Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 3, 2025

▶ HOÀI MONG - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Vĩnh Phúc - Trình bày: Ẩn Lan - YouTube





READ MORE - ▶ HOÀI MONG - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Vĩnh Phúc - Trình bày: Ẩn Lan - YouTube

GIAO MÙA - Thơ Nguyễn Huy Vụ

 

Tác giả Nguyễn Huy Vụ

GIAO MÙA

 

Chiều nay cúc đã võ vàng

Heo may lành lạnh nhẹ mang đông về

Trải bao bến hoặc bờ mê

Mỗi năm mỗi thấy đường về càng xa

Nẻo trần bóng lẻ mình ta

Kiếp người như một sát na thoảng vèo

Nợ đồng lần vẫn còn đeo

Hỏi khi về đất mang theo được gì

Vậy mà chửa hết sân si

Vậy mà vẫn cứ hồ nghi tỵ hiềm

Ta về vá lại màn đêm

Còn thương một dải mây mềm tóc xưa

Heo may gọi phút giao mùa

Đường bên vọng tiếng chuông chùa sắc không

Quê người nỗi nhớ mênh mông

Có ai tìm lại tiếng đồng dao xưa

Thu còn nuối những hạt mưa

Bao năm chìm nổi đã thừa biết đau

Soi gương thấy trắng mái đầu

Sao thơ vẫn chửa hết sầu nhân gian

Trông về cuối nẻo quan san

Thầm thương bóng mẹ đã man mác rồi

Tôi ngồi đối ẩm bóng tôi

Dòng sông đời mãi lở bồi ngàn năm…

    HV 04/11/2025

 

READ MORE - GIAO MÙA - Thơ Nguyễn Huy Vụ

TRẦM HƯƠNG – Thơ Lê Kim Thượng

 
 
 
Trầm Hương
 
1.
Đò ngang chở nắng sông dài
Bến quê vẫn đợi, vẫn hoài yêu thương
Chở người trở lại quê hương
Chuyến đò thưở nhỏ đưa đường khách xa
Nhớ sân đình, nhớ bóng đa
Làng quê, xóm cũ, hiền hòa mái tranh
Dòng sông ôm ấp đồng xanh
Phù sa nuôi lúa ngọt lành thân thương
Nhớ hoa xoan tím ven đường
Lao xao trong gió, mùi hương đậm đà
Nhớ trưa bóng nắng nhạt nhòa
Tiếng ve vang động, vỡ òa cuối thu
Chao nghiêng cánh võng, lời ru
“Bướm vàng đậu đọt mù u…” chòng chành
Ru con giấc ngủ ngon lành
Cái tôm, cái tép…  hóa thành lời ca…   
 
2.
Người đi biền biệt phương xa
Vẫn mong tìm được câu ca một thời
Mình là… Mình vẫn… Mình thôi…
Vẫn con diều nhỏ trên trời bay xuôi
Nhớ hoài, nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ xa xôi…Bóng Già…
Dáng nghiêng nghiêng áo bà ba
Áo hòa màu đất, tóc hòa màu mây
Con buồn đứng lặng nơi đây
Mặn chua nước mắt, rót đầy đôi môi
Một mình thân phận mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời yêu thương
Lòng thành con gửi trầm hương
Cầu xin Chư Phật, Mười phương độ trì
Hỏi ai hạnh phúc là gì?
Mẹ không còn nữa… con thì tha phương…
      
Nha Trang, tháng 10. 2025
Lê Kim Thượng

READ MORE - TRẦM HƯƠNG – Thơ Lê Kim Thượng

LỤT – Thơ Lê Phước Sinh




Ông Trời khóc ngày đêm đến húp cả mắt
Âm u làm bục Nước Bạc tràn về
Cái Gió vùng vằng rít lạnh từng cơn
Thủy Tinh kéo quân phá tanh bành xóm trên làng dưới... 
                                                     Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT – Thơ Lê Phước Sinh

Sunday, November 2, 2025

Ngọn Lửa và Ánh Trăng: Di sản tinh thần Thích Tuệ Sỹ giữa khổ đau và giải thoát - Trần Kiêm Đoàn

 


 “Đường xưa vẫn gió, trăng chưa từng tắt,

Người đi rồi, mà nắng vẫn trong veo.”

 TUỆ SỸ

 

 

Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa:

 

Trước hết là ý nghĩa nhân sinh: Là sự tiếp nối của tình người và đạo nghĩa. Đây là cột mốc chuyển hóa nỗi đau thành tri ân. Sau hai năm, tang thân (có cả tăng thân) và đồ chúng đã lắng dịu tiếc thương, thay vào đó là niềm biết ơn, kính trọng cũng như khát vọng tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Người ra đi không mất, mà hiện hữu trong tâm tưởng tu, trong hành động thiện, trong hạnh nguyện lành của người ở lại.

 

Đặc biệt là theo tinh thần triết học Phật giáo mà Thầy Tuệ Sỹ đã suốt đời hoằng hóa, Đại Tường là biểu tượng của vô thường và duyên sinh. Chết không phải là hết, mà là một chuyển động trong chuỗi tương tục của nhân duyên: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, khi mọi sinh diệt đều tắt, thì tịch diệt (Niết bàn) mới là an lạc đích thực. Cái chấm dứt hình tướng của bậc trí tuệ là sự trở về thể tánh, không còn bị ràng buộc bởi thân xác hay danh vọng mà chỉ còn lại ánh sáng của trí tuệ - tâm từ.

 


Với đạo Phật, Đại Tường là dịp thực hành hồi hướng công đức cho bậc chân nhân đã viên tịch, giúp hương linh (và chính mình) tiến gần hơn tới giải thoát. Đồng thời, giúp thức tỉnh tâm người sống để biết rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường và con đường tu tập là cách duy nhất vượt thoát sinh tử. Sự tịch diệt của một bậc chân tu không phải là mất mát, mà là sự trở về với pháp giới. Do vậy, đối với một nhân vật như Thầy Tuệ Sỹ, lễ Đại Tường không chỉ là lễ tưởng niệm, mà là một tuyên ngôn của trí huệ cũng như trí tuệ và đạo đức Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới: Biết buông bỏ vô minh, sống an nhiên giữa vô thường và tiếp nối ánh sáng lương tri bằng chính đời sống tỉnh thức của mình.

 

Ánh lửa Đại Tường trong tâm ảnh người đi

 

Một sớm mai có nắng mùa Đông ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội; Paris hay California... khói nhang trầm quyện vào tiếng chuông chùa trầm lắng, người mường tượng từ tâm ảnh và hiện ảnh về lễ đại tường tưởng nhớ Thầy Tuệ Sỹ tỏa lên như ngọn lửa và ánh trăng nhắc về một kiếp người tròn đầy trong vô thường.

 

Giữa không gian ấy, ta không chỉ tưởng niệm một vị cao tăng, mà còn tưởng niệm một ngọn lửa đã cháy trọn trong đêm dài của dân tộc và đạo pháp: một ngọn lửa từng soi đường cho bao thế hệ học Phật, viết Phật và sống Phật. Kỳ lạ thay, ngọn lửa ấy không thiêu đốt mà lại tỏa sáng bằng ánh trăng – ánh trăng rằm miên du của Tuệ giác. Ánh sáng lung linh ấy không chỉ chiếu soi một tấm thân đã hóa cát bụi, mà còn tiếp tục soi đường cho bao tâm thức đang đi trong đêm dài của thời đại.

 

Biểu tượng Thích Tuệ Sỹ là dòng sống giữa hai cõi: hiện sinh và siêu việt.

 

Một cuộc đời biểu hiện của hiện sinh khổ đau: tù ngục, khốn khó, bệnh tật, hoàn cảnh đầy thách thức... Nhưng trong cái khổ ấy lại là một tâm thức siêu việt an nhiên: “Tự do không phải là trạng thái, mà là tâm thái.”

 

Ở đây, triết học Phật giáo gặp gỡ triết học hiện sinh, tuy cùng đại lộ mà trên hai nẻo phân tâm – Sartre và Kierkegaard tìm tự do trong phi lý – Thích Tuệ Sỹ tìm tự do trong chân lý vô ngã. Lộ trình Tuệ Sỹ không chống lại khổ đau, mà xuyên thông qua nó; không phủ nhận đời, mà sống giữa đời như một bài Tâm Kinh vô tự để từ đó đi vào “Tam Tâm Pháp Ấn”: Từ bi - Trí tuệ - Tự do.

 

Từ bi trong hành động: dấn thân vì tỉnh thức, vì con người, vì lý tưởng giác ngộ để hoằng dương chánh pháp. Từ bi, không chỉ là lòng thương mà là dấn thân. Thầy không rút lui vào cõi thiền am tĩnh mịch, mà bước ra giảng dạy, viết, dịch, tranh luận, hoằng pháp – để ngọn đèn Phật học Việt Nam không tắt giữa thế kỷ đầy biến động.

 

Trí tuệ trong ngôn ngữ: triết luận hàn lâm mà gần gũi, dịch thuật uyên bác mà tỏa sáng, thi ca bay nhẹ vào đời như mây trắng chân không. Trí tuệ, là cốt tủy trong từng trang kinh, từng luận thuyết. Từ Triết học về Tánh Không đến Đạo Phật và Con Người hiện đại, Thầy luôn đi tìm một lối vào Phật pháp bằng con đường khai phóng, nơi tri thức không đối nghịch với đức tin, mà nâng đỡ đức tin.

 

Tự do trong tâm thức: vượt mọi áp bức, không vướng vào danh lợi, hình tướng hay quyền uy. Tự do, là hơi thở cuối cùng của một đời người tu. Không tự do, thì đạo chỉ là khuôn phép; có tự do, mới có giác ngộ. Thầy từng nói:

 

 “Không ai có thể hoằng pháp nếu chưa từng giải thoát khỏi chính mình.”

 

Câu ấy, giờ đọc lại, như một lời gửi cho tất cả những người đi sau; những ai đang hoằng pháp trong kỷ nguyên hỗn mang của thông tin và ảo tưởng; rằng, điều quan trọng nhất không phải là nói về đạo, mà là sống được trong đạo.

 

Trong tác phẩm Triết học về Tánh Không, Thầy Tuệ Sỹ viết: “Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.” Tư tưởng này vẫn được xem là “dấu ấn triết học” của Phật học Việt Nam thời hiện đại: tự do như là tự tri; an trú trong chánh niệm. Bởi vậy, ánh trăng thiền vị trong thơ Tuệ Sỹ đã là một trời thơ. Đẹp quá!

 

Tuệ Sỹ không là một thi sĩ làm ra thơ mà thơ đã chính là tâm hồn thi sĩ nên thơ Thầy là một thiền khúc tâm ca vượt lối mòn và ước lệ thời đại.

 

 “Một ngày nào đó / Trên vết chân người / Cỏ sẽ mọc xanh / Và mưa sẽ rơi.”

Đó là lời của một người không tuyệt vọng, dù thân bị giam trong trần lao, tâm vẫn hòa vào hư không, như trăng soi qua song sắt.

 

Thơ Tuệ Sỹ là “thiền ca hiện sinh”; không nói vô ngã bằng triết, mà bằng hơi thở, bằng chữ nghĩa mềm mại, thong dong siêu vượt như hương khói nhang trầm.

 

Và ánh trăng vằng vặc trong tâm thức người ở lại

 

Đại Tường không phải là khép lại một kiếp người, mà là mở ra một kiếp sáng. Cuộc đời Thầy Tuệ Sỹ là minh chứng hùng hồn cho chân lý ấy. Thầy đã sống giữa hai cõi hiện sinh và siêu việt:

 

Ở cõi hiện sinh, Thầy từng chịu giam cầm, thiếu ăn, bệnh tật và cô đơn. Thân phận ấy, nếu nhìn bằng con mắt thế gian, là một bi kịch. Nhưng ở cõi siêu việt, chính trong khổ đau, Thầy tìm thấy con đường giải thoát như Thầy từng viết:

 

 “Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.”

 

Đó không chỉ là một phát biểu triết học, mà là một tuyên ngôn của tự do nội tâm – thứ tự do không thể bị còng trói bởi quyền lực hay xiềng xích.

 

Nếu Sartre nói: “Con người bị kết án phải tự do,” thì Thích Tuệ Sỹ lại cho rằng: “Con người giải thoát khi thấy rõ không có cái Ta nào để bị kết án.”

 

Thầy đã đi xa, nhưng Tuệ vẫn còn ở lại. Ở lại trong từng hơi thở của người học đạo, trong từng dòng chữ của thiền lâm Phật học, nơi Thầy đã góp phần gieo hạt giống tư tưởng, đối thoại và tự do. Ở lại trong những ai từng tin rằng Phật pháp không chỉ là giáo lý để tụng niệm, mà là ánh sáng soi đường trong những khúc quanh tối nhất của đời người.

 

Ngọn lửa Tuệ Sỹ đã cháy trọn một đời và chính vì cháy trọn, nên đã hóa thành ánh trăng. Ánh trăng ấy không bốc cháy dữ dội, mà soi đường cho từng bước chân hậu học trên con đường dài của Phật pháp và nhân sinh.

 

Những người ở lại, dù không đủ để nối gót, vẫn có thể giữ được ánh sáng khi vẫn khiêm cung lắng lòng trầm tư trong tịch lặng để chắt lọc pháp ngôn, xiển dương pháp thoại, sáng tác pháp tuệ, cung dưỡng pháp hành... trong tương quan nghệ thuật với nhân sinh cho Đạo và cho Đời.

  “Ta về trong bóng nguyệt xưa,

Nghe hoa vẫn nở như chưa hề tàn.”

 

                                       (Hồi quang)

 


Thầy ơi!

Ánh trăng vẫn đó.

Và trong mỗi người còn lại, ngọn lửa của Thầy chưa bao giờ tắt.

 

Sacramento, thủ phủ Cali. Quý Thu 2025

 

       Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

 

 

READ MORE - Ngọn Lửa và Ánh Trăng: Di sản tinh thần Thích Tuệ Sỹ giữa khổ đau và giải thoát - Trần Kiêm Đoàn

Friday, October 31, 2025

THƯƠNG HUẾ BÃO LỤT - Thơ Trần Hữu Thuần

 

Ảnh: Hữu Lợi (Huế)


THƯƠNG HUẾ BÃO LỤT

Thơ Trần Hữu Thuần

 

Ui chao ui, nghe Huế mình đang lụt,

Nước tràn làng, tràn phố, ngập hoàng cung,

Trời làm chi cơn lụt phá thiên tung [1],

Khổ quá chừng cho Miền Trung, cho Huế,

Nơi dân nghèo, đất hẹp, lúa rau cằn.

 

Thương cho o co ro, mưa xối xả,

Chừ mần răng nước đã ngập nóc nhà,

Chống bên mô cho túp lều khỏi sụm,

Che bên mô cho bớt lạnh bớt run?

Sữa mô nuôi con nhỏ còn non,

Ba bốn bữa cầm hơi bằng nước lã.

 

Ông mệ ơi, tuổi già sức ốm o,

Ôm chặt nhau níu mạng sống gầy gò,

Trên nóc nhà, bốn phía tuôn tràn nước,

Rét cầm cập, tư bề lạnh, mưa, gió.

 

Ui chao ui, Huế tui răng cực khổ,

Trời hành bắt nghèo đói lại thiên tai,

Biết mần chi cho tốt đẹp ngày mai,

Củ sắn củ khoai răng khổ tận tâm lai cho được.

 

Van xin Trời cho mưa ngừng, nước rút,

Cho bão tố ma vương lui vào địa ngục,

Hết phong ba lũ lụt,

Cho nắng lên cho mưa thuận gió hoà, 

Cho ruộng lúa đơm hoa,

Cho xứ mình cơm no,

Cho dân mình ấm áo.


(01/11/2025)

[1] Thiên tung bang nai: Một phương ngữ bình dân Huế ý nói tùm lum không biết đâu gốc ngọn

READ MORE - THƯƠNG HUẾ BÃO LỤT - Thơ Trần Hữu Thuần

CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI - Nguyên Lê - Lê Thi gởi đăng



CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI


Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc đôi nét về nhà văn:  Kim Quyên. 

Tên thật: Huỳnh Kim Hường (bút danh Kim  Quyên). Sinh ngày 09/09/1953 tại xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.  

Quê gốc Nam Bộ (Tiền Giang) và hiện đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh.  

Học vấn: Tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, khoa Nga văn; trước đó tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang, khoa Anh văn.  

Nghề nghiệp chính: Giáo viên ngoại ngữ; sau đó hoạt động văn chương, viết văn.  

Là hội viên của Hội Nhà Văn Việt Nam (từ khoảng năm 2000) và hội viên của Hội Nhà Văn TP.HCM.   

Nhà văn Kim Quyên lớn lên trong miền Nam, trải qua nhiều giai đoạn: học hành, nghề giáo viên, rồi dấn thân vào sáng tác văn chương với mối quan tâm sâu sắc tới quê hương Nam bộ, sông nước Cửu Long và đời sống người dân nơi này. Mỗi tác phẩm của chị mang hơi thở quê hương đậm nét Nam bộ, gần gũi thân thương mộc mạc.

                 

Sự nghiệp sáng tác:

Kim Quyên khởi viết từ khá sớm: có thơ và truyện ngắn đăng báo từ năm 1973. Bà viết đa dạng thể loại: gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, bút ký, thơ.  

 

Một số tác phẩm tiêu biểu: 

Nụ hôn đắng (tiểu thuyết, 1990) – Nxb Sở Thông tin – Văn hóa Tiền Giang.  

Nước rút (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 1997)  

Người dưng khác xứ (tập truyện ngắn, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2004).

Món ăn khoái khẩu Nam bộ (tạp bút, 2004)  

Ngã ba sông (thơ, 2006)  

Sài Gòn hào hoa (tản văn, 2011)  

Món ngon miền Tây (tạp văn, 2013)  

Quê ngoại (tập truyện–ký, Nxb Hội Nhà Văn, 2013)  

Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2015)  

Tình không biên giới (tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, 2017)  

Thành phố bên sông (tiểu thuyết, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2019)  

 

 Nét đặc trưng trong văn chương của Kim Quyên:

Viết nhiều về miền Nam, về quê hương Nam bộ – sông nước, con người, chuyển đổi xã hội.  

Ngòi bút dung dị nhưng thấm đẫm nhân tình — tức là nhẹ nhàng, gần gũi nhưng có chiều sâu.  

Bà từng chia sẻ: “Văn chương không chỉ là món ăn tinh thần… mà còn góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.”  


Những giải thưởng và ghi nhận: 

Kim Quyên đã nhận được nhiều giải thưởng và ghi nhận trong hành trình sáng tác của mình. Dưới đây là một số tiêu biểu:

-Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam” năm 2004.  

-Giải thưởng bút ký của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2008.  

-Giải thưởng của Bộ Giao thông Vận tải (năm 2015) cho tác phẩm viết về đề tài giao thông.  

-Giải thưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (năm 2016) cho tập truyện ngắn “Đi biển một mình”.  

-Giải thưởng Giải thưởng Mekong (giải của 6 nước Đông Nam Á) cho tiểu thuyết “Tình không biên giới” năm 2017.  

-Giải Khuyến khích trong đợt trao giải “sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí chủ đề ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh’ giai đoạn 2015-2020” cho tiểu thuyết “Thành phố bên sông”.  

 

Văn chương của Kim Quyên được giới phê bình đánh giá là “dù không to tát nhưng có sức lay động rất lớn”, đặc biệt vì sự chân thành, gần gũi và mang hơi thở nhân bản.  

 

Bà xuất phát từ một hoàn cảnh không hoàn toàn thuận lợi (hậu chiến, giáo viên, gia đình…) nhưng vẫn kiên trì viết, dấn thân với chữ nghĩa, đây là một điểm đáng khâm phục. Bà có rất nhiều kinh nghiệm sống nên bài viết, câu chuyện của bà như người trong cuộc, hóa thân vào số phận nhân vật.

 

Qua các tác phẩm viết về Nam bộ, về sông nước miền Tây, bà góp phần giữ gìn và tôn vinh vùng đất, con người miền Nam, đồng thời phản ánh biến động xã hội, lịch sử và những số phận cá nhân trong đó.

 

Sự nghiệp của bà là một minh chứng cho việc người viết văn không chỉ “viết cho mình” mà còn “viết cho đời”, viết để thể hiện tình yêu, trách nhiệm với quê hương và con người.

 

Nhà văn Kim Quyên như con tằm văn chương nhả tơ không biết mệt mỏi, cường độ làm việc của bà là một tấm gương cho lớp trẻ học tập . Tuy tuổi gần “ Nhân sinh thất thập..” nhưng vẫn cho tác phẩm ra đời đều đặn, và đang thai nghén nhiều kịch bản, tiểu thuyết. Ngoài thời gian viết bà đang giúp đỡ nhiều sinh viên viết luận văn thạc sĩ, nghiên cứu văn chương, hay hướng dẫn cho nhiều cây viết trẻ đam mê nghiệp văn chương . Bà được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, và đã đóng góp một phần không nhỏ cho nền văn học nước nhà. Xin kính chúc nhà văn nhiều sức khỏe và cho độc giả nhiều tác phẩm có giá trị.

 

Nguyên Lê- Washington. 

 (Ảnh:  Nhà văn Kim Quyên)

Gởi từ: thivanle1569@gmail.com

READ MORE - CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI - Nguyên Lê - Lê Thi gởi đăng

BẾN CHỜ / PHÍA TRƯỚC / VỚI... / DỊU VỢI - Chùm thơ Hoa Nguyên

 

Nhà thơ Hoa Nguyên

BẾN CHỜ

 

Vàng pha ráng đỏ hoàng hôn

Gió khua gác mái giã giòn khúc ru

Lầu chuông nghiêng bóng trầm tư

Bến chờ cứu thế ái từ toàn năng

 

Lời kinh niệm, chuỗi an lành

Phủ đông lạnh, tím sương giăng quan hà 

Giáng sinh ấm áp mọi nhà  

Hàm ơn phước quyện thánh ca nguyện thề

 

Bến chờ kẻ đợi nhiêu khê

Triều dâng ngập nỗi bộn bề niềm riêng 

Cửa hàng, tiệm hiệu phất lên 

Mưa rơi ướt mảnh trăng thềm phố hoa

 

Vượt cầu ngược gió âm ba

Đập ngăn mặn rẽ nước qua kè bờ  

Đã trôi xa mấy bến chờ

Mà xưa còn mãi hút mờ phiêu diêu

  

Tủi thân hồi đáp tình yêu

Đầu đời ghi khắc cô liêu khứ hồi 

Ép câu thơ gởi hẹn mời

Rồi cưu mang để tình đời chín thêm

 

                                  HOA NGUYÊN

 

 

 

PHÍA TRƯỚC

 

Người còn mải giấc nồng say

ẩn mây huyết dụ trăng đầy

đọng cánh mỏng màn sương rỏ

gió thu ve vãn trúc gầy

 

Tầng cao tụ thêm khí phách 

như vết hạc rạch thinh không

lờ lững ngang trời chớp giông

làng mạc kinh qua bão tố

 

Cư dân cần cù vất vả

bước thấp bước cao tất tả

đáp chiều tàn hương phai nhạt 

dẫu sao tư tưởng nén dằn

 

Gà gáy xa nhắc sớm mai…

rướn vai đo mình phép thử

rộng mở con tim nhỏ hẹp

tình yêu lớn dậy nhân từ

 

Ngày mới nắng vàng quê phố

gian truân năm tháng qua rồi!

nhìn về phía trước đẹp tươi

nhìn về phía trước thảnh thơi

 

                          HOA NGUYÊN

 

 

 VỚI...

 

Đương thì nhựa sống tươi non

Trổ bông ngấp ngó giữa đồng ưu tư

 

Miền yêu đôi lứa luyến lưu

Khoác choàng vạt nắng thiên thư bềnh bồng

 

Ngói đình mái lợp rêu rong

Trở chiều lần chuỗi tay không đời thừa 

 

Trời yên biển lặng dĩ hòa 

Điệu buồn chất ngất suốt mùa đông qua

 

Giờ nghe dư chấn thu ba

Dát đầy phong vị ta bà cổ thi

 

Văn bia, câu đối, hoành phi

Với ân tình bạn và tri âm đời

 

Cho nhau ý nhị môi cười

Để cùng hành xử vui người với ta

 

                           HOA NGUYÊN

 

 

 

DỊU VỢI

 

Nếu thích tìm nơi thanh khiết

thả hồn phác thảo thiên nhiên

ghé Resort đường Yên Ninh

đổi gió tắm nắng bơi lướt 

 

Hotel Long Thuận bốn sao

view rộng lý tưởng bao quát

tha hồ dạo Công Viên biển 

món ngon tươi vị ngọt giòn

 

Hoàn Mỹ sang trọng văn minh

thuận lợi xe đi, khách đến 

gần Hotel Park Sunbay

đôi toà cao tầng đang xây

 

trầm tịnh lắng Tiểu Tháp Chàm

đỏ màu hoang sơ cổ tích

khu sinh thái Con Gà Vàng

quầy sau chiêu đãi điểm tâm

 

Cạnh có Aniise tiện ích

ẩm thực đêm, sân tennis

nhìn qua khách sạn năm sao

dãy tòa sắc giống phấn tảo

 

Ngã tư biển núi Sunrise

quần thể thiền tự di tích

thoáng thông tầm vóc sạch sẽ

chuông ngân non ngàn dịu vợi

 

Tầng cao dịch vụ đủ đầy 

ngắm ván diều bay trên sóng    

trải nghiệm làng nghề nông ngư

trại Mát, Thuỷ Tiên, Ninh Chử

 

Đìa tôm lồng bè hàu ốc

ngoại ô nhà hàng Đầm Nại

trên biển thưởng thức hải sản

tham quan cánh quạt, điện trời

 

                           HOA NGUYÊN

 

 

NGUYỄN THỊ HOA

ninhthuanhoanguyen@gmail.com

PHAN RANG NINH THUẬN

KHÁNH HOÀ

READ MORE - BẾN CHỜ / PHÍA TRƯỚC / VỚI... / DỊU VỢI - Chùm thơ Hoa Nguyên

Thursday, October 30, 2025

CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT NGÀY SỬA NHÀ - Đặng Xuân Xuyến




CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT

 NGÀY SỬA NHÀ

 

 Sửa nhà giúp tôi, Trương Duy Nhất suốt ngày than vãn: "Sửa nhà cho anh mệt quá. Hàng xóm của anh sao toàn bọn chó thế? Dưới Nguyễn Văn Trỗi gặp vợ chồng con chó T, trên Đường Láng lại gặp con chó H. Sao số anh nhọ thế?". Tôi nghe, chỉ cười nhạt: - Chắc kiếp trước anh nợ họ nên kiếp này họ đòi nợ anh.

 

Nhất nghe xong thì cáu: - "Số cái con khỉ! Anh hiền quá nên bị bọn chó nó bắt nạt. Phải tay em thì em đập chết mẹ chúng nó rồi!". Tôi lại cười, thầm nghĩ: Ừ thì đập. Đập xong rồi sao? Mấy ai hiểu được những chuyện tưởng chừng ngẫu nhiên trong đời hóa ra đấy lại là những mắt xích của một sợi dây nghiệp chướng vô hình.

 

Tôi kể Nhất nghe chuyện bảy lần tôi thuê cửa hàng thì cả bảy cửa hàng đều bị khuyết góc phía sau nhà. Chuyện nhà của bố mẹ tôi rồi nhà của tôi cũng vậy, đều bị khuyết một góc. Nhất tròn mắt, mặt thoáng có vẻ sợ sợ. Tôi kể tiếp: - Điều lạ lùng nhất là tất cả cửa hàng anh thuê hay nhà của anh thì đều bị phát sinh mâu thuẫn với nhà hàng xóm ở phía góc khuyết sau nhà cho dù anh có đối xử với họ tử tế thế nào!.

 

Nhất im lặng. Tôi biết, những chuyện tưởng chừng huyền hoặc này đã chạm đến một cái gì đó rất sâu thẳm trong niềm tin của con người về tâm linh, về nhân quả ở Nhất. Tôi cũng kể Nhất nghe điều lạ lùng khác nữa là nhiều lần tôi đã được chiêm nghiệm những người từng tìm cách hãm hại tôi thì sau một thời gian gia đình họ đều có kết cục chẳng ra gì: bệnh tật, sa sút, tan cửa nát nhà. Không phải tôi nguyền rủa họ mà tôi nhận ra một điều: có lẽ họ đã tạo quá nhiều nghiệp ác, đến lúc họ phải gặp quả báo.

 

Tôi nói với Nhất cũng là nói với chính mình: Tâm linh, tín ngưỡng không phải thứ đem ra để dọa nhau, càng không phải để đem gieo rắc mê tín dị đoan. Nó là một phần của văn hóa, là một sự chiêm nghiệm của người đời về những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Một cái nhà khuyết góc, có người bảo là xui xẻo, là phong thủy xấu nhưng với tôi nó như một lời nhắc nhở, như một sự thử thách để tôi nhìn nhận lại cách mình sống, cách mình đối xử với những người xung quanh.

 

Nhất nghe rồi cười cười, trầm giọng: - "Thế thì số anh khổ thật!".

 

Tôi cũng cười, không phải là cười cợt mà là nụ cười của sự thấu hiểu: - Thế nên mình cứ sống thiện cho lành, em à. Cuộc đời có vay có trả. Dù là trong kiếp này hay kiếp sau, dù tin hay không tin, thì cứ sống tử tế, sống thiện lương thì tự khắc cuộc đời sẽ được an yên. Sống mà nghĩ đến nghiệp thì sẽ bớt làm điều ác. Sống mà tin vào quả báo thì mình sẽ tự dưỡng đức tu thân.

 

Giữa thời đại mà giá trị vật chất lên ngôi, người ta đôi khi quên mất những giá trị tâm linh nhưng những câu chuyện như chuyện của tôi, của Nhất, của những kẻ hại người rồi phải nhận quả báo... vẫn cứ hiện diện trong xã hội như một lời nhắc nhở rằng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng và luật nhân quả không phải là chuyện viển vông, mà là một phần tất yếu của cuộc đời này. Nó tồn tại để con người biết sợ, biết giữ tâm thiện, hướng lành để sống thiện lương, không hèn, không ác, để lúc cuối đời nhìn lại ta mỉm cười với nụ cười thanh thản.

 

 Hà Nội, ngày 16 tháng 10-2025.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - CHUYỆN TRÒ VỚI NHẤT NGÀY SỬA NHÀ - Đặng Xuân Xuyến

Tuesday, October 28, 2025

Ca khúc NẾU MAi TÔi Đi - Nhac: Phạm Anh Dũng - Lời: Như Ngọc Hoa - Trinh bày: Diệu Hiền - YouTube





READ MORE - Ca khúc NẾU MAi TÔi Đi - Nhac: Phạm Anh Dũng - Lời: Như Ngọc Hoa - Trinh bày: Diệu Hiền - YouTube

CHÙM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách



 

CẮT CỎ

Chăn bò cắt cỏ trẻ nhà quê

Tự tuổi mươi hai đã biết nghề

Đồng sâu hạ thắm vui tay đến

Bãi cạn xuân tươi thỏa gánh về

Mây xanh hạ giới nhìn chê chán

Cỏ biếc tiên bồng ngắm hả hê

Đẹp nhỉ trời cao đôi cánh hạc

Quảy đầy hơn bạn chắc ba mê.

 

                          Hạ 1978

                  Lưu Lãng Khách

 

 LẢY BẮP VÒNG CÔNG 

Lảy bắp trăng rằm vui quá vui

Thi nhau xịt điện hết đường lui

Đôi anh hát giọng như ngan đực

Lắm chị ca ngon tựa mía lùi

Một cót to đùng chung thả sức

Ba nong hì hục đống trơ cùi

Bắp rang cả rổ ngào thơm phức

Một chén phần cho tớ mãi dùi.

            Xuân 1978

         Duy Toàn xứ Hổ

 

 

THẦY DŨNG CÔ THUẬN

Một cặp thầy cô phải nói là

Nam thanh nữ tú nhất trường ta

Trán cao mắt sáng bờ vai rộng

Nhỏ nhắn da ngăm dáng mặn mà

Sáng sáng dạy cùng vui vẻ sống

Chiều chiều phố thị biết gần xa

Em mong thầy Dũng và cô Thuận

Trời đất về chung một mái nhà.

                  Thu 1978

              Duy Toàn xứ Hổ

 

 

ĐỂ BỐN NGANG NHIÊN

Mười chín giờ đi vắng cả rồi

Chỉ còn tám bảy sáu năm thôi

Hôm qua tám bỏ mình đi nốt

Để bốn ngang nhiên chễm chệ ngồi.

               Đầu đông 1978

               Duy Toàn xứ Hổ




TIẾNG TRƯỞNG NAM

Tớ chỉ là mang tiếng trưởng nam

Vạn sự anh Hai mãi thế làm

Cúng giỗ bao năm chưa lệ bái

Cửa nhà Tết nhứt chẳng lần kham

Bốn chị quan tâm buồn ruộng bãi

Ba anh ngó nghĩ cuốc nào ham

Thương em ít tuổi còn thơ dại

Chức trưởng anh Hai mãi thế làm.

                Thu 1978

            Duy Toàn xứ Hổ


NGHỈ DẠY BÌNH DÂN HỌC VỤ

Học chẳng làm sao phải dạy ôi!

Ừ thì cứ việc phóng đơn đôi

Đọc to chữ cái nhiều cô hiểu

Giảng nhỏ nguyên âm mấy chú ngồi

Luyện chữ rồng bay ngưng cháu chịu

Ghép vần phượng múa bác dì thôi

Từ mai có lẽ xin ngừng dạy

Bởi hết hè khai giảng sắp rồi.

           Thu 1978

         Duy Toàn xứ Hổ








 

READ MORE - CHÙM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách