Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 4, 2026

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Ai bảo mất nhau / Bến trăng hiu / Còn gì cho em

 


AI BẢO MẤT NHAU


Ai bỏ trầu cau ước hẹn rồi

Em nào trói được với duyên tôi

Thơ ngây em xuống thuyền duyên kiếp

Có lẽ nay đành giã biệt thôi

Mười tám em về vui bên ấy

Bỏ lại dòng sông chuyện lứa đôi

Em ơi chớ có chui vào mộng

Kẻo khổ tình anh lớn mãi rồi

Một ngày không gặp muôn ngày nhớ

Trọn kiếp chia ly mấy nẻo sầu

Anh về vá lại con tim vỡ

Đáy hồn ai bảo mất nhau đâu.

                        6/3/1985

               Duy Toàn Chợ Chùa


 

BẾN TRĂNG HIU


Bến xưa từ dạo em đi

Đò ngang chẳng biết chở gì sang sông

Đêm xuân lòng xót xa lòng

Đang vui cách trở, đang nồng biệt ly

Ưu phiền sớm đậu viền mi

Trắng phau niềm nhớ xanh rì nỗi thương

Để trăng hiu quạnh đêm trường

Hai đầu khuyết vạch một đường bơ vơ.

     Xuân 1985

Lưu Lãng Khách


 

 

CÒN GÌ CHO EM


Rằng anh từ độ xa nhau

Héo hon xuân sắc hư hao xác hồn

Tỉnh say mộng thực tréo tròng

Còn ra sao một tấm lòng cho em

Tài hoa nét bút ngọt mềm

Tặng em ngày ấy bên thềm tơ duyên

Bây giờ chữ ngả  chữ nghiêng

Chữ say chữ tỉnh lòng điên đảo lòng

Giờ tĩnh tại, phút thong dong

Trao mây gửi gió còn mong nỗi gì

Còn chăng một khối tình si

Một hồn cổ kính xanh rì cỏ hoang

Còn chăng ngày ấy lụi tàn

Băn khoăn lối gió bẽ bàng nẻo trăng

Ai sám hối? Ai ăn năn!

Cho ta tiếng mõ tự răn lấy mình

Chắc em giờ vẫn xinh xinh

Thanh tao tựa chốn cung đình quý nương

Chắc còn chút mộng văn chương

Chút hồn nữ sĩ, chút vương vấn lòng

Xuân về ngào ngạt gió mong

Thắm nồng nắng nhớ, ửng hồng mây yêu

Chiều nay dường khác mọi chiều

Nghe lòng dâng ngập sóng triều…biển xưa!


Mùa xuân 1985

Lưu Lãng Khách

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Ai bảo mất nhau / Bến trăng hiu / Còn gì cho em

THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn

  



Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy 

văn học đương đại Quảng Trị


Nhà thơ Lê Đàn

Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị

 

        Văn học đương đại Việt Nam là một không gian sáng tạo giàu bản sắc, xuất hiện mạnh mẽ từ những biến động lịch sử sau năm 1975, tiếp nối giai đoạn đổi mới từ thập niên 1980 và phát triển đa dạng cho đến ngày nay. Đặc trưng của thơ ca đương đại là sự hòa nhập giữa cá nhân và tập thể, giữa ký ức và hiện thực, giữa truyền thống và văn hóa bản địa, và cả những hơi thở chung của thời đại mới. Trong dòng chảy ấy, nhiều giọng thơ của các vùng miền đã khẳng định được vị trí riêng, đóng góp cho bức tranh chung của thơ ca Việt Nam đương đại thêm phong phú, trong đó có Nhà thơ Nguyễn Văn Trình, sinh ra và trưởng thành nơi miền quê Quảng Trị khói lửa mà giàu truyền thống cách mạng và thơ ca. Tính đến nay, Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xuất bản được bốn tập thơ in riêng:“Mây trắng bên trời” – NXB Thuận Hóa, Năm 2011; “Nắng chiêm bao” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2019; “Bóng chiều rơi” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2022; và “Thôi đành rong rêu”, NXB Thuận Hóa, Năm 2024. Bên cạnh đó, anh còn có rất nhiều bài thơ in chung trong các tuyển tập văn học địa phương, của Trường Đại học Sư phạm Huế, có gần hàng trăm bài thơ đăng trên các trang web, các báo, tạp chí của địa phương và trung ương.


Nhà thơ Nguyễn Văn Trình và nhà thơ Lê Đàn



       Thơ Nguyễn Văn Trình là một trong những giọng thơ tiêu biểu của thơ ca miền trung – Quảng Trị với cảm thức sâu sắc về quê hương đất nước, về đời sống con người Quảng Trị vùng đất gắn liền với lịch sử chiến tranh, khát vọng hòa bình và cả những nỗi đợi chờ của người miền trung, nơi sở hữu một truyền thống thơ ca sôi động và có sức lan tỏa rộng rãi. Nhiều nhà thơ sinh ra và lớn lên ở nơi đây đã dệt nên bức tranh thơ ca mang đậm bản sắc quê hương, trong đó có nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhận của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, từ mảnh đất này - mảnh đất của thi ca và lịch sử.

     Cội nguồn cảm hứng trong thơ Nguyễn Văn Trình là quê hương, là ký ức và thiên nhiên miền Trung Quảng Trị. Sinh sống và sáng tác chủ yếu ở quê hương, nên tâm hồn nhà thơ Nguyễn Văn Trình luôn thấm đượm tình quê hương sâu nặng, gắn bó với từng cảnh vật mộc mạc như: dòng sông, bờ tre, giếng nước và tuổi thơ nơi làng quê chân chất. Đó cũng là một mảng đề tài lớn trong thơ Nguyễn Văn Trình. Quê hương không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là ký ức, là “nơi trú ngụ” cho cảm xúc và tư tưởng thơ ca, tiêu biểu cho mảng thơ này có một số bài thơ như: “Thẫn thờ chốn quê, Chiều trên sông quê, Hồn quê, Thương hoài giếng quê, Mãi bờ tre xanh...” đã chuyển tải chân thực và tha thiết tình yêu quê hương qua những gam màu ngôn từ giản dị, mộc mạc, mà giàu cảm xúc, giàu nhạc điệu. Trong bài: “Chiều trên sông quê”, nhà thơ viết: “Vãn chiều ghé bến sông quê / Ngắm con đò nhỏ xuôi về cuối sông / Mênh mông năm tháng ngái trông / Nô đùa lũ trẻ dưới sông trưa hè...” Những hình ảnh bình dị như: “Con đò, dòng sông, lũ trẻ nô đùa”...đã gợi lên bức tranh miền quê thanh bình, giàu âm thanh màu sắc thiên nhiên và ẩn chứa trong đó là nỗi niềm man mác, hoài cổ. Đây là điểm khác biệt của thơ Nguyễn Văn Trình so với một số xu hướng thơ đô thị đương thời. Nguyễn Văn Trình hướng về những giá trị bình dị nhất của đời sống nông thôn, để từ đó đi đến sự chiêm nghiệm sâu sắc về ký ức và sự tồn tại của con người.

     Ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Văn Trình hiện đại mà vẫn giữ được sự gần gũi, phong cách thơ của ông cũng vậy, không rập khuôn máy móc theo chuẩn mực cổ điển, hay thậm chí không lặp lại các thủ pháp nghệ thuật phức tạp, rối rắm, khó cảm nhận của một số xu hướng thơ đương thời. Thơ Nguyễn Văn Trình sử dụng ngôn ngữ giàu tính sáng tạo linh hoạt, bình dị mộc mạc dễ cảm, nhưng giàu hình ảnh gợi liên tưởng sâu sắc, nhịp điệu thơ đầy biến hóa nhẹ nhàng nên khiến lời thơ vang vọng như giai điệu thân thuộc của đời sống làng quê thường nhật của con người: “Vẳng nghe sông hát lời quê / Về đây tìm lại đam mê một thời...” (Chiều trên sông quê) cách nhà thơ kể chuyện bằng thơ không dừng lại ở việc mô tả, mà còn khai mở chiều sâu cảm xúc, dẫn dắt người đọc bước vào thế giới nội tâm đầy hoài niệm, suy tư về thời gian, thân phận con người. Nhờ vậy, thơ Nguyễn Văn Trình vừa biểu đạt được cảm thức cá nhân, vừa phản ánh được những biểu hiện chung của cộng đồng miền Trung sau chiến tranh, cả trong thời bình xây dựng và hội nhập.

     Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy văn học đương đại là tiếng nói của Quảng Trị, góp phần “bản địa hóa” thơ ca đương đại. Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, vẫn tồn tại sự phân biệt khá rõ giữa văn học vùng miền với những thế mạnh riêng. Chẳng hạn như thơ đô thị thường tập trung vào những trải nghiệm hiện tại, bản ngã cá nhân, thơ miền núi và các vùng nông thôn đồng bằng bắc bộ tập trung vào những biến động, sự thay đổi nội tại của các vùng quê, còn thơ miền Trung – Quảng Trị thường gắn với lịch sử chiến tranh khốc liệt, nỗi nhớ quê nhà và nỗi trăn trở về cuộc sống... Trong bối cảnh chung ấy, thơ Nguyễn Văn Trình là một tiếng nói đại diện cho văn học đương đại Quảng Trị. Đồng thời góp phần làm phong phú thêm “bản sắc vùng miền” trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam. Không chỉ đơn thuần là thơ trữ tình, thi phẩm của Nguyễn Văn Trình còn như một bản nhật ký bằng thơ ghi chép lại nhịp sống và giá trị tinh thần thiêng liêng của cả cộng đồng. Điều này đặt Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy tiếp nối những nhà thơ vừa chân chất, mộc mạc vừa hiện đại, mới mẻ, sử dụng thơ ca như tiếng nói gắn liền với đời sống thôn quê, song vẫn mang hơi thở đương đại hội nhập, sâu sắc. Bài thơ: “Phiên chợ ngày cuối năm” là một minh chứng: “Phiên chợ ngày cuối năm vội vã / Xôn xao người bán người mua / Náo nức người đi chợ tết / Mẹ già lụm đụm tay xách nách mang / Thương con thương cháu / Sắm sửa đủ đầy, đợi tết đoàn viên / Ông già đeo đôi mục kỉnh / Nheo nheo nhìn ngắm cành đào / Ước ao có cành cắm tết / ... / Mấy đứa trẻ lon ton theo mẹ / Mong sao có được mang về, món quà đồ chơi bằng nhựa / Tay kiếm cung, múa cùng những đứa bạn xóm giềng / Bày trò trận giả...”

     Thơ Nguyễn Văn Trình còn là tiếng nói giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, địa phương và toàn quốc. Thơ đương đại Việt Nam không chỉ có thơ viết về đô thị, mà còn cần có những giọng điệu thơ, như thơ của Nguyễn Văn Trình để cân bằng bức tranh thơ ca. Âm hưởng miền quê, tần số cảm xúc đời thường, sự giản dị mà sâu sắc trong phong cách thơ của Nguyễn Văn Trình vừa tiếp nối truyền thống văn học dân gian Việt Nam - vốn gần gũi với nhạc điệu ca dao, vừa đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ đa dạng của độc giả hiện đại, vừa thể hiện sự tìm tòi về cội nguồn, về ký ức và về tình yêu quê hương đất nước trong thời đại mới. Bài thơ: “Hồn quê” của Nguyễn Văn Trình là một trong những bài thơ tiêu biểu nói về tình yêu quê hương, làng nước sâu sắc: “Chiều quê gió thổi vi vu / Cánh diều bay bổng đưa ru ngọn nồm / Chòm mây tím nhẹ chiều hôm / Đường làng cốm mới hoàng hôn chớm hè / Bước chân dạo dưới hàng tre / Mà nghe sâu lắng tiếng ve tự tình / Quê hương cảnh đẹp lung linh / Rộn ràng cảm xúc nặng tình trước sau...”

        Trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam, thơ Nguyễn Văn Trình không chỉ phản ánh quê hương, mà còn là sự đại diện cho cách tiếp cận thơ ca từ tâm hồn con người Quảng Trị vừa riêng biệt vừa có giá trị phổ quát. Điều này giúp thơ Nguyễn Văn Trình có được sự ghi nhận không chỉ ở những người yêu thơ và giới nghiên cứu phê bình văn học ở Quảng Trị, mà còn ở giới nghiên cứu phê bình văn học cả nước, nhằm góp phần vào dòng chảy phát triển sáng tạo không ngừng nghỉ của thơ ca Việt Nam đương đại.

         Có thể khẳng định rằng: nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xây dựng được cho mình một phong cách thơ ca riêng khác, đậm nét quê hương, đã góp phần làm phong phú thêm sắc màu của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và thơ ca cả nước nói chung. Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã kết hợp cảm xúc cá nhân với những giá trị chung của cộng đồng, đưa những trải nghiệm về mảnh đất và con người Quảng Trị - miền Trung vào thơ ca trong bối cảnh hiện đại, bình dị mà sâu sắc. Vị trí của thơ Nguyễn Văn Trình trong văn học đương đại Việt Nam không phải là sự “nổi loạn” về hình thức, cầu kỳ rối rắm về nội dung câu chữ, hay cố tạo sự khác biệt về bút pháp nghệ thuật như một số tác giả khác, mà nằm ở sự chân thành, gần gũi và giàu chiều sâu cảm xúc nội tâm và sự trải nghiện cá nhân của nhà thơ. Thơ Nguyễn Văn Trình đã tiếp nối và làm phong phú thêm những giá trị thơ ca truyền thống, khi tiếp xúc với đời sống hiện đại. Điều đó đã tạo nên một góc nhìn thơ ca riêng khác, giản dị, ấn tượng mà bất kỳ độc giả nào khi bước vào thế giới thơ của Nguyễn Văn Trình đều cảm nhận được sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình mà thơ ca đã mang lại.

 

     Viết tại phường Đông Hà, ngày 03 tháng 9 năm 2026

    Lê Đàn


 ---

Tác giả: Nhà thơ Lê Đàn

Phường Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị.

Email: ledan30353@gmail.com

READ MORE - THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn

TRƯỜNG CAO ĐẲNG VIỆT - ANH: GẦN 20 NĂM KIẾN TẠO MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐA NĂNG - Lê Thi


(Ảnh tác giả và CTHĐQT - Phan Huy Hoàng)

 


Trường Cao đẳng Việt – Anh: 

Gần 20 năm kiến tạo môi trường giáo dục đa năng

Lê Thi


Từ một cơ sở đào tạo trung cấp được hình thành năm 2007, Trường Cao đẳng Việt – Anh (Nghệ An) đã từng bước phát triển theo hướng đa ngành, chú trọng cơ sở vật chất, thực hành nghề nghiệp và xây dựng môi trường học tập toàn diện cho người học.

Tọa lạc tại trung tâm thành phố Vinh, nhà trường được đầu tư theo hướng khang trang, khoa học, tạo không gian thuận lợi cho học tập, thực hành và sinh hoạt. Các ngành đào tạo gồm Dược, Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật xét nghiệm y học cùng một số chương trình đào tạo nghề khác, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội.

Trong quá trình phát triển, Trường Cao đẳng Việt – Anh cũng mở rộng hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế, trong đó có đào tạo sinh viên Lào và tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa. Những hoạt động này góp phần tạo môi trường học tập cởi mở, giúp sinh viên có thêm cơ hội giao lưu và trải nghiệm. Dấu ấn từ một tầm nhìn dài hạn . Trong hành trình gần hai thập kỷ xây dựng nhà trường, dấu ấn của Nhà giáo, doanh nhân Phan Huy Hoàng – Chủ tịch Hội đồng quản trị được thể hiện rõ qua định hướng đầu tư và phát triển cơ sở giáo dục.

Từng có nhiều năm học tập và làm việc ở nước ngoài, ông Phan Huy Hoàng có điều kiện tiếp cận những mô hình giáo dục hiện đại. Từ đó, tư duy đầu tư dài hạn được đưa vào quá trình xây dựng nhà trường, trong đó cơ sở vật chất và môi trường học tập được xác định là những yếu tố quan trọng.

Ngay từ những ngày đầu còn nhiều khó khăn, nhà trường đã chú trọng đầu tư phòng học, khu thực hành, sân chơi, cảnh quan và các khu chức năng. Đặc biệt, giáo dục mầm non được quan tâm theo hướng tạo môi trường để trẻ học tập, vui chơi, rèn luyện thể chất và tiếp cận những phương pháp giáo dục hiện đại.

Quan điểm “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho các cháu” phần nào thể hiện triết lý giáo dục mà người đứng đầu nhà trường theo đuổi: đặt người học vào vị trí trung tâm và coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn Cùng với đào tạo chuyên môn, nhà trường đang mở rộng các hoạt động đào tạo kỹ năng nghề nghiệp. Việc đầu tư xây dựng trung tâm sát hạch lái xe, phát triển đội ngũ giáo viên và phương tiện phục vụ đào tạo là một trong những hướng đi mới, nhằm tăng cơ hội thực hành và tiếp cận nghề nghiệp cho người học.

Ở tuổi gần 70, ông Phan Huy Hoàng vẫn thường xuyên có mặt tại trường, đồng hành cùng cán bộ, giảng viên và sinh viên. Việc trực tiếp gặp gỡ, lắng nghe ý kiến của người học và đội ngũ nhà trường được xem là một phần trong cách điều hành hướng tới sự gần gũi, thực chất.

Từ một cơ sở đào tạo trung cấp năm 2007 đến một trường cao đẳng định hướng đa ngành hôm nay là hành trình gần 20 năm không ngừng đầu tư và đổi mới.

Trước thềm năm học mới, với cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện, đội ngũ sư phạm được chú trọng và định hướng đào tạo gắn với thực tiễn, Trường Cao đẳng Việt – Anh hướng tới trở thành điểm đến học tập, rèn luyện và trải nghiệm của học sinh, sinh viên từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Lê Thi

thivanle1569@gmail.com

READ MORE - TRƯỜNG CAO ĐẲNG VIỆT - ANH: GẦN 20 NĂM KIẾN TẠO MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐA NĂNG - Lê Thi

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Có một ngày xa ở Lương Sơn / Còn lại một chút tình / Anh biết có một điều không thể

Tác giả Lê Thanh Hùng


Có một ngày xa ở Lương Sơn

 

Trong thẳm sâu, ta có một Lương Sơn

Của ngày em, tuổi vừa tròn mười tám

Vạt nắng cuối ngày, ngượng ngùng ngưng cảm

Đậu trên eo thon, lấp láy lay vờn

 

Thuở dại khờ và tuổi mộng dung dăng

Những chuyến xe lam, trong chiều tan học

Sương khói mỏng, trôi ngang triền con dốc…

Ký ức xa xăm, để lại vết hằn

 

Bao nhiêu năm rồi, từ đó ta đi

Quên năm tháng, có một thời tuổi trẻ

Để bất chợt, lòng ngân rung nhè nhẹ

Nhìn trẻ đến trường, bận rộn mùa thi

 

Bao năm qua, ta còn lại những gì?

Sao đau đáu hoài mong điều không thể

Nắm lấy tay em, chiều trong như thế

Kể nỗi u hoài, năm tháng ta đi…

 

Biết bao điều đã để lại sau lưng

Vẫn sâu đậm một quãng đời ký ức

Với một nỗi buồn hồn nhiên rất thực

Để ngày về, thăm chốn cũ, bỗng dưng…

 

 

 

Còn lại một chút tình

 

Ngập ngừng nắng, gió lao xao

Ngày xanh, tóc rối, lẽ nào em quên?

Bãi xa, sóng vỗ mom gềnh

Chìm trôi hão vọng, lênh đênh bến đời

Dập dềnh sóng đổ ngàn khơi

Hình như phai nhạt những lời thề xưa

Chiều nào nắng, sáng nào mưa

Lang thang cơn gió lạc mùa qua đây

Lã lơi mờ tỏ dấu ngày

Còn không mộng tưởng đắm say nói cười

Ngày nào mười tám đôi mươi

Mà nay bạc tóc, gió đời lần quanh

Vẫn còn nguyên, mộng ngày xanh

Chút tình vun vỡ, để dành cho nhau

Dù cho năm tháng rũ nhàu

Quãng đời lận đận, nỗi đau yêu người…

 

Anh biết có một điều không thể

 

Anh vẫn biết, bây giờ xa xôi lắm

Thời gian nào, ươm giấc mộng hoàng hoa

Trời Phan Thiết, cơn mưa chiều thấm đẫm

Những buồn vui, trong ký ức nhạt nhòa

 

Chiếc cầu gỗ, dòng người xe tấp nập

Phố cổ trầm tư, những gốc me già

Mùa hoa nụ đương thì như e ấp

Ngượng nghịu, lưng chừng đồng vọng, thiết tha

 

Anh vẫn biết, ngày xưa mình vụng dại

Những khát khao vụn vặt đến lơ ngơ

Một lời hẹn, theo dòng đời trôi mãi

Muốn gặp nhau trong khoảng khắc bất ngờ…

 

Trời Phan Thiết không dưng mà khác lạ

Dù hoa vông đỏ thắm lối xưa quen

Còn nguyên đó, khu chợ chiều bến cá

Xa xăm nghe, con phố cổ lên đèn

 

Thôi em nhé, đừng ngồi đong nỗi nhớ

Cõi trăm năm, cứ vui vẻ đi về

Anh chợt nhớ, một lần ta gặp gỡ

Để một đời, vướng víu những đam mê…

 

          Lê Thanh Hùng

      Bắc Bình, Lâm Đồng

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Có một ngày xa ở Lương Sơn / Còn lại một chút tình / Anh biết có một điều không thể

PEACE / HÒA BÌNH - Thơ: Eva Lianou Petropoulou (Hy Lạp) - Bản tiếng Việt: Lan Anh Tran Thi



HÒA BÌNH


Hòa bình,

Chúng ta phải trả giá

bằng chính sinh mạng của mình,

Cho những quyết định

mà người khác đã đưa ra,

Bởi họ chỉ nhìn vào

những túi tiền của mình,

Mà không nhìn đến

sự an toàn của hành tinh này.

Tại sao chiến tranh lại xảy ra?

Vẫn luôn là một câu trả lời:

Không ai biết.

Hãy học cách đối thoại,

Hãy học cách sẻ chia,

Hãy học cách chấp nhận,

Hãy học cách tôn trọng.

Hòa bình,

Quá đỗi hiếm hoi

trên hành tinh này,

Kể từ khi

loài người xuất hiện.

Sự bình yên

từng là một đặc ân

dành cho số ít.

Hãy thấu hiểu,

Hãy lắng nghe,

Hãy biết im lặng.

Đó là những nguyên tắc

cho một tương lai tươi sáng.

Hy vọng,

Đêm nay sẽ không còn đứa trẻ nào

phải chìm vào giấc ngủ

mà thiếu vắng cha mẹ bên mình.

Hãy cầu nguyện,

Cho các Thiên thần

chở che

mọi mái nhà.


© Eva Lianou Petropoulou



PEACE


Peace,

We pay with our lives

Decision others they took

Because they are looking at their pockets

And not at the safety of the planet

Why is a war happening?

Always the same response

Nobody knows

Learn to talk

Learn to communicate

Learn to accept

Learn to respect

Peace,

So rare on this planet

Since the existence of the humans

Quiet was a privilege for few

Understand,

Listen

Be silent

Those are the rules for a bright future

Hope,

No children will sleep

Without his parents tonight

Pray,

For Angel's protection

To everyone's house


©Eva Petropoulou Eva Lianou Petropoulou



From: E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - PEACE / HÒA BÌNH - Thơ: Eva Lianou Petropoulou (Hy Lạp) - Bản tiếng Việt: Lan Anh Tran Thi

THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình


   

 
THU KHÚC
 
Rụng vào thu xưa chiếc lá
Neo hồn ta giữa đa mang
Heo may luồn kim se chỉ
Đong đưa một phiến thu vàng
 
Thầm gọi đôi lời quá vãng
Độc bình hoa tím đơn côi
Mênh mang nẻo về sương khói
Thơ xưa nét chữ nhòe rồi
 
Tri âm bạn đà đi vắng
Cầm lên xác bướm khô rơi
Người gần như xa quá đỗi
Thì thôi thu hát bên trời
 
Khẽ chuyến mây trôi bằng lặng
Vườn thu mắt cỏ đẫm sương
Lãng đãng lời chi chuông gió
Ngỡ em phía lối hoang đường...
 
 
MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG
 
Nắng mưa rát mặt cánh đồng
Cơm mùa giáp hạt đèo bòng sắn khoai
Nhọc nhằn tay ải tay ai
Phôi thai từ buổi hạ dài sang thu
 
Bờ hoang an phận mù u
Gieo neo chi gió đánh đu phận người
Cuối mùa sen ngỡ còn tươi
Lá xanh nõn ngó búp cười mà đau
 
Nhớ xưa thầm trách chi nhau
Gió đưa hương bưởi rụng vào nhà ai
Lời ru quay quắt đêm dài
Trầu cay một mớ vẫn hoài đa mang
 
Gọi nhau trẩy hội mùa vàng
Tay liềm tay hái mơ màng thảo thơm
Quê nhà ướt bóng chiều hôm
Ngát hương cơm mới rạ rơm phơi lòng...
 
 
HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN...
 
Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơ
Ta biết nói gì cùng mùa hạ
Giá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹ
Khóc một trận thỏa thuê
 
Nhắn bước chân thôi hãy về đi
Mái nhà xưa
Lũ rêu hoang bám gờ giếng cạn
Mùa hạ lặng thầm
Cây nhài cũ đơm bông
 
Mặc những ngổn ngang
Bàn chân lấm bụi
Những đứa trẻ giả vờ như chưa lớn
Bên chái bếp còn nghe mùi khói rụng
Hương nhài cũ chưa tan...
 
                                        TỊNH BÌNH

READ MORE - THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình

CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng


 


Cõi  Trần
 
1.
Người về tìm thuở thiếu thời
Quê hương in dấu một đời Mẹ Cha
Sông quê nước chảy hiền hòa
Đón người lữ khách phương xa mới về
Gió lùa qua mái tranh tre
Lời ru đằm thắm trưa hè “ À… ơi…”
Lời ru theo gió chơi vơi
Bâng khuâng xao xuyến đậm lời thơ ca…
Người về vui với quê nhà
Lúa ngô, khoai sắn thật thà chân quê
Mẹ về, bóng Mẹ trên đê
Hanh hao cái nắng tái tê chín vàng
Lẫn trong ngọn gió vừa sang
Hương thơm lúa chín đồng vàng xa đưa
Nắng qua kẽ lá lưa thưa
Sông quê vọng tiếng đò đưa thuở nào…
 
2.
Quê nhà hai tiếng ngọt ngào
Người xa vạn dặm nôn nao bồi hồi
Lòng còn đau đáu người ơi
Trông về quê cũ, phương trời mù xa…
Quê nhà hai tiếng thiết tha
Nhà xưa có Mẹ, có Cha mong chờ
Nhớ về năm tháng tuổi thơ
Nhớ về tiếng Mẹ “Ầu… ơ…” nhẹ nhàng…
Một mùa báo hiếu Vu Lan
Cài bông hồng trắng hai hàng lệ rơi
Mẹ giờ đã khuất bóng đời
Âm dương cách biệt, hết thời chờ mong
Lung linh những ngọn nến hồng
Chắp tay con vái cầu mong Mẹ hiền
Mẹ về cõi Bụt, cõi Tiên
Bỏ gian nan, bỏ ưu phiền… nhân gian…

         Nha Trang, tháng  08. 2026
                       LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng

Tuesday, September 1, 2026

TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn


Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ

                                 Tản văn – Nguyễn Đại Duẫn


Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ;  tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè, vừa muốn tìm hiểu, làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.

 Sân trường hôm nay đông vui, cờ hoa rực rỡ. Trên bục, tấm phông treo dòng chữ: “Chào năm học mới”, trang trọng. Các thầy cô giáo áo quần tề chỉnh, tươi cười. Học sinh náo nức gặp nhau sau những ngày hè. Tiếng trống khai trường vang lên từng hồi giòn giã trong ánh nắng mùa thu. Rồi tiếng trống ếch vang lên từng hồi. Âm thanh trong trẻo, rộn ràng. Tiếng loa phóng thanh cất lên những bản nhạc trầm hùng ca ngợi đất nước.

Tôi đứng giữa sân trường hôm nay mà ký ức của hơn nửa thế kỷ trước bỗng trở về nguyên vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, lòng tôi bỗng chùng xuống. Cũng là ngày khai trường, cũng là tiếng trống gọi học trò, nhưng ngày ấy đất nước đang trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Ký ức ngày khai giảng đầu tiên của tôi chưa bao giờ thực sự im lặng trong tâm trí. Không có bố đưa đến trường, vì bố tôi đang chiến đấu ở chiến trường B. Không có cái nắm tay của mẹ, mẹ đang đi làm công điểm, xứng danh phụ nữ “hai giỏi”. Tôi nép mình đi bên bà nội, ngỡ ngàng đến lớp. Tôi mặc bộ quần áo mới vải Tô Châu, được cắt may từ bộ quần áo lót của bố, trước khi lên đường đánh giặc, bố bớt lại. Tuy vậy, tôi vẫn sung sướng và tự hào. Tối hôm trước ngày khai trường, đứa trẻ là tôi ngày ấy cứ trằn trọc mãi, nâng niu chiếc cặp sách mới may bằng tấm ni - lông cũ, để ngay ngắn đầu giường; dặn mẹ gọi dậy sớm, sợ ngủ quên mà lỡ mất khoảnh khắc trọng đại. Mùi vải mới của bộ quần áo mới, mùi giấy thơm nức từ quyển vở kẽ ô li chưa đặt nét mực nào luôn có một sức quyến rũ kỳ lạ.

Cụm trường tôi đến khai giảng là sân kho của hợp tác xã. Xung quanh đào hào giao thông. Phía sau nhà kho là hầm chữ A. Kho rộng khoảng 5 gian làm bằng gỗ phi lao, người ta bỏ lúa, khoai. Mùi ẩm mốc, mùi rơm mục nồng nặc xông lên cay cay đầu mũi. Hai gian đầu, người ta sắp bàn ghế dành cho hai lớp học. Ngoài hai lớp vở lòng của chúng tôi (lớp đầu cấp tiểu học bây giờ) đến khai giảng còn có mấy lớp anh, chị. Ngày ấy, chúng tôi không có những buổi khai giảng đông vui, rực rỡ như hôm nay. Học sinh không được mặc những chiếc áo trắng tinh tươm. Không được tụ tập đông người vì máy bay địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Ngày khai trường thường chỉ được tổ chức theo cụm trường, đơn sơ và nhanh gọn.

Tôi vẫn nhớ mãi buổi khai trường năm ấy. Sau khi học sinh tập trung xong theo vị trí đã được quy định, thầy giáo phụ trách khu vực lên tuyên bố lý do. Chúng tôi nghiêm trang chào cờ. Lời khai mạc ngày khai trường vang lên giữa một không gian vừa háo hức vừa thấp thỏm, lo âu. Rồi thầy giao nhiệm vụ năm học mới cho học sinh chúng tôi.  Xong việc, các lớp anh chị tản ra đi từng nhóm về khu vực lớp mình, chúng tôi ở lại nhanh chóng trở về lớp để tránh máy bay! Chẳng có tiếng trống dài giục giã, chẳng có những màn văn nghệ náo nức, cũng không có những bó hoa tươi trao tặng thầy cô. Ngày khai trường của chúng tôi chỉ giản dị như thế. Nhưng trong lòng mỗi đứa trẻ vẫn cháy lên một niềm vui: được đi học, được gặp thầy, gặp bạn và sẽ bước đi trên con đường học chữ giữa những ngày đất nước còn chiến tranh.

Các lớp học cũng không tập trung thành một ngôi trường lớn. Để tránh bom đạn và hạn chế học sinh phải đi xa, lớp học nằm rải rác ở từng địa bàn. Có lớp học trong những căn nhà dân, có nơi học dưới những mái tranh đơn sơ của doanh trại bộ đội để lại. Mỗi khi nghe tiếng máy bay, thầy trò lại vội vàng rời lớp, tìm nơi trú ẩn. Tiếng bom có thể làm rung chuyển mặt đất, nhưng không thể làm tắt đi khát vọng học tập của chúng tôi.

Dù năm tháng có phủ một lớp bụi mờ lên bao kỷ niệm, thì mỗi khi ngọn gió heo may đầu thu khẽ xôn xao qua từng vạt lá, cái không khí nồng nàn, háo hức của buổi tựu trường xưa cũ lại quay về, nguyên vẹn và vẹn nguyên như một khoảng trời cổ tích. Khi đã trưởng thành và bước đi trên những chặng đường đời đầy vội vã, không còn được sống trong cái nôn nao của ngày khai trường năm ấy, tôi mới nhận ra đó là một phần ký ức đẹp đẽ nhất của tuổi thơ. Ngày khai trường không chỉ lưu giữ tuổi trẻ, mà còn là chiếc neo giữ cho tâm hồn ta luôn trong sáng, để mỗi khi mùa thu đến, lòng ta lại thổn thức một nhịp đập êm đềm về mái trường xưa.

Bây giờ, đứng bên cháu trong ngày khai trường, tôi thấy cuộc sống hòa bình tươi đẹp biết nhường nào. Khi buổi khai trường kết thúc, tôi nhìn cháu hòa vào dòng học sinh đang ríu rít nói cười mà thấy lòng mình ấm áp. Tôi mừng vì cháu được sống trong những ngày bình yên, được mặc áo trắng đến trường, được dự một lễ khai giảng đông vui dưới mái trường thân yêu. Đứng giữa sân trường, nhìn cháu cùng các bạn tung tăng trong ngày khai giảng, tôi càng thấm thía giá trị của hai chữ Hòa bình. Cháu được đến trường trong một đất nước bình yên, được học tập trong những ngôi trường khang trang, được mặc áo mới, được vui chơi, được tự do ước mơ và lựa chọn con đường tương lai của mình.

Tôi vui đến nghẹn lòng. Niềm vui của người ông không chỉ là thấy cháu lớn lên từng ngày, mà còn là được chứng kiến một thế hệ trẻ được sống trong những điều mà thế hệ chúng tôi từng mơ ước.

Tiếng trống trường lại vang lên, báo hiệu vào lớp. Tôi nghe trong đó không chỉ có tiếng gọi năm học mới mà còn nghe âm vang của tiếng trống hôm nay đang nối liền với tiếng trống ngày xưa, nối một tuổi thơ trong chiến tranh với tuổi thơ trong hòa bình.

Tôi tin rằng những đứa trẻ đang đứng dưới sân trường hôm nay sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân vững vàng và một tâm hồn rộng mở. Đất nước rồi sẽ còn đổi mới từng ngày, trường học sẽ ngày càng khang trang, cuộc sống sẽ ngày càng no đủ, và những ước mơ của các em sẽ bay xa hơn những gì thế hệ chúng tôi từng hình dung. Và tôi thầm mong cháu sẽ luôn biết trân trọng những ngày tháng bình yên ấy. Bởi phía sau tiếng trống khai trường hôm nay là biết bao mất mát hy sinh qua những năm tháng chiến tranh gian khổ mà thế hệ ông cha đã đi qua để giữ gìn cho các cháu một mái trường, một lớp học và những mùa khai giảng trọn vẹn

Tôi siết nhẹ bàn tay cháu, lòng tràn đầy hy vọng.

Một năm học mới bắt đầu.

Một thế hệ mới đang lớn lên.

Và phía trước là một tương lai ngày càng tươi sáng của quê hương, đất nước.

 

Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Trường Sơn - Quảng Trị

ĐT: 0977194533

       nguyenduanqh@gmail.com

 

READ MORE - TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn