Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 26, 2022

MỘT NỬA ĐÀN ÔNG - Thơ: Nguyễn Khắc Phước

 

Tác giả Nguyễn Khắc Phước

MỘT NỬA ĐÀN ÔNG 

 

May mà em không yêu tôi

Thuở đạp xe học chung trường huyện

Em vụt  xe chạy biến

Mỗi lần thấy tờ thư. 

 

Có lần em xé đã nư

Bài thơ tôi suốt đêm trằn trọc viết

Rồi hét lên như bị chọc tiết

"Cút xéo đi cho khuất mắt ông ơi"

 

Ba chục năm sau em tìm tôi

Nói không hiểu sao dữ dằn quá vậy

Không phải với một mà nhiều biết mấy

Có kẻ để lại thư tình tuyệt mệnh vì em.

 

Em bỏ chồng ra đi trong đêm

Mang theo năm con và hai bàn tay trắng

Trăm chuyện nhọc nhằn, triệu lần cay đắng

Bão nổi tam bành rồi bão cũng qua.

 

Em phụ hồ rồi em dựng nhà

Em thầu công trình, em buôn gỗ

Chỉ biết kiếm lời, ít khi chịu lỗ

Mua lô đất này, bán sở nhà kia.

 

Em mở chai rót hai ly đầy bia

Cụng cái cóc trăm phần trăm uống cạn

Như các bạn tôi, em bắt đầu nói trạng

Thuốc vừa tàn châm điếu khác lên môi.

 

"Lương của ông sao bằng lương tui

Được mấy 'chai' mà đòi bao cuộc nhậu?

Mời thêm bạn đến đây tui thách đấu

Ai uống hết thùng không say, tui bao"

 

Em bây giờ đã có tự ngày nào

Nửa đàn ông trong em mỗi ngày một lớn

Cư xử nói năng như tay hảo hớn

"Tui nghét  mấy thằng ngồi mát chỉ huy"

 

 "Chẳng khi mô tui vô bếp làm chi

Đi làm về phải có cơm canh cá

Nhà phải láng trơn, sân vườn sạch cả

Nếu không thì tui bỏ tui đi."

 

"Đừng mất công tìm bạn nhậu làm chi

Cứ nháy phôn là tui sẽ đến

Chẳng cần ai thương, không cần ai mến

Tui rứa rồi, đừng khuyên bảo mần chi."

 

Em lại rót bia, lại cụng ly

Tôi bắt đầu say, em không hề chếnh choáng 

May gặp lại người "bạn trai" xứng đáng

Để thấy mình chưa trọn vẹn đàn ông. 

 

NKP

"chai' = trăm ngàn (theo lời chị này). Được mấy 'chai' = được mấy trăm ngàn

READ MORE - MỘT NỬA ĐÀN ÔNG - Thơ: Nguyễn Khắc Phước

Sunday, September 25, 2022

CÚC VÀNG HOA NẮNG – Thơ Nguyên Lạc


 

 
CÚC VÀNG HOA NẮNG
         
"Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản"
                                       (Thôi Hiệu)
 
Tôi vẫn biết
em. chỉ là huyễn mộng
Khói sương trời
nên. tình rất mong manh!
Nến hồng đó trong tôi tim đã lụn
Thắp giùm tôi!
hong ấm chút dư âm
 
Hoa nắng đó
em. riêng đời chắc vẫn?
Gởi về tôi một chút ấm tình nồng!
Tôi vẫn biết
trùng lai là ảo vọng
"Hạc bay rồi đâu trở lại mà mong?"
 
Sao giữ được cúc vàng hoa nắng?
Nên đành thôi
tôi còn vết thương lòng!
Đêm cô lữ
ngoài trời sương rơi trắng
Vết thương lòng mưng mủ... nhói căm căm!
 
Vết thương lòng mưng mủ mỗi đông phong
Chỉ tôi cách xua tan đi nỗi nhớ
Làm sao hở? tôi biết mình không thể
Xa biệt người. tâm còn mãi mùi hương!
 
Mất khanh rồi! Còn đây nỗi rêu xanh
Và trăng đó. vành trăng buồn lệ ứa!
Người lữ khách cô đơn ru niềm nhớ
"Rượu sẽ làm quên được nỗi sầu thương"?
 
Nguyên Lạc

READ MORE - CÚC VÀNG HOA NẮNG – Thơ Nguyên Lạc

CHÙM THƠ THÁNG CHÍN - Châu Thạch


 
          Nhà thơ Châu Thạch

 
THÁNG CHÍN 2021!
 
Tháng chín vừa về trời nóng chưa mưa
Đường trước ngỏ hai đầu phong tỏa
Con Covid ngoài kia rình khắp ngả
Lưỡi hái tử thần xục xạo ngày đêm
 
Tháng chín về sầu lại sầu thêm
Bến chia ly không một ai đưa tiễn
Người ra đi giống như làn hơi biến
Tro trở về trong chiếc hũ buồn thiu
 
Tháng chín về, tháng chín hắt hiu
Người lây lất chờ miếng cơm từ thiện
Phố lạnh lẽo cửa lầu cao khép kín
Cây bên đường trở giấc gió than van
 
Chuông nhà thờ tháng chín vọng không gian
Kinh cầu nguyện chìm trên sông sao sáng
Cả nhân loại trên con tàu mắc cạn
Tháng chín hai ngàn hai mươi mốt đau thương!
 
 
MƯA KHUYA THÁNG CHÍN
 
Nửa khuya ngoài trời mưa tháng chín
Nằm trong phòng kín nhớ trăng thu
Gió rít như là đạn pháo rít
Lại nhớ giao tranh buổi mịt mù.
 
Tháng chín đêm khuya trời gió mưa
Lòng ta lại nhớ chuyện xa xưa
Mùa thu năm ấy trăng thu vỡ
Em đã đi xa biệt bến bờ!
 
Từ ấy mỗi mùa thu lá bay
Đêm mưa tháng chín cuối thu gầy
Ta nằm thao thức đan thương nhớ
Gối những u sầu nặng cánh tay
 
Còn chẳng bao lâu sẽ rét đông
Người ơi có tái ngộ hay không
Hồn ta đã đợi vàng khô lá
Mùa đã còn đâu ánh nắng hồng!
 
 
THÁNG CHÍN THÈM!
 
Đầu tháng chín, vào thu, trời se lạnh
Gọi nhà thơ Lê Đình Hạnh, biệt tăm
Thèm cà phê, không có bạn, thôi nằm
Bỗng thấy nhớ, nhớ ngôi nhà thời trẻ.
 
Ngoài kia mưa, ừ thì mưa, rất nhẹ
Sao lòng ta cứ tưởng, tưởng lê thê
Đem tấm hình kỷ niệm, nhìn tái tê
Ôi Quảng Trị! đau! đau dòng ký ức!
 
Xưa tháng chín, cả một thời náo nức
Nhà thênh thang, ấm tiếng bạn bè thân
Ước chi nay ta có lại một lần
Dăm ba đứa nằm chung giường, đàn hát.
 
Nay nhìn lại, ảnh ngôi nhà tan nát
Nghe tiếng mưa, từ cố xứ trôi về
Lại thấy thèm, thèm lắm ly cà phê
Không có bạn, sầu thôi mưa tháng chín!
                     
Châu Thạch

READ MORE - CHÙM THƠ THÁNG CHÍN - Châu Thạch

TIỂU TIỂU KHÚC, TƯƠNG TIÊU GIANG - Thơ Chu Vương Miện


 


TIỂU TIỂU KHÚC
 
con dế than
con dế mèn
gáy khóc cả đêm
 
con chim đậu
con chim bay
cả ngày
 
con cá bơi
con cá lội
rất là vội
 
em đi đâu?
cả đêm ngày
làm anh chờ ở chân cầu
 
muà thu lá bay
mùa thu lá đỏ
tình ta còn bỏ ngỏ
 
con ngựa cái chạy trước
con ngựa đực chạy sau
trên cánh đồng hoe mầu
 
sinh ra được một quãng
sống vài mươi năm
rồi mãi mãi nằm
 
có người nằm trong đất
có người nằm lòng đại dương
có người nằm không cục cựa
trên giường
 
đếm đi rồi đếm lại
60 năm?
hoặc 80 năm?
có nghĩa lý gì?
 
sắc lại không
không lại sắc
có nghĩa gì tương lai?
ồ mờ mịt
 
 
TƯƠNG * TIÊU GIANG
 
sông Tương nguồn ở Hải Dương Quan
phía trên bắc bộ quận Quế Lâm
ngang thành Linh Lăng Trường Sa cũ
đổ vào Động Đình tỉnh Hồ Nam
 
sông Tiêu phát nguyên Cựu Nghi Lãnh
phụ lưu sông Tương tại Linh Lăng
hai dòng từ đó còn lại một
mà người thì kẻ cuối đầu sông?
 
ai bảo yêu chi? cho nó khổ
tương tư lắm chuyện nhớ triền miên
đầm đìa nước mắt mà sinh bệnh
cảm xót vô cùng 1 chữ duyên?
"ai bảo sông Tương sâu
không bằng lòng nhung nhớ
sông sâu còn có đáy
nhung nhớ lại không bờ
chàng ở sông Tương đầu
thiếp ở sông Tương cuối
càng nhìn càng thấm đau?
uống nước sông mòn mỏi
hồn mơ chẳng đến nơi
cõi chết nào? đang tới
nhập vào cửa thương mong
càng thương càng ngong đợi
 
thời xưa nhà Hậu Chu Ngũ Đại
Tiêu Tương Nam Bộ tỉnh Hồ Nam
chẩy xuống Quảng Tây xa hút mắt
chuyện tình chỉ khác Thục Đạo Nan
 
chuyện giờ lưu lạc trên đất Mỹ
chả Tiêu Tương mà lại Bắc Nam
tương cố toàn cánh đồng dê ngựa
tương thân còn một nhánh mai vàng?
 
Chu Vương Miện

READ MORE - TIỂU TIỂU KHÚC, TƯƠNG TIÊU GIANG - Thơ Chu Vương Miện

Friday, September 23, 2022

TRĂNG BIỂN, VỀ LÀNG – Thơ Tịnh Bình


             Nhà thơ Tịnh Bình
 

TRĂNG BIỂN
 
Khêu trăng cho tỏ nỗi niềm
Đỉnh trời sâu hút
Biển đêm thầm thì...
 
Sóng xô ghềnh đá lời chi
Chỉ nghe non nước
Nhu mì nước non
 
Trăng khuya vằng vặc lòng son
Dẫu cho sông cạn
Đá mòn hỡi ai?
 
Trùng khơi chim thỏa cánh bay
Một nhành hoa tím
Trăng cài tóc mây...

 
VỀ LÀNG
 
Về làng...
Làng đã khác xưa
Chạnh lòng mưa nắng
Nắng mưa đổi dời
Hương đồng gió nội người ơi!
Còn đâu cảnh cũ một thời tuổi thơ
 
Còn đâu khúc hát ầu ơ
Đầu nôi cánh võng giấc mơ ngoan hiền
Lời ru cổ tích thần tiên
Bầy chim sáo đậu bên hiên nắng vàng
 
Tiếng gà trưa gáy xốn xang
Quê thay áo mới
Hồn làng ngẩn ngơ
Nửa như phố thị bao giờ
Bờ tre tóc rũ ơ thờ héo hon
 
Còn không điệu lý sắt son
Chũm cau thèn thẹn mạ non đương thì
Cảnh xưa người cũ khắc ghi
Về làng nửa ở, nửa đi dùng dằng...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - TRĂNG BIỂN, VỀ LÀNG – Thơ Tịnh Bình

"ĐẤT ĐỨNG" MỘT THỜI | MÍT CHÍN - Thơ: Vũ Hùng

 

Vũ Hùng cùng nhà thơ Vũ Miên Thảo (Tây Ninh)


"ĐẤT ĐỨNG" MỘT THỜI


Chiều qua lướt web bất ngờ

Gặp trang ĐẤT ĐỨNG đăng thơ của mình 

Một thời gắn bó Tây Ninh

Ươm mầm văn học nghĩa tình vấn vương

Một thời nặng nợ thơ Đường

Mênh mang lục bát dễ thường khó phai?

Giờ này biết có còn ai

Nhớ trang ĐẤT ĐỨNG vở bài gửi đăng?

Trong tim ĐẤT ĐỨNG vầng trăng 

Một thời gắn bó nhớ chăng hỡi người?

Bình Định, 27.08.2022

Vũ Hùng



MÍT CHÍN


Có nghe thơm phức mùi hương 

Quyện trong làn gió góc vườn thoảng bay?

Mít nhà vừa chín sáng nay

Vẫn nguyên cái vẻ trên cây xù xì

Múi dày ai chẳng... Thiệt kỳ 

Chờ khi bóc vỏ tức thì biết ngay?

Ngại ngùng mân mó bàn tay

Khiến dòng nhựa cứ dính đầy thích chưa?

Đâu người quân tử dạ thưa

Đặng xin đóng cọc lối xưa nhọc nhằn

Đọc thơ nào có lăn tăn

Tục thanh thử hỏi ai bằng thời nay?

Ngẩn ngơ mít chín múi dày

Hương thơm khó cưỡng ngất ngây cả lòng!

Bình Định, 23.07.2022

Vũ Hùng




READ MORE - "ĐẤT ĐỨNG" MỘT THỜI | MÍT CHÍN - Thơ: Vũ Hùng

Wednesday, September 21, 2022

QUÁN TRỌ – Thơ Nguyên Lạc


 


QUÁN TRỌ
 
Cuộc đời như quán trọ
Ai cũng từng ghé qua
Một lần rồi từ giã
Buồn hay vui cũng là
 
Cuộc đời như quán trọ
Hơn thua để mà chi?
Giành giật được những gì?
Cho lòng đầy sân si
 
"Thiên địa nhất nghịch lữ
Đồng bi vạn cổ trần" *
(Trời đất là quán trọ
Thương cát bụi ngàn năm)
 
Cát bụi đời cát bụi
Duyên hợp rồi duyên tan
Cát bụi về cát bụi
Hư không hoàn hư không!
 
Quán trọ là cõi tạm
Cuộc lữ người ghé chân
Hạnh ngộ rồi vĩnh biệt
Hay sẽ là trăm năm?
 
Ngắn dài là số phận
Sang hèn tùy nhân duyên
Cuộc đời như quán trọ
Ra đi nhớ "trả tiền"!
 
Nguyên Lạc
 
.............

* Thơ Lý Bạch

READ MORE - QUÁN TRỌ – Thơ Nguyên Lạc

Sunday, September 18, 2022

MÙA LÁ CHÍN – Thơ Tịnh Bình


 
                 Nhà thơ Tịnh Bình


MÙA LÁ CHÍN
 
Vẫn là phố sao chừng lạ quá...
Chút nắng vàng có phải đã vào thu
Và chút gió mơn man vờn áo lụa
Tháng Chín mềm tựa khúc hát ru
 
Nhòa mây trắng cuối trời bãng lãng
Lác đác sương rơi mái cổ tự trầm
Chầm chậm vòng xe trong gió sớm
Quán quen trà ấm nhấp thanh tân
 
Thênh thang quá tầng cao bát ngát
Phía hoàng hôn chim xoãi cánh về trời
Vương mắt mẹ màu ưu tư xa vắng
Hay khói bếp chiều lẻ ngọn mờ hoen
 
Xin viết vội đôi dòng thơ xao xuyến
Áo mơ phai lơ đãng phía cuối đường
Thoảng heo may đong đưa vòm lá chín
Chút tình thu e ấp khẽ dâng hương...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - MÙA LÁ CHÍN – Thơ Tịnh Bình

Saturday, September 17, 2022

TÀI, TIẾNG SÁO, TRƯƠNG CHI MỊ NƯƠNG, THIÊN TAI TÀI, - Thơ Chu Vương Miện

 
 


TÀI
 
tu với tù
tài với tai
con khỉ và con bú dù
duyên và vô duyên
y thuyền
quyên và thuyền buồm
 
anh nào anh nấy
giống y gà trống thiến
lợn bị hoạn
biết thân biết phận
cúi mặt ăn cỏ
ăn cám
không giao hoan
không đạp mái
không gáy
chỉ biết nhìn xuống đất
kiếm gạo thóc
sống qua loa
qua ngày
đợi chết
 
 
TIẾNG SÁO
 
hoa có loài hữu hương hữu ắc
và có loài hữu sắc vô hương
đôi khi cũng vô hương vô sắc
ngươì cũng có loại hữu tài vô sắc
lại cũng có hạng hữu sắc vô tài
nên thế gian trong cõi trần ai
hỉ nộ ái ố có qua cầu mới biết
chả có gì vài chục năm thời chết
buồn quá dầy mà vui chả bao nhiêu
 
tiếng tiêu tiếng hát giữa sông chiều
nghe ai oán thê lương buồn đứt ruột
chàng Trương Chi ngàn sau còn thương tiếc
 
 
TRƯƠNG CHI MỊ NƯƠNG
 
cũng chả phải bên Chúa bên Phật
cũng chả là sông chia giang bắc giang nam
cũng chả chõi ý thức hệ
chẳng qua thiếu một món tiền
thiếu tiền thành mặt rỗ mắt toét
răng vẩu lưng gù
trăm dâu đở đầu tằm
giọng hát đêm trăng
hát thương đời luân lạc
hát cho đời vui lên
đâu có nghĩ tiền rừng biển bạc
vì quá nghèo tiếng hát bỏ ta đi
Mị Nương đóng cửa sổ
ồ cái thằng mặt rỗ Trương Chi
 
 
THIÊN TAI TÀI
 
“vợ lăm le ở vú
con tấp tểnh đi bồi
khách hỏi nhà ông đến
nhà ông đã bán rồi”
(thơ Trần tê Xương)
 
thời cụ thì vợ mới lăm le ở vú
và con thì cũng tấp tểnh đi bồi
thực tế thì cũng chưa ai bồi vú cả
chẳng qua mới tính thế vậy thôi?
thời nay thì nam làm tay sai
Bắc Nam cứ vậy đánh nhau hoài
phương Bắc hết Liên Xô Trung Quốc
phương Nam Mỹ Pháp đánh tả tơi
nữ thì đi ca ve vũ nữ
đèn mờ mờ ảo múa cặp đôi
con trai lớn lên thì nhập ngũ
đứa còn sót lại bếp lẫn bồi
thời cụ thì khổ theo thời cụ
thời tôi thì khổ theo thời tôi
nhức đầu nhức tai vì tiếng gáy
quanh năm suốt tháng giọng cu mồi?
cụ sinh trước ta một trăm năm
có mồm không nói hóa ra câm
cụ tôi đều làm dân không nước?
dù chân đạp đất mặt trông trời
cụ thì lao đao cùng ghệ rượu
tôi thì phơ phất kiểu cao bời
đất cát duy một phường bán nước
bên này bên đó một duộc thôi?
thắng thua cũng chỉ là một bọn
khổ cho dân khổ miết muôn thời?
cuối năm có bài thơ khóc cụ
sông dài nước dạt chó chết trôi
trăm năm toàn một bầy lòi tói
bóp cổ dân đen bóp đã đời?
 
              Chu Vương Miện

READ MORE - TÀI, TIẾNG SÁO, TRƯƠNG CHI MỊ NƯƠNG, THIÊN TAI TÀI, - Thơ Chu Vương Miện

Friday, September 16, 2022

TRẦN QUANG QUÝ, TA LẺ LOI ĐƠN CHIẾC BIẾT NHƯỜNG NÀO - Nguyễn Đức Tùng


Nhà thơ Trần Quang Quý


You'll never catch a fish
that way. One caught a fish that way.
                                      Robert Hass
 
Thơ hôm nay không viết về đời sống, nó viết về cái thiếu của đời sống. Cũng vậy, nhà thơ không đi tìm giải thoát ra khỏi khổ đau, họ đi xuyên qua, sống với, những đau khổ, vì chúng làm nên tâm hồn chúng ta bây giờ. Không phải sự thật nào cũng đẹp, không phải chúng ta làm điều gì cũng đúng, đôi khi trái lại. Nhưng chúng ta làm, như thể đó là con đường, và không hối hận về sau. Con người không nắm giữ tương lai trong tay mình, không biết được tình yêu nào chờ ta cuối ngày. Nhưng khi một khoảng khắc tới, bạn lập tức nhìn ra nó, như khuôn mặt trong gương. Lúc ấy, Trần Quang Quý (1955- 2022) trở nên đằm thắm:
 
Trong nỗi đau tôi
Đêm nay bạn đến
Không hoa
Không rượu
Ánh mắt thẳm nỗi người
Tôi tin cậy nắm bàn tay im lặng
Nỗi riêng tôi
Hình như lặn bớt vào tim bạn
Hình như sự im lặng của bạn
Ngọn lửa không màu nhóm lại trái tim tôi
 
Nhận thức về sự thật, công bằng, bất công, chưa chắc đã làm thay đổi hiện thực, nhưng làm bạn sống thành thật, cao quý hơn. Nỗi buồn trong thơ hôm nay làm chúng ta thức tỉnh, biết tập trung chú ý, tăng cường sự tỉnh thức. Từ trong sự tỉnh thức ấy, tương lai tìm thấy hướng đi của nó. Đó là lúc con người rời bỏ, cắt đứt một niềm tin, thách thức một số phận. Đó là lúc chúng ta bắt đầu khung cảnh mới, chọn lấy thời gian của chúng ta, chọn lấy tình yêu như một ẩn dụ, và ngược lại.
 
Cúi xuống là đất
đất ken kín vết người
trong thẳm sâu bóng tối
Ngẩng lên là khoảng rỗng
nhưng sẽ thấy bầu trời
 
Xung đột là tính chất cố hữu của thế giới; tính chất ấy trình bày những khía cạnh khác nhau của cùng một sự vật. Trong khi bạn nằm trên giường bệnh, được đẩy vào phòng chờ phẫu thuật, trên màn hình ti-vi chiếu một quang cảnh lễ hội mà bạn tham dự cách đây vài năm: bạn sống cùng một lúc cả hai thế giới. Một bài thơ mang lại cho người đọc cảm giác như vậy, như thể người ấy sống hai thế giới trong một lúc, với tác giả.
 
Tôi gọi tên em giấc mơ tháng Mười
dọc những con đường thảng thốt heo may
trên bầu ngực mùa thu đang cốm
khảm khắc ngân âm điệu cánh đồng mê cảm
những lẻ mùa lẻ bóng lẻ ngày xưa
Sau vụ gặt những cánh đồng mệt nhoài nằm thở trong rơm rạ
những chiếc liềm mỏi gặt giờ nằm im trên vách
chúng vẫn cong lên hình dấu hỏi
những dấu hỏi ngàn năm mai táng trong thẳm sâu luống đất
những dấu hỏi ngái cay mùi tro bếp
những dấu hỏi ngược về cổ xưa tiền kiếp
Hạt lại gieo. Nhẫn nại. Hạt người
 
Cuộc chuyện trò nhẫn nại giữa hai người bạn. Bài thơ mô tả nỗi vướng mắc của con người chứ không phải là những lý tưởng mà anh ta theo đuổi. Quà tặng mà nhà thơ mang đến cho người đọc là niềm tin rằng người đọc có thể tìm thấy tự do trong hiện thực ấy. Tự do trước những chọn lựa, mắc bẫy? Tính chất nhiều chọn lựa là tính chất của thế giới hôm nay, điều mà tôi tìm thấy trong thơ Trần Quang Quý. Đi qua hoàn cảnh khác nhau, thăng tiến và ngã xuống, trầy trụa va đập của đời, anh trước sau vẫn là một người, một tư tưởng, sự độ lượng, cái nhìn tỉnh táo đối với khách quan. Nhưng những bài thơ đáng chú ý của anh lại được viết đầy cảm hứng, từ một giấc mơ nhiều hơn là có chủ ý, một hoạt động ngoài kiểm soát. Bài thơ kết nối hình ảnh lạ, sắc sảo, dễ nhớ, ở đó khuynh hướng hiện thực mà những người như tác giả trong thế hệ của anh quen thuộc, bắt gặp khuynh hướng siêu thực, làm mở rộng bút pháp của thơ tự do.
Trần Quang Quý làm mới khá sớm, và sớm hơn nhiều người.
 
Giấc mơ của bầy cá luôn ám ảnh bóng hình chiếc thớt
Những mắt lưới gài bẫy trong veo
Biển mỗi ngày vẫn sóng.
Cây rơm mơ ngoạm những đàn bò
Thảnh thơi nằm ở góc vườn, vàng một màu thắng cuộc
Những chú chuột mơ gặm sống bầy mèo và rửa vuốt vinh quang...
Trong thế giới của những chiếc thớt bủa vây
Thương thay những chú cá không rạch qua được số phận
Ta thấu những bình minh của chuột lặn trong mắt mèo
Những cây rơm rạn gió sương từ thuở còn bùn đất
Rực lên hương vị tháng mười
Nhưng ước vọng không dài hơn một que diêm
Đành một ngày mục nát dưới kỷ nguyên của nấm.
Những giấc mơ
Ta đọc những giấc mơ trên từng mơn mởn lá
Trong thẳm sâu những đôi mắt lặng im kia
Trong cả những từng trải và khờ dại
Những trái tim yếm thế cất lên
Chính khúc bi ca người cất lên
Bóng hình chiếc thớt
 
Có những giai đoạn thơ anh đi vào trạng thái huyền thoại, mặt khác ngôn ngữ ấy lại có tính thể nghiệm, khó hiểu, vừa hấp dẫn người khác vừa độc thoại. Một bài thơ vượt ra khỏi chính nó để trở thành ký ức phát sáng.
 
Khu vườn ngập ánh sáng ma mị
non tơ lột yếm cởi mầm
những cuống đêm nức trăng
Trước mơn mởn và thiên nhiên tĩnh lặng
trăng ngâm rượu hồn ta ngậy sáng
 
Anh có cái nhìn bao quát đối với đời sống, những gặp gỡ, chiếu rọi chúng bằng ý thức rõ ràng, những câu thơ phong phú, dài, phức hợp, với thứ âm nhạc riêng lặng lẽ, khó nhận ra. Trên hậu cảnh ấy, sự kiện thời thế tìm được tiếng dội của chúng, rung động người đọc. Vang lên trên bề mặt các chữ, những ý nghĩa của một thời kỳ hỗn loạn, tăm tối, những giao tranh khốc liệt giữa cái mới và cái cũ, của ý thức công dân, các phản ứng đối với nghịch cảnh. Thơ anh là tiếng nói cương mãnh, nam tính.
 
Người đàn bà hát
 
Cứ lúc trăng lên người đàn bà lại hát
Bóng chị đổ trên con đường trăng ướt
Người đàn bà hát như lá hát
Đêm cứ chảy rì rầm cỏ biếc
Bên quán nhỏ những gương mặt đỏ lòm sau ánh đèn dầu
Một mụ béo thả nụ cười lơ đãng
Những gã trai ngồi nhấm đời nhạt thếch
Họ quát lên: “Xéo đi mụ điên!”.
Người đàn bà đi mơ
Đi như ảo ảnh đường trần gian
Chị đã buộc đời mình vào bến cũ
Hình như thế, anh về gặp chị
Trong lá cây, trong cỏ xanh, trong bụi đất và trong lời hát
Dẫu thời gian làm cũ mặt người
 
Nhà thơ hôm nay yêu mến ngôn ngữ như chúng là đối tượng quan trọng nhất của mình. Tuy vậy, điều khó khăn là ở chỗ ngôn ngữ không tồn tại độc lập, không một chữ nào trong thơ có giá trị mà không mang theo ý nghĩa của chúng, các thông điệp bí ẩn. Thực ra vì vậy cái mà nhà thơ yêu mến chưa hẳn là ngôn ngữ, mà là thế giới chúng có khả năng tạo ra, trong sự giao hòa giữa ngôn ngữ và văn cảnh. Mặt khác, ngôn ngữ văn xuôi ngày càng lan vào thơ; văn nói cũng vậy. Nhưng hai thứ ấy chưa phải là thơ, vì thơ có khả năng lớn hơn, thúc đẩy hơn các hoạt động tâm trí. Trần Quang Quý biết kết hợp văn xuôi và thơ, cũng như trí tưởng tượng và hiểu biết ý thức. Một bài thơ đánh thức anh, buộc anh suy nghĩ, trao cho anh cái nhìn mới. Trong thời đại ngày nay, không có một nhà thơ nào đại diện cho dân tộc mình. Thơ là tiếng nói của chính họ, của một người, nhưng đó là một người đặc biệt, với tất cả đau buồn mà anh đã sống qua, cay cực khổ tâm và hy vọng. Đây là hy vọng:
 
Với con trai
(Cho Vũ)
 
Cha ngồi canh cơn sốt của con
Còn vật vã hơn nhiều khi quặn lên những câu thơ nặng nhọc
Con trai ơi
Tiếng khóc của con - niềm hy vọng của cha nhoè ướt
Tiếng cười của con là gương mặt của cha vừa lên sắc
Con gom đời cha trong bước chân bé tí
Cha bế con lên, bế lại ấu thơ mình
Ngày mỗi ngày
Con lại dắt hy vọng của cha ùa ra phố
Mang hồi hộp dồn căng trái bóng
Niềm vui của cha lăn với mặt đường
Con mang về trong căn nhà ta những chiều bình yên
Mang cả lo âu từng ngày phố bụi
Mẹ đã đợi cơm hai cha con ta như đợi hai đứa trẻ
Những đam mê quên cả hẹn hò
Con trai ơi
Gia tài của ta gửi lại ngày mai
Trái tim thứ hai của ta
Thao thức đập những chân trời mới lạ
Vì thế, nếu đổi được cuộc đời, cha có thể chỉ là bản nháp
Con vẽ con đường bằng khát vọng riêng
Vì thế, cha đã đổi những ngôi sao xa xăm
Bằng lựa chọn cho con người mẹ
 
Ngay cả tuyệt vọng cũng không phải là tuyệt vọng, đó là sự gợi ý về một lịch sử, sự tìm kiếm, một lần nữa. Trần Quang Quý là người nổi loạn trong thơ, nhưng đôi khi anh vẫn dịu dàng, trau chuốt, của kẻ đi tìm an bình. Tất nhiên tất cả chúng ta đều mong ước một xã hội an bình, một trật tự đẹp lâu dài, sự hưng thịnh vĩnh viễn. Thế giới đổi thay, theo nghĩa xấu, và chúng ta chống lại điều ấy. Chúng ta muốn một thay đổi khác. Nhưng ngay cả cái tốt đẹp cũng không đứng yên, thường xuyên cần được định nghĩa lại:
 
Gương mặt
 
Niềm vui có thể cất lên bằng nhiều đôi cánh
Sự độc ác quắt quay thời tiết
Chỉ nỗi khổ đau cùng một mạch nguồn
Nỗi khổ đau
Con đường ấy tôi đã từng đi
Bầu vú cạn tong teo
Tôi đã thấy trên da thịt tôi những mạch máu đang cuộn chảy
Em hãy hát ru tôi bằng vị đắng phận người
Em hãy hát ru mùa ngô tướp lá
Những vệt bùn cằn trên áo mẹ
Nụ cười héo hon của người thiếu phụ
Những cuộc tình lạnh vỡ sao băng
 
Không thể có một nền thơ ca phi chính trị. Ngôn ngữ thơ là tiếng nói từ bên trong, nhưng đó là một bên trong đã đi xuyên qua ngày tháng đằm sương khói, hay máu lửa bụi bặm. Anh là một nhà thơ công dân, và điều đó làm lên giá trị cốt lõi của thơ anh.
 
Đỉnh
 
Có những đỉnh phải ngước lên rất cao
núi ngủ giấc mây
mây lãng đãng đeo vòm trời khát vọng
Có những đỉnh không đo đếm được
bóng chúng phủ ta cả trong tiềm thức
 
Từng là một người lính, một người lăn lộn qua những hoàn cảnh ác liệt khác nhau, anh gần gũi với người bình dân, kẻ khốn cùng. Anh nhìn cuộc đời thực, thẳng, gần, ánh sáng chói mắt. Sự phê phán ở Trần Quang Quý trong một số bài thơ là sắc sảo, hiệu quả. Tiếc thay đó là sự phê phán bị nhiều người đọc bỏ quên. Nhà thơ nào cũng nhạy cảm trước cuộc đời, trước sự vô lý, bất công, đàn áp. Nhưng chỉ một số ít trong họ có khả năng tìm thấy tiếng nói của mình cất lên từ đám đông. Trần Quang Quý ý thức một cách rõ ràng vị trí của mình, anh là một nhân chứng, nhưng là nhân chứng biết rõ mình đứng về phía nào trong xung đột hôm nay. Đây là nơi anh trở về:
 
Tôi lại về dưới mái nhà rêu mốc thả trong mơ
Qua những khu vườn hồi hộp quả
Tiếng chân trâu còn khấp khểnh giấc ngủ lão nông
Cánh đồng hổn hển bầu ngực trễ nải thiếu phụ
Làng cất nhọc nhằn vào bóng tối
Đêm cất làng về thuở nghìn năm
 
Giọng điệu pha lẫn sự mô tả khách quan lạnh lùng và khuynh hướng lãng mạn hậu tiền chiến, đôi khi cũ, có chữ lặp lại. Anh có những cố gắng cách tân, trong một ngôn ngữ gần siêu thực, nhưng không đi đến cùng, không chơi với chữ. Anh tin tưởng vào khả năng mô tả của chúng. Thơ anh vừa hướng nội vừa hướng ngoại, đôi khi là bản tường trình thô ráp đối với hiện thực, sự phản chiếu áp lực, nhưng nhiều khi là xúc động được kìm nén, những cao hứng bất ngờ được ngôn ngữ nhào nặn làm cho uyển chuyển.
 
Rượu đã thấm
Tóc không bờ mây biếc
Em thôi cười như thuở hững hờ trăng
Những ngang ngửa sau một ngày cơm áo
Ta lẻ loi đơn chiếc biết nhường nào
Lòng như cánh chuồn sau cơn bão
Xạc xào bay trần thế cõi mình
Cuộc đời thật bắn vào tôi bằng chính nó
Sau nhiều nếm trải mới rung lên
Mũi tên nhỏ làm sao tôi biết
Khát vọng lớn lao
Cuộc đời là có thật
Mũi tên rơi cúi nhặt lấy mình
 
Những năm gần đây, Trần Quang Quý lập trường phái riêng, Thơ năm câu, nghe nói cũng có nhiều người hưởng ứng. Những bài thơ ấy phần nào mở hé một cánh cửa. Đó là sự lo âu có tính sáng tạo, cuộc khởi phát đẹp đẽ mà thành công hay thất bại của chúng còn lâu mới được nhìn thấy. Chọn thể loại là công việc sớm nhất của người viết. Thể loại không chỉ mang tính phân chia hình thức mà còn ảnh hưởng đến nội dung và đề tài. Chọn viết truyện ngắn thì không ôm đồm nội dung lớn. Chọn làm Haiku thì không thể kể một câu chuyện dài dòng. Các nhà thơ hiện nay dễ dàng hơn ngày trước vì họ có nhiều chọn lựa, và hầu hết đều chọn thơ tự do. Thơ năm câu có thể đã tạo ra một vệt đi nhỏ trên con đường thơ Việt.
 
Đọc thơ thầy Thích Nhất Hạnh
 
Mặt trời ở trong ta, ta có trong mặt trời
khi ta đi vào dòng suối, bay cùng đám mây
suối và mây hay vạn vật đã có ở trong ta
Không gì là vô tình
hữu duyên thì sẽ gặp.
 
Ý nghĩa của một bài thơ thuộc về diễn dịch của độc giả, không phải của tác giả. Sự diễn dịch ấy chịu tác động của âm nhạc, các vần, phép đối xứng, phép trùng điệp. Mỗi câu thơ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tồn tại trong khi chúng được đọc lên. Tuy nhiên việc đọc bao giờ cũng có hai hình thức, đọc lớn và người khác có thể nghe, và đọc thầm không phát ra tiếng, chỉ bạn biết. Sự cao thấp, độ dài ngắn, cách phát âm tạo ra ngữ điệu riêng của câu thơ. Thơ đương đại, đặc biệt là thơ Việt, ngày càng rời bỏ tính ngữ điệu. Việc đọc thơ trên quảng trường, trước đám đông, dù là ngâm hay đọc, ngày càng bớt dần thì các nhà thơ càng dễ bỏ quên ngữ điệu. Một trong những cố gắng mà trường phái năm câu do Trần Quang Quý khởi xướng, cũng như thơ Tân hình thức chẳng hạn, trong khi khuyến khích một thể thơ cố định, dần tạo nên nhạc điệu riêng và đó là điều đáng khuyến khích. Anh cũng viết nhiều thể loại, và có những câu lục bát đẹp:
 
Đã từng đi nát con đường
gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây
Đã từng hẹn tuột vỏ cây
gió ghen vần vũ đám mây tụt quần
Đã yêu yêu cạn mùa xuân
 
Anh dễ lặp lại chữ, hay sa vào thơ ngụ ngôn triết lý vụn:
 
Biển nhụt chí
thủy triều tụt váy
cát nằm hoang những vết chân còng
Lộn biển ra gặp ngàn năm nước mắt
cô lại thành những hạt mặn kết tinh
 
Trần Quang Quý sống tỉnh thức, lắng nghe mọi thứ tin tức, chiến tranh và hòa bình, nhẫn nhục, những dự báo thời tiết của lòng người. Thơ anh nạp năng lượng của ý thức công bằng. Thơ ấy không đề nghị được giải pháp, không cắt nghĩa lịch sử, chúng chỉ nhắm vào sự khốn khổ của con người, và ngôn ngữ thơ của anh trong nhiều trường hợp tỏ ra đủ sức mô tả chúng.
 
Sau tất thảy trận mạc, khúc bi thương hay khúc oai hùng
chiếc gươm ngủ giấc hào quang
hay thức mòn trong bi kịch những vết chém?
 
Các nhà thơ nếu biết vận dụng văn nói thì có thể khai thác được thế mạnh của chúng, trong các câu có tính đối thoại, kêu gọi, tán thán. Nếu được sử dụng một cách nghệ thuật, văn nói có tác dụng rất lớn trong việc biểu lộ cảm xúc, tạo ra ý nghĩa mới mà một chữ xưa nay không có. Đó là các trường hợp (1) châm biếm, (2) phủ định, và (3) thách thức các giá trị. Thời đại ngày một hỗn loạn, thiên nhiên ngày một bị hủy hoại, các mối quan hệ giữa người và người phai nhạt. Thơ Trần Quang Quý là một trong những tiếng nói sớm, đương đại, về các đề tài xã hội và thời sự. Thơ ấy là một hành trình, là bản ghi chép hành trình, những chuyến đi trong không gian và trong lịch sử.
 
Gói nắng mưa, cánh đồng hạn lụt
những thế kỷ nảy mầm
từ mẫu người gieo hạt
Nằm trong vỏ vô thức
đã mọc rễ hy vọng
 
Tôi chú ý đến giọng điệu của anh, của các nhân vật. Giọng ấy khi cao, khi thấp, khi tuyên bố, khi tâm tình, nhưng thích hợp với điều muốn diễn tả. Nhờ giọng điệu mà bài thơ nói được nhiều hơn những điều mà nó nói. Đôi khi cách nói triết lý nhưng thuyết phục:
 
Thân cây cứng mọc đứng
cỏ dây leo mọc nằm
thì đâu cần cao thấp
Bò ngang thiên hạ
cỏ mềm nằm duỗi xuân
 
Kinh nghiệm đối với chấn thương là một trong những đặc tính của Trần Quang Qúy. Người đọc thơ anh nhận ra nỗi buồn sâu xa, sự kháng cự lại hoàn cảnh. Trong đau đớn, người ta không nói mà chịu đựng, không ca hát mà tìm sống sót. Tôi đọc anh sớm, từ những tập như Mặt nạ, và nhận ra đó là một hướng đi lạ. Đôi khi có sự kết hợp giữa hiện thực và tâm linh:
 
Liềm hái thèm ngày thôi gặt gió sương
người nông dân thèm tự do được giải phóng mình khỏi nhọc nhằn cơ bắp
và tự do đầu tiên lại là tự do không thoát ly bùn đất
tự do của mồ hôi
 
Một dòng thơ chiêm nghiệm; ngôn ngữ cứng cỏi nhưng giản dị, thành thực. Anh cần đến thơ trữ tình, không những như một phương cách mô tả thế giới, mà còn là một phương cách mà anh dùng vượt qua các ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, và di chuyển ngược lại. Bạn cảm thấy bạn thuộc về một nơi chốn, một quê hương, một mái nhà. Bạn thuộc về trái tim của người khác. Đôi khi chúng ta cảm thấy bị ruồng bỏ, bị từ chối, đôi khi cảm thấy bị phản bội. Bạn ở giữa sự thuộc về và lòng thương nhớ. Bạn trở nên cô lập với mọi người. Chúng ta bị lịch sử đánh bại. Và tất cả chúng ta sẽ bị đánh bại bởi cái chết. Vì không có một ngoại lệ nào, nên đó vừa là bi kịch vừa là hài kịch. Thơ đứng ở đâu? Đứng ở nơi sâu thẳm nhất, tối đen nhất, nơi bạn ngã xuống. Đôi khi bài thơ anh cũng tựa như lời cầu nguyện.
 
Đường xưa người đã xa rồi
Tiếng chân dặm thẳm không lời tiễn đưa
Tôi về gom lại giấc mơ
Áo người xưa đã cởi hờ cho nhau
Trăng suông lẻ bước qua cầu
Sương đêm lẻ giọt rơi nhàu tâm tư
Cây còn treo một nỗi chờ
Lá xanh thì đã rơi mờ tiếng em
Đâu đây mỏng mảnh trời đêm
Tiếng chim xe sợi chỉ duyên đã gầy
Đường xưa còn một gốc cây
Mà nghe hun hút nơi này không ai
 
Những ý tưởng trở nên có khả năng đi xuống chiều sâu mới, ở đó chúng tìm thấy lời an ủi, niềm thanh bình cội rễ. Thơ anh lúc ấy trở nên nhẹ nhõm, giản dị, chứa ắp nội dung của đời sống. Tất cả chúng ta đều mong muốn được tham dự vào lịch sử, được can dự vào số phận của người khác. Thơ Trần Quang Qúy không phải là thơ dễ đọc, đó là loại thơ nửa mang nặng xúc cảm nửa trí tuệ. Anh có những đoạn im lặng, ánh sáng mờ chiếu không soi rõ khuôn mặt thi sĩ, lại có những phút bừng sáng, tư lự và kiêu hãnh. Các quan tâm xã hội của anh trong nhiều bài không rõ, tính phê phán không sắc bén. Ngược lại, trong một số bài khác, hòa hợp được với khuynh hướng trữ tình, của một người cô độc đi trong hoàng hôn, của đời mình, của xã hội. Tuy vậy giữa những dòng đơn chiếc kia, vẫn để lộ hoài bão không ngớt về cái đẹp, bao dung, lòng thương xót.
 
Cánh hoa đang mở ra những vệt sáng mệt mỏi
cánh hoa vừa khép lại những thiêm thiếp người
cõng giấc mơ bạn đi, đi mãi về cuối miền vọng tưởng
bỏ sót bên trời một chấm nhân gian
 
Thơ anh thay đổi qua nhiều giai đoạn, có khi mạnh mẽ, khô khan, có khi tâm tình, nhưng không ủy mị. Những mảng tối sáng xen kẽ nhau, nứt, bẻ gãy. Không phải bài nào của anh cũng đạt được điều ấy, có những bài dang dở như thể chưa viết xong, có những bài mà ý tưởng giản dị chưa đạt đến sâu lắng. Nhưng ấn tượng rõ nhất về thơ Trần Quang Quý mà tôi có được là những câu hỏi không ngừng rung lên về số phận, cá nhân và dân tộc, sự phân biệt giữa tình yêu và ý thức.
 
Một người lính của hai mươi năm trước
Vụng dại giã từ vào lúc trăng lên
 
Những câu hỏi ấy của anh là thao thức của người đọc hôm nay, vì vậy dù anh viết dưới thể thơ nào, tự do hay lục bát, năm câu hay thơ dài, nhà thơ bao giờ cũng đi với chúng ta, đương thời. Đi với chúng ta mà anh vẫn đơn lẻ, vì thực ra không một người nào trong chúng ta đi mà không đi một mình, với những ước mơ và kỷ niệm, và phản đối, về phía đường cuối. Nỗi cô độc ấy của Trần Quang Quý nhắc ta nhớ lại thật khó khăn biết dường nào để vừa sống như một người tự do vừa như một tiếng nói của người khác. Vì vậy, thơ anh có những khoảng khắc mờ ngạc nhiên, khi khắc nghiệt khi dịu dàng, khi dừng lại và chiếu sáng, ngoái về sau; và tất cả chúng, tôi nghĩ, đều là quà tặng mà anh muốn gửi lại cho đời.
 
Nguyễn Đức Tùng
       9. 2022
(Đọc Thơ- Bài 41)

READ MORE - TRẦN QUANG QUÝ, TA LẺ LOI ĐƠN CHIẾC BIẾT NHƯỜNG NÀO - Nguyễn Đức Tùng