Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, August 20, 2013

CHÙM THƠ VỀ THIÊN NHIÊN - Trường Hải

Trường Hải


NÚI

Mặt đất xưa vốn bình nguyên,
Trải cơn địa chấn núi liền mọc ra.
Núi non, núi trẻ, núi già…
Trong lòng mang quặng, lưng mà cõng cây.
Núi giăng thành lũy cao dày,
Đón người quả cảm vờn mây cổng Trời.
Trùng trùng, điệp điệp núi đồi,
Cho cây, hiến thú nuôi người quanh năm.
Hiên ngang, ngạo nghễ, âm thầm,
Núi dâng mật ngọt, hương trầm…người ơi!

Đỉnh Sơn, 9/5/2013


CÂY

Sinh ra nhờ đất, nhờ trời,
Nhờ gió, nhờ nước thành đời của cây.
Vạn loài phủ trái đất này,
Cho người tất cả đời cây sá gì!
Thanh cao, êm ái, từ bi,
Cây thì cho uống, cây thì cho ăn.
Chính cây là đấng ân nhân,
Giúp ngăn bão lũ, xả thân cứu người.
Một ngày nào hết cây rồi,
Cằn trơ sỏi đá, con người nhớ cây!

Đỉnh Sơn, 9/5/2013


LỬA

Sinh ra có lưỡi, có mào,
Thân hình rồng rắn, thấp cao khó lường.      
Loài người từ thuở hồng hoang,
Tìm lửa làm bạn xua tan lạnh lùng.
Quanh năm được người tin dùng,
Lửa vui hội trại, lửa mừng chiến công.
Đời tươi có ánh lửa hồng,
Văn minh nhân loại sáng bừng lửa hoa.
Muôn năm lửa bạn mọi nhà,
Cuộc đời càng đẹp thêm hoa : lửa lòng.

Đỉnh Sơn, 10/5/2013   

                          
MÂY

Tự do chẳng ai bằng mây,
Rong chơi thủng thỉnh cả ngày lẫn đêm.
Cùng gió lang thang khắp miền,
Khi vui giỡn nắng, khi phiền trút mưa.
Có mây trăng càng mộng mơ,
Khi mờ khi tỏ, thẩn thơ bên cầu.
Lắm hình thù, đủ sắc màu,
Gợi bao ý tưởng bắc cầu lên mây.
Ngàn năm mây vẫn còn bay,
Bởi chưa thỏa chí những ngày tự do.

Đỉnh Sơn, 7/5/2013


MƯA

Mưa là sứ giả của Trời,
Đem gieo ngọc thủy cho người đợi trông.
Bốn mừa xuân, hạ, thu, đông,
Về thăm hạ giới mưa không trễ tràng.
Gặp khi hạn hán, mưa vàng,
Đến mùa giông bão nước tràn lũ dâng                                             Mưa phùn là tiết sang xuân,
Phay phay mưa bụi cho tuần lộc hoa.
Mưa về cuộc sống chan hòa,
Trái đất xanh thắm, đậm đà nhờ mưa.

Đỉnh Sơn, 8/5/2013


GIÓ

Ngồi nhàn Trời phẩy quạt chơi,
Trần gian nổi gió rụng rơi lá ngàn.
Mùa hè hây hẩy nồm nam,
Mùa đông gió bấc, quanh năm gió mùa.
Gíá trời  không gió, không mưa,
Cóc kêu không thấu, chết khô mọi loài.
Mong trời ngày tháng ham vui,
Xua mây, thổi gió, để người hưởng mưa.
Trời sinh ra gió chẳng thừa,
Trẻ chơi chong chóng, già đưa thơ về.

Đỉnh Sơn, 8/5/2013


TRỜI

Cao xanh đến tận vô cùng,
Đa đoan bí ẩn, bạn cùng thế gian.
Buồn vui, sướng khổ, gian nan,
Người đời còn nước kêu van với Trời.
Trăng sao, sinh quyển, vòm trời,
Sấm sét, giông bão cho người trải gan.
Trời ở xa lại hóa gần,
Trời cao biết trước, người trần biết sau.
Dân gian truyền miệng có câu:
“Trời có mắt” để răn nhau, giữ mình.

Đỉnh Sơn, 6/5/2013


ĐẤT

Gần nhất khi người sinh ra,
Chạm chân vào đất, vẫn xa mịt mù.
Tầng tầng, lớp lớp âm u,
Tối tăm bí hiểm, nghìn thu kiếm tìm,
Với người, đất là bạn hiền,
Thảo thơm cởi dạ, nỗi niềm khắc ghi.
Hiền lành như đất ai bì,
Lũy thành cản giặc, đê thì ngăn sông.
Nghìn đời câu nói cha ông,
“Người là hoa đất” nối dòng dài lâu.

Đỉnh Sơn, 6/5/2013 


NƯỚC

Nước có mặt khắp mọi nơi,
Trên trời, trong đất, trong người, trong cây…
Nước là phù thủy cao tay,
Thiên biến vạn hóa, đổi thay sắc màu.
Làm nên biển cả, sông sâu,
Mưa rào mùa hạ, mưa ngâu thu về.
Cùng người, nước là bạn bè,
Khi thương phẳng lặng, gầm ghè giận sôi.
Ân tình nhiều lắm nước ơi,
Mưa lâu thấm đất, tình người lắng sâu.

Đỉnh Sơn, 7/5/2013

Trường Hải (Lê Văn Đông)
ledong6853@gmail.com
READ MORE - CHÙM THƠ VỀ THIÊN NHIÊN - Trường Hải

Monday, August 19, 2013

HỮU LOAN: CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN - Phan Tất


Hữu Loan
Còn mãi với thời gian                                                                                                         

Nhà thơ Hữu Loan (1916 - 2010) - tên thật là Nguyễn Hữu Loan, đồng niên với nhà thơ Xuân Diệu. Ông quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Hữu Loan từng học trường Đào Duy Từ (Thanh Hoá); đậu tú tài Tây ở Hà Nội (1938) cùng một khoá với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, học giỏi, đậu đạt sớm nên người dân ở quê thường gọi ông là “Cậu tú Loan”. Hữu Loan sớm đến với phong trào yêu nước từ Mặt trận bình dân 1936. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm phó ban khởi nghĩa ở Nga Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám ông là uỷ viên văn hoá trong Uỷ ban hành chính lâm thời của tỉnh Thanh Hoá, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Hữu Loan gia nhập quân đội; ông từng làm chính trị viên tiểu đoàn thuộc đại đoàn 304 và chủ bút tờ báo: “Chiến sỹ” ở miền Trung. Trong thời gian 1955 - 1957, ông làm việc ở Báo Văn nghệ Hội nhà văn VN. Hữu Loan tham gia phong trào Nhân văn –   Nhà thơ Hữu Loan (1916 – 2010) Giai phẩm cùng thời với Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán…                                                       
  
                                                      
Theo Hà Đình Cẩn: “Bước thăng trầm của Hữu Loan bắt đầu cuối năm 1957. Một đêm Hà Nội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sỹ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thiền Quang… Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai”. Đó là thời kỳ sau Nhân văn - Giai phẩm bị dập tắt, bạn bè cùng thời với Hữu Loan tan tác nhiều phương, đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra. Riêng ông, ông chỉ biết “Đổ lên đá, và bám đá để sống”. “Hữu Loan trở thành người thợ khai thác đá, đen như sừng, chân tay sần sẹo, tua tủa râu tóc rễ tre, đi đứng, nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá, cùng với người vợ tần tảo, nuôi 10 đứa con khôn lớn”.

Hữu Loan bám núi đá trên mười năm. Trong mười năm ấy, ông đã thực hiện tiếp điều mình luôn tâm niệm: thờ chữ “Tâm”, sống để “bận việc làm người”. Một cuộc mưu sinh cương cường cùng với văn chương một thời bi hùng mà hào sảng, Hữu Loan đã tạc nên tượng của chính mình.

Sự nghiệp văn chương của Hữu Loan gắn liền với một thời chiến tranh vệ Quốc hào hùng của dân tộc. Với những cảm xúc to lớn, đầy phong vị sử thi, tình ca, ông viết không nhiều, chín năm kháng chiến chống Pháp với số lượng đưa ra chỉ mười bài (trong khoảng trên 40 bài ông đã viết), điển hình là hai bài thơ: Đèo Cả và Màu tím hoa sim, nhà thơ Hữu Loan đã ghi tên mình vào nền thơ ca thời đại. Hình ảnh của ông, vị thế của ông trong nền thơ ca kháng chiến đương đại là không thể phủ nhận.

Là người lính, mải miết hành trình theo cuộc kháng chiến, Hữu Loan hầu như không có sự đắn đo, lựa chọn hình thức thơ. Cuộc kháng chiến gian khó, thương đau mà sống động, kiêu hùng đã dội vào lòng ông, rồi tràn xuống trang viết, trào sôi mãnh liệt, hào sảng, kỳ vĩ, yêu thương mà thành: Đèo Cả - Một bài thơ điển hình trong thời đại thơ mới, thơ ca kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc.

… Núi cao ngất
mây trời Ai Lao
Sầu đại dương
dặm về heo hút
Đá bia mù sương…


Đèo Cả, bài thơ đầu tay của ông, dọc đường kháng chiến với tâm hồn tráng sỹ, đầy chất gian lao, máu lửa, chân thực mà hào hùng, cao cả: “Rau khe/ cơm vắt/ áo phai sa trường…/Gian nan lòng không nhạt/ căm thù trăm năm xa…”.

Hữu Loan viết Đèo Cả từ mùa Thu 1946, khi ông mới ngoài 30 tuổi. Rõ ràng cuộc kháng chiến lớn lao của dân tộc, lòng yêu thương đồng đội, đất nước vô hạn đã giúp cho Hữu Loan có được cảm xúc đặc biệt, thành bút pháp hiện thực tinh hoa điển hình cho thơ kháng chiến:

Chân đèo Nam
máu giặc
bao lần
nắng khô
Sau một lần thắng
những người lính Đèo Cả
về bên suối
đánh cờ
người hái cam rừng
ăn nheo mắt
người vá áo
thiếu kim mài sắt
người đập mảnh chai
vênh cằm
cạo râu…

“Đèo cả” đăng trên báo “Chiến sỹ” của Quân khu IV in tại Vinh, Nghệ An, số 8 năm 1947 với bút danh là Hữu, được bộ đội, công chúng đón đọc nồng nhiệt, rồi thành tiếng vang lớn. Bài thơ có bút pháp khúc triết, mạnh mẽ, trong sáng đạt đến phong vị tinh hoa cổ điển của thơ Đường. Trên Văn nghệ Việt Bắc số 7 tháng 12/1948, Xuân Diệu viết:

“Tôi yêu, tôi phục bài thơ hoang vu Đèo Cả. Một Đỗ Phủ của thời đại mới đã gọi cái đèo chênh vênh ấy, đứng trong Đất nước ta, giữa Phú Yên và Khánh Hoà, mà hoá thành heo hút quá, vì bên này là ta, bên kia là giặc. Từ Bắc bộ đi suốt vào Đèo Cả, lên đèo, thấy bên kia giặc rắc tai ương!... Đèo Cả thành biên thuỳ, đứng trên đầu bể thẳm, đụng tới mây cao. Đèo Cả treo giữa biên thuỳ mà cái đẹp trầm hùng ngang với lòng chiến sỹ”.

Từ một “cậu tú” đi dạy học, làm gia sư rồi theo kháng chiến, đánh giặc, làm báo, làm thơ, Hữu Loan đã thực sự chiếm được trái tim yêu thương của cô học trò cũ của ông, người xứ Thanh mới 17 tuổi - Lê Đỗ Thị Ninh là con gái của ông bà Tham Kỳ - một gia đình danh giá. Ông Lê Đỗ Kỳ từng làm Tổng thanh tra canh nông Đông Dương, là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của Nước ta.

Ngày 06/2/1948 đám cưới của Hữu Loan và Lê Đỗ Thị Ninh được tổ chức như ông viết: “Tôi ở đơn vị về/ cưới nhau xong/ là đi…”. Thật đau đớn, chỉ hơn ba tháng sau, người vợ trẻ của Hữu Loan bị chết đuối! Lúc này Hữu Loan đang ở Ban Tuyên huấn của đại đoàn 304. Một thời gian dài, Hữu Loan hụt hẫng, đau khổ tột cùng và ông đã khóc người vợ trẻ quá cố bằng bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đã ghi lại cuộc tình duyên có thực, đẹp như mộng bị tan vỡ. Một thực tế đau thương bị nén chặt xuống đáy lòng nhiều ngày, rồi bật nấc lên thành tiếng tơ lòng làm người đọc xúc động, bi xót đến rơi lệ.

Đã có rất nhiều ý kiến bình luận về Màu tím hoa sim: Buộc tội, khen, chê… nhưng có một điều mà phần lớn tri thức, học giả, người đọc đều phải thừa nhận: đây là bài thơ tình nổi tiếng một thời, toả sáng thi ca Việt Nam, góp một phần tạo nên dấu ấn thời đại, hình tượng Hữu Loan trong lòng độc giả.

Đó là - Nỗi đau chiến chinh, chia ly, tang tóc:

Lấy chồng thời chiến chinh
mấy người đi trở lại…

Tôi về
không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh…

Chiều hành quân
qua những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt…

Đó là - Sự thấm đẫm nguyện ước, hy sinh, tình yêu trong trắng, cao đẹp của tuổi trẻ:

Tôi người vệ Quốc quân
xa gia đình
yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
nàng không may áo cưới
tôi mặc đồ quân nhân
đi dày đinh
bết bùn đất hành quân.
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
cưới nhau xong là đi… 

Và - Đọc thơ, là thấy hình, thấy nhạc, sự sáng tạo của bút pháp trữ tình kể chuyện:

Những nốt nhạc của cuộc đời thấm dội vào lòng ta, thành bản tình ca bi hùng mà thánh thiện. Chính vì giàu chất thơ, chất nhạc mà Màu tím hoa sim đã được nhiều nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy, Dũng Chinh, Duy Khánh… phổ nhạc. Các ca khúc trở thành những bản tình ca sâu lắng, được phổ biến rộng rãi, nhất là ở miền Nam thời kỳ chống Mỹ. Theo Nguyễn Trọng Tạo: “Hữu Loan là nhà thơ cách mạng, ông vừa làm cán bộ cách mạng vừa làm cách mạng thơ. Bài Màu tím hoa sim mở ra những bài thơ nổi tiếng khác như Núi Đôi của Vũ Cao, Quê hương của Giang Nam…”.

Sau này, Màu tím hoa sim đã được Công ty cổ phần công nghệ Việt (Vitek VTB) xin tác giả mua bản quyền với giá 100 triệu; thời điểm đó là năm 2004, đời sống còn nhiều khó khăn. Đây là món quà làm vơi bớt những đắng cay, oan trái từ tác phẩm mà Hữu Loan đã phải trả.

Cùng cuộc hành trình chín năm kháng chiến chống Pháp, sau Đèo Cả, Màu tím hoa sim, thơ Hữu Loan vẫn nặng tình làng bản, quê hương ruột thịt: “Đôi làng/ như làng quê/ người mẹ già/ như mẹ…”. Là nỗi nhớ thương của gái làng, trai lính trong Những làng đi qua. Rồi đến Hoa lúa có cái gì đó quen thuộc, gần gũi, thân thương như ca dao: “Đôi mắt em mang/ chân trời quê cũ/ giếng ngọt cây đa/ anh khát tình làng quê/ trong mắt em/ thăm thẳm…”.

Vẫn với tính cách hoàn toàn riêng biệt, đầy sinh lực và sáng tạo, gồ gề, thang bậc như cuộc đời của ông, cùng với thế hệ Văn nghệ sỹ kháng chiến chống Pháp như: Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Chính Hữu, Vũ Cao, Trần Hữu Thung… Hữu Loan đã có những đóng góp xứng đáng cho nền thi ca kháng chiến Việt Nam, và ông sẽ còn mãi với thời gian.

Hữu Loan mất ngày 18/03/2010. Với cuộc đời “Tuổi gần thế kỷ ”, ông đã sống một cuộc sống sôi nổi, cao đẹp, khói lửa, trầm luân…“Ông ra đi thanh thản, nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá giữa bà con xóm giềng. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời, mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh, hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một Nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi Thi nhân chở đá xây Đời…” - (.Điếu văn tiễn biệt Nhà thơ Hữu Loan của Hữu Thỉnh - Chủ tịch hội nhà văn Việt Nam).

Phan Tất
90, Võ Thị Sáu - TP. Vinh - Nghệ An.
Tel: 0912387344
phantat@yahoo.com.vn

READ MORE - HỮU LOAN: CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN - Phan Tất

Thơ giao lưu của người cao tuổi: TÂM SỰ TUỔI GIÀ - Tâm Hương (Hồ Thanh Danh) và thi hữu

Tâm Hương (Hồ Thanh Danh)



Kính gởi:
Quý thầy
Quý Đồng Nghiệp, Đồng Môn
Quý Thi Huynh, Thi Hữu, cùng bạn bè xa gần

TÂM HƯƠNG
Tên thật: Hồ Thanh Danh.
Quê quán: Quế Sơn, Quảng Nam.
Địa chỉ: Kim Long, Châu Đức, Bà Rịa, Vũng Tàu.
Tuổi đời: Còn 2 bước vịn cửa bát tuần.
Nghề nghiệp: Trước 1975: Nhà Giáo
Sau 1975: “mất dạy”.
Sự nghiệp:   Lúc chào đời hai bàn tay trắng.
Sắp lìa đời trắng hai bàn tay.
Số điện thoại:  0984748978
Email:    danhho2002@yahoo.com
(Từ năm 2007 đến 2013 vào bệnh viên 5 lần nhận án mổ xẻ)

Nay, có bài thơ kính gởi  đến quý vị - ai có nhã hứng xin họa cho mấy vần – Chân thành cảm ơn  (vui lòng chuyển đến bạn bè)

Thư họa gởi về: danhho2002@yahoo.com


TÂM SỰ TUỔI GIÀ

Nằm viện lâu ngày trí rổng không
Về nhà khắc khoải mãi trong lòng
Mượn dòng tâm bút trao niềm nhớ
Trải tấm chân tình ấm nỗi mong
Dẫu biết cuộc đời là huyễn hoặc
Dù cho kiếp sống có long đong
Vẫn còn nhân nghĩa cùng bè bạn
Cho cõi đời thêm chút nắng hồng.
                            Mạnh Thu, Quý Tỵ.
                            14-08-2013
                            TÂM HƯƠNG

Các bài họa:

Bài họa 1:
AN PHẬN TUỔI GIÀ

Đại bàng tung cánh, giữa tầng không!
Lộng gió sương ra chẳng bận lòng
Thi hữu ba miền luôn gắn bó
Bạn bè tứ xứ mãi chờ mong
Mang thân cát bụi đừng lo nghĩ
Vướng nghiệp đường trần chớ đếm đong
Trăm tuổi vẫn còn ba chục tết
Giữ gìn thanh mảnh - sánh hoa hồng!
                          Trương Văn Lũy
                          Bình Thuận


Bài họa 2:
DƯỠNG TÂM GIÀ

Nay đến tuổi già ngẫm Tánh Không.
Chân như vạn hữu sáng nằm lòng
Cậy nguồn Pháp lạc nuôi Tâm cảm
Thấu lẽ đạo mầu toại ý mong
Chẳng lụy tình trường đang đắm mộng
Nào b uông nhận thức lúc cân đong
Nhân tình thế thái dù hư huyễn
Bầu bạn hòa chan nghĩa thắm hồng (nồng)
                                Hồ Trọng Trí
                                Kim Long, BRVT


Bài họa 3:
VUI HƯỞNG TUỔI GIÀ

Chẳng chấp có và - chẳng chấp không
Sống sao thoải mái nhẹ tơ lòng
Ra vườn hóng gió - nghe chim hót
Lên mạng đưa thơ- ngại khách mong
Thiện hữu viêng thăm - nào tính toán
Thi đàn xướng họa - chẳng lường đong
Tâm bình trí tịnh thong dong dạo
Phước lạc đơn sơ rạng ánh hồng
                                    Hồ trọng Trí


Bài họa 4:
CHIA SẺ TUỔI GIÀ

Giữa cõi vô thường sắc kế không
Tuổi già ý xả thảnh thơi lòng
Khi tâm được định an nhàn hưởng
Lúc trí luận thiền thanh thoát mong
Gieo ác, oan vào - vất vả tính
Thí ân, phúc đến - nhẹ nhàng đong
Tùng duyên sanh diệt là quy luật
Phước tụ nhà đơm vạn đóa hồng.
                                Ca, USA, Aug,17, 2013
                                Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


Bài họa 5:
THĂM  HỎI

Xuất viện - về nhà có khỏe không ?
Chưa lên thăm viếng thẹn cho lòng !
Dẫu rằng mình bác từng trông đợi
Đâu biết có người đang nhớ mong ?
Thuở ấy yêu thương không thể đếm
Bây giờ tình nghĩa lấy gì đong ?
Vui lên để xóa tan sầu muộn
Cùng với nàng thơ dệt mộng hồng !
                                Nguyễn Thanh Bá

Bài họa 6:
MƠ  ƯỚC

Người về phương ấy có vui không ?
Ta giữa vườn quê quạnh quẻ lòng
Chiều ngóng trời xa thương với nhớ
Đêm ôm gối chiếc đợi và mong
Ngày trôi chậm rãi mòn tay đếm
Buồn đến dài lâu ủ mộng đong
Mơ ước mai sau giờ hội ngộ
Đường xưa sóng bước nắng xuân hồng !
                                     Nguyễn Thanh Bá


Bài họa 7:
THẦN DƯỢC

Say nắng nên chi bệnh phải không!
Nghe anh nằm viện chẵng yên lòng
Vườn thơ Bà Rịa trăm thương đợi
Nhóm bút Đà Thành vạn nhớ mong
"Lực bất tòng tâm" khôn đến tận
"Váng mình sốt mẩy" khó đo đong
"Đồng hương" chén thuốc tiên mầu nhiệm
Chưa uống mà da đã thắm hồng.

                                   THANH TÙNG
                                   Đà Nẵng



READ MORE - Thơ giao lưu của người cao tuổi: TÂM SỰ TUỔI GIÀ - Tâm Hương (Hồ Thanh Danh) và thi hữu

NGƯỜI DƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu



NGƯỜI DƯNG

Tôi có quán cà phê
Nên mổi sáng thường ra ngồi trước cửa
Vừa trông khách vừa dắt xe
Cho vợ tôi dư ra vài buổi chợ.
Sáng hôm nay như mọi ngày
Tôi bày bàn, bày ghế
Rồi căng dù che nắng, che mưa.
Tôi mang tờ báo cũ ra trước sân ngồi đọc.
Những người bán hàng rong, những người chào vé số
Già trẻ gái trai, kể cả tật nguyền
Kéo về đây mỗi ngày như cơm bữa
Ngước mắt nhìn tôi như đã từng thân.
Tôi phớt tỉnh như chưa hề nhìn thấy
Tôi phớt tỉnh nhiều lần tôi đứng dậy
Mời họ đi theo đúng nghĩa người dưng.
Duy người đàn ông chỉ có một chân
Ôm đôi nạng gõ từng bước nặng.
Tôi ngước nhìn lên. 
Không thể nào tin nỗi
Người bạn tôi năm nào thuở tuổi hai mươi
Bất ngờ gặp nhau anh bối rối mĩm cười
Đôi tay run vuốt từng tờ vé số
Tôi kéo ghế mời anh ngồi
Rót cho anh ly trà, đốt cho anh điếu thuốc
Rồi bần thần nghĩ đến ngày xưa ...
Những ngày xưa ….
Tôi hồi tưởng những điều tôi còn  nhớ!
Anh với tôi cùng chung đơn vị
Trận đánh nào cũng bỏ chút thịt da
Trong một đêm giặc càn
Bom dày, đạn xéo
Đôi chân tôi máu chảy dầm dề
Anh vác tôi băng qua làn đạn lửa …
Đưa tôi về tuyến sau …
Bao nhiêu năm sau ngày giải phóng
Lặn lội tìm anh trên mỗi chiến trường
Có tìm hỏi từng đồng đội cũ
Nhưng họ đều lắc đầu dửng dưng
Bởi họ biết tôi chỉ hoài công…
Ngày xuất ngủ.
Có lẽ tôi may mắn hơn anh
Cưới được người vợ xinh gia đình khá giả
Tôi có tiền Việt kiều của cả cùng hai họ
Nên cuộc đời cũng bớt nổi lo toan.
Uống xong ly nước trà
Chưa kịp nói gì, anh chào tôi đi
Trong đôi mắt ngân ngấn từng giot nước
Tôi giữ lại biết là không được.
Những đứa con anh ở nhà
Đang cần vài ký gạo
Và dăm ba hộp sửa
Một ít thuốc men, đôi phút dỗ dành
Bửa cơm chiều không phải chỉ rau xanh
Tôi chợt nhận ra mình mới đúng nghĩa người dưng.
                                                                                

MẶT TRỜI NGỦ YÊN

Em đi về phía xa xôi
Anh đi về phía mặt trời ngủ yên
Đất màu dẫu đất không tên
Phồn hoa vẫn cứ chông chênh nỗi buồn
Em đi thả mộng bên trời
Để anh mặc niệm những lời héo hon
Tình sầu như mảnh trăng non
Bỗng dưng hụt hẫng thấm hồn anh đau
Giật mình một giấc chiêm bao
Trái tim lỡ vận ngọt ngào vẫn yêu
Em đi về phía không chiều
Để anh ôm trái đìu hiu tội tình
Lời nhàu nát cả câu kinh
Gởi cho em chút tình này sẻ chia
Phố buồn rắc hạt sương khuya
Sớm mai trở giấc rộ tia nắng hồng
Mai này gội nắng đầu sông
Nhớ em khua áo trên dòng nước xuôi
Chở che một chút ngậm ngùi
Để trăm năm cũ còn trôi bóng người
                                                        

NHỮNG PHONG THƯ XANH 

Có lẽ hôm nay
Các anh các chị
Đang ngồi bên nhau với những bản tin ngày
Những bản tin đến từ những đất nước xa xôi
Đến từ nhừng ốc đảo hoang vu,những núi rừng sâu thẳm
Và các anh các chị
Chắc đang soạn những phong thư gần nhất
Hoặc những phong thư xa cần một chuyến bay dài
Những kiện hàng mới đến được trao tay
Hoặc chưa đến vẫn còn nằm phía trước
Những Bưu phẩm chờ đi
Những phong thư chờ đến
Các anh vẫn âm thầm chuyển gửi những phong thư
Ngành bưu chính hôm nay đã khác những ngày xưa
Thời chúng tôi vượt hai đầu tổ quốc
Những phong thư được giấu trong mo cơm, phích nước
Trong búi tóc người đàn bà nửa tỉnh nửa điên
Trong chiếc bánh chưng xanh, trong gấu áo người giao liên
Hoặc trong cạp quần của những em liên lạc
Phong thư vượt Trường Sơn trong những năm ác liệt
Để đến được cho chồng, cho chị, cho anh
Để đến được ngục tù nơi có những người con
Đang ngày tháng chờ phong thư của mẹ
Đang chờ đợi phong thư của người yêu nơi đầu non cuối bể
Hoặc một gói quà em gái nhỏ phương xa
Có những con người thân phải xẻ làm ba
Để dấu đút những tờ thư trọng tội
Những tin khẩn đưa đi
Chỉ đôi khi lầm lỗi
Bao tai ương đổ xuống đất quê mình
Kim Đồng xưa khi sống vẫn đinh ninh
Mười ba tuổi đã làm nên đất nước
Một vết son không thể nào phai được
Trong núm ruột đồng bào năm tháng chở che
Hôm nay tôi đến chổ các anh, các chị
Để gửi ít tiền cho thằng con còn đang đi học
Để gửi một gói quà được cóp nhặt từ những năm khó nhọc
Rất ít oi nhưng thấm đẩm tấm lòng
Các anh tiếp chúng tôi
Bằng khuôn mặt của vầng trăng mười sáu
Bằng nụ cười của những kẻ đang yêu
Người bạn đứng bên tôi
Anh không nói gì nhiều
Gật đầu cảm ơn cho những lần hạnh phúc
Những phong thư xanh được đưa đến từ ba miền tổ quốc
Đến từ những con người ôm khát vọng giao liên.
                                      
                                   


CHIỀU QUA BIÊN GIỚI TÂY NINH

Trăng lồng biên giới chiều nay
Bỗng nghe thèm khát một ngày bình yên
Thung xa phố đã lên đèn
Sông Vàm Cỏ cứ say men bốn mùa
Chập chờn mấy cánh hoa mua
Hoa Cau rụng trắng bãi bờ tịch liêu
Ta đi buổi đó nương chiều
Nhìn qua đất bạn liêu xiêu cuối ngày
Bên này vẫn cứ hương bay
Suối reo như riếng chim bầy kêu xa
Đất này là đất Hoàng Hoa
Đi đâu cũng chạnh … quê nhà vẫn hơn.
Dẫu xưa trăng có tủi hờn
Trên vùng đất đã đơm hương mỗi ngày
Xạc xào mấy cánh chuồn bay
Chao đi về phía không ngày để yêu
Ta về em cũng về theo
Trên vai một mớ bọt bèo cố hương
Ruổi rong qua mấy dặm đường
Tây Ninh vẫn ngát mùi hương đất mềm



PHAN MINH CHÂU
xua_roidiem@yahoo.com
READ MORE - NGƯỜI DƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu

ĐƯỜNG KHUYA - thơ Ngưng Thu



Đường khuya cơn gió ngập ngừng
Lắng nghe trong phố buớc chân ai về
Mẹ già khua tiếng chổi tre
Cõng theo năm tháng mà che nỗi buồn

Nuôi con đại học mấy mùa
Đêm đêm mẹ quét gió lùa tiếng khan
Trăng treo đỉnh phố mơ màng
Con êm giấc ngủ, mẹ vàng ước mơ

Con ơi! ngoan nhé mẹ chờ
Mai con khôn lớn vần thơ dâng đời
Nụ giêng chớm nở rạng ngời
Vẫn đêm xào xạc chân người phố quen

Chạnh lòng hàng quán lên men
Lòng đêm cũng hiểu nỗi niềm mẹ quê
Thềm xuân ngân khúc người về
Ví dầu người ở câu thề gió bay

Thu đơn trăng cũng hao gầy
Thân đơn mẹ chống mẹ chầy nuôi con
Hàng me xao xác lối mòn
Thương đời, thương nỗi cô đơn mẹ hiền

Yêu con quên hết ưu phiền
Bao giờ cho cạn nỗi niềm … mẹ tôi

NGƯNG THU


READ MORE - ĐƯỜNG KHUYA - thơ Ngưng Thu