TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Monday, November 3, 2025
GIAO MÙA - Thơ Nguyễn Huy Vụ
GIAO MÙA
Chiều nay cúc đã võ vàng
Heo may lành lạnh nhẹ mang đông về
Trải bao bến hoặc bờ mê
Mỗi năm mỗi thấy đường về càng xa
Nẻo trần bóng lẻ mình ta
Kiếp người như một sát na thoảng
vèo
Nợ đồng lần vẫn còn đeo
Hỏi khi về đất mang theo được gì
Vậy mà chửa hết sân si
Vậy mà vẫn cứ hồ nghi tỵ hiềm
Ta về vá lại màn đêm
Còn thương một dải mây mềm tóc xưa
Heo may gọi phút giao mùa
Đường bên vọng tiếng chuông chùa sắc
không
Quê người nỗi nhớ mênh mông
Có ai tìm lại tiếng đồng dao xưa
Thu còn nuối những hạt mưa
Bao năm chìm nổi đã thừa biết đau
Soi gương thấy trắng mái đầu
Sao thơ vẫn chửa hết sầu nhân gian
Trông về cuối nẻo quan san
Thầm thương bóng mẹ đã man mác rồi
Tôi ngồi đối ẩm bóng tôi
Dòng sông đời mãi lở bồi ngàn năm…
HV 04/11/2025
TRẦM HƯƠNG – Thơ Lê Kim Thượng
Trầm Hương
1.
Đò ngang chở nắng sông dài
Bến quê vẫn đợi, vẫn hoài yêu thương
Chở người trở lại quê hương
Chuyến đò thưở nhỏ đưa đường khách xa
Nhớ sân đình, nhớ bóng đa
Làng quê, xóm cũ, hiền hòa mái tranh
Dòng sông ôm ấp đồng xanh
Phù sa nuôi lúa ngọt lành thân thương
Nhớ hoa xoan tím ven đường
Lao xao trong gió, mùi hương đậm đà
Nhớ trưa bóng nắng nhạt nhòa
Tiếng ve vang động, vỡ òa cuối thu
Chao nghiêng cánh võng, lời ru
“Bướm vàng đậu đọt mù u…” chòng chành
Ru con giấc ngủ ngon lành
Cái tôm, cái tép… hóa thành lời ca…
2.
Người đi biền biệt phương xa
Vẫn mong tìm được câu ca một thời
Mình là… Mình vẫn… Mình thôi…
Vẫn con diều nhỏ trên trời bay xuôi
Nhớ hoài, nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ xa xôi…Bóng Già…
Dáng nghiêng nghiêng áo bà ba
Áo hòa màu đất, tóc hòa màu mây
Con buồn đứng lặng nơi đây
Mặn chua nước mắt, rót đầy đôi môi
Một mình thân phận mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời yêu thương
Lòng thành con gửi trầm hương
Cầu xin Chư Phật, Mười phương độ trì
Hỏi ai hạnh phúc là gì?
Mẹ không còn nữa… con thì tha phương…
Nha Trang, tháng 10. 2025
Lê Kim Thượng
LỤT – Thơ Lê Phước Sinh

Ông Trời khóc ngày đêm đến húp cả mắt
Âm u làm bục Nước Bạc tràn về
Cái Gió vùng vằng rít lạnh từng cơn
Thủy Tinh kéo quân phá tanh bành xóm trên làng dưới...
Lê Phước Sinh
Sunday, November 2, 2025
Ngọn Lửa và Ánh Trăng: Di sản tinh thần Thích Tuệ Sỹ giữa khổ đau và giải thoát - Trần Kiêm Đoàn
“Đường xưa vẫn gió, trăng chưa từng tắt,
Người đi rồi, mà nắng vẫn trong veo.”
TUỆ SỸ
Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa:
Trước hết là ý nghĩa nhân sinh: Là sự tiếp nối của tình người và đạo nghĩa. Đây là cột mốc chuyển hóa nỗi đau thành tri ân. Sau hai năm, tang thân (có cả tăng thân) và đồ chúng đã lắng dịu tiếc thương, thay vào đó là niềm biết ơn, kính trọng cũng như khát vọng tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Người ra đi không mất, mà hiện hữu trong tâm tưởng tu, trong hành động thiện, trong hạnh nguyện lành của người ở lại.
Đặc biệt là theo tinh thần triết học Phật giáo mà Thầy Tuệ Sỹ đã suốt đời hoằng hóa, Đại Tường là biểu tượng của vô thường và duyên sinh. Chết không phải là hết, mà là một chuyển động trong chuỗi tương tục của nhân duyên: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, khi mọi sinh diệt đều tắt, thì tịch diệt (Niết bàn) mới là an lạc đích thực. Cái chấm dứt hình tướng của bậc trí tuệ là sự trở về thể tánh, không còn bị ràng buộc bởi thân xác hay danh vọng mà chỉ còn lại ánh sáng của trí tuệ - tâm từ.
Với đạo Phật, Đại Tường là dịp thực hành hồi hướng công đức cho bậc chân nhân đã viên tịch, giúp hương linh (và chính mình) tiến gần hơn tới giải thoát. Đồng thời, giúp thức tỉnh tâm người sống để biết rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường và con đường tu tập là cách duy nhất vượt thoát sinh tử. Sự tịch diệt của một bậc chân tu không phải là mất mát, mà là sự trở về với pháp giới. Do vậy, đối với một nhân vật như Thầy Tuệ Sỹ, lễ Đại Tường không chỉ là lễ tưởng niệm, mà là một tuyên ngôn của trí huệ cũng như trí tuệ và đạo đức Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới: Biết buông bỏ vô minh, sống an nhiên giữa vô thường và tiếp nối ánh sáng lương tri bằng chính đời sống tỉnh thức của mình.
Ánh lửa Đại Tường trong tâm ảnh người đi
Một sớm mai có nắng mùa Đông ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội; Paris hay California... khói nhang trầm quyện vào tiếng chuông chùa trầm lắng, người mường tượng từ tâm ảnh và hiện ảnh về lễ đại tường tưởng nhớ Thầy Tuệ Sỹ tỏa lên như ngọn lửa và ánh trăng nhắc về một kiếp người tròn đầy trong vô thường.
Giữa không gian ấy, ta không chỉ tưởng niệm một vị cao tăng, mà còn tưởng niệm một ngọn lửa đã cháy trọn trong đêm dài của dân tộc và đạo pháp: một ngọn lửa từng soi đường cho bao thế hệ học Phật, viết Phật và sống Phật. Kỳ lạ thay, ngọn lửa ấy không thiêu đốt mà lại tỏa sáng bằng ánh trăng – ánh trăng rằm miên du của Tuệ giác. Ánh sáng lung linh ấy không chỉ chiếu soi một tấm thân đã hóa cát bụi, mà còn tiếp tục soi đường cho bao tâm thức đang đi trong đêm dài của thời đại.
Biểu tượng Thích Tuệ Sỹ là dòng sống giữa hai cõi: hiện sinh và siêu việt.
Một cuộc đời biểu hiện của hiện sinh khổ đau: tù ngục, khốn khó, bệnh tật, hoàn cảnh đầy thách thức... Nhưng trong cái khổ ấy lại là một tâm thức siêu việt an nhiên: “Tự do không phải là trạng thái, mà là tâm thái.”
Ở đây, triết học Phật giáo gặp gỡ triết học hiện sinh, tuy cùng đại lộ mà trên hai nẻo phân tâm – Sartre và Kierkegaard tìm tự do trong phi lý – Thích Tuệ Sỹ tìm tự do trong chân lý vô ngã. Lộ trình Tuệ Sỹ không chống lại khổ đau, mà xuyên thông qua nó; không phủ nhận đời, mà sống giữa đời như một bài Tâm Kinh vô tự để từ đó đi vào “Tam Tâm Pháp Ấn”: Từ bi - Trí tuệ - Tự do.
Từ bi trong hành động: dấn thân vì tỉnh thức, vì con người, vì lý tưởng giác ngộ để hoằng dương chánh pháp. Từ bi, không chỉ là lòng thương mà là dấn thân. Thầy không rút lui vào cõi thiền am tĩnh mịch, mà bước ra giảng dạy, viết, dịch, tranh luận, hoằng pháp – để ngọn đèn Phật học Việt Nam không tắt giữa thế kỷ đầy biến động.
Trí tuệ trong ngôn ngữ: triết luận hàn lâm mà gần gũi, dịch thuật uyên bác mà tỏa sáng, thi ca bay nhẹ vào đời như mây trắng chân không. Trí tuệ, là cốt tủy trong từng trang kinh, từng luận thuyết. Từ Triết học về Tánh Không đến Đạo Phật và Con Người hiện đại, Thầy luôn đi tìm một lối vào Phật pháp bằng con đường khai phóng, nơi tri thức không đối nghịch với đức tin, mà nâng đỡ đức tin.
Tự do trong tâm thức: vượt mọi áp bức, không vướng vào danh lợi, hình tướng hay quyền uy. Tự do, là hơi thở cuối cùng của một đời người tu. Không tự do, thì đạo chỉ là khuôn phép; có tự do, mới có giác ngộ. Thầy từng nói:
“Không ai có thể hoằng pháp nếu chưa từng giải thoát khỏi chính mình.”
Câu ấy, giờ đọc lại, như một lời gửi cho tất cả những người đi sau; những ai đang hoằng pháp trong kỷ nguyên hỗn mang của thông tin và ảo tưởng; rằng, điều quan trọng nhất không phải là nói về đạo, mà là sống được trong đạo.
Trong tác phẩm Triết học về Tánh Không, Thầy Tuệ Sỹ viết: “Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.” Tư tưởng này vẫn được xem là “dấu ấn triết học” của Phật học Việt Nam thời hiện đại: tự do như là tự tri; an trú trong chánh niệm. Bởi vậy, ánh trăng thiền vị trong thơ Tuệ Sỹ đã là một trời thơ. Đẹp quá!
Tuệ Sỹ không là một thi sĩ làm ra thơ mà thơ đã chính là tâm hồn thi sĩ nên thơ Thầy là một thiền khúc tâm ca vượt lối mòn và ước lệ thời đại.
“Một ngày nào đó / Trên vết chân người / Cỏ sẽ mọc xanh / Và mưa sẽ rơi.”
Đó là lời của một người không tuyệt vọng, dù thân bị giam trong trần lao, tâm vẫn hòa vào hư không, như trăng soi qua song sắt.
Thơ Tuệ Sỹ là “thiền ca hiện sinh”; không nói vô ngã bằng triết, mà bằng hơi thở, bằng chữ nghĩa mềm mại, thong dong siêu vượt như hương khói nhang trầm.
Và ánh trăng vằng vặc trong tâm thức người ở lại
Đại Tường không phải là khép lại một kiếp người, mà là mở ra một kiếp sáng. Cuộc đời Thầy Tuệ Sỹ là minh chứng hùng hồn cho chân lý ấy. Thầy đã sống giữa hai cõi hiện sinh và siêu việt:
Ở cõi hiện sinh, Thầy từng chịu giam cầm, thiếu ăn, bệnh tật và cô đơn. Thân phận ấy, nếu nhìn bằng con mắt thế gian, là một bi kịch. Nhưng ở cõi siêu việt, chính trong khổ đau, Thầy tìm thấy con đường giải thoát như Thầy từng viết:
“Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.”
Đó không chỉ là một phát biểu triết học, mà là một tuyên ngôn của tự do nội tâm – thứ tự do không thể bị còng trói bởi quyền lực hay xiềng xích.
Nếu Sartre nói: “Con người bị kết án phải tự do,” thì Thích Tuệ Sỹ lại cho rằng: “Con người giải thoát khi thấy rõ không có cái Ta nào để bị kết án.”
Thầy đã đi xa, nhưng Tuệ vẫn còn ở lại. Ở lại trong từng hơi thở của người học đạo, trong từng dòng chữ của thiền lâm Phật học, nơi Thầy đã góp phần gieo hạt giống tư tưởng, đối thoại và tự do. Ở lại trong những ai từng tin rằng Phật pháp không chỉ là giáo lý để tụng niệm, mà là ánh sáng soi đường trong những khúc quanh tối nhất của đời người.
Ngọn lửa Tuệ Sỹ đã cháy trọn một đời và chính vì cháy trọn, nên đã hóa thành ánh trăng. Ánh trăng ấy không bốc cháy dữ dội, mà soi đường cho từng bước chân hậu học trên con đường dài của Phật pháp và nhân sinh.
Những người ở lại, dù không đủ để nối gót, vẫn có thể giữ được ánh sáng khi vẫn khiêm cung lắng lòng trầm tư trong tịch lặng để chắt lọc pháp ngôn, xiển dương pháp thoại, sáng tác pháp tuệ, cung dưỡng pháp hành... trong tương quan nghệ thuật với nhân sinh cho Đạo và cho Đời.
“Ta về trong bóng nguyệt xưa,
Nghe hoa vẫn nở như chưa hề tàn.”
(Hồi quang)
Thầy ơi!
Ánh trăng vẫn đó.
Và trong mỗi người còn lại, ngọn lửa của Thầy chưa bao giờ tắt.
Sacramento, thủ phủ Cali. Quý Thu 2025
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
Friday, October 31, 2025
THƯƠNG HUẾ BÃO LỤT - Thơ Trần Hữu Thuần
THƯƠNG HUẾ BÃO LỤT
Thơ Trần Hữu Thuần
Ui chao ui, nghe Huế mình đang lụt,
Nước tràn làng, tràn phố, ngập
hoàng cung,
Trời làm chi cơn lụt phá thiên
tung [1],
Khổ quá chừng cho Miền Trung, cho
Huế,
Nơi dân nghèo, đất hẹp, lúa rau cằn.
Thương cho o co ro, mưa xối xả,
Chừ mần răng nước đã ngập nóc nhà,
Chống bên mô cho túp lều khỏi sụm,
Che bên mô cho bớt lạnh bớt run?
Sữa mô nuôi con nhỏ còn non,
Ba bốn bữa cầm hơi bằng nước lã.
Ông mệ ơi, tuổi già sức ốm o,
Ôm chặt nhau níu mạng sống gầy gò,
Trên nóc nhà, bốn phía tuôn tràn nước,
Rét cầm cập, tư bề lạnh, mưa, gió.
Ui chao ui, Huế tui răng cực khổ,
Trời hành bắt nghèo đói lại thiên
tai,
Biết mần chi cho tốt đẹp ngày mai,
Củ sắn củ khoai răng khổ tận tâm
lai cho được.
Van xin Trời cho mưa ngừng, nước
rút,
Cho bão tố ma vương lui vào địa ngục,
Hết phong ba lũ lụt,
Cho nắng lên cho mưa thuận gió hoà,
Cho ruộng lúa đơm hoa,
Cho xứ mình cơm no,
Cho dân mình ấm áo.
(01/11/2025)
[1] Thiên tung bang nai: Một phương
ngữ bình dân Huế ý nói tùm lum không biết đâu gốc ngọn
CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI - Nguyên Lê - Lê Thi gởi đăng
CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI
Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc đôi nét về nhà văn: Kim Quyên.
Tên thật: Huỳnh Kim Hường (bút danh Kim Quyên). Sinh ngày 09/09/1953 tại xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Quê gốc Nam Bộ (Tiền Giang) và hiện đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh.
Học vấn: Tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, khoa Nga văn; trước đó tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang, khoa Anh văn.
Nghề nghiệp chính: Giáo viên ngoại ngữ; sau đó hoạt động văn chương, viết văn.
Là hội viên của Hội Nhà Văn Việt Nam (từ khoảng năm 2000) và hội viên của Hội Nhà Văn TP.HCM.
Nhà văn Kim Quyên lớn lên trong miền
Nam, trải qua nhiều giai đoạn: học hành, nghề giáo viên, rồi dấn thân vào sáng
tác văn chương với mối quan tâm sâu sắc tới quê hương Nam bộ, sông nước Cửu
Long và đời sống người dân nơi này. Mỗi tác phẩm của chị mang hơi thở quê hương
đậm nét Nam bộ, gần gũi thân thương mộc mạc.
Sự nghiệp sáng tác:
Kim Quyên khởi viết từ khá sớm: có thơ và truyện ngắn đăng báo từ năm 1973. Bà viết đa dạng thể loại: gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, bút ký, thơ.
Một số tác phẩm tiêu biểu:
Nụ hôn đắng (tiểu thuyết, 1990) – Nxb Sở Thông tin – Văn hóa Tiền Giang.
Nước rút (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 1997)
Người dưng khác xứ (tập truyện ngắn, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2004).
Món ăn khoái khẩu Nam bộ (tạp bút, 2004)
Ngã ba sông (thơ, 2006)
Sài Gòn hào hoa (tản văn, 2011)
Món ngon miền Tây (tạp văn, 2013)
Quê ngoại (tập truyện–ký, Nxb Hội Nhà Văn, 2013)
Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2015)
Tình không biên giới (tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, 2017)
Thành phố bên sông (tiểu thuyết, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2019)
Nét
đặc trưng trong văn chương của Kim Quyên:
Viết nhiều về miền Nam, về quê hương Nam bộ – sông nước, con người, chuyển đổi xã hội.
Ngòi bút dung dị nhưng thấm đẫm nhân tình — tức là nhẹ nhàng, gần gũi nhưng có chiều sâu.
Bà từng chia sẻ: “Văn chương không chỉ là món ăn tinh thần… mà còn góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.”
Những giải thưởng và ghi nhận:
Kim Quyên đã nhận được nhiều giải thưởng và ghi nhận trong hành trình sáng tác của mình. Dưới đây là một số tiêu biểu:
-Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam” năm 2004.
-Giải thưởng bút ký của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2008.
-Giải thưởng của Bộ Giao thông Vận tải (năm 2015) cho tác phẩm viết về đề tài giao thông.
-Giải thưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (năm 2016) cho tập truyện ngắn “Đi biển một mình”.
-Giải thưởng Giải thưởng Mekong (giải của 6 nước Đông Nam Á) cho tiểu thuyết “Tình không biên giới” năm 2017.
-Giải Khuyến khích trong đợt trao giải “sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí chủ đề ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh’ giai đoạn 2015-2020” cho tiểu thuyết “Thành phố bên sông”.
Văn
chương của Kim Quyên được giới phê bình đánh giá là “dù không to tát nhưng có sức
lay động rất lớn”, đặc biệt vì sự chân thành, gần gũi và mang hơi thở nhân bản.
Bà
xuất phát từ một hoàn cảnh không hoàn toàn thuận lợi (hậu chiến, giáo viên, gia
đình…) nhưng vẫn kiên trì viết, dấn thân với chữ nghĩa, đây là một điểm đáng
khâm phục. Bà có rất nhiều kinh nghiệm sống nên bài viết, câu chuyện của bà như
người trong cuộc, hóa thân vào số phận nhân vật.
Qua
các tác phẩm viết về Nam bộ, về sông nước miền Tây, bà góp phần giữ gìn và tôn
vinh vùng đất, con người miền Nam, đồng thời phản ánh biến động xã hội, lịch sử
và những số phận cá nhân trong đó.
Sự
nghiệp của bà là một minh chứng cho việc người viết văn không chỉ “viết cho mình”
mà còn “viết cho đời”, viết để thể hiện tình yêu, trách nhiệm với quê hương và
con người.
Nhà văn Kim Quyên như con tằm văn
chương nhả tơ không biết mệt mỏi, cường độ làm việc của bà là một tấm gương cho
lớp trẻ học tập . Tuy tuổi gần “ Nhân sinh thất thập..” nhưng vẫn cho tác phẩm
ra đời đều đặn, và đang thai nghén nhiều kịch bản, tiểu thuyết. Ngoài thời gian
viết bà đang giúp đỡ nhiều sinh viên viết luận văn thạc sĩ, nghiên cứu văn
chương, hay hướng dẫn cho nhiều cây viết trẻ đam mê nghiệp văn chương . Bà được
tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, và đã đóng góp một phần không nhỏ
cho nền văn học nước nhà. Xin kính chúc nhà văn nhiều sức khỏe và cho độc giả
nhiều tác phẩm có giá trị.
Nguyên Lê- Washington.
Gởi từ: thivanle1569@gmail.com
BẾN CHỜ / PHÍA TRƯỚC / VỚI... / DỊU VỢI - Chùm thơ Hoa Nguyên
BẾN CHỜ
Vàng pha
ráng đỏ hoàng hôn
Gió khua gác
mái giã giòn khúc ru
Lầu chuông
nghiêng bóng trầm tư
Bến chờ cứu
thế ái từ toàn năng
Lời kinh niệm,
chuỗi an lành
Phủ đông lạnh,
tím sương giăng quan hà
Giáng sinh ấm
áp mọi nhà
Hàm ơn phước
quyện thánh ca nguyện thề
Bến chờ kẻ đợi
nhiêu khê
Triều dâng
ngập nỗi bộn bề niềm riêng
Cửa hàng, tiệm
hiệu phất lên
Mưa rơi ướt
mảnh trăng thềm phố hoa
Vượt cầu ngược
gió âm ba
Đập ngăn mặn
rẽ nước qua kè bờ
Đã trôi xa mấy
bến chờ
Mà xưa còn
mãi hút mờ phiêu diêu
Tủi thân hồi
đáp tình yêu
Đầu đời ghi
khắc cô liêu khứ hồi
Ép câu thơ gởi
hẹn mời
Rồi cưu mang
để tình đời chín thêm
HOA NGUYÊN
PHÍA TRƯỚC
Người còn mải
giấc nồng say
ẩn mây huyết
dụ trăng đầy
đọng cánh mỏng
màn sương rỏ
gió thu ve
vãn trúc gầy
Tầng cao tụ
thêm khí phách
như vết hạc
rạch thinh không
lờ lững
ngang trời chớp giông
làng mạc
kinh qua bão tố
Cư dân cần
cù vất vả
bước thấp bước
cao tất tả
đáp chiều
tàn hương phai nhạt
dẫu sao tư
tưởng nén dằn
Gà gáy xa nhắc
sớm mai…
rướn vai đo
mình phép thử
rộng mở con
tim nhỏ hẹp
tình yêu lớn
dậy nhân từ
Ngày mới nắng
vàng quê phố
gian truân
năm tháng qua rồi!
nhìn về phía
trước đẹp tươi
nhìn về phía
trước thảnh thơi
HOA NGUYÊN
Đương thì nhựa
sống tươi non
Trổ bông ngấp
ngó giữa đồng ưu tư
Miền yêu đôi
lứa luyến lưu
Khoác choàng
vạt nắng thiên thư bềnh bồng
Ngói đình
mái lợp rêu rong
Trở chiều lần
chuỗi tay không đời thừa
Trời yên biển
lặng dĩ hòa
Điệu buồn chất
ngất suốt mùa đông qua
Giờ nghe dư
chấn thu ba
Dát đầy
phong vị ta bà cổ thi
Văn bia, câu
đối, hoành phi
Với ân tình
bạn và tri âm đời
Cho nhau ý
nhị môi cười
Để cùng hành
xử vui người với ta
HOA NGUYÊN
DỊU VỢI
Nếu thích
tìm nơi thanh khiết
thả hồn phác
thảo thiên nhiên
ghé Resort
đường Yên Ninh
đổi gió tắm
nắng bơi lướt
Hotel Long
Thuận bốn sao
view rộng lý
tưởng bao quát
tha hồ dạo
Công Viên biển
món ngon
tươi vị ngọt giòn
Hoàn Mỹ sang
trọng văn minh
thuận lợi xe
đi, khách đến
gần Hotel
Park Sunbay
đôi toà cao
tầng đang xây
trầm tịnh lắng
Tiểu Tháp Chàm
đỏ màu hoang
sơ cổ tích
khu sinh
thái Con Gà Vàng
quầy sau
chiêu đãi điểm tâm
Cạnh có
Aniise tiện ích
ẩm thực đêm,
sân tennis
nhìn qua
khách sạn năm sao
dãy tòa sắc
giống phấn tảo
Ngã tư biển
núi Sunrise
quần thể thiền
tự di tích
thoáng thông
tầm vóc sạch sẽ
chuông ngân
non ngàn dịu vợi
Tầng cao dịch
vụ đủ đầy
ngắm ván diều
bay trên sóng
trải nghiệm
làng nghề nông ngư
trại Mát,
Thuỷ Tiên, Ninh Chử
Đìa tôm lồng
bè hàu ốc
ngoại ô nhà
hàng Đầm Nại
trên biển
thưởng thức hải sản
tham quan cánh
quạt, điện trời
HOA NGUYÊN
NGUYỄN THỊ
HOA
<ninhthuanhoanguyen@gmail.com>
PHAN RANG NINH THUẬN
KHÁNH HOÀ
Thursday, October 30, 2025
CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT NGÀY SỬA NHÀ - Đặng Xuân Xuyến
CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT
Nhất nghe xong thì cáu: - "Số
cái con khỉ! Anh hiền quá nên bị bọn chó nó bắt nạt. Phải tay em thì em đập chết
mẹ chúng nó rồi!". Tôi lại cười, thầm nghĩ: Ừ thì đập. Đập xong rồi sao? Mấy
ai hiểu được những chuyện tưởng chừng ngẫu nhiên trong đời hóa ra đấy lại là những
mắt xích của một sợi dây nghiệp chướng vô hình.
Tôi kể Nhất nghe chuyện bảy lần tôi
thuê cửa hàng thì cả bảy cửa hàng đều bị khuyết góc phía sau nhà. Chuyện nhà của
bố mẹ tôi rồi nhà của tôi cũng vậy, đều bị khuyết một góc. Nhất tròn mắt, mặt
thoáng có vẻ sợ sợ. Tôi kể tiếp: - Điều lạ lùng nhất là tất cả cửa hàng anh
thuê hay nhà của anh thì đều bị phát sinh mâu thuẫn với nhà hàng xóm ở phía góc
khuyết sau nhà cho dù anh có đối xử với họ tử tế thế nào!.
Nhất im lặng. Tôi biết, những chuyện
tưởng chừng huyền hoặc này đã chạm đến một cái gì đó rất sâu thẳm trong niềm
tin của con người về tâm linh, về nhân quả ở Nhất. Tôi cũng kể Nhất nghe điều lạ
lùng khác nữa là nhiều lần tôi đã được chiêm nghiệm những người từng tìm cách
hãm hại tôi thì sau một thời gian gia đình họ đều có kết cục chẳng ra gì: bệnh
tật, sa sút, tan cửa nát nhà. Không phải tôi nguyền rủa họ mà tôi nhận ra một
điều: có lẽ họ đã tạo quá nhiều nghiệp ác, đến lúc họ phải gặp quả báo.
Tôi nói với Nhất cũng là nói với
chính mình: Tâm linh, tín ngưỡng không phải thứ đem ra để dọa nhau, càng không
phải để đem gieo rắc mê tín dị đoan. Nó là một phần của văn hóa, là một sự
chiêm nghiệm của người đời về những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Một
cái nhà khuyết góc, có người bảo là xui xẻo, là phong thủy xấu nhưng với tôi nó
như một lời nhắc nhở, như một sự thử thách để tôi nhìn nhận lại cách mình sống,
cách mình đối xử với những người xung quanh.
Nhất nghe rồi cười cười, trầm giọng:
- "Thế thì số anh khổ thật!".
Tôi cũng cười, không phải là cười cợt
mà là nụ cười của sự thấu hiểu: - Thế nên mình cứ sống thiện cho lành, em à. Cuộc
đời có vay có trả. Dù là trong kiếp này hay kiếp sau, dù tin hay không tin, thì
cứ sống tử tế, sống thiện lương thì tự khắc cuộc đời sẽ được an yên. Sống mà
nghĩ đến nghiệp thì sẽ bớt làm điều ác. Sống mà tin vào quả báo thì mình sẽ tự
dưỡng đức tu thân.
Giữa thời đại mà giá trị vật chất
lên ngôi, người ta đôi khi quên mất những giá trị tâm linh nhưng những câu chuyện
như chuyện của tôi, của Nhất, của những kẻ hại người rồi phải nhận quả báo... vẫn
cứ hiện diện trong xã hội như một lời nhắc nhở rằng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng
và luật nhân quả không phải là chuyện viển vông, mà là một phần tất yếu của cuộc
đời này. Nó tồn tại để con người biết sợ, biết giữ tâm thiện, hướng lành để sống
thiện lương, không hèn, không ác, để lúc cuối đời nhìn lại ta mỉm cười với nụ
cười thanh thản.
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Wednesday, October 29, 2025
Tuesday, October 28, 2025
CHÙM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách
CẮT CỎ
Chăn bò cắt cỏ trẻ nhà quê
Tự tuổi mươi hai đã biết nghề
Đồng sâu hạ thắm vui tay đến
Bãi cạn xuân tươi thỏa gánh về
Mây xanh hạ giới nhìn chê chán
Cỏ biếc tiên bồng ngắm hả hê
Đẹp nhỉ trời cao đôi cánh hạc
Quảy đầy hơn bạn chắc ba mê.
Hạ
1978
Lưu
Lãng Khách
Lảy bắp trăng rằm vui quá vui
Thi nhau xịt điện hết đường lui
Đôi anh hát giọng như ngan đực
Lắm chị ca ngon tựa mía lùi
Một cót to đùng chung thả sức
Ba nong hì hục đống trơ cùi
Bắp rang cả rổ ngào thơm phức
Một chén phần cho tớ mãi dùi.
Xuân
1978
Duy
Toàn xứ Hổ
THẦY DŨNG CÔ THUẬN
Một cặp thầy cô phải nói là
Nam thanh nữ tú nhất trường ta
Trán cao mắt sáng bờ vai rộng
Nhỏ nhắn da ngăm dáng mặn mà
Sáng sáng dạy cùng vui vẻ sống
Chiều chiều phố thị biết gần xa
Em mong thầy Dũng và cô Thuận
Trời đất về chung một mái nhà.
Thu
1978
Duy
Toàn xứ Hổ
ĐỂ BỐN NGANG NHIÊN
Mười chín giờ đi vắng cả rồi
Chỉ còn tám bảy sáu năm thôi
Hôm qua tám bỏ mình đi nốt
Để bốn ngang nhiên chễm chệ ngồi.
Đầu
đông 1978
Duy
Toàn xứ Hổ
TIẾNG TRƯỞNG NAM
Tớ chỉ là mang tiếng trưởng nam
Vạn sự anh Hai mãi thế làm
Cúng giỗ bao năm chưa lệ bái
Cửa nhà Tết nhứt chẳng lần kham
Bốn chị quan tâm buồn ruộng bãi
Ba anh ngó nghĩ cuốc nào ham
Thương em ít tuổi còn thơ dại
Chức trưởng anh Hai mãi thế làm.
Thu 1978
Duy Toàn xứ Hổ
NGHỈ DẠY BÌNH DÂN HỌC VỤ
Học chẳng làm sao phải dạy ôi!
Ừ thì cứ việc phóng đơn đôi
Đọc to chữ cái nhiều cô hiểu
Giảng nhỏ nguyên âm mấy chú ngồi
Luyện chữ rồng bay ngưng cháu chịu
Ghép vần phượng múa bác dì thôi
Từ mai có lẽ xin ngừng dạy
Bởi hết hè khai giảng sắp rồi.
Thu 1978
Duy Toàn xứ Hổ


.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)


.jpg)

