặn sẽ tỏa sảng. Cũng có người nói anh cô độc. Anh thích sự cô độc đó. Được độc cư, đối diện với bóng đêm thường mình thấy rõ lỗi mình.
III
Thế rồi Tết không trông chờ vẫn đến. Khi những ngọn gió Đông thôi ràn rạt thổi, sương xuân bịn rịn không gian và nắng xuân hồng hào vạn vật. Cây nảy mầm, đơm hoa. Tôi ở tịnh cốc cũng vui lây nhờ đất trời mang xuân đến. Thường thường hằng năm tôi về nhà đón giao thừa, sáng sớm lên cốc dâng hương, tụng thời kinh đầu năm, rồi xế trưa đi chùa đầu năm đãnh lễ Phật. Ở tịnh cốc có thờ Phật, nhưng tôi vẫn tin Phật ở chùa thiêng hơn, người người đi chùa, chuông mõ trầm bổng và nhất là không khí thiêng liêng trong nghi ngút khói hương ngày đầu năm, tôi thích đến chùa lễ Phật hơn ở tịnh cốc tôi. Mặc dù lịch đón xuân của tôi đã gửi mail cho Khanh. Nhưng quả bất ngờ khi Khanh bước vào cốc tôi chúc Tết và rũ tôi đi chùa lễ Phật. Khanh đứng trước bàn thờ đãnh lễ Phật năm vóc sát đất, niệm:
Nam Mô A Di ĐÀ Phật
Huế, 201213
N.V.N.H
Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH - 50 Trần Thái Tông, Huế -Tel: 01688971486


READ MORE - XÓA BỎ MẶC ĐỊNH - truyện ngắn Nguyễn Vinh Nguyên Hiển

XUÂN EM NGÀY CHỦ NHẬT - Châu Quang Phước




Chiều xuân thao thức dạo
Quanh vườn nhà tuổi thơ
Nắng mời lên như gọi
Ôm xuân tròn ngẩn ngơ

Xuân em đẹp nõn nà
Đêm cười vọng xa xa
Tay thơm cành lá mới
Nắng ấm về bên ta.

Xuân thưa - Ngày chủ nhật
Xuân anh cài thơ ngây
Ngâm lời ru cỏ lạ
Hát vui lòng nở hoa

Xuân về cưới thiên nhiên
Em mùa xuân chủ nhật
Phất phơ lời trong ta
Ấy là ngày đẹp nhất.

                                Châu Quang Phước  

Email: hophuocquang@yahoo.com
DĐ: 01202331366
READ MORE - XUÂN EM NGÀY CHỦ NHẬT - Châu Quang Phước

Thơ Đoàn Vũ - CHIỀU XUÂN Ở THIỀN VIỆN TRÚC LÂM (*)





Đường Xưa (**) chưa kịp về đâu
Mà mây vấn vít trên đầu gọi ai?
Tĩnh Tâm hồ lặng dấu hài
Chờ ai thông đứng chen vai ngút ngàn ?
Tiếng chuông điểm nhịp miên man
Đụng vai sương khói mơ màng cố nhân
Kinh Lời Vàng (***)
đọc bao lần
Dường ai khép nép
nửa gần
nửa xa?…

Chiều đi
đi một mình
ta
Dõi trông vào cõi ta bà có, không?! 
Lên cao cao
bỗng chạnh lòng
Hẳn nghe sương, khói bềnh bồng gọi nhau.


(*) thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt
(**) tập thơ thiền của thiền sư Nhất Hạnh
(***) tác giả: nữ cư sĩ Dương Tú Hạc
Dịch giả: H.thượng Thích Trí Nghiêm


     
Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận
Địa chỉ: 48 Trần Hưng Đạo, Phan Rí, Tuy Phong, Bình Thuận.
Điện thoại: 0915748434.
Email: vudoan0102@gmail.com.
           

                                   
                                   

                                     
READ MORE - Thơ Đoàn Vũ - CHIỀU XUÂN Ở THIỀN VIỆN TRÚC LÂM (*)

Wednesday, February 5, 2014

CÒN ĐÂU HƯƠNG VỊ XƯA! - Hoàng Đằng

  


                       CÒN ĐÂU HƯƠNG VỊ XƯA
                                                                           Hoàng Đằng

Những ngày Tết Giáp Ngọ đã qua. Tiết Lập Xuân đang đến. Nắng ấm. Tôi lại nhớ chuyện ngày xưa.

Quê tôi – làng Điếu Ngao - ở cạnh sông Hiếu. Cách khu dân cư khoảng hơn 100 mét, có đồng Cồn, một dãi đất thoai thoải chạy dọc bờ sông.

Đồng Cồn do đất phù sa bồi lợp lâu đời tạo thành. Ngày xưa, Cồn chia cho dân làng mỗi gia đình một luống, mỗi năm canh tác 3 vụ: tính theo Âm Lịch, vụ bắp đậu từ tháng giêng đến tháng tư, vụ lúa vãi từ tháng 4 đến tháng 9, vụ khoai lang từ tháng 10 đến tháng giêng.

Vụ khoai ấy gọi là khoai tháng mười.

Vì từ khi trồng đến khi thu, thời gian ngắn cộng thêm sinh trưởng trong thời tiết giá lạnh của mùa đông, củ chỉ nhỏ bằng hai hoặc ba ngón tay xếp sát nhau, chưa có tinh bột nhiều. Dân quê tôi ít ăn luộc mà chỉ nấu canh.

Để nấu canh, củ khoai được rửa sạch, xắt theo chiều xiên để lát trông to. Soong nước thêm chút mỡ rán hoặc ít tôm, tép, nêm ít ruốc nấu sôi lên, khoai đã xắt lát đổ vào, thêm ít ngò hay ném, thế là có soong canh đạm bạc cho gia đình qua bữa. Soong canh đó, nhiều khi gặp mùa màng thất bát, thiếu gạo, không ăn kèm với cơm mà với bắp rang. Ăn bắp rang dễ no bụng, bắp rang khô hút nước nhiều, ăn vào, khát nước bắt uống. Nhờ nước vào mà bụng cảm thấy no, đỡ cồn cào.

Sau Tết ra giêng cũng là mùa ngư dân đánh bắt “con khuếc” - sinh vật biển nhỏ như con tép, dùng làm ruốc. Bây giờ, có lẽ số lượng khuếc ở biển giảm do đánh bắt cạn kiệt hay con buôn đã thu mua để xuất khẩu, ở các chợ quanh khu vực quê tôi, khuếc bán không nhiều. Ngày xưa, chiều chiều, lợi dụng ngọn gió nồm thổi từ biển lên, các ghe thuyền từ Cửa Việt chở đầy khuếc tấp vào chợ Hôm – Lập Thạch; dân quanh vùng quang gánh rủ nhau đi mua, đem về làm ruốc dự trữ, ăn quanh năm.

                   
               Con khuếc (Ảnh mượn trên Internet)

Sẵn khuếc tươi, sẵn khoai tháng mười, dân quê tôi đã chế biến được những soong canh ngon. Canh khoai nấu với khuếc có vị ngọt, nhiều chất đạm, canh nóng ăn với rau sống gồm rau mưng trộn rau ngò, rau quế; “đã” lắm!

Làng tôi ngày ấy có 9 xóm. Dọc đường xóm, phía trong là vườn và nhà ở, phía ngoài là ao. Hai bên bờ ao, cây Mưng mọc đầy; vào mùa thay lá, lộc trồi lên với những búp màu đo đỏ; vào mùa ra hoa, những dây hoa dài thòng từ cành xuống, trông rất đẹp mắt. Trẻ nít kết lại thành vòng dây, đeo vào cổ, con gái giả làm cô dâu trong lễ cưới, con trai giả làm chiến sĩ thắng trận trở về.

   Cây Mưng, Cây Lộc Vừng, Cây lộc vừng giá rẻ                     
          Cây Mưng ra hoa (Ảnh mượn trên Internet)

Những lá non hay búp lá được hái về để làm rau sống. Loại rau sống này đúng là “rau sạch”, rau của thiên nhiên không nhiễm thuốc trừ sau, không nuôi bằng phân hóa học. Vị rau mưng đăng đắng chát chát hòa lẫn với vị ngon ngọt của canh khoai nấu khuếc, chen thêm vị cay cay, mùi thơm thơm của rau quế hay rau ngò. Trong những ngày Tết, bụng chất đầy đồ ngọt – kẹo bánh, đồ mỡ - thịt lợn, đồ bột – bánh tét, bánh chưng; giờ thay bằng món canh này, thật sảng khoái từ miệng đến bao tử, ruột non, ruột già!

                 
           Lá Mưng  (Ảnh mượn trên Internet)

Hiện nay, cây mưng quê tôi còn lại rất ít. Cách đây mấy năm, người người nhà nhà có thị hiếu trồng mưng, đặc biệt là những gia đình có chức có quyền có của ăn của để, những cơ quan nhà nước – nơi có quan to làm việc, những trụ sở doanh nghiệp ăn ra làm nên đua nhau tìm cây Mưng, mua, đào về trồng để trang hoàng. Từ cây bụi, cây bờ, Mưng trở thành cây cảnh, trồng, tỉa trong các chậu các bồn, ngày ngày có người chăm sóc. Mưng ít ai gọi là mưng nữa mà mang tên mới là lộc vừng.

Thế là rau mưng không còn. Đã là cây cảnh, ai cho phép và chấp nhận cho mình hái lá non.

Khoai tháng 10 không còn. Lúc mới thống nhất đất nước, đồng Cồn được Hợp Tác Xã Nông Nghiệp trồng rau để cung cấp rau xanh cho thị dân Đông Hà. Lúc tỉnh Quảng Trị tái lập tách từ tỉnh Bình Trị Thiên, Cồn lại bị Nhà Nước “thu hồi” xây dựng Nhà Máy Đông Lạnh chế biến hải sản. Hải sản không có, nhà cửa hoang phế, nay thấy cắm biển hiệu “Cơ Quan Quân Sự”. Khuếc cũng không còn. Chợ Hôm – Lập Thạch đóng cửa.

Lâu rồi, tôi không còn được thưởng thức canh khoai nấu khuếc ăn với rau mưng.

Mẹ - người từng chế biến cho tôi món ăn ấy thuở ấu thơ – đã mất vào những ngày cận Tết. Ngồi buồn, nhớ mẹ, viết mấy dòng chia xẻ với bạn đọc thân thương, xa gần.

Mong vơi bớt nỗi buồn, thế thôi!   
                                  
                                                                      Hoàng Đằng     
                                                               Mồng 6 Tết Giáp Ngọ



READ MORE - CÒN ĐÂU HƯƠNG VỊ XƯA! - Hoàng Đằng