Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 1, 2017

Ở CỘT MỐC 241 VĨNH XƯƠNG / BUỔI TRƯA Ở CHÂU PHONG - thơ Trúc Thanh Tâm




 Ở CỘT MỐC 241 VĨNH XƯƠNG

- Tặng các chiến sĩ Biên Phòng cửa khẩu.

 Ta về thăm lại Vĩnh Xương
 Đứng bên cột mốc mà thương nhớ nhà 
 Phía trời Hồng Ngự đâu xa
 Vậy mà vẫn lạc tình ta với người

 Nam Vang ngày đó xa rồi
 Chút tình còn nợ gái Khmer lai
 Chiều nay gặp lại tóc dài
 Lòng ta sóng vỗ gió ngoài biên cương

 Lục bình trôi giữa cô đơn
 Ta nghe mưa ướt một hồn thơ đau
 Tình cờ đâu nợ gì nhau
 Sao ta cứ thấy tình trào hơi men

 Nụ cười, ánh mắt không tên
 Người dưng đâu phải người quen mà gần
 Nắm tay cho thấy tình thân
 Để còn hơi ấm cho lần chia xa

 Phập phồng áo lụa nở hoa
 Gió mơn man gió mây là đà trôi
 Đời đang khuyến mãi cuộc chơi
 Nghĩ chi dâu bể kiếp người trăm năm !

 Vĩnh Xương, 26/9/2017
 TRÚC THANH TÂM



BUỔI TRƯA Ở CHÂU PHONG

 Tình cờ mà lại đáng yêu
 Chú ơi cho Cháu hỏi điều cháu mơ
 Vàm Kinh Cũ có bao giờ
 Vẫn còn lạ lẫm đến giờ chưa quen

 Thật tình Chú cũng như em
 Phải đâu thổ địa nên quên hết rồi
 Trưa nay nắng bỗng tuyệt vời
 Long lanh mắt nhớ dáng trời áo xanh

 Vườn sau chim hót trên cành
 Chút duyên văn nghệ gọi anh được rồi
 Mai đây gặp lại ngoài đời 
 Em ơi, đừng để nụ cười gió bay !

 Châu Phong, 27/9/2017
 TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)

READ MORE - Ở CỘT MỐC 241 VĨNH XƯƠNG / BUỔI TRƯA Ở CHÂU PHONG - thơ Trúc Thanh Tâm

“IM LẶNG” VÀ “BÍ MẬT” TRONG THƠ TRẦN MAI NGÂN VÀ TRẦN HẠ VI - Châu Thạch



         Nhà bình thơ Châu Thạch



“IM LẶNG” VÀ “BÍ MẬT” 
TRONG THƠ TRẦN MAI NGÂN VÀ TRẦN HẠ VI
                                                           Châu Thạch

Trần Mai Ngân và Trần Hạ Vi là hai nhà thơ nữ ở cách xa nhau nữa vòng quả đất. Hình như họ không quen biết nhau và có phong cách thơ rất khác nhau. Qua thơ ta cũng có thể phỏng đoán tánh cách  họ cũng khác nhau. Tuy thế họ có chung một điều. Đó là họ rất chân thật trong tình yêu. Chân thật đến nỗi họ đã thổ lộ cho người yêu mình tất cả rồi, nhưng họ vẫn chưa vừa lòng.  Họ còn cho người yêu mình biết thêm rằng, còn có cả cái phần họ không thể nói ra nữa.
Ta hãy đọc khổ đầu trong bài thơ “Im Lặng” của Trần Mai Ngân:

“Có những điều...
Em im lặng và anh không nói
Đôi khi là ngọn gió của Thu
Rất nhẹ nhàng khe khẽ như ru
Đến tuyệt đỉnh tình yêu mộng ảo...”

Rồi ta hãy đọc vế đầu trong bài thơ “Căn Phòng bí mật” của Trần Hạ Vi: 

“Có những điều sẽ chẳng nói ra
cho dù chúng ta
có yêu nhau đến thế nào chăng nữa
mấy ngàn ngày...
và có thể mấy vạn ngày tiếp lửa
chuyện anh
chuyện em
vẫn ẩn chứa bí mật của mỗi người”

Hai nhà thơ đều bày tỏ tình yêu sâu đậm của mình nhưng cả hai đều công nhận với người yêu mình rằng họ còn không nói ra những điều sâu kín. Những điều sâu kín ấy là gì? Ta hãy nghe Trần Mai Ngân thổ lộ:

“Cũng có lúc
Như con sóng dập dồn điên đảo
Nhấn chìm nhau khát nhớ xanh xao...
Hay nhiều khi là những cơn đau
Xoáy buốt rát trái tim bất định”

Và ta hãy nghe Trần Hạ Vi thổ lộ:

“Có những góc tối ở trong hồn
của riêng ta
không bao giờ chia sẻ
chẳng phải vì niềm tin không vẹn vẽ
nhưng vì đó là căn phòng bí mật
chẳng nên mở bao giờ”

Đọc vế thơ của Trần Mai Ngân ta hiểu thêm vế thơ của Trần Hạ Vi và ngược lại.
“Có những góc tối trong tâm hồn” mà Trần Hạ Vi cho biết đó, được Trần Mai Ngân thổ lộ rõ hơn thêm: “Như con sóng dập dồn điên đảo/Nhấn chìm nhau khát nhớ xôn xao” hay “Hay nhiều khi là những cơn đau/Xoáy buốt rát trái tim bất định”
Trần Mai Ngân và Trần Hạ Vi cho người yêu của họ và ta biết bằng lời nói không nói hết được tiếng của con tim. Khi yêu, hạnh phúc hay đau khổ của ai thì người ấy biết. Có “căn phòng bí mật” trong ta mà Thượng Đế không cho ai bước vào dầu kẻ ấy là một nửa của ta. Vậy tốt hơn là “Im Lặng”.

Rồi ta hãy nghe tiếp Trần Mai Ngân thỏ thẻ với chàng:

“Những điều ấy
Em im lặng và anh không nói
Chỉ âm thanh sóng gió biển khơi
Cuộn chúng mình ném giữa cuộc chơi
Của đời sống mông lung huyền ảo

Anh có hiểu
... những điều ta không nói
Nào xa xôi nào ngăn cách đâu anh
Biển với Trời kề gần sát rất xanh
Mà sao lạ, mà mong manh đến vậy! 

Trần Mai Ngân muốn gởi nhưng điều mà mình không nói vào tiếng sóng biển khơi. Cô muốn tiếng sóng sẽ cuộn nó đi như bao điều của cuộc sống tan vào trong mông lung huyền ảo. Việc ấy chỉ là ước muốn không thành. Bởi vì nếu nó cuộn đi được thì nhà thơ sẽ không còn khắc khỏi để phải than rằng: “Biển với trời kề gần sát rất xanh/ Mà sao lạ, mà mong manh đến vậy!”. Biển và trời cũng như anh và em, phần xác là một nửa của nhau nhưng phần hồn vẫn là hai riêng biệt. Không thế mà khi Thương Đế lấy xương sườn của người nam A- Đam  làm ra người nữ Ê-Va thì A-Đam chỉ công nhận rằng “người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra” chớ không nói đến phần hồn. Trần Mai Ngân biết thế nên câu thơ như cất tiếng kêu than cho một điều phi lý.

Rồi ta hãy nghe Trần Hạ Vi cũng thỏ thẻ với chàng:

“Con yêu tinh ngày xưa có một yêu cầu đơn sơ
cô gái sẽ sống mãi trong bạc vàng nhung gấm
chỉ đừng bao giờ mở cánh cửa cấm
ai cũng cần một góc nhỏ cho riêng mình (1)

Chúng ta ân ân ái ái 
tan chảy ân tình
nhưng mỗi người chỉ có thể là riêng một
một anh
một em
dù ngọt ngào chung hưởng
đắng cay chia sớt
nhưng em là em
và anh vẫn là anh”

Trần Hạ Vi giảng giải nhiều cũng để biện hộ cho “Căn phòng bí mật” của mình. Căn phòng ấy chứa gì? Chứa những điều xấu xa nên phải giấu chăng? Không đâu, không ai đem giấu cái xấu trong căn phòng bí mật mà cũng không ai đem khoe căn phòng bí mật khi dấu cái xấu vào đó. 
Trần Hạ Vi đã nói chúng ta “tan chảy ân tình”, chúng ta “đắng cay chia sớt”  nhưng “em là em, anh vẫn là anh” vì sao? Điều nầy không giải thích được nên Trần Mai Ngân đã đem ví nó cao rộng như biển với trời có một màu xanh, màu xanh ấy ở liền nhau như một mà biển với trời muôn thuở vẫn là hai. Ví dụ nầy thật là hay, nó trân trọng sự bí mật chứa trong linh hồn, nó vĩ đại hóa nhưng điều ẩn chứa trong tim như thiên nhiên bầu trời và biển rộng, nó hình ảnh hóa tình yêu nam nữ thành màu xanh thắm thiết và nó giảng cho đời hiểu cái thứ cất trong “căn phòng bí mật” một cách “trực chỉ nhân tâm”. 
Cuối cùng là khổ kết của hai bài thơ:

- Trần Mai Ngân:    

“Anh có hiểu 
...những điều em không nói
Là muôn trùng là mãi mãi không anh
Cứ lặng im...đừng trách cứ trái tim
Nó vốn dĩ mong manh và dễ vỡ...”

- Trần Hạ Vi:

Phòng chứa bí mật của phù thủy vẫn sẵn dành (2)
để chúng ta cất giữ những ước mơ ngông cuồng hoang dại nhất
tình yêu này sẽ luôn luôn có thật
khi em được là em
và anh được là anh
với căn phòng bé nhỏ của riêng mình.

Cả hai nhà thơ, mỗi người một cách nói, đều khuyên người yêu  đừng động tới “căn phòng bé nhỏ của riêng mình”
Người viết bài nầy không đem hai bài thơ ra để so sánh, bởi vì cứ nghĩ rằng: Hai bài như hai loại ngọc khác nhau, nhưng nếu đeo vào trên một bàn tay thì sự sang trọng của mỗi viên sẽ tăng lên bội phần.   
 Người viết bài nầy cảm thấy sảng khoái vô cùng khi đặt hai bài thơ liền kề nhau, nó như hai đóa hoa một thơm êm dịu và một thơm nồng nàn. Cả hai đã mở toan lâu đài tình tráng lệ và chỉ cho ta căn phòng bí mặt. Vì lâu đài vốn đã nên thơ nên ta biết được thứ chứa trong căn phòng kía phải là quý giá. Tại sao ta phải nghĩ xấu cho căn phòng để rồi tâm hồn ta hóa bẩn?    

                                                                     Châu Thạch 


            Nhà thơ Trần Mai Ngân

            
CÓ NHỮNG ĐIỀU EM IM LẶNG

Có những điều...
Em im lặng và anh không nói
Đôi khi là ngọn gió của Thu
Rất nhẹ nhàng khe khẽ như ru
Đến tuyệt đỉnh tình yêu mộng ảo...

Cũng có lúc

Như con sóng dập dồn điên đảo
Nhấn chìm nhau khát nhớ xanh xao...
Hay nhiều khi là những cơn đau
Xoáy buốt rát trái tim bất định

Những điều ấy

Em im lặng và anh không nói
Chỉ âm thanh sóng gió biển khơi
Cuộn chúng mình ném giữa cuộc chơi
Của đời sống mông lung huyền ảo

Anh có hiểu

... những điều ta không nói
Nào xa xôi nào ngăn cách đâu anh
Biển với Trời kề gần sát rất xanh
Mà sao lạ, mà mong manh đến vậy! 

Anh có hiểu 

...những điều em không nói
Là muôn trùng là mãi mãi không anh
Cứ lặng im...đừng trách cứ trái tim
Nó vốn dĩ mong manh và dễ vỡ...

                        Trần Mai Ngân



                Nhà thơ Trần Hạ Vi



CĂN PHÒNG BÍ MẬT

Có những điều sẽ chẳng nói ra
cho dù chúng ta
có yêu nhau đến thế nào chăng nữa
mấy ngàn ngày...
và có thể mấy vạn ngày tiếp lửa
chuyện anh
chuyện em
vẫn ẩn chứa bí mật của mỗi người

Có những góc tối ở trong hồn

của riêng ta
không bao giờ chia sẻ
chẳng phải vì niềm tin không vẹn vẽ
nhưng vì đó là căn phòng bí mật
chẳng nên mở bao giờ

Con yêu tinh ngày xưa có một yêu cầu đơn sơ

cô gái sẽ sống mãi trong bạc vàng nhung gấm
chỉ đừng bao giờ mở cánh cửa cấm
ai cũng cần một góc nhỏ cho riêng mình (1)

Chúng ta ân ân ái ái 

tan chảy ân tình
nhưng mỗi người chỉ có thể là riêng một
một anh
một em
dù ngọt ngào chung hưởng
đắng cay chia sớt
nhưng em là em
và anh vẫn là anh

Phòng chứa bí mật của phù thủy vẫn sẵn dành (2)

để chúng ta cất giữ những ước mơ ngông cuồng hoang dại nhất
tình yêu này sẽ luôn luôn có thật
khi em được là em
và anh được là anh
với căn phòng bé nhỏ của riêng mình.

                                  Trần Hạ Vi
                                  27.08.2016
****
1) Truyện cổ tích
(2) Harry Potter và phòng chứa bí mật 

READ MORE - “IM LẶNG” VÀ “BÍ MẬT” TRONG THƠ TRẦN MAI NGÂN VÀ TRẦN HẠ VI - Châu Thạch

Saturday, September 30, 2017

NHỮNG GIỌT MƯA THU - Thơ Thủy Điền





NHỮNG GIỌT MƯA THU

Lưa thưa từng giọt trắng
Thấm ướt đường em đi
Là ngà pha mái tóc
Gợi xinh nét xuân thì

Tháng chín trời... chim Vi
Dường... trốn, tìm chốn ngủ
Quên tiễn bạn đường về
Gió ngàn vang tiếng hú 

Nghe cõi lòng vi vu
Muốn làm thân chiếc lá
Lất phất bám cành hoa
Muốn kề vai, bước ngọc

Muốn theo chân, thả dốc
Muốn thay dù gió ngả
Muốn làm nắng chan hoà
Sưởi ấm đoạn đường xa.

                   Thủy Điền
                  27-09-2017

READ MORE - NHỮNG GIỌT MƯA THU - Thơ Thủy Điền

ĐÊM DÀI, RU - Thơ Nhật Quang





ĐÊM DÀI
(Tặng TTL)         

Giọt chiều rơi
Lặng hồn tôi
Chén sầu nhắp cạn
Mềm môi vẫn sầu
Trăng tàn rơi
Chạm canh thâu
Hồn đêm khắc khoải
Vàng sâu mắt buồn.


RU

Em ru ta
Mãi...niềm đau
Còn chăng em hỡi?
Kiếp sau chung đường
Em ru ta
Cạn đêm trường
Tiếng khuya thổn thức...
Mộng thường vời xa.

          Nhật Quang
            (Sài Gòn)

READ MORE - ĐÊM DÀI, RU - Thơ Nhật Quang

MỘT MỐI TÌNH CON - Thơ Tịnh Đàm

        
                      Tịnh Đàm


MỘT MỐI TÌNH CON

Tìm đâu thấy nữa bóng chim
Góc trời quen đã lặng chìm dấu xưa !
Buồn.Đêm nghe những tiếng mưa
Biết bao tâm sự cho vừa nỗi đau !

Xin đừng giũ áo quên mau
Nợ duyên đôi lứa phụ nhau sao đành !
Có còn chi để dỗ dành
Những cơn mộng hão sớm thành hư không.

Thôi thì về lại bến sông
Thả trôi ước vọng xuống dòng thiên thu.
Mai này trả hết phù du
Khối tình con giữ đền bù kiếp sau...

                            Tịnh Đàm
                    (Hóc Môn, TP. HCM)
READ MORE - MỘT MỐI TÌNH CON - Thơ Tịnh Đàm

"TIN Ở CON NGƯỜI" HAY LÀ "GỬI TRỨNG CHO ÁC" - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


                               Nhà thơ Yến Lan



"TIN Ở CON NGƯỜI" HAY LÀ "GỬI TRỨNG CHO ÁC"

Tôi không biết câu chuyện mà tôi kể sau đây còn có tác dụng ở thế kỷ này nữa không? Kể lại chuyện này để bạn đọc thấy, ở thời đại nào cũng có kẻ gian và người thiện. Nếu trong chế độ đó có nhiều kẻ gian hơn người lương thiện tức là chế độ đó quản lý, giáo dục con người chưa tốt :

Con người là sự kết hợp giữa phần Con và phần Người. Cuộc sống là sự đấu tranh giữa hai nửa ấy. Nếu một lúc nào đó xảy ra cuộc chiến giữa hai nửa ấy trong chính chúng ta; ví dụ giết người để cướp của, tham quyền trù dập đối phương, bon chen tìm danh vọng hại người v.v… lúc đó là phần con thắng thì ta là con thú, và ngược lại, ta sẽ là con người.

Vào năm 1939-1940 thi sĩ Xuân Khai (Yến Lan) đi Sài Gòn thăm ký giả Lê Tràng Kiều. Sau đó cùng ông này lên Hà Tiên thăm vợ chồng nhà thơ Đông Hồ – Mộng Tuyết…Ngày ấy, tình bạn của họ trong sáng, đậm tính nhân văn. Các bạn văn sẵn sàng chia sẻ, sẵn sàng giúp đỡ người cùng cảnh ngộ…
 Lâu mới có dịp gặp nhau, hai vợ chồng nhà thơ Đông Hồ - Mộng Tuyết muốn giữ chân chàng thi sĩ vùng quê hẻo lánh, đìu hiu ở lâu để bầu bạn. Nhưng chàng từ chối, vì ở nhà cha già đau yếu không lường. Chàng ra ga xe lửa, cạnh chợ Bến Thành mua vé. Trong tay với chiếc va ly chứa nhiều quà của bạn và sách quí hiếm chỉ mua được ở tại Hòn ngọc Viễn Đông mới có.

Trên sân ga, người đi lại như mắc cửi. Chỗ quày bán vé đông nghịt. Người chen chúc, xô đẩy, cải nhau inh ỏi. Thi sĩ nho nhã, trí thức, không chen được, bị đẩy lùi dần ra sau. Chàng đành tìm nơi gửi va-ly. Loay hoay chưa biết thế nào, thì thấy anh cảnh sát đang đến gần. Chàng liền tới năn nỉ : “Tôi có thể nhờ anh thỉnh để ý dùm tới chiếc va ly này để vào mua chiếc vé là ra ngay?” Vừa dứt lời, anh cảnh sát dãy nãy như đĩa phải vôi: “Chịu thôi, tôi không thể giúp anh được; đây là nơi tụ tập bọn trộm cắp; lơ đễnh một tí là của nả của anh đi tong, lúc đó tôi chỉ cười trừ, anh chịu không?” Chữ trộm cắp vừa bật ra khỏi miệng anh cảnh sát thì lập tức trong đầu thi sĩ bỗng nhớ đến chuyện ngụ ngôn của La Fontaine và muốn cơ hội này, vận dụng để chứng minh cái bản năng gốc của “Con người”. Nếu biết cách có thể biến phần “con” thành phần “người” trong tên cắp cũng nên. Chính giây phút đó gợi mở ý tưởng táo bạo trong tâm hồn thi sĩ “mình sẽ gửi va-ly cho kẻ cắp giữ dùm”. Nghĩ là làm. 
  Một lần nữa, thi sĩ lại nhờ anh cảnh sát chỉ dùm tên kẻ cắp chuyên nghiệp nhất, đang có mặt ở sân ga. 

Nghe chàng trai nói sẽ nhờ kẻ cắp giữ dùm va ly, anh cảnh sát há hốc miệng, trố mắt kinh ngạc. Anh cảnh sát trở nên nghi ngờ. Anh ta đưa mắt lướt khắp người chàng trai, để xác định – kẻ đang nói với mình có vấn đề gì về thần kinh hay không. Sau giây lát, anh ta thấy chàng trai không những không bị bệnh tâm thần mà rất tỉnh táo đang nhìn vào mắt anh chờ đợi. Nên miễn cưỡng đưa tay chỉ một thanh niên đầu tóc bùm xum, bẩn thỉu, mặt bặm trợn khó coi đang đứng gần quày vé với vẻ thách đố, nói:  “Người mà cậu cần đang đứng đằng kia kìa.”
  Cảm ơn anh cảnh sát, chàng thi sĩ tiến đến chỗ tên kẻ cắp. Tên này đang đưa đôi mắt gian xảo đảo quanh tìm con mồi. Bỗng giật mình, quay phắt lại, hung hăng định cự nự con người đã vỗ vai mình. Cùng lúc, anh ta nghe người thanh niên xởi lởi - “Bạn gì ơi, tôi nhờ bạn giữ dùm chiếc valy, để vào mua chiếc vé tàu. Được anh cảnh sát cho biết là ở đây chỉ có anh mới giúp được tôi việc này!”
   Hai từ “cảnh sát” có tác dụng với tên cắp và những từ như “trông dùm, giúp đỡ” thật mới lạ với anh ta làm sao!? Bởi, từ trước đến giờ, chưa một ai dám nhờ anh ta làm cái việc trái với cái nghề cướp bóc mà anh ta hành nghề lâu nay. Chẳng nói chẳng rằng, hai tay anh khoanh trước ngực, không gật, không lắc, đưa đôi mắt mệt mỏi,  thiếu ngủ nhìn ra phía trước, để chàng trai hiểu thế nào thì hiểu.
   Bà con quanh đó, quá quen tài khoắn của anh; nay nghe có người nhờ giữ dùm của nả, cho là quái lạ, đưa mắt nhìn nhau, cười hô hố vẻ mỉa mai: “Trời Phật ơi! Cha này quả là điên, đem trứng giao cho ác”. Còn thi sĩ và tên cắp, nghe nói vậy nhưng lờ đi.
  Và người ta càng ngạc nhiên hơn, thi sĩ đã mua được vé và quay lại, song tên cắp vẫn đứng tại chỗ, chiếc valy bên cạnh, không hề bị suy chuyển một milimét !?.
   Bấy giờ, trong tâm trí thi sĩ có hai điều khiến lòng chàng tin yêu:
– Mua được vé mà không bị mất của.
– Sự phán đoán của chàng thật logic về gốc “Con người”. Có nghĩa là, lúc bấy giờ, tên kẻ cắp đã sắp xếp cho bản năng phần “Người” thắng phần “Con” trong anh ta.
   Thi sĩ lịch sự nhận lại chiếc vali và biếu số tiền lẻ còn lại, rồi vội vã lên tàu đẻ về quê

Kể lại chuyện này, nhà thơ ba tôi thường trầm tư nói:
“Nếu nhận xét không đúng về một con người, sẽ hại một đời người trong tương lai”. Chẳng phải ở nước ta cũng có câu luận ngữ “Đem thử lửa mới biết vàng tốt xấu, đem tiền của mới biết sang hèn”.
   Tin ở con người – là lẽ sống ở đời của ba tôi – nhà thơ Yến Lan.

                                                                Lâm Bích Thủy

READ MORE - "TIN Ở CON NGƯỜI" HAY LÀ "GỬI TRỨNG CHO ÁC" - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

CHÙM THƠ HUY UYÊN




Gởi người con gái Vĩ-Dạ

Mưa chiều ngang thôn Vĩ-Dạ
Tình có theo em về kịp Ngọc-Anh
Đã xa rồi tháng ngày thương nhớ
Dấu kín vào tim lặng lẻ mối tình 

Đứng lại bên đường phiên chợ Mai
Bà con nghèo trơ vơ lều chỏng
Thương quê mưa giọt ngắn giọt dài
Buổi đi xa không người đưa tiễn 

Vườn nhà em trái hoa mật ngọt
Bên giếng ngày nào tôi cùng em
Gởi tình theo đám mây trời
chiều đi không hết
Đành đoạn xa em hai mắt nhung đen 

Xa quê,em,những buổi quân-hành
Bao nhiêu năm chưa hề quay lại
Khế trong vườn cây trái còn xanh
Mộng đầu chắc có người đã hái 

Hôm qua ngày tôi quay lại
Hết rồi hình bóng xa xưa
Chiều Ngọc-Anh đốt sầu tê tái
Nhớ em nói mấy cho vừa 

Ngoài kia em, nắng ngập con đường
Tim treo lên đoạn sầu phiêu-hốt
Tình một thời tôi gởi cho em
Người ở lại tháng năm 
làm sao quên được.


Còn lại em và Huế

Em cúi xuống cầm tù dĩ-vảng
Để Huế một mình ấm lạnh khói sương
Sáng chiều Huế đi về chiếc bóng
Để cho ai gởi lạnh vào hồn 

Tôi vội về băng bó vết thương
Bao năm qua mù lào cùng Huế
Ngã ba sông Đông-Ba ,Bến Ngự
Gởi nhớ cho ai xa xót trăm miền 

Con đường dài Huế đau một đời
Những cột đèn đêm về đứng khóc
Mưa vội vàng rớt Hoàng-thành chơi vơi
Sót lại ngã ba Tuần ly thuốc độc 

Chiều ngỡ ngàng trong tôi với Huế
Ở lại cùng em trú-ngụ sau cùng
Ở lại núi và trời đầy nhớ
Ngọn cỏ tím màu dầu dải sông Hương 

Vắng rồi người yêu và nụ cười
Vĩnh-biệt môi hôn nồng cháy
Trong vườn hoa sứ và tiếng thở dài
Đọng lại bên thành xưa lời ru của quỷ 

Còn áo tím bên đường thời con gái
Nghiêng nắng về che nón bài thơ
Tóc mây đen bờ vai em thả
Để hồn tôi chết tận bây giờ 

Đêm ai soi nhịp bóng Tràng Tiền
Thả xuống đó trái tim dịu cháy
Đò của người chèo nhịp trôi nghiêng
Dấu dùm tôi muôn ngàn thương nhớ 

Thắp trên môi em ngọn lửa
Ngỡ trong chiều Đại-Nội hoang trôi
Các em lung linh trọn đời thiếu-nữ
Xếp tàn y xếp vội nụ cười 

Em để lại trong tôi dấu tích mũi tên
Bắn vào tim một thời máu chảy
(Maria ớn lạnh linh-hồn)
Khúc tình xưa chôn theo về biển cả 

Em đứng bên sông tiếc thời con gái
Mắt chong sâu cuối bến đợi đò
Ngày tiễn đưa nhau một lần xa mãi
Để Huế dài sầu mãi khúc tương-tư.

                              HUY UYÊN

READ MORE - CHÙM THƠ HUY UYÊN

NGÂU VỀ, ĐỢI NGÂU - Thơ Đặng Xuân Xuyến





NGÂU VỀ

Chiều nay
thấy se se lạnh
Hình như
gió lại chuyển mùa

Ngâu về
loãng chiều nên lạnh
Người tình
tối có ghé qua...

Hà Nội, chiều 30.08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN





ĐỢI NGÂU
- Tặng út Hiền (Bảo Vân) -

Nghiêng vành nón
giấu buồn theo sóng gợn

Đã Ngâu đâu
mà rưng rức chân cầu

Ngoái đầu lại
bụi bạc màu hoa cải

Trăng rủ buồn
vàng võ ngón tay thon.

Hà Nội, 08 tháng 08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - NGÂU VỀ, ĐỢI NGÂU - Thơ Đặng Xuân Xuyến

ÁO LỤA PHƠI BUỒN - thơ Trúc Thanh Tâm

 
   
 
 ÁO LỤA PHƠI BUỒN

 Em đi áo lụa phơi buồn
 Ta về nghe gió thổi mòn lối thu
 Quê nghèo vắng tiếng mẹ ru
 Nỗi đau còn đó buổi từ tạ xưa

 Đời nhau định sẵn cơn mưa
 Nên giờ hai đứa vẫn chưa hết buồn
 Nếu xưa đừng ghé môi hôn
 Người dưng qua phố ai còn nhớ ai

 Sao em lại cắt tóc dài
 Lấy gì che gió tạt ngoài hiên mưa
 Ta còn đau một hồn thơ
 Khi mà bến cũ sông hờ hững trôi

 Tóc bay áo lụa nghiêng trời
 Ta đem phơi gió bên đồi trăng tan
 Lá nào rụng xuống trái ngang
 Nắng nào hiu hắt khi hoàng hôn rơi

 Buồn xưa và nỗi ngậm ngùi
 Tình ta với nhỏ một đời ăn năn
 Ta về nói với xa xăm
 Đời sao cứ lấy lỗi lầm buộc nhau!

 TRÚC THANH TÂM
  (Châu Đốc)
READ MORE - ÁO LỤA PHƠI BUỒN - thơ Trúc Thanh Tâm

NGÀY CẠN / NỖI NHỚ - Thơ Phan Nam

Tác giả Phan Nam


ngày cạn


lòng đã cạn mà trái tin vẫn chảy
yêu thương trót vỡ vụn tự bao giờ
ngày em đi sương khói huyễn hoặc
đền đài bỗng hóa hư vô


ngày đã cạn theo tiếng gọi thời gian
mây mù đêm đêm giăng mắc
tiếng còi tàu hút gió sân ga
niềm tin nhạt nhòa


tiếng gào thét bốn bề lặng thinh
cào nát khuôn mặt lạnh lẽo
câu thơ bay qua ô cửa nhỏ
gọi đêm về trong cơn mơ


cạn ngày cạn đên cạn từng đợt sóng vỗ
phiến lá rơi chia sớt bao nỗi buồn
về với đất nuôi dưỡng cội nguồn
vần thơ đong trọn nghĩa nhân.


Đà Nẵng, 24.09.2017


nỗi nhớ


những dấu ấn ngày xưa em tới
cũng chỉ còn man mác bóng, tôi
con đường xưa bây chừ là phế tích
rớt xuống đời từng nốt nhạc, lặng thinh


thương lá cỏ cong cong đời biệt dã
mắt môi hôn, vài giây phút, ưu phiền
thành phố trôi qua bờ biển vắng
dòng sông Hàn nghe sóng nước lăn tăn


biết bao tình, lắng đọng, nơi bờ bãi
chưa thấu trọn đã tận cùng đường bay
thành phố miệt mài bồi đắp công trình mới
riêng nỗi nhớ, vẫn dạn dày phong sương


nếu một mai, dấu chân vương bụi đường
xin, rửa trôi, cho trọn một hình hài
những nhịp cầu vội vàng nói ở lại
xin, tình yêu, mãi long lanh mắt người.


Đà Nẵng, 25.09.2017
Phan Nam

READ MORE - NGÀY CẠN / NỖI NHỚ - Thơ Phan Nam

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU VÀ NHỮNG KHUẤT LẤP LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN - Nguyên Lạc

Tác giả Nguyên Lạc
  
                           
Nguyên Lạc   
                
VÕ TÒNG ĐẢ CẨU VÀ NHỮNG KHUẤT LẤP  LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN


Cẩn báo: Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu.Trân trọng!

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động... ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v... , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v..., những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai!
Ví dụ như trong truyện Tiết Nhơn Quý Chinh Đông: Đây thật ra chỉ là cuộc xâm lăng Cao Ly (Hàn Quốc), trong đó họ đề cao tên xâm lược Tiết Nhơn Quý, mạt sát anh hùng dân tộc Cao Ly -  Cáp Tô Văn.  Họ cũng đã mạt sát nhiều người anh hùng Việt Nam chúng ta (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục). Những nhận thức bị khuất lấp đó truyền lại cho con cháu chúng ta sau nầy. Làm sao Thoát Trung được nếu không giải mã  những điều khuất lấp đó?! Bài này viết ra với mục đích giải mã những khuất lấp.(1)

PHẦN I

NHỮNG KHUẤT LẤP  VỀ VÕ TÒNG

Trước khi phân tích về nhân vật VÕ TÒNG, xin mời các bạn đọc những dòng này của Giáo sư Bill Jenner ở Đại học Quốc gia Australia:
"Tình trạng chém giết lẫn nhau trong Thủy Hử rất nhộn nhạo; mặt khác, người ta không thể không hỏi rốt cuộc vì mục đích gì mà những người ấy vung tay chém giết như vậy? Cái gọi là các anh hùng hảo hán trong sách ra tay choảng nhau thường gây ra tổn thương cho bản thân và người nhà, chỉ vì để chứng tỏ võ công của mình mà họ sử dụng bạo lực, làm hại kẻ khác. Xét về ý nghĩa ấy thì Thủy Hử là một bộ tiểu thuyết bệnh hoạn. Trong đó việc tuyên truyền ca ngợi quan niệm bạo lực và nghĩa khí anh em[1] kiểu lưu manh thì không có chút ý nghĩa xây dựng nào cả...
... Khi phân tích kỹ thì sẽ phát hiện thấy Thủy Hử thiếu tình cảm chính nghĩa. Các anh hùng hảo hán trong sách chỉ lo báo thù riêng tư; họ quan tâm nhiều hơn đến sự thừa nhận họ là hảo hán và họ coi trọng nghĩa khí của hảo hán. Song loại nghĩa khí ấy không chú trọng cái nghĩa của chuẩn tắc đạo đức, không phải là chính nghĩa. Hãy xem Võ Tòng. Anh ta bị tù vì giết chị dâu Phan Kim Hoa. Người gác ngục đối xử tốt với Võ Tòng, muốn anh ta giúp đối phó với Tưởng Môn Thần. Võ Tòng biết rõ hai bên đối lập ấy đều chẳng phải người tốt, song điều đó không ngăn cản Võ Tòng say rượu đánh Tưởng Môn Thần. Việc Võ Tòng đã làm trên thực tế là phục vụ cho bọn xã hội đen, chứ không liên quan gì tới lợi ích của dân chúng"
(Giáo sư Bill Jenner - Đại học Quốc gia Australia) (2)

I. NHÂN VẬT VÕ TÒNG

Thử bàn về nhân vật Võ Tòng mà ai cũng xuýt xoa khen ngợi anh hùng dũng cảm. Gần như một phần ba sách Thủy Hử đã ưu ái cho nhân vật này. Nhà nhà ở quê lúc xưa thường treo hinh vẽ chàng ta  đánh cọp đầy ngưỡng mộ.
Thật ra đây chỉ là một tên chẳng ra gì, đáng lánh xa nếu không muốn mang họa vào thân. Này nhé:

1.  Lỗ mãng, ham gây sự, du thủ du thực:

Truyện Thủy Hử viết:
" Ra đến ngoài Tống Giang bước tới đạp nhằm cây lửa văng lên trúng mặt một người đang ngồi hơ lửa. Người ấy nổi giận đứng dậy sân si, muốn đánh Tống Giang. Sài Tấn lật đật chạy ra nói với người ấy rằng : 
- Không nên vô lễ như vậy, bấy lâu ngươi cứ nói chuyện Tống Công Minh với ta hoài, nay gặp Tống Công Mình sao ngươi lại  vô lễ?
Sài Tấn nói với Tống Giang:
- Người nầy là Võ Tòng, thiên hạ hay gọi là Võ Nhị Lang, cũng vì bị án sát nhân cho nên đến đây tị nạn. (Nguyên khi Võ Tòng mới đến thì Sài Tấn cũng cung kính hết lòng,  sau vì Võ Tòng hay say sưa hết đánh gia đinh trong nhà, rồi lại ra đường đánh người. Sài Tấn chịu không nổi; song  không nở đuổi nhưng lòng hậu đãi cũng  giảm. Ðến khi Sài Tấn uống rượu với Tống Giang, Võ Tòng mắc rét, cho nên Sài Tấn không mời uống.)"

2.  Hung hăng, hiếu sát:

Truyện Thủy Hử viết:
a -" Võ Tòng liền nắm đầu Phan Kim Liên vật ngữa ra, mỗ bụng lấy gan cúng Võ đại lang, rồi lại chém lấy thủ cấp, khiến hai tên quân gói lại...
 b-  ...Người ấy lên giường nằm ngủ, bị Võ Tòng nhãy lên đè trên ngực người ấy mà hỏi rằng :
- Mi biết ta chăng? Người ấy nghe tiếng thì biết là Võ Tòng, bèn năn nĩ rằng :
- Ðại ca ôi, tôi là người vô can, chẳng có lòng chi muốn hại đại ca hết, xin đại ca xét lại cho tôi nhờ. 
- Mi nói cho thiệt ta không giết mi đâu. Vậy chớ Trương Ðô giám ở đâu, mi chỉ ta?.
- Hôm nay Trương Ðô giám đương uống rượu với Trương Ðoàn Luyện và Tương Môn Thần tại  Oan Ương lầu.
- Mi phải nói cho thiệt, nếu có gian giấu thì ta giết liền.
- Tôi không dám nói giấu đâu.
Võ Tòng nghe xong chém người ấy một đao chết tốt, rồi đi thẳng tới nhà trong, tuốt lên Oan Ương lầu; vừa gặp hai con a hoàn  Võ Tòng cũng chém chết luôn...
Võ Tòng vác đao xốc lại chém Tương Môn Thần. Tương Môn Thần trở tay không kịp, bị Võ Tòng chém xuống một đao đứt hai khúc. Trương Ðô giám và Trương Ðoàn Luyện cả kinh, vừa muốn thoát thân, song vì say rượu chạy không đặng, cho nên bị Võ Tòng giết chết rồi cắt luôn ba cái thủ cấp. Hai tên gia đinh bước lên lầu, Võ Tòng đứng núp chổ tối thấy, chạy theo chém mỗi người một đao chết hết. Rồi Võ Tòng lại thẳng lên phòng mà chém Trương Phu nhơn,  thẳng ra nhà bếp chém hết gia quyến của Trương Ðô giám; xong rồi mỡ cữa chạy thẳng ra phía Ðông."

Thấy chưa, sự hiếu sát và khát máu của tên du thủ du thực này! Thế mà họ (người Hán và cả một số người Việt) còn vẽ hình tôn vinh, treo từng nhà, khoe sự dũng mãnh đánh cọp, còn muốn phong thánh nữa!

3. Chuyện đánh cọp

Về chuyện đánh cọp, có gì anh dũng đâu? Suy cho cùng, đó chỉ là đánh chết một "con chó" lúc say rượu mà thôi! Nguyên Lạc tôi sẽ giải thích rõ điều này.
Chuyện như vầy:
 Khi ở huyện Thanh Hà, Võ Tòng say rượu đánh một người gần chết, bị Quan Huyện cạo đầu nhốt vào ngục chờ ngày sử án. Hắn ta vượt ngục, chạy đến nhà Sài Tấn tị nạn, may gặp và kết nghĩa với Tổng Giang, được tặng tiền làm lộ phí về quê tìm lại anh là Võ Đại Lang.
Võ Tòng đi đến huyện Dương Cốc  thì bụng đã đói rồi, bèn ghé vào quán mà ăn uống.
 Chủ quán nhìn thấy một người bặm trợn, đầu trọc lóc bước vào lòng e dè
Võ Tòng nói :
- Mau đem rượu thịt ra, tiền đây!
Chủ quán dọn rượu thịt ra.
- Rượu nầy nhạt quá, hãy đem rượu thật ngọn ra đây, ta cho ngươi thêm tiền.
Chủ quán vào trong rồi mang ra một chai rượu khác và nói:
- Đây là rượu đặc biệt nhất của quán, uống ba ly sẽ say, không qua được con đường phía trước (tam bôi bất quá sơn đạo)
- Thật không, ta sẽ uống hết cả chai này cho người xem tửu lượng của Võ Tòng nảy!
Chủ quán trố mắt ngạc nhiên nhìn Võ Tòng tu hết trọn chai rượu đầy.
Ăn uống xong, mặt đỏ như gất, có vẻ say, Võ Tòng lạng quạng quảy gói ra đi. Ði đặng đôi ba chục bước, chủ quán lật đật chạy theo kêu lại mà rằng :
- Khoan đã ! Ở đây mà nghĩ rồi mai sẽ đi.
- Sao lại khoan ?
- Cách đây một đổi xa xa, có một cái giồng cát tên là Kiển Dương Cang; giồng ấy có một con cọp rất lớn , đã hại hết ba bốn chục mạng người, cho nên quan huyện có đăng bảng dặn rằng : Hễ ai ngang qua đường ấy thì chờ đến giờ Tị, giờ Ngọ và giờ Mùi  (9 - 12 giờ trưa). Lại phải kết bọn với nhau cho đặng đôi ba mươi người thì mới nên qua. Bây giờ đã quá giờ Thân rồi (5 - 6 giờ chiều), tôi e khách quan đi ngang qua đó không đặng. Xin khách quan trở lại nghĩ, rồi mai sẽ hiệp đoàn kết lũ đi với người ta.
Võ Tòng lên gân:
- Ta chẳng sợ gì cả, huống gì cọp!
Nói rồi liền đi riết lên Kiển Dương Cang.

Ðến nơi, vừa bước lên giồng, thì thấy có một tấm bảng  của Tri Huyện Dương Cốc truyền rao giống y như lời tên chủ quán nói. Võ Tòng xem bảng rồi mới tin lời chủ quán là thật, song không lẽ trỡ lại. Đầu óc quay cuồng vì rượu, trời lại sắp tối, Võ Tòng mang gói tiếp tục cất bước. Ði đặng một đổi thì Võ Tòng thấy hình như một "con chó" lớn, màu vàng có vằn đen phóng ra. "Con chó" thấy Võ Tòng chợt ngừng lại, quay ngược thân vọt chạy, đâm sầm vào một gốc cây to, bật ngửa đưa bốn chân lên mà chết xỉu. Võ Tòng thấy "con chó" bỏ chạy, bị té ngửa mới phóng tới ôm và ra hết sức xiết cổ "con chó". Một lúc sau "con chó" hết thở và nằm không cục cựa, Võ Tòng kiệt sức, gục vào "con chó" mà ngủ.

Sáng hôm sau, trời vừa rạng, Võ Tòng tỉnh giấc, ngửi mùi hôi thúi, bèn nhin xuống thấy mình đang ôm một con cọp to, điếng hồn vọt bỏ chạy. Chạy một đỗi mệt quá, bèn ngồi xuống nghĩ; kế gặp một tốp thợ săn kéo đến, thấy Võ Tòng ngồi một mình thì cả kinh hỏi rằng :
- Chổ nầy là chổ dữ , sao ngươi dám ngồi đây ?
Đang mệt mất thở, Võ Tông không kịp trả lời, thì một số người đi ngược lên giồng,  thấy thây con cọp, mới trở lại báo cho cả bọn biết. Mấy người thợ săn cả mừng vây quanh Võ Tòng và reo rối rít:
- Tạ ơn nghĩa hiệp đã giết cọp, cứu nạn cho người dân.
Võ Tòng chợt hiểu ra lẽ, vội vàng "tự sướng", khoe:
- Ta đã quần thảo suốt đêm mới giết được cọp đấy!

Những người thợ săn công kênh Võ  Tòng và mang thây cop về thưa lại cho Trí Huyện hay. 
Tri Huyện cả mừng, liền tặng cho Võ Tòng một số tiền và cho làm chức Ðô đầu tại huyện.
Được quyền, Võ Tòng lê la đến các tửu quán, uống rượu không trả tiền, làm phiền biết bao nhiêu người, nhưng họ sợ không dám nói. Sau này vì ghen với Tây Môn Khánh, viện cớ vụ đầu độc Võ Đại Lang, Võ Tòng tàn sát chị dâu mình không gớm tay (có dịp rãnh, Nguyên Lạc sẽ trở lại đề tài này)

4. Con cọp  Phương Bắc

Thật ra thì Võ Tòng cũng tự thắc mắc tại sao con cọp thấy mình lại bỏ chạy, đến nỗi phải đụng gốc cây mà chết xỉu? Hắn ta bèn tìm đến một bà Đồng  có tiếng để hỏi. Bà Đồng lên đồng, hỏi hồn con cọp, thì mới vỡ lẻ chuyện như thế này:

Lâu lắm rồi, ở khu rừng Phương Bắc, có một con cọp nổi tiếng vừa tinh ranh vừa hung dữ. Thân nó dài khoảng gần ba mét (10 feet), nặng dễ chừng hơn hai trăm ký (> 400 lbs), lông  vàng vằn đen. Nó khỏe và hung dữ lắm, nên tất cả sinh vật đều tránh xa, nếu muốn toàn mạng. Nó bành trướng khu vực hoạt động càng ngày càng lớn để tìm mồi.
Ngày nọ, cọp ta xâm lấn tận Phương Nam, thuộc Bắc Việt Nam. Cọp ta rất khỏe.  Rào cao khoảng hai mét chỉ một phát là nó nhảy qua. Vồ được con bò nó cõng trên lưng chạy một mạch đến mấy cây số. Nó là nỗi kinh hoàng của cư dân quanh vùng Việt Bắc. Một đêm nọ, con cọp đi xuống một cái làng nhỏ ven bìa rừng để kiếm mồi. Cọp rình rập quanh ngôi nhà bằng gỗ của vợ chồng người gác rừng, nghe trong nhà có một đứa bé đang khóc và cha của đứa bé đang dổ:
- Nín đi con, chút nữa mẹ  về sẽ có bánh cho con!
Đứa bé vẫn khóc
- Nín đi con, khóc hoài ông "kẹ" đến bắt bây giờ!
Đứa bé vẫn khóc
- Con cọp kìa, nín đi!
Đứa bé vẫn khóc mãi. Người cha tức quá quát:
 - Mẹ, con C...nè, mày có nín không hả!
Đứa bé nín khóc ngay. 
Con cọp thấy vậy làm lạ, tự hỏi :
- Ngay cả ta mà nó còn không sợ, sao nó lại sợ con C... Thế thì con C.. là con gì mà đáng sợ vậy?                                       Nó hẳn phải là một con vật gì ghê gớm lắm, ghê gớm hơn cả cọp.

Từ hoang mang đến sợ hãi, nó lặng lẽ bỏ đi.
Trên đường, tình cờ nó gặp một bà già. Bà ta kinh hoàng, ngồi thụp xuống và co rúm người lại. Nhưng con cọp trấn an:
- Ðừng sợ, ta không ăn thịt bà đâu. Tuy nhiên, bà phải thành thực trả lời ta câu hỏi này: con C.. là con gì mà nghe nói còn ghê gớm hơn cả cọp thế? Hình dạng nó như thế nào?
Bà lão run quá liền nói đại :
- Con C...bặm trợn lắm,  cái đầu nó trọc lóc hà!.
- Nó ghê gớm ra sao mà hơn cả cọp?
Bà già nhanh trí, hiểu ngay, bèn trả lời:
- Ối dào, ông ấy khủng khiếp lắm ngài ơi! Ông ấy cắn tôi một cái mà đến nay đã mấy chục năm rồi vết thương vẫn chưa lành.
Nói xong, bà vén váy lên, rồi dí vào mặt mũi con cọp. Cọp nhìn rồi ngửi, phát khiếp, phóng chạy như bay.  Vừa chạy vừa tự nhủ:  "Ðộc thật! Nguy hiểm thật!"
Đề phòng bị hại bởi con C.., cọp ta chạy ngược về Phương Bắc, và từ đó không dám xâm phạm Phương Nam nữa. Trước khi chết, Cọp ta còn căn dặn con cháu rằng phải tránh xa con C.. có hình dạng như bà lão đã tả.
Đến đây chúng ta thấy rõ ràng sự khôn ngoan của đàn bà Việt Nam chưa!

Nhân nói về đàn bà Việt Nam, Nguyên Lạc tôi sẽ trở lại chuyện hai người đàn bà rất khôn ngoan, kiên cường và vĩ đại của Việt Nam: HAI BÀ TRƯNG ở phần sau (phần II).

Qua nhiều đời, tới đời con cọp gặp Võ Tòng. Nó đang rình mồi, thấy bóng người vội phóng ra chặn, nhưng chợt thấy mặt mũi bặm trợn và cái đầu trọc lóc của Võ Tòng, nhớ lại lời dặn của tiền nhân, cọp tưởng rằng gặp con C..nên vội vàng quay đầu phóng chạy. Hoảng sợ quá, không nhìn thấy gì cả, nó va đầu vào gốc cây, bật ngửa ra bất tỉnh, bao nhiêu sức lực tiêu tan hết, nên Võ Tòng mới đè bóp cổ chết được. Nếu nó không bất tỉnh, mười tên như Võ Tòng cũng tiêu đời. Ôi số mạng!
Riêng về phần Võ Tòng, vì say xỉn quá, mắt lờ mờ, thấy bóng cọp hoảng chạy tưởng là con chó, vội rượt theo định bắt để làm thịt nhậu. Nếu hắn không say, thấy bóng cọp là đã điếng hồn bỏ chạy mất rồi.  u cũng là nhờ say xỉn và số may, hắn giết được con cọp!

Bà Đồng vừa lên đồng xong, Võ Tòng nhào tới bóp cổ bà ta chết ngay để giữ bí mật câu chuyện. Không may, có tên tiểu đồng đệ tử bà Đồng vừa về, đứng núp cạnh cửa sổ bên ngoài nghe thấy hết mọi chuyện. Tên tiểu động nhẹ nhàng rút lui, chạy một mạch xuống tuốt Phương Nam, đến Việt Nam tị nạn, vì sợ Võ Tòng biết được đuổi theo giết.

Ở Việt Nam, hắn xin làm mướn cho một nông gia. Vài năm sau, thấy hắn làm việc cần cù, siêng năng, ông nông gia mới gả cho hắn đứa con gái lỡ thời của mình. Từ đó hắn hoà nhập vào cộng đồng người Việt.  Chuyện về Võ Tòng hắn không bao giờ nói cho ai nghe.
 Một bữa nọ (lúc này hắn đã thành ông), vì có rượu và vui miệng, hắn kể cho đứa cháu nghe, với lời dặn không được nói lại với ai. Thằng cháu, thời gian sau cũng trở thành ông, lại vui kể cho thằng cháu là bạn của Nguyên Lạc nghe, nên tui mới biết rõ chuyện bí mật này.
Đó là chuyện thật của Võ Tòng Đả Hổ (đánh chết cọp); đúng ra là Võ Tòng Đả Cẩu (đánh chết chó) mà thôi!

II. HẬU DUỆ VÕ TÒNG

Rất lâu sau này, hậu duệ của tên lỗ mãng, hiếu sát Võ Tòng đã theo lệnh con Rồng hung hăng Đặng Tiểu Bình (các vua Đại Hán thường tự sướng mình là Rồng) tấn công xâm lấn lãnh thổ Việt Nam năm 1979 - 1989, hãm hiếp, phanh thây biết bao nhiêu cô gái Việt Nam yêu nước, vô tội.
Này đây các bạn hãy xem tội ác của hậu duệ Võ Tòng:
- Sau khi thẩm vấn những nữ tù binh Việt Nam , họ cho biết bị lính TC tra tấn vô nhân đạo, lẫn ngày cả đêm, không gián đoạn bạo lực. Lính Trung Cộng đã trở thành băng đảng hảm hiếp, xem nữ tù binh là chiến lợi phẩm, họ cho rằng trên chiến trường có quyền hưởng giải sầu, chúc mừng hạnh phúc, lính Trung Cộng suy nghĩ đời chiến binh, chuyện đồng lõa hảm hiếp như một cơn say quá tuyệt vời. Tất nhiên họ có biện pháp không thể để có thai, hoặc sau khi hảm hiếp thủ tiêu.(Hình 1) (Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm - Á Châu Thời Báo)(3)
- Một khi nữ tù binh Việt Nam rơi vào phía Trung Cộng, sợ nhất những con người trần trụi bám vào thân nữ tù, người lính Trung Cộng lập tức hiếp dâm, đôi lúc lặp đi lặp lại nhiều lần, vì vậy có một số nữ tù binh mang thai, sau đó bị xẻ tay chân lìa thân thể! Một số tù nhân nữ chết, chôn vùi, lấp vội.(Hình 2) (Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm - Á Châu Thời Báo)(3)
- Ngoài ra, chúng tôi còn chứng kiến một bệnh viện dã chiến của Việt Nam bị Trung Cộng tấn công, hàng trăm người bị thương, lính Trung Cộng bắt sống nữ y tá làm phương tiện sinh lý, cực kỳ tàn nhẫn. Vào lúc này những người lính Trung Quốc sai khiến nữ tù binh làm gái giải sầu, bằng cách đe dọa thủ tiêu hay cho tàn phế.(Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm - Á Châu Thời Báo)(3)
-   Nữ tù binh Việt Nam bị hảm hiếp, sau đó đốt cháy thủ tiêu. Cảnh này chúng tôi đã nhìn thấy trên chiến trường, và những chứng nhân tường thuật lại trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Hình 3) (Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm - Á Châu Thời Báo)(3)
- Quân Trung Cộng không tha bất cứ già trẻ, giật sập cửa động, dùng khí độc, chất hóa học thả xuống các lỗ thông hơi giết sạch mọi người trong động. (Nguồn: Lịch sử diễn đàn Trung Quốc)Các bạn hãy xem hình, cùng bài viết tôi Link dưới đây để thấy cái tội "trời không dung, đất không tha" của chúng! (3)
Bạn nhận xét gì về lũ hậu duệ Võ Tòng?
Nhận việc giải mã các khuất lấp để trả lại sự thật, phê phán tính ĐẦU PHỤC ĐẠI HÁN, tôi xin được tiếp tục sơ lược qua sự khuất lấp có liên quan đến MÃ VIỆN và vĩ nhân Việt Nam: HAI BÀ TRƯNG.

                                                       PHẦN II

   NHỮNG KHUẤT LẤP  LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN

Như chúng ta đã biết trong sử Việt: Tô Định  (nhà Đông Hán) sang xâm lấn Việt Nam; đụng phải sự khôn ngoan, kiên cường  của hai bà: Trưng Trắc, Trưng Nhị; hắn phải bỏ của chạy lấy người, chui vào ống đồng trốn thoát , vọt về lại Phương Bắc.

1. VĨ NHÂN HAI BÀ TRƯNG

Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống lại, Thái thú Tô Định giết Thi Sách. Trưng Trắc và các Lạc tướng căm thù.
Tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi, thuộc  u Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai Bà đánh hãm Luy Lâu. Tô Định phải chui trụ đồng trốn chạy về Trung Quốc. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.  Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương).
Hai Bà đuổi xâm lăng, dành độc lập dân tộc trong 3 năm (40 - 43) Hai Bà Trưng cầm quân khí thế đến nỗi Nhà Hán đă thống nhất nước Tàu , thâu tóm nước Ngô Sở, sau thâu tóm các giòng Việt thuộc Việt Câu Tiển, trừ đất Lĩnh Nam của dân Lạc đă có văn hóa riêng. Hai Bà đánh đau và dữ dội đến nỗi mà các tỉnh lân cận đều sợ. Vua Hán phải điều Mă Viện và các tưởng dạn dày chinh chiến ở chiến trường Tây Bắc, lính chính quy, lực lượng tống trừ bị mang quân qua đàn áp.  Mã viện phải gần ba năm (40 - 43) chuẩn bị, huấn luyện đánh phổi hợp thủy bộ với đạo quân nữ giới này. 
Không những thế mà họ huy động đạo quân đông đảo và đã để lại đất Lĩnh Nam 20 ngàn dân công đầu trộm đuôi cướp. Cứ trung bình một dân công phục vụ cho 10 người lính. Tính ra thì đạo quân này ít nhất trên dưới 20 vạn quân (hai trăm ngàn). Đông hơn dân Lạc thuở ấy.
Hai nữ Anh hùng đang đánh với quân chủ lực của một nước Tàu xem như Đại Cường trên thế giới, bên cạnh dế quốc La Mã (Roma). Hai Bà thua trận vì tiềm lực quốc gia ta nhỏ bé quá, trong khi Tàu quyết tâm huy động toàn lực lượng dân tộc Hán.
Mã Viện anh hùng chỗ nào? Anh hùng là hai Bà đấy, dám lấy sức "châu chấu đá voi".

2. NHỮNG KHUẤT LẤP  LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN.

Năm 1838 Vua Mình Mạng đi tuần du, cùng đoàn "trí thức "nhà Nguyễn, đã ở lại Hội An và khen tặng các chùa Tàu là Vật báu quốc gia? Hội An là nơi duy nhất của đất nước mà chùa Tàu dày đặc. Nơi  chùa  Tàu có bài minh ngợi ca Mã Viện (trong bài minh không nêu đích danh Mã Viện nhưng ca tụng công đức của Phục Ba tưởng quân, kẻ đã dựng cây trụ đồng ở đất nước ta). Phục Ba tướng quân chính là Mã Viện, kẻ đã bức chết Hai Bà Trưng.
 Vậy là Chùa thờ Mã Viện (Phục Ba Tướng Quân hay Mã Phục Ba) được báo kê bởi chính vị vua  thời Nguyễn Gia Long. Thế nên Lê Ngộ Cát mới viết Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (tác phẩm trường thi, sử thi, diễn đạt Việt Sử bằng thơ Lục Bát, từ đời Hồng Bàng đến cuối đời Tây Sơn.) ngợi ca Mà Viện đánh giá thấp Hai Bà Trưng. Trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca có 22 câu thơ nói về cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng  (Bà Trưng quê ở Châu Phong...)  Câu thứ 16:  "Nữ nhi sánh với anh hùng được sao?"
Trong câu này, có 2 danh từ chung kép :  "Nữ nhi" và "Anh hùng". Điều chắc chắn rằng người đọc ai cũng hiểu:  "Nữ nhi" chỉ HAI BÀ TRƯNG, còn  "Anh hùng" chỉ viên tướng Tàu tên MÃ VIỆN.
Mã Viện anh hùng chỗ nào?
Nguyễn Du viết 250 bài thơ chữ Hán. Bài Mă Viện với độ mĩa mai rất thâm:
Câu 1:  Mã Viện làm trò khỉ cho Vua Hán, xin xung phong đi đánh nước Lạc Việt:

Sáu mươi còn sức ngựa phi
Trên ngai vua Hán cười khì. Còn ngon !

Qua bài thơ Quỷ Môn Quan,  NGUYỄN DU mĩa:

Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt,
Kỳ công hà thủ Hán tướng quân.*

 Bên đường gió lạnh luồng xương trắng, 
Hán tướng công gì kể bấy nay?  (Quách Tấn dịch)
....................................
*Hán tướng quân:
Chỉ Mã Viện. Mã Viện đem quân đánh hai bà Trưng, tuy đắc thắng nhưng quân lính chết dọc đường không biết bao nhiêu. Như thế có gì là chiến công đắng khen ngợi. Cũng có ý nói: kỳ công của tướng quân nhà Hán không có chi hơn là "đống xương trong gió lạnh bên đường".
Quỷ Môn Quan ở phía Nam xã Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn, địa thế hiểm trở, có núi hình như đầu quỷ mà mệnh danh là Quỉ Môn quan. Cổ thi có câu: "Quỷ Môn Quan! Quỷ Môn Quan! / Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn". Người Việt đi sứ Trung Quốc có câu: "Rạng ngày đến Quỷ Môn Quan /  Tiếng xưa thập khứ nhất hoàn là đây."
Tượng Mă Viện xây mặt về phương Nam, nơi ông khi vơ vết đã chở xe Ý dĩ (thuốc quý của dân tộc VN ta)  đem về tư dinh dấu vua Hán. Vua Hán giận ông già vợ (Mã viện dâng con gái làm bé vua Hán để hưởng lợi) Vua Hán giận vì tranh ăn hột châu báu Giao châu mà không nộp, cấm Mă Viện khi chết không được chôn nơi hoàng thành !
....................................

Suy gẫm bài Quỷ Môn Quan của NGUYỄN DU,  ta thấy Cụ xem Mã Viện là tên tướng giặc nhà Hán, không là Anh Hùng như ông Lê Ngô Cát gọi. Có chăng, anh hùng chỉ ở nước Tàu của hắn mà thôi.
Tiếc thay, bài thơ Lịch Sử hay và rất phổ biến mà dùng từ không chuẩn, đã làm giảm giá trị bài thơ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi trẻ sau này! Lỗi tại ai ?
Thiển nghĩ, với những tên ngoại nhân đã xâm lăng nước ta, hoặc ý đồ xâm lăng nước ta, chúng ta không thể xưng tụng chúng là anh hùng; mà là những tên giặc, ngoại tặc như Mã Viện, Tô Định, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị, Đặng Tiểu Bình   v.v.. (4)

                                      LỜI KẾT

Tới đây, Nguyên Lạc tôi đã giải mã xong câu chuyện khuất lấp về nhân vật lỗ mãng, hung hăng, khát máu Võ Tòng (Phần I), cùng chuyện khuất lấp giữa vĩ nhân HAI BÀ TRƯNG với tướng Hán Mã Viện -người đã dựng trụ đồng tại biên giới. (Phần II)

Đồng trụ cận năng khi Việt nữ
(Đồng trụ biên cương lòe gái Việt) 
[GIÁP THÀNH MÃ PHỤC BA MIẾU - Nguyễn Du](5)

Đừng tin hoàn toàn những gì họ (Đại Hán) nói và viết (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục chuyên viết xấu các anh hùng VN). Hãy suy nghĩ cẩn trọng, chỉ giữ cái hay và loại cái dở, cái không hợp với VN ta. Không phải cái gì cũng răm rắp làm theo. Hãy học rõ Sử Việt Nam  để trân trọng công ơn giữ và dựng nước của các anh hùng dân tộc. Văn Học Việt Nam ta  có rất nhiều áng văn thơ bất hủ, như Nguyễn Du, Cao Bá Quát .v.v..
Các bạn có thấy Nhật (Japan), Hàn Quốc (Korea)? Họ đã THOÁT TRUNG và trở thành ÔNG CHỦ của công nhân Trung Quốc hiện nay. Còn Việt Nam ta thì sao?

Nguyên Lạc ,   2017.
-----------------------
Nguồn tham khảo: Thơ chữ Hán Nguyễn Du,Truyện Thủy Hử, Truyện Cười Nhân gian, Đại Việt sử ký toàn thư, Laiquangnam, TS Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Minh Thanh, Facebook.
Ghi chú:
(1) HÃY XEM SẢN PHẨM CỦA BỘ GIÁO DỤC VN: Không biết Bộ Trưởng Bộ giáo dục VN sẽ nghĩ gì sao khi xem video này (Lịch Sử Việt)
http://hellonests.blogspot.com/2017/03/hay-xem-san-pham-cua-bo-giao-duc.html?m=1
(2) Giáo sư Bill Jenner
 https://nghiathuc.wordpress.com/2017/09/18/tieu-thuyet-thuy-hu-trong-mat-mot-hoc-gia-phuong-tay/
(3) Tài liệu Huỳnh Tâm - Á Châu Thời Báo
 http://achauthoibaonews.com/blog/?p=14261
(4) Nguyễn Minh Thanh:
 http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=14588
(5) Laiquangnam:
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/tamtinhnhanngaycuacha.htm
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/trang_laiquangnam.htm











READ MORE - VÕ TÒNG ĐẢ CẨU VÀ NHỮNG KHUẤT LẤP LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN - Nguyên Lạc