Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 17, 2022

MÙA THU GỬI ANH… - Thơ Trần Mai Ngân


 


MÙA THU GỬI ANH…
 
Anh! Mùa Thu mây trắng đã bay về
Em như chiếc lá vàng những ủ ê
Vụng về, vụng về… từ chối lời yêu
Dù biết hối tiếc sẽ nhiều… nhiều lắm!
 
Anh!
Mùa Thu nhuộm vàng cả chiều mê đắm
Và khi không còn gửi lời tin nhắn
“Anh - cơm trưa cá kho, canh rau đắng
Em ăn gì… nhớ vui vẻ nhiều nghe…!”
 
Trái tim em đàn bà nên rất nhẹ
Sẽ xáo trộn và bộn bề bởi nhớ
Hãy để yên cho mùa Thu qua cửa
Làm mây bay… bay mãi chẳng quay về
 
Anh! Giữ lại đi những nỗi đê mê
Đừng cột chặt để em vào ảo tưởng
Thu đến rồi đi không cầu, không cưỡng
Em là Thu… anh mây trắng qua trời!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - MÙA THU GỬI ANH… - Thơ Trần Mai Ngân

Video giới thiệu tác phẩm CÂU ĐỐI TOÀN THƯ - Phạm Bá Nhơn

 


READ MORE - Video giới thiệu tác phẩm CÂU ĐỐI TOÀN THƯ - Phạm Bá Nhơn

NHỚ! CÔ BẠN HỌC - Tuỳ bút - Thuỳ Vy

 


NHỚ! CÔ BẠN HỌC

Thuỳ Vy

 

Nhớ! Ấy là cái tên của hắn, cô bạn học sư phạm đầu tiên tôi bắt nhịp tại Cao đẳng sư phạm nay là Đại học sư phạm Đà Nẵng, là Phó học tập, Bí thư Đoàn lớp, vẽ hát thể thao chi Nhớ cũng chơi tuốt.

 

Nhà ở Điện Phương Điện Bàn nên thứ 6 tuần nào cũng đạp xe về phụ  mẹ làm lagim. Tối chủ nhật hoặc sáng thứ hai thế nào tôi cũng có quà. Nhớ thường dấm dúi cho tôi hoặc bắt ăn hết mới được về phòng. Hai năm sư phạm chúng tôi được học được chơi cùng nhau. (Có lần hai đứa bị thầy giáo tự nhiên phạt vì tội tập đánh trống chào cờ trong giờ giải lao tại chỗ, và hôm đó lớp được thưởng thức tiết mục song ca bất đắc dĩ.) Có lúc Nhớ đèo tôi về nhà rồi qua Câu Lâu thăm dì. Hè, Nhớ cùng bạn phượt xe đạp qua từng chặng thăm nhà từng bạn. Hồi đó không phải xin việc, chúng tôi được huyện bố trí khi vừa tốt nghiệp vì chỉ tiêu nhiều mà sinh viên ít.

 

Tôi có người thân ngoài Đà Nẵng nên mỗi lần đi về thường ghé Điện Phương thăm gia đình Nhớ. Đám cưới, tôi gửi thư thăm ba Nhớ và xin cho Nhớ lên vui cùng. (Gửi thôi chứ bụng không dám tin là được.) Vậy mà Nhớ lên thiệt, từ chiều trước và ở chơi cùng ba mẹ tôi mấy ngày sau.

 

Tôi có đứa em học Hội An, má tôi ra, luôn tiện ghé nhà Nhớ thăm chơi. Nhớ đèo má tôi xuống thăm em cho biết chỗ. Vậy là bình quân hai tuần một lần, em tôi được chị Nhớ ghé thăm. Gần như năm nào chúng tôi cũng gặp nhau ít nhất hai lần. Xa quá nên hai đứa cùng chạy, lúc thì Hương An, khi thì Hà Lam. Có lần vui quá chúng tôi chạy thẳng lên Đèo Le chơi tối mịt mới về. Không alo thường xuyên nhưng chỉ cần một trong hai đứa nhận tin gặp nhé, thế là gặp.

 

Hai năm covid chặn đường, hôm xưa từ bốn rưỡi chiều đến chín rưỡi, được cafe ăn uống cùng nhau với vài người bạn. Vẫn vậy, không ồn ào, không vội vã, cái ôm nhẹ, tiếng cười giòn ngắm sông Hàn, dạo phố.

 

Vậy đó, cái tình không nhiều nhưng đủ ấm, hai chín năm bao điều để kể, bao điều để say, thầm mong cả hai khoẻ bình an để chạy đến bên nhau lúc nhớ.

 

Thùy Vy


READ MORE - NHỚ! CÔ BẠN HỌC - Tuỳ bút - Thuỳ Vy

HOA TRẮNG THÔI CÀI - Chùm ảnh Chu Vương Miện











 

READ MORE - HOA TRẮNG THÔI CÀI - Chùm ảnh Chu Vương Miện

Saturday, October 15, 2022

DỐC MÙ U - Truyện ngắn Vũ Ngọc Giao

                                                          

Nhà văn Vũ Ngọc Giao


Dốc Mù U

 

  Truyện ngắn VŨ NGỌC GIAO

 

 

Bà câm sống một mình trong cái chòi dưới chân con dốc Mù U. Nơi đó vắng ngắt, cánh đồng bỏ hoang, mấy con bò làng bên cũng chẳng buồn sang gặm cỏ, những đám cỏ cằn khô, trơ cả gốc. Chỗ bà câm ở, đến tiếng gà gáy nghe cũng xao xác, buồn thiu. Tụi trẻ con làng bên mỗi khi có việc đi qua dốc Mù U, đang cười đùa chúng cũng bấm nhau im thin thít. Chúng im vì sợ nghe tiếng chúng, “ma cây” bên dốc Mù U sẽ nhảy ra kéo vào bụi, đứa nào cũng cắm cúi đi vì sợ chỉ cần nhỡ chân sẽ rơi xuống đồng trũng, có ai ở đó đâu mà kéo lên được. Vào mùa gặt họa hoằn lắm mới có con chim cu cườm ghé qua gừ gừ vài tiếng gọi bạn rồi lại đập cánh bay tít sang cánh đồng bên.

Cái chòi của bà câm nhỏ xíu nhưng sân trước thì rộng thênh. Trước sân bà kê một cái kệ được ghép lại bằng mấy tấm gỗ ván ọp ẹp. Trên đó bày la liệt các thứ linh tinh: Bánh kẹo, dầu gió, thuốc lá… cũng có khi vài bó rau bà trồng trong vườn hay những trái mướp bị ong đốt còng queo. Ai cần gì đến mua bà cũng có, từ cây kim, cuộn chỉ đến lít dầu hỏa, dấm, đường... Người làng hầu hết sống ở bên kia con dốc, họa hoằn lắm mới có người ghé mua khi có việc đi qua.

Con dốc Mù U chỉ có tiếng chân người khi chợ họp vào sáng sớm, cái chợ tạm bên kia con dốc. Muốn đi chợ, người làng bên thường đi đường tắt, qua con dốc này để tránh đoạn đường lớn khá xa ngoài kia. Có khi họ dừng lại quán bà uống ly nước chè hoặc ngồi trốn nắng rồi lại tất tả đi về. Mỗi khi có khách ghé qua, bà câm vui lắm, lật đật đi khiêng ghế cho khách. Mùa hè nóng nực, thấy khách mồ hôi nhễ nhại, bà luôn cầm cái quạt mo cau phe phẩy cho khách, vừa phe phẩy vừa canh chừng ấm nước chè trên bếp. Tan chợ, dốc Mù U lại vắng tanh, quán bà cũng chỉ còn vài bông nắng lưa thưa nhảy nhót.

Bà câm lặng lẽ sống ở đó bao nhiêu năm, người trong làng cũng không còn nhớ nữa, chỉ nhớ rằng mùa lụt năm đó, đêm đến nước sông đột ngột dâng lên ngập cao quá nửa cái cổng đầu làng. Sáng hôm sau nước rút, người làng nhìn thấy một người đàn bà nằm sấp bên vệ đường, trên người còn đeo môt chiếc túi vải. Tưởng bà đã chết, người làng đưa về sân đình, đợi chôn cất. Nào ngờ bà còn thoi thóp. Được cứu sống, người đàn bà tỉnh lại nhưng chỉ ú ớ, không nói được lời nào. Dân làng kéo ra sân đình xem người đàn bà xinh đẹp từ đâu không rõ, dạt về làng. Bà không nói, chỉ ra hiệu xin được ở lại nơi đây vì gia đình chẳng còn ai, nhà cửa cũng bị lũ cuốn trôi. Làng xóm thương tình dựng cho bà cái chòi dưới con dốc Mù U, nơi bà đã trôi dạt về. Chỗ này tụi con nít trong làng ban đêm không dám đi qua, chúng đồn rằng dưới chân con dốc Mù U có nhiều ma trơi, đêm đến lại lập lòe trên đồng trũng.

Nhà con Lem cũng ở dưới chân dốc Mù U, nhà nó cách nhà bà câm một mảnh vườn rộng. Mỗi khi ba mẹ ra đồng, con Lem lại vén hàng rào, mon men sang nhà bà câm. Lần nào nó cũng đứng lấp ló ngoài cửa, đợi bà ra nắm tay dắt vào. Thường thì nó chẳng phải đợi lâu, thoáng thấy bóng con Lem, dù bận cách gì bà cũng ra dắt nó vào, cho nó ngồi trên cái chõng tre gần bếp lửa. Con Lem cũng chỉ chờ có vậy, nó ngoan ngoãn ngồi xếp bằng trên cái chõng xem bà loay hoay với mớ chai lọ đựng bánh kẹo, rượu và thuốc lá. Mẹ nó kể ngày còn trẻ bà đẹp lắm, sau mùa lũ trôi giạt về làng, đàn ông trong làng nhiều người hỏi bà làm vợ, nhưng bà chỉ lắc đầu, ở vậy. Gương mặt bà đến giờ vẫn đẹp, kín đáo, mặn mà. Dáng bà cao dong dỏng, đi đứng khoan thai, nhẹ nhàng, trông bà khác hẳn những cụ bà lam lũ trong làng.

Mùa hè bà câm chỉ độc mặc yếm. Cái yếm màu cánh gián và chiếc quần dài lụa đen. Ngồi bên hiên chải tóc, trông bà như vừa bước ra từ truyện cổ tích. Ngoài các thứ linh tinh bày bán trên kệ, gia tài bà chỉ có một cái tủ gỗ cũ kỹ, một chiếc chõng tre và một cái kiềng ba chân để nấu ăn. Bên bếp luôn có một niêu cơm nhỏ xíu và một ơ cá kho khô, bà kho đi kho lại đến quắt queo. Hết ngày này sang ngày khác con Lem thấy thức ăn của bà chỉ có vậy. 

Lần nào con Lem qua, bà cũng cầm bàn tay nó mân mê thật lâu, xoa xoa, nắn nắn rồi đưa lên mũi hít hà. Bà nội con Lem chết từ khi nó còn trong bụng mẹ, nên nó thương bà câm lắm. Nó ngồi yên, giương đôi mắt đen láy nhìn mấy cái lọ đựng kẹo ú, kẹo dừa. Lần nào hít hà bàn tay nó xong, bà cũng lật đật đến cái kệ run run mở nắp lọ kẹo dừa lấy cho nó mấy cái, tiện tay bà còn bẻ thêm trái chuối trên buồng đang treo lủng lẳng trước quán. 

Chiều. Dốc Mù U vắng ngắt. Bà câm ngồi nhẩn nha khâu lại cái áo. Xa xa tiếng gà xao xác gáy trưa, thảng có tiếng xe trâu lục cục chạy qua. Chiều nay không thấy con Lem sang chơi, bà lẳng lặng soạn kim chỉ ra khâu vá cho đỡ buồn tay. Giàn mướp trước sân hết mùa, trơ ra những chiếc lá khô rụng xào xạc trước hiên. Bà dừng khâu, đứng lên đấm thùm thụp vào cái lưng đau rồi mang chổi dừa ra hiên quét lá, để nhỡ con Lem chạy qua dẫm lên lại vụn ra như cám. Quét xong bà chống cây chổi nhìn sang nhà con Lem, bên kia hàng rào im ắng, có lẽ con Lem xuống xóm dưới chơi với tụi trẻ trong làng. Gió hiu hiu đưa sang một mùi khen khét. “có lẽ cha nó dọn vườn, đốt lá”, nghĩ vậy bà cúi xuống tém nốt đám lá khô vào một góc đợi chạng vạng đốt cho đỡ muỗi. Mùi khen khét bên nhà con Lem bay sang càng lúc càng đậm đặc, bà dừng tay vén hàng rào chui qua. 

Trong vườn, con chó Lu đang cong đuôi chạy quanh sân, nhìn thấy bà nó vẫy đuôi ư ử. Một làn khói cuộn lên từ bên trong nhà con Lem. Bà chưa hiểu chuyện gì, con Lu đã chạy đến cào vào chân bà kêu ăng ẳng. Bà sực tỉnh “Thôi chết, mẹ con Lem ra đồng quên dập bếp lửa”. Bà lao vào nhà, bên trong mù mịt khói, lửa lúc này đã bén lên mái, lan ra cả vườn sau, ngùn ngụt cháy. Bà  quýnh quáng ra lu nước lấy chậu tạt lia lịa vào đám cháy, nhưng không kịp nữa rồi, ngọn lửa bùng lên dữ dội. Trong lúc hoảng loạn, bà chợt nghe tiếng thét “Cứu con!”. Là tiếng con Lem, bà câm sững lại. Hóa ra con Lem đang ở trong nhà. Vớ được cái chăn ở góc giường, bà lao về phía con Lem. Trong đám khói mù mịt, bà nhìn thấy nó ngồi co rúm, gương mặt thất thần. Chỉ kịp trùm cho nó tấm chăn, bà ôm nó ra ngoài. Lúc này đám cháy đã bủa vây bốn bề, bà kiệt sức gục xuống nhưng vẫn quấn con Lem trong tấm chăn, nằm đè lên che cho nó. Ngọn lửa lan đến chỗ hai bà cháu, nóng rẫy. Bà chỉ kịp ú ớ “cứu… cứu…” rồi ngất lịm...

Người làng kéo đến, một lúc đám cháy được dập tắt. Căn nhà của con Lem bị thiêu rụi, chỉ còn là một đống đổ nát. Người ta tìm thấy xác bà câm nằm sấp bên cánh cửa, trong lòng bà, con Lem đen nhẻm vì khói, đầu tóc cháy xém. Nó vẫn còn hoảng loạn nhưng không khóc, cũng không thốt ra được lời nào.


                                                       * * *

Con Lem ngồi trên cái nền gạch đã cứng lại như đá, trước khi bị phá đi, nơi này là cái chòi của bà câm. Nó thẫn thờ nhìn những cánh cò chấp chới ở cánh đồng bên, gần đó mấy con bò gầy nhom đang nằm tránh nắng dưới tán cây, trệu trạo nhai cỏ. Ngoài vườn chỉ còn lại vài bông nắng lưa thưa dưới giàn mướp cuối mùa. Gió chiều hiu hiu khiến mấy sợi tóc đang bết lại trên trán nó bay phơ phất. Có lẽ gió cũng buồn, gió cũng mồ côi. Trên cái sân gạch này, chỉ mới đây thôi là cái quán nhỏ, trưa hè bà câm thường ngồi chải tóc.

Xa xa có tiếng gà xao xác gáy. Ngọn lửa hôm nào đã thiêu rụi đám cỏ trong vườn, vạt đất trũng xuống, những bông hoa cỏ li ti, yếu ớt còn sống sót đang rung nhè nhẹ. Con Lem lại nhớ bà câm. Cho đến lúc bà chết đi, người làng cũng không ai biết tên bà, chỉ tìm thấy một tấm hình đen trắng đã nhòe, tấm hình duy nhất trong cái túi bà đeo bên người ngày bà trôi dạt đến làng, Trong hình là một đôi vợ chồng trẻ, người đàn bà gương mặt rạng ngời, trên tay bế đứa bé con nép bên chồng, là bà câm ngày xưa. Người làng chôn bà câm bên con dốc Mù U, nơi bà đã đến và sống mấy mươi năm. Con dốc đến giờ vẫn buồn thiu.

Tránh nhớ về cảnh tang thương ngày nào, ba mẹ con Lem dọn về làng. Hôm qua nó nghe ba mẹ bàn đợi đủ năm sẽ đưa bà về nằm trong vườn nhà cho ấm. Mỗi khi đi học về, ngang qua dốc Mù U con Lem luôn dừng lại bên mộ bà câm, nó lặng lẽ nhổ cỏ, thầm thì kể chuyện nhà, chuyện lớp cho bà nghe. Nhìn những trái Mù U rụng vơ vất quanh mộ bà, nước mắt nó trào ra vì nhớ, nhớ niêu cơm nhỏ xíu, nhớ mấy con cá kho khô quắt queo, nhớ cục kẹo ú, nhớ cả bàn tay gân guốc của bà ôm trọn bàn tay nó... 

Người trong làng đến giờ vẫn nhắc đến bà câm và con Lem là người duy nhất trong làng được nghe tiếng bà vào giờ phút cuối, người đàn bà một đời câm lặng. Mỗi khi qua con dốc Mù U, nghe tiếng gió xào xạc, con Lem lại tưởng như bước chân bà câm đang đến bên nó, chải mớ tóc rối cho nó. Mắt nó cay cay, thấy mình như chưa từng có ở trên đời...

 

 

V.N.G


                                                                               <miengiao2007@gmail.com>






READ MORE - DỐC MÙ U - Truyện ngắn Vũ Ngọc Giao

BỎ PHỐ VỀ QUÊ - Truyện ngắn đầu tay của Thùy Vy

 

Tác giả Thùy Vy


Truyện ngắn đầu tay

BỎ PHỐ VỀ QUÊ

Thùy Vy

 

 

Biết nhau từ nhỏ, người cùng làng. Ba mẹ là bạn của nhau nên hai đứa quen càng thêm thân. Lan mảnh mai, tính hay mít ướt.

Năm lên mười bốn, vì hoàn cảnh gia đình xảy ra chuyện, anh hành trang theo ba mẹ rời quê về phố, người lớn tất bật nào có thấy được sự loay hoay lo lắng của anh và cái nhìn không đặng… từ Lan. Anh dúi vào tay Lan cuốn vở mà thường ngày hai đứa trao bài giải tập rồi bảo: Anh sẽ về!

 

Ngồi trên xe mà lòng buồn như cắt, từ nay ai đưa Lan đi về, ai hái trái cho Lan và cả lau nước mắt cho Lan nữa... Bao nhiêu ấy cứ luẩn quẩn trong đầu anh mà đến nơi lúc nào không biết, anh tự nhủ lòng mình: Sẽ về!

 

Về phố, gia đình lại bao nhiêu là việc, thu xếp chỗ ở, công việc ba mẹ, việc học của anh, lâu lâu vẫn thăm hỏi nhau qua tin nhắn.

 

Xong mười hai rồi đại học, nhớ quê anh tìm về. Gặp nhau ngỡ ngàng, lòng mừng vui khấp khởi. Nay Lan đã là nữ quân y đôn hậu nhiệt thành.

 

Thời gian ở quê không nhiều nhưng cả hai cũng dành cho nhau những khoảng riêng để sục lại kí ức xưa. Lan đưa anh xem cuốn tập và hỏi: Anh còn nhớ? Anh nắm tay Lan ngõ ý muốn tiến xa hơn những gì hai người đã có.

 

Dưới ánh trăng quê, mùi hương đồng nội, mùi tóc của Lan và tiếng thì thầm của cây cỏ như nói hộ lòng người.

 

Trước khi chia tay, anh bảo sẽ tìm việc trên phố cho Lan, thời gian này phải luôn thông tin cho nhau.

 

Đùng một cái dịch xảy ra, đường ra phố ngày một xa, nhớ càng thêm nhớ, ba mẹ hai nhà biết chuyện động viên cùng nhau cố lên, đợi ngày...

 

Dịch ngày càng nhiều, phố ngày bệnh nặng, công ty anh được xử dụng làm bệnh viện dã chiến, anh tham gia thiện nguyện phòng chống dịch. Lan cũng đăng kí vào Nam hỗ trợ, hai đứa vẫn giữ liên lạc nhưng không đều.

 

Một tháng, hai tháng rồi nhiều tháng, hơn năm... Hai người có dịp gặp lại nhưng cả hai được bọc kín đồ bảo hộ, anh muốn ôm chầm lấy Lan, muốn nói thật nhiều, muốn truyền hơi ấm tiếp thêm sức mạnh, nước mắt chực trào chực trào. Lan nắm chặt bàn tay mình đưa về phía anh rồi đưa tay lên ngực trái. Nhìn Lan bước vào xe cứu thương và khuất dần, anh nhủ thầm: Nhiều người cần Lan, cố lên.

 

Bảng tin y tế đều đặn hằng ngày, con số còn tăng, đội ngũ tuyến đầu lao tâm lao lực. Hôm ấy, Lan quỵ ngay trong phòng bệnh khi cài máy thở cho bệnh nhân nhưng lại không còn hơi cho mình. Lan đã đi. Đồng nghiệp bên cạnh nhưng người thân lại quá xa, trời hôm ấy nhiều mây.

 

Đêm nay anh lại một mình, những giọt cafe đắng như không đắng hơn. Trong căn phòng tối, tiếng quạt máy tiếng lách cách của chiếc đồng hồ trên tường bỏ phố về quê.

 

Thùy Vy

READ MORE - BỎ PHỐ VỀ QUÊ - Truyện ngắn đầu tay của Thùy Vy

Friday, October 14, 2022

THANH THẢO, HÁT GIỮA GIÓ MƯA - Nguyễn Đức Tùng

(Lời tựa cho tập thơ “Hát Giữa Gió Mưa” của Thanh Thảo, 2022)
 
Nhà thơ Thanh Thảo

Thơ thức dậy mỗi ngày. Công việc của nó không chỉ là ghi lại đời sống, mà còn góp phần tạo ra một đời sống mới, trước đó chưa từng có. Thơ hồi phục mối quan hệ giữa xúc cảm và kiến thức, giữa kinh nghiệm và tâm linh. Tuy vậy một bài thơ vẫn giữ trong nó sự mất cân bằng hướng về phía trước, cái còn lại trong một bài thơ là một điều gì không được êm thấm, khác với sự ru ngủ. Thơ không phải là bài hát ru, vì thế. Đó là lối kể chuyện điềm tĩnh như không, mà chan chứa nỗi lòng, ai nghe cũng được, không nghe không sao.
 
lục bình ơi cho tôi trôi với
trôi lên rồi trôi xuống thôi mà
trong đầu tôi bao ý nghĩ bôn ba
làm sao hôm nay có ai đặt bài
kiếm một chút tiền còm cho trẻ nhỏ
kiếm một vài cánh hoa chầm chậm thả
lên trời
 
Anh không triết lý, chất giọng của anh là của những tâm sự riêng tư. Đời sống là kết hợp nhiều chuỗi khoảnh khắc, tốt và xấu, hy vọng và thất vọng, hơn là một đường vạch đơn điệu từ quá khứ đến tương lai. Vì vậy mỗi giây phút có thể mang một nội dung cực lớn, vượt ngoài chính nó. Tôi nghĩ thơ làm cho những khoảnh khắc như thế lớn lên, chậm trôi qua, đôi khi chiếu sáng. Tùy bạn, khoảnh khắc có thể là quà tặng, có thể là cạm bẫy. Đã qua lâu rồi thời kỳ của chủ nghĩa duy ý chí, cho rằng con người làm chủ số phận mình. Quả thật đôi khi lịch sử cũng nghe lệnh chúng ta, làm con người trở nên kiêu hãnh về chính mình, cho đến khi hiện thực dạy ta bài học khác. Đôi khi trong đời mọi thứ đều tốt đẹp, bỗng cơn bão xô tới, tai ương, động đất, liên lụy, bệnh tật. Mọi thứ vứt đi cả. Chỉ lúc ấy thôi người ta mới ngồi xuống, tập nhìn như Thanh Thảo.
 
Những con gián thật hiền
Thật nhỏ bé
Khi sống không có ước mơ nào đáng kể
 
Mong hai con gián bình yên rời cõi này
Về cõi gián
 
Không hoành tráng
Nhưng biết làm sao
 
Ai cũng biết nghệ thuật dù viết về đề tài gì, kể chuyện người hay chuyện ma, thì cũng để nói với con người về con người. Nhưng đọc mấy câu này của Thanh Thảo, tôi không biết điều ấy đúng đến đâu. Chẳng lẽ không có bài thơ nào viết về gián, cho gián?
 
Quà tặng của một khoảnh khắc đến từ những ngọn nguồn nguyên thủy, cái vô thức. Bạn muốn nhận ra ánh sáng mới, bạn phải từ bỏ ngày hôm trước. Từ bỏ ngày hôm trước không phải chỉ là từ bỏ sự đề kháng đối với hiện thực mới, hôm nay, mà còn là buông bỏ mọi nghi vấn, mọi mặc cảm, mọi hy vọng. Nhìn những con gián, người ta không thể hy vọng điều gì cả. Tất nhiên không phải khi nào Thanh Thảo cũng làm được vậy, cũng buông bỏ được tất cả: quá khứ, niềm tin, lòng yêu cuộc sống, quan niệm phải trái, trắng đen. Anh không phải là một thiền sư.
 
Tất cả thi sĩ trên đời này là những kẻ không thể buông bỏ hoàn toàn. Cái tình lưu luyến ấy làm say đắm lòng người. Nhưng những giây phút bừng sáng như thế, đau khổ hay hạnh phúc, hôn phối hay tan vỡ, chỉ có thể bừng sáng cho những người mở lớn cặp mắt xuyên suốt. Chắc mỗi người chúng ta còn nhớ giây phút đầu tiên gặp người mà sau này bạn gọi là người bạn đời, nếu nhớ lại bạn sẽ nhớ rằng giây phút ấy không có gì đặc biệt. Có người gõ cửa vào đúng hôm bạn ra mở cửa. Một người băng qua đường suýt đâm vào chúng ta. Đúng không? Đối với bạn đó là những giờ phút đặc biệt, nhưng thực ra chúng không có gì đặc biệt. Hàng triệu người gặp như thế mỗi ngày. Vì vậy một khoảnh khắc là một khoảnh khắc dành riêng cho bạn, chỉ bạn biết ý nghĩa của chúng. Thơ Thanh Thảo nói nhiều về trường hợp ấy.
 
Những gì ta nhận được trên đời
Những gì khiến ta quên sợ hãi
Có thể cho đi tất cả để được làm người
 
Đây là anh nói về ca sĩ Thủy Tiên, nhưng cũng nói với chúng ta. Trong mùa bão lũ năm 2020, miền Trung bị tàn phá dữ dội, người chết, nhà sập, ít ai làm thơ nhiều như anh. Thơ anh không cổ động, không tuyên truyền. Nỗi khổ cực của con người, một bên là thiên tai một bên là sự phân hóa xã hội ngày càng dữ dội.
 
Hoàng hôn màu tím hay màu đỏ
Anh em ta ngược hai chuyến tàu
Em ngồi ghế súp anh vé VIP
Anh cười cười còn em rầu rầu.
 
Nhà thơ nào cũng sử dụng các ẩn dụ, nhưng cách họ sử dụng khác nhau. Ở Thanh Thảo các hình ảnh trong đời thường lấy lại những ý nghĩa vốn của chúng nhưng bị quên đi. Nói cách khác, anh không tạo ra nghĩa mới cho các từ, anh chỉ làm hồi phục các nghĩa nguyên thủy của chúng. Tôi yêu thơ Thanh Thảo còn vì tiếng cười của anh.
 
Trước quả mít xin nói giùm một tiếng
Anh muốn yêu hay ăn?
 
Anh tái hiện đời sống bằng cái nhìn vừa thấu suốt vừa thương cảm, Cảm hứng của anh xuất phát từ những tình huống xung đột, những cuộc đời mới nhìn thì bình thường nhưng nhìn kỹ thấy có biến động. Ngày trước, cha ông ta cho rằng mọi vật đều có linh hồn, mọi hoàn cảnh đều chứa huyền cơ. Tính chất duy lý của khoa học, chủ nghĩa vô thần, tính chất thực dụng của một xã hội thương trường như hiện nay, có khuynh hướng làm người ta quên đi mối quan hệ ẩn mật giữa con người và thế giới. Thực ra thiên nhiên chứa đựng trong nó những quan hệ sâu xa, vượt khỏi sự hiểu biết, và những quan hệ ấy vận động. Thanh Thảo nhìn ra ở đó, những quan hệ ấy, các màu sắc khác nhau, những ý nghĩa khác nhau. Các bài thơ của anh có hình ảnh trung tâm, tức là một ẩn dụ lớn, anh không nặng về một câu thơ hay đơn độc, có thể nảy ra các nhãn tự, bài thơ của anh là một cấu trúc nguyên vẹn, toàn thể. Một bài thơ thời sự như thế này, không thể tách ra từng chữ, từng câu:
 
mỗi ngày đọc tin trên mạng
90% là chuyện không vui
giờ đón thêm tin bão
làm sao có thể cười
 
bão chưa vào là bão chưa vào
là bão còn nguyên đó
dập dồn 3 cơn bão
miền Trung liệu còn gì?
 
nếu bão không vào quê mình
thì bão vào quê bạn
quê đồng bào
vào đâu cũng khổ như nhau
 
thủy điện phá rừng
thủy điện bạt núi
báo cáo thành tích mặt hớn hở
bão vào lũ tới chết như không
 
chết như không
chết lặng im
đất đá vùi lấp
nổi lên một bản tin
 
nổi lên những lời thương xót
chẳng biết thế nào
nổi lên những đoàn quan chức
đứng xa xa ngó vào
 
năm nào bão lụt
thủy điện đều xả lũ
nói văn hoa là “điều tiết”
 
làm sao
để có điện mà không cần thủy điện?
có lũ mà rừng còn
có bão mà núi không sạt lở?
 
làm sao
 
(ĐÓN BÃO)
 
Giọng phê phán mà điềm tĩnh. Cũng đôi khi Thanh Thảo sử dụng văn nói quá nhiều trong thơ, anh tiệm cận đến văn xuôi, trong khi đã quen sử dụng một lối viết cổ điển của văn vần:
 
Bão số chín quét qua
Mấy ngày không thấy bác
Ông tiên cũng vắng mặt
Lòng tôi cứ lo lo
 
Đối với người đọc, một bài thơ hay bao giờ cũng là một giải pháp cho tâm hồn. Chúng không phải là những giải pháp thực tế, không phải là những lời khuyên khôn ngoan. Giải pháp ấy đôi khi là lời an ủi, sự cắt nghĩa, tia sáng ngoài cửa sổ, tình thương yêu. Tôi vừa nhắc đến một chữ quan trọng, tôi cho rằng thơ Thanh Thảo là thơ của tình thương yêu. Thương yêu khác với yêu, đó là thứ tình cảm khó diễn tả, đứng giữa hai thứ: tình yêu nam nữ say mê rồ dại và một tình thương thuần khiết đầy hy sinh như tình mẫu tử. Thơ anh không phải cái này cũng không phải cái kia, một thứ tình đối với sự sống, con người, đồng bào, các sinh linh trên mặt đất. Suy nghĩ và xúc động cân bằng. Cuộc đời không tốt quá cũng không xấu quá, tình yêu không đến mức thần tiên điên dại, nhưng cũng không đến nỗi xấu xa thô tục. Thật dễ dàng để than trách số phận, đổ lỗi cho người khác, oán than trời đất, nhưng điều đó không có ích gì. Thanh Thảo vốn viết rất nhiều về chiến tranh, và viết hay, nhưng khi hướng ngòi bút của mình về cuộc sống ngày thường, thơ anh cũng thiết lập được mối quan hệ với đời sống theo kiểu khác, từ bỏ những khái niệm của đại tự sự, anh trở thành tiếng nói riêng lẻ, của những con người bình dị nhưng rất thực, kẻ ngoại biên, rìa cương thổ. Ngoại biên là bất phục, nhưng không phải là đề kháng. Thơ trữ tình Thanh Thảo là tiếng nói của những công dân lầm than, những số phận khốn khổ, những mối tình bé mọn. Thơ anh chống lại lãnh đạm. Anh giữ nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, nhưng đã vượt qua nó, vì là một trong những người sớm nhất mang tính hiện đại vào thơ ca, biến thơ thành diễn ngôn kiểu khác, phi chính thống. Chúng ta xuất thân từ nền văn hóa với những giá trị sâu xa của nó, có khuynh hướng giữ gìn truyền thống. Nhưng càng giữ gìn, chúng càng bị bào mòn. Tôi muốn nhìn thấy cách mà Thanh Thảo giải quyết mối quan hệ giữa cách tân và các giá trị thẩm mỹ. Anh sống hồn nhiên mà suy tư, viết suy tư mà hồn nhiên, ung dung đi qua đời sống, tưởng không có mục đích mà ghi nhận đầy đủ mỗi sáng mỗi chiều, nắng mưa thời tiết, nụ cười nước mắt. Thanh Thảo yêu đất nước theo cách của anh, bằng những sợi giây liên lạc bền chặt sâu xa có khi chỉ mình anh mới biết, những ràng buộc vô thức với mặt đất, người nông dân, các số phận. Anh cười dễ dàng nhưng không khóc dễ dàng, đôi khi giấu kín trong lòng tâm sự u uất. Anh có những giấc mơ, lòng thương nhớ khôn nguôi, sự hoài nghi về lý tưởng, sự đánh giá lại, nhưng chúng ít khi xuất hiện trong thơ anh. Tôi không biết rằng đó là một cố gắng ý thức hay là một phương cách tự nhiên vô thức. Giữa những hoàn cảnh khó khăn, cũng có lúc anh mỉa mai, châm biếm, nhưng không căm ghét, cay đắng. Đi qua nỗi buồn, anh thấy niềm vui. Mà anh vui thật, trẻ trung, không phải là một thứ niềm vui với cảm giác có lỗi như của Jack Gilbert:
 
We must risk delight
Chúng ta phải mạo hiểm để sống vui
 
Tôi nghĩ sở dĩ Thanh Thảo có được tính hồn nhiên như thế là vì thơ anh ít nói về mình. Thơ nói về người khác, nói với người khác, nói từ người khác. Trong thơ, tác giả không còn ở vị trí trung tâm. Đó là một thứ thơ trữ tình xã hội nằm vắt qua ranh giới giữa chủ nghĩa hiện thực và khuynh hướng hiện đại, giữa hiện đại và hậu hiện đại. So với những tập thơ trước, Thanh Thảo đi một bước dài không phải về phía chủ nghĩa anh hùng, hay những tư tưởng độc đáo, trái lại anh đi về phía cái hàng ngày, cái đẹp cụ thể, độc đáo. So với những năm trước, thơ Thanh Thảo không nặng về khám phá ngôn ngữ, xây dựng những cấu trúc mới, khuynh hướng làm mờ nhòa ngôn ngữ. Sự thu hút của thơ Thanh Thảo xưa nay vốn nằm ở sự chân thật, sự phê phán có tính lạc quan và sự lạc quan có tính phê phán. Thơ anh thiên về ca ngợi, nhưng đó không phải là sự ca ngợi một chiều, rập khuôn, đó là sự ca ngợi được nghiền ngẫm, sự cao cả được đánh giá lại. Anh trung thành trong khuynh hướng ấy, nhưng đi xa hơn, tìm thấy cái đẹp bền vững trong khía cạnh mong manh. Lòng tin của anh đối với con người và đối với nhân dân chưa hề thay đổi. Không một nhà thơ nào có lương tri đã không từng có lúc nghi ngờ: thượng đế, loài người, sự chết, lịch sử và lừa dối, lý tưởng, những ism, tình yêu. Ngay cả khi đau xót anh cũng đau xót nhẹ nhàng.
 
có những điều thầy tôi không nói
nhưng thầy biết con trai mình cảm thấu
bao lỡ làng một kiếp sông ơi
làm chi còn bên lở bên bồi
 
may thầy tôi không nhìn thấy
bao hy vọng những ngày xưa ấy
bao hy sinh giờ mất hút đâu rồi
tiếng thở dài buông như lục bình trôi
 
Một bài thơ như thế khó trích ra một vài câu được. Thơ anh ít có những câu gọi là tuyệt cú. Bài thơ cần phải được đọc trọn vẹn, toàn bộ bài thơ là một hình ảnh lớn, các câu thơ là một phần của cấu trúc trọn vẹn. Nếu bạn tách chúng ra, các câu thơ ít có ý nghĩa. Đây là phong cách của các nhà thơ đương đại Âu Mỹ, lấy cái toàn bộ mà thay cho chi tiết, bài thơ là một ẩn dụ trung tâm. Thơ anh không phải để ngâm, không phải để tầm chương tích cú, nhưng đọc hết cả một bài, bạn cảm động: bài thơ ấy của Thanh Thảo làm bạn vui lên, bồi hồi, ngẫm nghĩ, bạn trở thành người bao dung hơn, sẵn sàng tha thứ hơn, cho cuộc đời và cho bản thân mình. Cần nhớ rằng điểm mạnh của anh trước đây là trường ca, một thể loại thơ riêng biệt; trường ca có tính cách lịch sử và chiến tranh. Những đề tài lớn như thế cần thể loại thích hợp của nó. Từ những ngày đầu, Thanh Thảo không có khuynh hướng tô điểm cho thế giới, anh tạo ra một thế giới mới, của riêng anh, những người anh hùng được nhìn qua cái tôi, những nhân vật lịch sử được chiếu sáng bởi ngọn đèn hôm nay. Anh viết về người khác, nhưng là một thứ người khác tâm tình, thông qua cái tôi trữ tình. Hát giữa gió mưa cũng vậy, anh nói về người khác hơn về mình. Anh nói về những người phụ nữ hơn là nói về vợ mình hay người yêu của mình. Điểm này làm Thanh Thảo khác người cùng thời. Nhưng qua người khác mà người ta nhìn ra khuôn mặt anh, lòng tin quả quyết và đơn giản của anh, sự thật thà của anh, một sự thật thà phức tạp. Hãy xem bài thơ mà anh lấy nhan đề cho cả tập thơ, Hát giữa gió mưa. Nhà thơ nói về một ca sĩ, trong công việc nhân đạo của cô.
 
như chiếc lá xoáy trong vùng lũ dữ
người ca sĩ ấy
hát giữa gió mưa
hát với bọt bèo
hát cho những người cùng khổ
 
có một sức mạnh nào
nâng cô gái nổi trên nước xiết
lao tới những người sắp chết
những người dỡ mái ngói kêu trời
 
chỉ đơn giản vậy
những gì ta nhận được trên đời
những gì khiến ta quên sợ hãi
có thể cho đi tất cả
để làm người
 
một người bình thường thôi
 
hát giữa gió mưa
lời ca là một gói mỳ tôm một bao gạo
một cây cầu gãy
một đoạn đường sạt lở
 
hát giữa những người đang đói lả
chỉ vậy thôi
 
cúi đầu trước bao câu ngợi khen
ngẩng đầu trước những lời khó thở
có sao đâu đời vẫn vậy
mắt nhìn thẳng những bàn tay đang vẫy
nơi ấy
cho ta sự bình yên
 
một người ca sĩ
không chỉ hát, còn biết khóc
biết cái gì quí nhất trên đời
một buổi sáng tâm hồn xanh màu trời
 
(HÁT GIỮA GIÓ MƯA)
 
Hát giữa gió mưa là tiếng hát khác, không phải bằng âm thanh mà bằng nghĩa cử, tựa như ngôn ngữ vô ngôn của các thiền sư. Lấy cái chi tiết ấy làm điểm tựa cho bài thơ ngắn, giản dị, được viết tưởng như dễ dàng, tự nhiên như lời nói chất phác của người cùng khổ. Mỗi giây phút trong đời có thể làm một giây phút lớn lao. Mỗi giây phút mang lại một thách thức, một vận may, một thấp thoáng cái chết, một quà tặng. Một nơi nào, một lúc nào, luôn luôn có kẻ nhận lấy món quà ấy. Giây phút giữa gió mưa ấy là của Thủy Tiên. Giây phút nhìn thấy người ca sĩ ấy là của Thanh Thảo. Thơ anh dịu dàng, tinh tế nhưng hài hước, thông minh. Món quà của giây phút thực ra không phải đến từ bên ngoài chúng ta, chúng đến từ ngay trong lòng mỗi chúng ta, đã sống, đã nghĩ, đã chiêm nghiệm và thay đổi, đã dọn sẵn lòng mình. Trong cơn hoạn nạn, giữa gió mưa, chỉ có tình người là trọng, quan hệ gì tiểu sử, thành tích, quan điểm, lập trường chính trị. Vào cái giờ phút ấy, con người bộc lộ điểm sáng lung linh của một cá thể, cái giữ cho nhân loại trường tồn.
 
Thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ, sự duyên dáng của các câu chữ, sự chọn lựa và sắp xếp của chúng. Văn học của chúng ta là văn học nặng về ký ức, thực ra là một thứ ký ức về thời kỳ đen tối, chiến tranh, xung đột, mất mát. Thơ ở lại lâu dài với người đọc không phải vì những nhân vật trong ấy, dù họ có lớn lao kỳ vĩ đến đâu, mà vì chính ngôn ngữ của tác giả. Ngôn ngữ ấy làm cho một đời sống được diễn tả trở nên sinh động có thực; thực ra tấm gương của hiện thực trong thơ không phải là tấm gương, nó tạo ra một hiện thực khác, truyền đi một ý nghĩa khác. Siêu thực:
 
 
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
 
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
 
tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy
 
(ĐÀN GHI-TA CỦA LORCA)
 
Có một điều gì sẽ còn lại trong bài thơ Thanh Thảo, một hóa chất không thể hòa tan trong các dung dịch. Bài thơ của anh từ chối văn xuôi hóa, khái niệm hóa, sự kết thúc của nó cũng là sự mở đầu. Mặc dù nhiều bài về xã hội, thơ anh không nhằm giải quyết các vấn đề, hầu hết chỉ để nêu lên câu hỏi. Đôi khi, có vẻ anh cũng tìm được câu trả lời cho mình, nhưng đó không phải là câu trả lời có thể đại cương hóa như cẩm nang. Câu trả lời của anh chỉ đúng trong trường hợp ấy, chỉ thích hợp cho một nhân vật như vậy. Thơ không tạo ra một sự kiện, không phải là vũ khí đấu tranh. Tuy vậy, có một mối liên kết mạnh mẽ giữa các nhân vật trong thơ và cuộc đời quanh chúng ta. Tác giả hòa vào các nhân vật ấy, sống giữa họ, trở thành nhân vật trong ấy, giúp các nhân vật nói bằng tiếng nói thích hợp.
 
Anh không đẩy xúc cảm của mình đến chỗ cực đoan. Trong thơ anh những yêu ghét vui buồn thấp thoáng, nhưng ghét mà không đến mức căm hờn, yêu không đến mức mê mẩn, ca ngợi không đến mức tôn thờ. Nó phản ánh con người của tác giả, chừng mực. Trong anh, sự phân biệt giữa nội tâm và ngoại giới, giữa người nhìn và người được ngắm nhìn, có lúc rõ, có lúc không. Ở người khác, sự phân biệt ấy làm cho họ đứng hẳn về một phía, nhưng ở anh, lại thấy nhiều hơn sự cân bằng giữa các cực đối lập, tâm thế ở đời tương đối. Thanh Thảo viết nhiều về thú vật, đồ vật, nhưng anh không phải là nhà thơ thiên nhiên. Những điều mà anh tả là khung cảnh của đời sống, là nơi diễn ra những biến đổi của tâm hồn con người, là khung cảnh hôm nay của một nền văn hóa đang suy đồi dữ dội. Mỗi người chúng ta là một đứa trẻ, một đứa trẻ đủ lớn để biết điều này chuyện khác nhưng không đủ lớn để hiểu tại sao thế giới lại buồn rầu, con người lại chia ly, tan tác. Giữa những người lớn trẻ con ấy, Thanh Thảo cất lên tiếng nói của mình, kể những câu chuyện làm cho người ta ấm áp trở lại, bình tĩnh và vui vẻ trở lại, tin tưởng hơn, không phải vì anh hứa hẹn một điều gì trong ngày mai mà vì với tài năng ngôn ngữ của mình, anh chỉ ra những ý nghĩa mới của hiện hữu.
 
mưa chạy rất nhanh phía cạn ngày
bạn tôi chép miệng: có ly bia giờ này
trời sẽ mát
một ly bia uống lúc cuối thu
 
Tư duy thơ của anh như vậy: trữ tình và dân dã. Ở anh khái niệm dân tộc và dân gian là một, dân gian của anh chính là dân tộc. Điều kỳ lạ là, ngôn ngữ của Thanh Thảo lại không dung tục, trần trụi, mà tinh tế lịch thiệp, đôi khi huyền ảo, một thứ ngôn ngữ không dành cho đại chúng. Cuộc sống ngày càng hối hả, con người ngày càng quan tâm đến thời gian, sống vội, sống gấp. Trong thơ anh, thời gian không phải là áp lực, anh nhẩn nha vì anh biết sử dụng hết thời gian. Có thứ thời gian trôi chậm lại ở những người minh triết. Cho rằng Thanh Thảo là một người minh triết, như thế được chăng?
 
Đọc anh, thấy mỗi phút giây ta sống thật quý, vừa thực vừa ảo. Tôi tin nếu người yêu thơ được giới thiệu tập thơ mới của Thanh Thảo, họ sẽ thích thú theo dõi, nghe anh kể chuyện: một người từng trải hồn nhiên, biết kể chuyện mà ít lời, nghiêm mà vui, dí dỏm. Thử hỏi ai không thích có dịp trò chuyện với một nhà thơ như vậy, không thích được gặp một người như vậy, cùng nhau ngồi xuống vỉa hè làm một ly bia vào chiều muộn cuối thu?
 
Nguyễn Đức Tùng
 
(Lời Tựa cho tập thơ Hát Giữa Gió Mưa của Thanh Thảo, 2022)

READ MORE - THANH THẢO, HÁT GIỮA GIÓ MƯA - Nguyễn Đức Tùng

LỤT Ở HUẾ - Thơ Lê Phước Sinh


             Nhà thơ Lê Phước Sinh

 
LỤT Ở HUẾ
 
Ghen răng mà vô hậu,
năm làm Lụt nước tràn
Ơi Thủy Tinh có biết
giờ Thủy điện ké phần.
 
Ào ào trên Nguồn xuống
xả Đập lại lồi lên
ngụp-trồi-lặn... Dân hiền
chịu làm chi cho thấu.
 
Lụt đương nhiên phải Lội
- dẫu Đất phụ thêm Màu,
nhưng đêm ngày thức trắng
mắt mất ngủ xanh xao.
 
Xem Con Gái lội nước
xắn hai đùi vế cao...
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT Ở HUẾ - Thơ Lê Phước Sinh

XUÂN LÒNG, YÊU NGƯỜI – Thơ Lê Văn Trung


 


XUÂN LÒNG
 
Lòng đã vàng mai từ cuối chạp
Tình chưa hàm tiếu đợi xuân về
Em, con chim én phương trời cũ
Vỗ cánh bay hoài trong giấc mơ
Lòng đã trầm hương, đàn nhã nhạc
Câu thơ nhuộm thắm nhụy hương người
Có đôi bướm nhỏ vờn trong gió
Cứ hỏi thầm nhau chuyện lứa đôi
Lòng đã say nồng men rượu ngọt
Xin rót đầy trăng nguyệt ướm rằm
Đôi mắt tình như sương tuyết ngọc
Xuân về giăng thắm lụa vàng ươm
Em - hoa từ độ thầm khai nhụy
Em - trăng từ buổi lòng chớm xuân
Mà tôi vàng quá mùa đang chín
Như má thơm hương nụ phấn hồng.

 
YÊU NGƯỜI
 
Yêu người yêu cả niềm đau
Yêu từng giọt lệ ướp nhàu trang kinh
Yêu người yêu nỗi nhớ quên
Bỏ trần gian lại một mình tôi đi
Yêu người vô lượng từ bi
Xin cho tôi sáng vầng khuya trăng người
Xin cho tôi nhìn thấy tôi
Ngồi phơi lá úa mộng đời quạnh hiu
Yêu người yêu cả niềm đau
Yêu từng sợi tóc buộc vào nhân duyên
Yêu từng tiếng mỏ hồi chuông
Vẳng trong tâm thức giọt buồn rụng theo.
                         
Lê Văn Trung

READ MORE - XUÂN LÒNG, YÊU NGƯỜI – Thơ Lê Văn Trung