Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 19, 2021

HOA TRẠNG NGUYÊN - Ảnh Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA TRẠNG NGUYÊN - Ảnh Chu Vương Miện

Saturday, December 18, 2021

GỮI ÁNG MÂY CHIỀU | MỸ NHÂN - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Gửi Áng Mây Chiều


Muốn hỏi mây chiều bay đến đâu
Về xuôi hay ngược bến giang đầu?
Cho ta theo với tìm quê mẹ
Nơi đã xa rồi, xa rất lâu

Từ độ ly hương đếm tháng ngày
Thời gian như cát lọt qua tay
Mà người xa xứ chưa về được
Chẳng ngục tù chi vẫn đọa đày

Quê cũ còn ai ngóng đợi chờ,
Còn ai tha thiết gọi trong mơ
Một tên người cũ đầy yêu mến
Của thuở xa xôi tuổi hẹn hò?

Mây ở trên trời bay cứ bay
Tụ tan vẫn mặc thế gian này
Chỉ người ly biệt buồn thương cảm
Xót cuộc tình nào khóc gió mây.

Mỹ Nhân


Em của ai mà không của tôi”*
Người đâu đẹp quá mắt môi cười
Tôi không si dại mà thần tượng
Cái Đẹp cho dòng thi hứng khơi

Có lẽ người xưa vốn đã sai,
Một cười mất nước chẳng cần hai (!?)
Nụ cười như rượu nghìn năm tuổi
Như ánh dương hồng buổi sớm mai

Mỹ nhân là sắc, cũng là hương
Là thơ, là vũ điệu Nghê Thường
Là trăng Lý Bạch, mây Thôi Hiệu
Là khúc Trương Chi, lệ đoạn trường!

_______
* Không rõ tác giả câu thơ là ai.

--
tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - GỮI ÁNG MÂY CHIỀU | MỸ NHÂN - Thơ Trần Đức Phổ

Wednesday, December 15, 2021

CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN - Nguyễn Đức Tùng

           

Cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc khi ở ngoài đất nước là một món quà. Tôi hoàn toàn không biết người gửi. Tôi tìm thấy nó dưới tấm thảm cũ góc nhà trong khu tạm giam gần thủ đô Bangkok. Tôi thức dậy trước khi trời sáng, không ngủ được, bồn chồn, cảm giác có vật cộm lên dưới gót chân. Đó là cuốn sách rách bìa nhưng bên trong còn tốt, giấy ố vàng nhưng chữ đọc được. Cuốn sách không nằm đó một mình, không nằm đó một cách cô độc, nó nằm chờ ở đó như người bạn chờ người bạn. Cuốn sách như tác phẩm nghệ thuật được một nghệ sĩ để lại trên đường đi, vì quá nặng, hay cố tình để lại cho người đến sau. Cuốn sách ấy như một nhân vật, không yêu ai, không phụ ai, không chú ý đến người nào, nằm im lặng ở đó nhưng đã học quá nhiều điều từ những năm tháng tối tăm, biết bao người đi qua, dừng lại, nằm xuống, nằm xuống mãi, không ai nhìn thấy vì nó nằm ở chỗ lõm sâu nhất của sàn xi măng lạnh lẽo. Cuốn sách không được phê bình, không được mang tới, kiên nhẫn như tác phẩm vĩ đại, như kho tàng chôn giấu kỹ, là vật duy nhất còn sống sót dưới đống gạch đá của ngôi nhà tan nát vì chiến tranh. Nó ở đó, lưu giữ ký ức của loài người, sự sinh thành các tính cách, tham lam và ích kỷ, cao thượng và hy sinh, dằng dặc nỗi buồn của tình yêu của ba người đàn ông.
 
Đó là Anh em nhà Karamazov, trong cuốn The Brothers Karamazov, bản dịch tiếng Anh khoảng năm 1960. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky, được viết những năm cuối của đời ông. Trước đó tôi chưa đọc cuốn này, cả trong tiếng Việt, mặc dù có nghe nói đến bản dịch, nhưng tôi có đọc Tội ác và Trừng phạt, đọc loáng thoáng, ba lơn, không thích vì không hiểu, tối tăm so lối văn trong sáng mà tôi vẫn yêu thích thời ấy. Nhưng tôi không có chọn lựa nào khác. Không có từ điển trong tay, tôi quyết định đọc nó, khổ sở, hoang mang, tức giận. Đọc chậm, từng chữ, đánh vần, rồi đọc lại cả mệnh đề rồi cả câu, vừa đọc vừa đoán, vừa đọc vừa tưởng tượng, cũng có nhiều chữ gần với tiếng Pháp, sinh ngữ của tôi, nên tôi suy ra được. Tôi đoán nghĩa của chúng dựa vào liên tưởng, lờ mờ hình dung các nhân vật, lời nói cử chỉ của họ, các tranh luận dài dằng dặc của họ. Tính chất cực đoan của tác giả, những cuộc đối thoại vừa gay go vừa ly kỳ bắt đầu quyến rũ tôi, sự nhạy cảm của nhà văn, sự xung đột của các tính cách, nỗi khổ đau của họ, tình yêu của họ. Thực sự là một tiểu thuyết lớn có tính triết học với những câu hỏi về các giá trị, sức mạnh của lòng tin, và sức mạnh của sự nghi ngờ, tranh cãi. Sự thách thức và sự bảo vệ tự do. Các cuộc chiến tranh bắt buộc và các cuộc chiến tranh có thể tránh được.
 
Một dân tộc không có tranh luận, tranh cãi, tìm đường, là một dân tộc không thể lớn lên. Tôi đồng ý với nhà văn Nga rằng thực ra ma quỷ không có, chỉ là do con người tạo ra chúng dựa trên khuôn mẫu của chính mình. Tôi đọc đi đọc lại cuốn sách hai lần, ba lần rồi năm lần, bảy lần, không chỉ vì yêu thích mà vì không có việc gì làm trong những ngày mưa rả rích, rét run người, nằm một mình trên tầng lầu thứ tư trong một tòa nhà đá dùng giam giữ những người nước ngoài phạm tội, như nhập cư lậu, kẻ sắp ra tòa, những người vượt biên bị bắt lại, chờ hồi hương, một thế giới vô cùng hỗn tạp, đủ hạng người, da trắng có, người da màu có, nhưng tầng lầu tôi ở trong hai tháng lại khá vắng, không hiểu vì sao. Cũng vì tôi đọc mà không hiểu, nhưng mỗi lần đọc xong lại hiểu lên một bậc, càng hiểu càng thích, càng tò mò. Hầu hết các chữ tôi đọc được là do đoán mò, do liên tưởng, nên có lúc sai be bét. Nhân vật Alyosha có câu nói mà tôi thích, I send him my compliments, tôi cứ tưởng rằng đó là lời cảm ơn trang nhã, vì vậy khi gặp phái đoàn Tân Tây Lan đến làm việc, tôi đã dùng câu ấy để gửi tới thủ tướng của họ. Cầu trời cho ông ấy không bao giờ nhận được. Nhưng nhờ kiểu học máy móc, ẩu tả, tôi thuộc được rất nhiều mệnh đề trong tiểu thuyết, cách nói, sự kết hợp duyên dáng của các chữ, cách suy nghĩ trừu tượng của các nhân vật. Tôi thuộc tính cách của người cha Fyodor, một kẻ lạnh lùng không biết yêu thương, nhưng mối quan hệ phức tạp của ông ta và các con trai tạo ra những xung lượng lớn  cho tiểu thuyết, tôi biết Dmitri, người con trai lớn, một người có nhiều cảm xúc, mối tình của chàng ta với kiều nữ Grushenka, hai cha con cùng yêu một người đàn bà, và cuộc đấu tranh quanh gia tài, tôi yêu chàng Alyosha thánh thiện, đáng mến, đầy lòng tin, biểu tượng của lòng hy vọng đối với con người, nhưng tôi quan tâm nhiều hơn đến Ivan, đứa con trai giữa, một kẻ cô độc, trí tuệ, đau khổ vì sự tàn ác của con người, một kẻ không tin vào Thượng đế, suốt đời theo đuổi tình yêu ngang trái của chàng. Trong tay không có từ điển, sự hiểu biết của tôi đối với cuốn sách về chi tiết và các đối thoại mười phần sai hết sáu, bảy, thế nhưng kỳ lạ thay ba hay bốn phần còn lại ấy lại dẫn dắt toàn bộ cảm thức của tôi, tôi biết rằng thế giới mà tôi đang sống đầy rẫy những điều xấu xa và tốt đẹp, rằng những mối quan hệ cha mẹ và con cái, anh chị em, bè bạn, con người và quê hương không bao giờ đơn giản như ta nghĩ. Thực ra, nếu muốn đẩy chúng đến mức đơn giản thì chúng cũng có thể đơn giản nhưng sự đơn giản ấy không có ích cho con người, không giải quyết được những vấn đề của đời sống, những xung đột ngấm ngầm sẽ bị hoàn cảnh khó khăn về sau làm bộc lộ. Những hiểu biết như thế làm tôi buồn rầu kinh khủng, chán nản, sợ hãi trước con người. Cuốn sách cũng dạy tôi rằng tự do là một cảm nhận rất sâu xa, không phải ai cũng có, không phải xã hội nào cũng có, nó phân biệt kẻ cao quý và kẻ thấp hèn, vì không có gì đáng ghét hơn là một người đòi hỏi tự do trong mắt những kẻ có quyền hành và cả trong mắt một xã hội đã quen sống nô lệ.
 
Mặc dù có nhiều tình tiết, hành động, các tranh luận nặng tính triết lý, căn bản của cuốn tiểu thuyết là những xúc cảm. Sự mô tả các mối quan hệ nhiều lúc vượt ra khỏi những kinh nghiệm cá nhân của tôi, và như một người đọc, tôi trẻ hơn, kém trưởng thành hơn so với các nhân vật. Vì việc đọc xảy ra trong bối cảnh đặc biệt, mọi tâm trí của tôi dành gần như hoàn toàn cho câu chuyện kể, cảm xúc của tôi là những phản ứng đối với các diễn tiến, khi tôi lắng nghe các giọng điệu, tự mình thu xếp suy nghĩ riêng, việc đọc ấy làm tôi trở thành người tham gia vào mọi thứ. Nói cách khác mối quan hệ của tôi với cuốn sách là mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại. Trước Anh em nhà Karamazov, tôi đã từng yêu mến nhiều thứ: Nửa chừng xuân, Mối tình màu hoa đào, Giông tố, Cõi người ta, Khung cửa hẹp, Zorba, nhưng những cuốn sách ấy tôi đọc chúng trong khung cảnh thơ mộng, tin rằng thế giới lúc nào cũng thế, không thay đổi, còn bây giờ tôi đọc trong tâm trạng lo âu, rối bời, nhớ, nên những ấn tượng của các nhân vật sâu đậm không ngờ, chúng làm tôi kiệt sức và nâng tôi lên. Trong bất kỳ một tự sự nào cũng có niềm hy vọng, về sự giao tiếp giữa tác giả và người đọc, sự giao tiếp ấy bất chấp những cách trở không gian và thời gian, làm bạn vững lòng như khi gặp tai nạn, bạn thấy mình đứng giữa những người khác, trách nhiệm và xao xuyến. Cuốn sách làm cho tôi từ một đứa con trai vui tươi hời hợt trở thành đăm chiêu buồn bã, nhưng cũng vào lúc ấy nó mang lại cho tôi cảm giác sống động về thế gian, lòng hy vọng. Càng hiểu những hoài bão thầm kín tôi càng tin rằng người khác cũng như mình, cũng không thỏa mãn với những điều kiện, cũng từ chối quá khứ, cũng căm hận những nhầm lẫn của lịch sử, sự lừa dối của văn học, nổi giận trước tội ác chống con người. Trong sách, Dostoevsky có một câu mà tôi nhớ: Bí ẩn thiêng liêng của đời sống không phải là bạn tìm cách để sống mà ở trong sự tìm kiếm mục đích của đời sống ấy. The mystery of human existence lies not in just staying alive, but in finding something to live for. Chìm sâu vào cuốn sách, tôi tìm thấy sự kích thích của các vấn nạn, như khi lặn xuống đáy nước sâu, càng lặn xuống, sức đẩy của nước càng lớn, nó hất tôi lên mặt nước, cho tôi gặp khí trời, xô tôi vào giữa những quan hệ hỗn loạn, dịu dàng. Tôi không tha thiết lắm với những câu hỏi về Thượng đế, chúng xa lạ với tôi, ngày ấy tôi không hiểu được Thượng đế là vũ trụ, nhưng tôi quan tâm nhiều hơn đến những suy nghĩ về trần tục, những điển lễ của tha thứ, nỗi đam mê chết người của tình yêu, tội lỗi của chúng, sự cứu rỗi của chúng. Càng về sau tôi càng nhận ra khuôn mặt của xã hội Việt Nam trong cuốn sách ấy, một xã hội hậu chiến ngày càng phát triển hỗn loạn, bộc lộ hết những mâu thuẫn và tham vọng điên cuồng, sự đau khổ của đồng bào tôi và ước vọng muôn đời của họ, sự lừa dối của các khẩu hiệu và sự cứu rỗi của ngôn ngữ.
 
Nhà văn Nga viết cuốn sách này khi đã lớn tuổi, rơi vào tình trạng bệnh tật liên miên, sống trong một cuộc đời buồn nhiều hơn vui, trong một hoàn cảnh xã hội đen tối, viết suốt mấy năm ròng rã trước khi ông qua đời, không có một chút hy vọng nào về sự nổi tiếng của nó, nhưng cuốn tiểu thuyết sau cùng ấy có lẽ là tác phẩm quan trọng nhất của ông và là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của nhân loại. Hai cuốn Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak và Anh em nhà Karamarov của Fyodor Dostoevsky đã ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất, cuốn thứ nhất tôi đọc bản tiếng Việt và nhiều năm sau đọc lại trong tiếng Anh, cả hai lần tôi ít khi phải dùng từ điển, nhưng cuốn thứ hai hoàn toàn cần đến từ điển thì tôi không có, đầy những chi tiết đan quyện các đối thoại và hành vi lạ thường, lừng lẫy, buồn bã, khích động, đó là một thế giới của những tính cách mạnh mẽ, những con người hiền minh và tội lỗi, sự mất đối xứng của các nguyên tắc, sự hài hước, quyến rũ của cái đẹp, cái chết. Khi đọc đến chương cuối, tôi gặp dòng chữ viết tay bằng bút mực xanh, chữ viết gấp khó đọc nhưng đẹp, sắc, mạnh mẽ, ghi tên một người nào đó, không biết là người chủ cuốn sách hay ai khác. Tôi tin đó là món quà tặng mà một người từ xa bí mật gởi đến cho tôi. Từ một thế giới khác. Đó cũng là một cuốn sách viết về thế giới khác, thế kỷ khác, những con người hoàn toàn xa lạ, tất cả đều xa lạ với tôi, thế nhưng càng hiểu nó tôi càng tin rằng đó chính là cuộc đời này, của tôi đây, một cuộc đời đau đớn và quyến rũ, như chính cuộc ra đi của chúng tôi ngày ấy.
 
Có những nhà văn viết về thế giới như thể chúng là, mô tả chúng, trình bày chúng một cách sang trọng đẹp đẽ, một cách tài tình, làm người đọc ngẩn ngơ như Marcel Proust, và có những nhà văn xới tung thế giới, làm đảo lộn các trật tự, khơi mở thứ ánh sáng mới, lạ lẫm, tươi rói, chưa hoàn thiện, như Dostoevsky. Tôi mừng rằng tôi đã đọc cuốn sách ấy khi còn trẻ, nếu tôi đọc nó khi đã lớn tuổi, mặc dù với sự hiểu biết khá hơn, tôi đã không có những ấn tượng ban đầu. Hệt như vậy, tôi đã được đọc Gió đầu mùa của Thạch Lam năm mười tuổi, Thằng người gỗ Pinocchio năm mười một tuổi, Bay đêm năm mười ba tuổi, vì thế những cuốn sách ấy đã được gieo xuống đúng vào quãng đời cần thiết, nếu như tôi đọc chúng mười năm sau, ý nghĩa đã khác hẳn, cũng như vậy buổi tình đầu của bạn, cuộc ra đi của bạn, cái chết của một người thân năm bạn lên mười tuổi, tình bạn năm mười sáu, đúng vào thời điểm ấy hoàn toàn khác khi chúng xảy ra những năm trước đó hay sau đó, cũng vậy bạn đọc một cuốn sách trên bãi biển mùa hè hay trong căn bếp nóng hừng hực của nhà hàng khi bạn làm nghề rửa chén, đọc nó trên cánh võng dưới giàn hoa thiên lý hay trong trại giam ngoài đất nước, chúng hoàn toàn khác nhau, đem lại những hiệu ứng khác nhau cho cuộc đời. Cuốn sách dưới lớp vải bố dày, nửa như nệm, nửa như chiếu, trên sàn đá lạnh những chiều mưa ẩm ướt, khơi mở trong tôi biết bao bí ẩn mà tôi chưa gặp, nhưng thế nào tôi cũng sẽ gặp khi lớn lên, giữa một thế giới đầy người ác và người thiện, người thiện và người ác, mất rồi lại được, được rồi mất, gặp rồi chia tay, chia tay rồi gặp lại.
 
Nguyễn Đức Tùng
 
(Hai trăm năm sinh Fyodor Dostoevsky, Nov. 1821- Nov. 2021)
 
READ MORE - CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN - Nguyễn Đức Tùng

CHIÊM BAO TRÊN BIỂN – Thơ Trần Mai Ngân


 

 
CHIÊM BAO TRÊN BIỂN
 
Chiếc tàu lênh đênh trên biển
Tôi mơ màng những chiêm bao…
 
Có người thương gia chốt mua đất lao xao
Ở khu nhà nghèo nằm trong quy hoạch
Giá rẻ hời phân lô khấm khá
Đất của ông bà đã đổ mồ hôi
 
Chiêm bao có tiếng cằn nhằn thúc hối
Bên đầu dây kia người khất nợ khóc than
Giọng lạnh lùng xé nát tan hoang
Một quen biết một thân tình bè bạn...
 
Chiêm bao kể về chàng trai trẻ
Bỏ thị trấn cùng mối tình chớm nở
Lên khu phức hợp học chia bài ở casino
Người yêu buồn khóc rồi lệ cũng sẽ khô…
 
Chiêm bao ngọt ngào giọng ru của mẹ
Hòa tiếng sóng buồn xa vắng mênh mông
Nhịp điệu sầu của sắc sắc không không
Hạnh phúc ở cuối chân trời xa lắc…
 
Chiêm bao hỗn độn mớ bòng bong chát đắng
Của vị đời mặn nhạt chua cay
Tôi choàng tỉnh giữa biển trời với cơn say
Hụt hơi chóng mặt và lẫn buồn nôn bởi… sóng!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - CHIÊM BAO TRÊN BIỂN – Thơ Trần Mai Ngân

Tuesday, December 14, 2021

KHÍ CỤ BÌNH AN TRONG BÀI THƠ “LỜI KHUYÊN KỲ DỊ” - Thơ Châu Thạch, lời bình Lê Liên


 
             Nhà thơ Châu Thạch

 
LỜI KHUYÊN KỲ DỊ
 
Hãy trang bị cho mình chiếc gậy
Như thêm chân để đi giữa cuộc đời
Và chiếc túi như chiếc hồ lô nhỏ
Bạn lên đường làm hành khất rong chơi.
 
Bạn bước xuống đi con đường nhân ái
Nẻo yêu thương gót rãi những nhân lành
Đến từng nhà xin chớ gõ tay nhanh
Cứ từ tốn như ngày xưa Chúa gõ.
 
Ai tiếp bạn và ai lòng mở ngõ
Bạn nhân danh công lý tạ ơn Người
Ai quay lưng chế nhạo, bạn tươi cười
Phủi hết bụi, đi xa vùng ô trọc,
 
Bạn sẽ thấy tay mình ngăn tiếng khóc
Nếu đi xin vì trái đất nhân danh
Băng vết hằn đang rũa cả màu xanh
Lấy tình nghĩa trồng hoa vườn khổ nạn.
 
Cả nhân lọai nếu ai đồng như bạn
Nhanh bàn tay với gậy, túi yêu thương
Thì thế gian nay đã biến thiên đường
Và đau khổ đâu còn trên mặt đất,
 
Xin hết thảy đăng quang làm hành khất.      
 
Châu Thạch

*

   Nhà bình thơ Lê Liên

       
KHÍ CỤ BÌNH AN TRONG BÀI THƠ “LỜI KHUYÊN KỲ DỊ”
                                                Lời bình Lê Liên
 
Dạ thưa, 
  
Có một điều kỳ lạ chạm đến trái tim mình khi tôi đọc câu cuối của bài thơ:
 
“Xin hết thảy đăng quang làm hành khất.”
  
Và tôi hiểu vì sao lại có tựa bài thơ là LỜI KHUYÊN KỲ DỊ của nhà bình thơ CHÂU THẠCH.
    
Bản thân tôi rất say mê, rất yêu quý “KINH THÁNH”. 
    
Đặc biệt khi đọc bài thơ “Lời Khuyên Kỳ Dị” của nhà thơ Châu Thạch. tôi liên tưởng đến đoạn Kinh Thánh trong sách MÁC. (Chương 6: từ câu 7 đến câu 13.) 
  
Tôi thầm cảm ơn huynh ấy, đã chuyển hóa đoạn Kinh Thánh trên thành một bài thơ rất ngộ nghĩnh, mang tính tự sự cá nhân, rồi nhẹ nhàng đi vào lòng người như một lời mời gọi... rất ư là kỳ dị !
 
"Hãy trang bị cho mình chiếc gậy
Như thêm chân để đi giữa cuộc đời
Và chiếc túi như chiếc hồ lô nhỏ
Bạn lên đường làm hành khất rong chơi."                          
(Thơ Châu Thạch)
    
Khi còn nhỏ, tôi rất yêu những cây gậy trong những câu chuyện thần thoại. 
   
Bởi vì, khi cây gậy còn được gọi là đũa thần của cô tiên, của ông bụt huơ lên không trung là lập tức phép màu biến hóa, đáp ứng cho người ta những ước nguyện tốt lành. 
Ôi! Sung sướng làm sao!
   
Trong tuổi thơ của trẻ con nước Việt, ai cũng biết truyền thuyết chống giặc ngoại xâm của nước ta có cây gậy của Thánh Gióng… rất thần kỳ. 
   
Nhớ lại, thuở ấy tôi hay lén Ba tôi đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Tôi rất thích cây “Đả Cẩu Bổng” đầy uy lực và những “cái túi” phân cấp bậc của các đệ tử cái bang đầy nghĩa khí.
  
Lớn lên một chút, hình ảnh cây ba-ton trong phim ảnh của các nhà quý tộc cho tôi cảm giác yêu, ghét khác nhau tùy theo bối cảnh.
    
Mấy ai quên những cây gậy, một đạo cụ trong nhiều bộ phim mà điển hình là cây gậy của vua hề Charlie Chaplin nhỉ? 
   
Rồi trong mỗi chúng ta, có mấy ai không thích cây thiết bản nhỏ bé của Tôn Ngộ Không ? Mỗi khi vung lên, to lớn là uy lực của lẽ phải, chiến đấu cho điều thiện, tiêu trừ tất cả điều ác.
   
Nếu nói về những cây gậy trong văn học thì nhiều vô kể… ta tản mạn một chút cho vui.
    
Trở về thực tại, chúng ta còn bắt gặp những cây Thiền Trượng của những vị chân tu. Đó chính là Pháp Cụ rất vi diệu của các ngài trên con đường hành đạo dẫn dắt con người đi vào vùng sáng tâm linh.
   
Nổi bật trong Kinh Thánh có cây gậy của ông Moise trên Con Đường dẫn dắt dân Chúa.
    
Nhưng gần gũi nhất vẫn là những cây gậy của các cụ ông, cụ bà mà ta thường nhìn thấy trong đời sống hàng ngày. Nó như là chân đế vững chắc, nâng đỡ cho những bước chân đã oành gánh nợ đời của các cụ già.
    
Nhà thơ Châu Thạch đã lấy hình ảnh mộc mạc, thân thiết trong đời sống, bảo chúng ta trang bị cho mình: Cây Gậy và Chiếc Hồ lô.
   
Hồ lô chính là biểu tượng của sự Ngọt Ngào, An Lành, và Sức Khỏe được trao ban, được cho đi bất tận.
  
Hình ảnh của chiếc hồ lô làm tôi nhớ đến dòng Cam Lồ của Phật Bà Quan Âm khi tôi còn nhỏ; của nồi cơm Thạch Sanh không bao giờ cạn hết.
  
Làm hành khất là sống bằng của bố thí! Có ai làm hành khất mà lại thong dong không nhỉ ? Đã vậy, nhà thơ lại còn bảo “làm hành khất rong chơi” nghe nó là lạ, nghịch lý làm sao sao ấy?!?…
  
Làm hành khất trang bị cho mình “chiếc Gậy” còn có lý, nhưng làm sao có túi Hồ Lô đây? Và trong túi hồ lô đó chứa đựng những gì, nhỉ?
   
Xem chừng đoạn thơ mở đầu này có điều kỳ bí, bất thường chăng?
   
Không đâu, chỉ là nhà thơ nhắc nhở cho chúng ta hiểu rằng: hãy sẵn sàng lên đường, rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Bởi, giữa đời sống đầy nhiễu nhương này, con người cần được dẫn dắt đi trên con đường ngay lành, đầy tình yêu thương
    
Vị hành khất này không xin của cải vật chất tầm thường của thế gian, mà vị hành khất này đang trên con đường hành hương, đến từng nhà, xin từng Người:
 
--- hãy cho tôi sự tăm tối trong cuộc đời bạn. Và từ trong chiếc túi hồ lô này, tôi có Nguồn Phước - Hạnh (từ Đấng Ban Cho) trao tặng bạn. 
 
"Bạn bước xuống đi con đường nhân ái
Nẽo yêu thương gót rãi những nhân lành
Đến từng nhà xin chớ gõ tay nhanh
Cứ từ tốn như ngày xưa Chúa gõ."               
(Thơ Châu Thạch)
    
“Nẽo yêu thương gót rãi những nhân lành”
    
Đường trần muôn lối đi, một khi ta chọn “con đường nhân ái”, thì đường đi ấy đã được định hướng bởi “nẽo yêu thương” rồi.
 
Không dễ gì khi mỗi bước ta đi đều gieo nhân tốt, để được gặt quả lành! 
   
Chúa mời gọi chúng ta hãy nhẫn nại khi làm nhân chứng tình yêu của Ngài bằng lòng bác ái, sự khiêm nhu khi gõ cửa trái tim của mỗi con người. 
  
Đọc đoạn thơ trên tôi nhớ đến câu
 
“Hãy Xin thì sẽ được
Hãy Tìm thì sẽ gặp
Hãy Gõ cửa sẽ mở cho.”
(Mt 7: 7-8)
   
Hãy Xin, Hãy Tìm, Hãy Gõ: đây là chuỗi trợ động từ làm sáng thêm câu thơ:
 
"Đến từng nhà xin chớ gõ tay nhanh
Cứ từ tốn như ngày xưa Chúa gõ."               
(Thơ Châu Thạch)
   
Đây là hình ảnh đẹp, với tâm thái khoan thai, khiêm nhu, hoan lạc vô cùng.
 
"Ai tiếp bạn và ai lòng mở ngõ
Bạn nhân danh công lý tạ ơn Người
Ai quay lưng chế nhạo, bạn tươi cười
Phủi hết bụi, đi xa vùng ô trọc,"                
(Thơ Châu Thạch)
 
Thật ngộ khi chúng ta làm hành khất nhưng lại “không nhận” mà chỉ có “cho đi”.
   
Brian Tracy tâm niệm:
 
“Hãy luôn CHO mà không ghi nhớ
Hãy luôn NHẬN mà không lãng quên”
       
Khi người ta mở cửa lòng để đón nhận chân lý; thì mình hân hoan cảm ơn người, lại nhân danh công lý mà tạ ơn Chúa. Cảm Ơn Ân nhân.
   
Khi người ta chưa có niềm tin, từ chối hảo ý của mình, thậm chí chế nhạo thì cũng lấy lòng khoan dung mà đối đãi. Thật không dễ dàng gì.!
 
“Bạn sẽ thấy tay mình ngăn tiếng khóc
Nếu đi xin vì trái đất nhân danh
Băng vết hằn đang rũa cả màu xanh
Lấy tình nghĩa trồng hoa vườn khổ nạn.”                     
(Thơ Châu Thạch)
   
Làm Hành khất vì miếng cơm manh áo đời thường đã khó. Bởi không dễ gì ta nhận được của bố thí từ lòng nhân hậu thật sự.
   
Làm hành khất mà chỉ TRAO GỞI TÌNH YÊU THƯƠNG một cách “Nhưng Không” càng khó hơn.
 
Chữa lành một tổn thương
Cứu vớt một linh hồn,
Thay đổi một tập tính,
Xóa bỏ một hủ tục...
 
Quả là một sứ mạng lớn. Rất cao cả và thiêng liêng. 
Khi lòng ta tràn ngập Tình Yêu và Hy Vọng thì sẽ thắng vượt mọi thử thách, khổ nạn.
 
Cả Nhân Loại này ai cũng được thúc đẩy bởi Tình Yêu tha nhân thì hành trang gọn nhẹ chỉ là Cây Gậy đầy quyền năng ánh sáng và Chân lý. Cùng với chiếc túi yêu thương vô vụ lợi, chắc hẳn Trái Đất xinh tươi, tốt lành trở thành Thiên Đường.
 
"Cả nhân lọai nếu ai đồng như bạn
Nhanh bàn tay với gậy, túi yêu thương
Thì thế gian nay đã biến thiên đường
Và đau khổ đâu còn trên mặt đất"              
(Thơ Châu Thạch)
 
"Xin hết thảy đăng quang làm hành khất!"                        
(Thơ Châu Thạch)
   
Cho nên Nhà thơ Châu Thạch chẳng ngần ngại khi mời gọi mọi Người hãy làm một việc lạ kỳ mà xưa nay chưa từng được công nhận: LÀM HÀNH KHẤT mà lại “tự mình” ĐĂNG QUANG.
   
Một bài thơ đầy Tánh Linh, Tôi cảm nhận sâu sắc, nhưng không đủ ngôn từ mầu nhiệm để diễn tả. 
   
Tôi chỉ viết nửa vời, và lòng thì nôn nao muốn là tình nguyện viên, làm sứ giả ra đi loan báo Tin Mừng.
   
Chỉ bảy câu trong Kinh Thánh thôi, mà tác giả Châu Thạch đã viết thành một bài “Hịch”, đã hiệu triệu được nhiều Người làm theo “LỜI KHUYÊN KỲ DỊ” của huynh ấy. Thật đáng ngưỡng mộ.
  
Cảm ơn nhà bình thơ Châu Thạch rất nhiều, bởi bài thơ “Lời khuyên kỳ dị” của huynh quá sâu nhiệm và rất Nhân Văn. Nó cho ta tràn đầy năng lượng yêu thương trong cuộc sống này.
Alleluia ! 
                                             
Lê Liên                                 
Sài Gòn, Mùa Vọng 2018
 
READ MORE - KHÍ CỤ BÌNH AN TRONG BÀI THƠ “LỜI KHUYÊN KỲ DỊ” - Thơ Châu Thạch, lời bình Lê Liên

THỔ LỖ PHỒN | RỐI CẠN & RỐI NƯỚC - Thơ Chu Vương Miện



THỔ LỖ PHỒN

Thơ Chu Vương Miện

-


Là 1 dân tộc sống ở cao nguyên

Cao chót vót tót vời

Trên đỉnh Hymalaya 

Tính theo mặt nước biẻn

Từ 4000m đến 15.000m  trở lên

Từ thế kỷ thứ 9

Lý Nguyên Hiệu 1 bối lạc “tù trưởng “

Đã tách 1 phần đất đai 

Đẻ thành lập một vương quốc

Có tên là Tây Hạ phiá trên tỉnh Thiểm Tây 

Trung Quốc

“Xin lệ thuộc làm phiên dậu nhà Đại Đường“

Một đất nước hùng cường

Đến thời Ngũ Đại qua nhà Tống

Tây Hạ là một quốc gia 

Oanh oanh liệt liệt

Cùng với các nước khác xâm lăng đại Tống

Sau bị đầu đời nhà Nguyên xoá sổ

Giết hết trơn hết trọi cả triệu ngừơi

Lẫn lộn với heo gà chó má

Không còn sống sót kẻ cả cỏ

1 phần đất đai lẻ tẻ còn lại ven biên Trung Quốc

Mất dần và sát nhập vào các tỉnh 

Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam

Mất 2 tỉnh do Ấn Độ chiếm

Phần còn lại là Thổ Phồn hay Tay Thượng

 “Tây Tạng” Tyber.

Sau năm 1949 là vùng đất tự trị

Tên là Xizăng  Zizhiqu


Cuả Hoa Lục "Trung Quốc“

Thuộc quốc thứ 32 dân tộc miền cao

Ít người

Năm 1959 Hoạt Phật Đại La Lạt Ma

Cùng khoảng 200.000 người chạy theo

Tỵ nạn tại Ấn

Dân số Tyber khoảng 3 triệu 

¼  dân số ở nội đia đi tu

¼ dân số tỵ nạn cũng đi tu

Nước bị chiếm ? “bị xoá“

Trên 70 năm

Mà thanh niên đa số trốn vào chùa 

Cạo đầu đi tu đêm ngày tụng kinh gõ mõ

Thì tới tết Công go “*”

Mới quang phục được

Tất cả các đại cường trên thế giới

Thấy Trung Quốc chiếm nuốt trọn Thổ Phồn

đều bằng chân như vại

coi như là chuyện đương nhiên

thank you


“*” Công Gô không bao giờ có tết Âm Lịch

-


RỐI CẠN & RỐI NƯỚC


Có  2 loại trên cạn là rối cạn

dưới nước là rối nước

trên cạn thì diễn ở rạp hay công viên

dưới nước thì diễn trên ao hồ

trên cạn thì giản đơn

con rối có thể là người khoác da thú

làm các con vật như khỉ chó ….

Và nếu bằng gỗ thì có 

ngừời nghệ nhân cầm giây điều khiển

và có thuyết minh

còn rối nước thì rất là giản kép

đa đoan phức tạp nhạp hơn nhiều

phải thiết kế nhiều đạo cụ dưới nước 

phải có dàn cây sắt ròng rọc …

và rất đòi hỏỉ kỹ thuật về cơ khí

trình diễn rất là tung hoành tráng

quy tụ tập trung nhiều thuyền bè 

cá rồng quân lính “thuỷ đánh bộ“

tất cả đều dấu ngầm dứới nước 

chỉ có các con rối là xuất hiện mà thôi

tuy nhiên theo cảm quan của người xem

thì trên cạn hay dưới nước

cũng toàn là rối cả?


Chu Vương Miện



READ MORE - THỔ LỖ PHỒN | RỐI CẠN & RỐI NƯỚC - Thơ Chu Vương Miện

MÙA BẤC CŨ, NGÀY ĐÔNG CHÍ, VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN – Thơ Tịnh Bình


            Nhà thơ Tịnh Bình
 

MÙA BẤC CŨ
 
Vương vấn bờ rào hoa đậu biếc
Giọng gà eo óc gáy vào trưa
Cánh bướm chập chờn không nỡ đậu
Kẽo kẹt hiên nhà tiếng võng đưa
 
Ta như trở lại ngày thân ái
Dưới mái nhà xưa rộn nói cười
Bập bùng bếp lửa ngày đông ấm
Bên mẹ bên bà ngóng cơm sôi
 
Chiều vương bóng nắng rơi thềm cũ
Tiếng chim lơ đãng gợi chút gì
Lá khô tình tự lời rêu biếc
Đông xưa mùa bấc có quay về
 
Ta mãi hoài vọng mùa xa ngái
Cánh diều thơ dại lạc nơi đâu
Con thuyền giấy trôi vào cổ tích
Phập phồng bong bóng dưới sân ngâu...
 
 
NGÀY ĐÔNG CHÍ
 
Mỗi bận sớm mai...
Cúc trắng li ti xếp tinh khôi ngoài ô cửa
Vạt gió bấc se se đẫm hơi sương
Chút lành lạnh mơn trớn mắt môi người
Thoáng chốc mà đông cũng sắp già rồi
 
Mẹ bày cỗ rước ngày đông chí
Chén chè ngũ sắc
Ấm gừng cay viên ỷ mè nheo
Con hít hà vờ cay sóng mũi
Mùa đông lạnh thêm nữa đi mà...
 
Ừ thì chẳng thể sưởi ấm lòng bởi màu cúc trắng quá đi thôi
Mở cửa sớm mai âm thanh nào rớt xuống
Chú sẻ nhỏ hôm nào ríu ran
Nay giọng hót cũng đã già rồi
Lục tìm chén chè ngũ sắc
Cũ mờ gác bếp ngày xưa...
 
Khép lại sớm mai
Thôi đừng nhớ mùa đông đã cũ
Bài thơ ngơ ngác chẳng cất nỗi thành lời
Đâu ngọn bấc
Đâu mưa phùn
Nỗi niềm gì bầy chữ cứ run run...
 
 
VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN
 
Vẫn là lối cũ đường xưa
Mùa đi trên lối mưa thưa nắng tàn
Trầm mê một cuộc chưa tan
Bước chân phiêu hốt đôi đàng tỉnh say
 
Lỡ rồi khóc mướn thương vay
Phù du thoáng chốc hình hài rong chơi
Kìa là mây trắng chơi vơi
Kìa là giọt nước xuôi nơi mưa nguồn
 
Đỉnh trời rơi vỡ phiến chuông
Đêm hoang lành lạnh mảnh gương soi lòng
Chập chờn mộng giữa sắc không
Giấc mơ phủ dụ người không thấy người
 
Giật mình giữa tiếng lá rơi
Đôi chim sẻ nhỏ vẫn lời điềm nhiên...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - MÙA BẤC CŨ, NGÀY ĐÔNG CHÍ, VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN – Thơ Tịnh Bình